QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Showing posts with label CUỘC SỐNG. Show all posts
Showing posts with label CUỘC SỐNG. Show all posts

Wednesday, November 4, 2015

BỘ MẶT THẬT CỦA CHỦ TỊCH MẶT TRẬN KHÁNG CHIẾN CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM TỰ DO LÊ HUY TÂM, TỨC LEE HAY TÂM RÂU: MỘT TÀN DƯ CỦA "LÃNH TỤ" NGUYỄN HỮU CHÁNH


BỘ MẶT THẬT CỦA CHỦ TỊCH MẶT TRẬN KHÁNG CHIẾN CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM TỰ DO LÊ HUY TÂM, TỨC LEE HAY TÂM RÂU: MỘT TÀN DƯ CỦA "LÃNH TỤ" NGUYỄN HỮU CHÁNH

Phan Hữu Trí - Đảng Nhân Dân Hành Động, Xứ Bộ Chùa Tháp
Trong số những hướng dẫn viên du lịch người Việt Nam tại Vương Quốc Thái Lan, có một nhân vật khá nỗi tiếng thường giới thiệu với du khách rằng bản thân tên LY (LEE), nhưng ít ai biết rõ rằng Ly hay Lee, chính là Lê Huy Tâm, tức Tâm Râu, một cựu tù thuộc trại Kiên Giam A 20 Xuân Phước, vượt ngục năm 1995, và đã có thời là Chủ Tịch Mặt Trận Kháng Chiến thuộc chính phủ Việt Nam Tự Do của Nguyễn Hữu Chánh, tức Chú Chánh Bịp. Vậy, Thực Chất Lê Huy Tâm là ai?

"Chủ Tịch Mặt Trận Kháng Chiến" LÊ HUY TÂM (LEE) cùng cô vợ Mo Ma Kham  người Miến Điện
Lê Huy Tâm sinh năm 1954 tại An Khê, Bình Định, trình độ học vấn lớp 9/12, từng thụ án tù chung thân tại trại Kiên Giam A 20 Xuân Phước, Đồng Xuân, Phú Khánh. Năm 1995 Lê Huy Tâm vượt ngục và trốn sang Cambodge. Lúc đầu, Lê Huy Tâm sống bằng nghề hớt tóc dạo cho đến khi gặp gỡ Nguyễn Phùng Phong, cũng là một bạn tù, lúc bấy giờ đã quy phục chính quyền cộng sản Việt Nam, làm chỉ điểm cho cơ quan tình báo của Việt Cộng thuộc Đại Sứ Quán Công Sản Tại Phom Penh, dưới sự lãnh đạo của tướng Van Na, cục trưởng cục tình báo Cambodia, nhờ vậy Nguyễn Phùng được quyền cầm đầu một đường dây buôn người từ Việt nam sang bán vào các quán dâm tại Cambodge và các nước khác trong vùng Đông Nam Á, đồng thời Nguyễn Phùng Phong cũng làm chủ động mại dâm Bình Phong và lãnh đạo một băng nhóm xã hội đen chuyên bắt cóc tống tiền mà địa bàn hoạt động chủ yếu là Nam Vang, Kampongsom và Siêm Riệp.
“Chủ Tịch Mặt Trận Kháng Chiến” LÊ HUY TÂM cùng Trùm buôn người và kinh doanh thân xác phụ nữ NGUYỄN PHÙNG PHONG trong một thương vụ đón “hàng” tại phi trường Suvanabhumi, Bangkok
Qua sự dìu dắt của trùm mafia Nguyễn Phùng Phong, Lê Huy Tâm lấy một má mì đang làm chủ một động mại dâm khác, tên là Kim Anh, và Lê Huy Tâm thôi nghiệp hớt tóc dạo mà chuyển qua hoạt động buôn người và kinh doanh thân xác phụ nữ với tư cách là chủ động mại dâm Kim Anh cho đến năm 1998, Lê Huy Tâm rời bỏ Cambodge, vượt biên giới sang Thái Lan tham gia chính phủ Việt Nam Tự Do của Nguyễn Hữu Chánh, Đây là thời điểm mà Nguyễn Hữu Chánh đưa ý kiến tổ chức đại hội biên thùy vào dịp 30 tháng 4. Để thực hiện kế hoạch này 60 người Việt tị nạn “tân tuyển” được thu gom đưa ra biên giới Thái Lan – Campuchia, lén chặt cây, dựng nhà sàn, lập vài cơ sở lậu gọi là “căn cứ kháng chiến”. Nguyễn Hữu Chánh đã bổ nhiệm Lê Huy Tâm làm chủ tịch mặt trận, tổng chỉ huy căn cứ kháng chiến. Ngày 29 tháng 4 năm 1998, một phái đoàn hải ngoại khoảng 70 người từ tứ phương đến căn cứ, gồm một số người Mỹ, Người Italia thất nghiệp và cả một số người Thái được Nguyễn Hữu Chánh thuê đóng vai nhân viên CIA, tỷ phủ, chủ nhà băng ủng hộ công cuộc kháng chiến của chính phủ Cách mạng Việt Nam Tự do của Nguyễn Hữu Chánh và thủ tướng quốc nội Nguyễn Hoàng Dân. Sáng sớm 30 tháng 4, đại hội biên thùy bị Cảnh sát Thái Lan bao vây, lục soát gây hỗn loạn. Đến trưa, nhờ quân lực Thái Lan giải cứu, căn cứ ổn định lại và Chánh cố thực hiện được vài lễ kỷ niệm. Nhưng hôm sau, Cảnh sát Thái Lan lại ập tới bố ráp dữ hơn trước. Đoàn khách hải ngoại may mắn thoát khỏi vòng vây, còn các “cán bộ cách mạng quốc nội” thì bị bắt giữ. Thế nhưng Chú Chánh cũng kịp chụp được một số hình ảnh, quay được vài đoạn phim với vai diễn của nhóm người Việt lưu vong trong quân phục rằn ri mới, với khẩu hiệu, biểu ngữ, khách quốc tế… thật giả lẫn lộn. Vào thời gian này, Lê Huy Tâm chung sống với một góa phụ người Y Sản và cùng với chú Chánh Bịp tiếp tục lừa đảo hàng ngàn người yêu nước ở hải ngoại đóng góp tài chánh để nuôi quân mà theo chú Chánh Bịp là lên đến hàng chục ngàn người đang trú đóng tại một mật khu thuộc tỉnh UBON, miền Đông Bắc Thái Lan, mà thực chất chỉ có trên dưới 60 người vô gia cư mà Chủ Tịch Mặt Trận Lê Huy Tâm chiêu dụ từ Cambodge và từ Long Cưa, Long Yãi dọc biên giới Thái-Miên. Đây là khoảng thời gian mà Lê Huy Tâm sống như một ông vua không ngai bằng tiền tài huy động từ các cộng đồng người Việt quốc gia ở hải ngoại, mà theo nhiều cựu "kháng chiến quân" thì Lê Huy Tâm cư xử với thuộc cấp tàn ác hơn một bạo chúa, có những "kháng chiến quân" vì đói khát vì bị ngược đãi phải treo cổ tự vẫn thì Lê Huy Tâm ra lệnh cho thuộc cập lột sạch quần áo trước khi đem vùi xuống các huyệt mộ đã đào sẵn để răn đe "binh sỹ" và sau khi chôn xong là phải san bằng để xóa hết dấu vết, nhưng tuyệt đối cấm không được dắp thành nấm mộ.
 Trong phần cuối của một bản phúc trình hai năm tham dự tổ chức Nguyễn Hữu Chánh từ năm 1997 đến năm 1998, Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh cho rằng vở tuồng cần chấm dứt: “... Đôi ba người ngẩn ngơ hay thiếu suy nghĩ không biết rằng tất cả đã bị lộ, đã dại dột nhận tiền, nghe theo lời Chánh mang một vài bó cờ hay truyền đơn về Việt Nam nên sa vào bẫy. Đây là một minh chứng rằng Chú Chánh đã đưa các chiến hữu vào tử địa để kiếm lợi riêng.”  Ít nhất đã có 37 người do Lê Huy Tâm tức Lee, Chủ Tịch Mặt Trận, Tổng Chỉ Huy “Căn Cứ Kháng Chiến” cử về nước với những bó truyền đơn, nhưng khối chất nổ để thực hiện hành vi khủng bố tại một số địa điểm được Nguyễn Hữu Chánh chỉ định tại Sài Gòn. Điều đáng thương cho những người nhận nhiệm vụ nhập nội này đã không biết rằng chính “Thủ Tướng” Nguyễn Hữu Chánh và “Thủ Tướng” Nguyễn Hoàng Dân và Chủ Tịch Mặt Trận Lê Huy Tâm đã cung cấp tất cả thông tin về chiến dịch “Hòa Bình” và chiến dịch “Qua Sông” cho cơ quan an ninh của Cộng Sản Việt Nam, cho nên lần lượt 37 nhân sự của Chính phủ Cách mạng Việt Nam Tự do vừa đặt chân đến Sài Gòn, chưa kịp hành động gì thì đã bị tóm gọn và đã bị đưa ra tòa án xét xử với tội danh “Khủng Bố” vào ngày 16 tháng 5 năm 2001 với những mức án hết sức nặng nề mà không ít người đã chết trong các trại giam do bệnh tật vì bị giam chung với những phạm nhân hình sự đã nhiễm bệnh lao hoặc bệnh AIDS. Hiếm hoi có một vài người sống được đến ngày mãn án đã được trả tự do như Nguyễn Thị Thu Thủy, Huỳnh Bửu Châu, Huỳnh Anh Tú, Huỳnh Anh Trí… Điều đáng lưu ý ở đây là mặc dù được “chính phủ” thông qua chủ tịch mặt trận Lê Huy Tâm giao trọng trách nhập nội, nhưng cũng chính chính phủ và chủ tịch mặt Trận đã mật báo cho cơ quan an ninh Việt Nam về kế hoạch nhập nội đó, để các chiến sỹ nhập nội bị bắt, bị đưa ra tòa và lãnh án tù nhằm tạo tiếng vang cho Chính phủ Cách mạng Việt Nam Tự Do và cho “Thủ Tướng” Nguyễn Hữu Chánh, nhưng trong suốt thời gian chịu án tù, tất cả 37 “chiến sỹ” của Chính phủ Cách mạng Việt Nam Tự do đều là những người tù mồ côi, chỉ nhận được sự trợ giúp của quỹ tù nhân lương tâm cũng như của Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Và Tôn Giáo Việt Nam mà chưa bao giờ có được một lời thăm hỏi hay một viên thuốc Aspirin hay một đồng xu thăm nuôi nào của Chính phủ Cách mạng Việt Nam Tự do cả. Đến nay những lãnh đạo quốc nội của Chính phủ Cách mạng Việt Nam Tự do như Thủ Tướng Nguyễn Hoàng Dân, Đại tướng Nguyễn Văn Sỹ đều đang im hơi lặng tiếng. Riêng “Chủ Tịch Mặt Trận” Lê Huy Tâm, tức Lee, sau khi được tái định cư ở Đan Mạch một thời gian đã quay lại Bangkok, Thái Lan từ năm 2006 sống bất hợp pháp bằng giấy tờ tùy thân giả mạo của Thái, tại một chung cư 32 E  Soi 40 Srinakalin tức soi Suphaphong, tại Phường Yung Charoeun, hạt Nọong Bòn, Quận Bravet thuộc Bangkok, Thái Lan và hiện là tour guide cho môt công ty du lịch của Việt Nam là công ty Sex-Tour “Tọon Xảm” tức là công ty du lịch 333. Công việc hằng ngày của “Chủ Tịch Mặt Trận” Lê Huy Tâm là đưa đón du khách Việt Nam nhất là các quan chức cao cấp của Hà Nội đi hành lạc theo các Sex Tour tại Thái Lan. Ngoài ra “Chủ Tịch Mặt Trận” Lê Huy Tâm còn tiếp tục móc nối những người Việt Nam đang tạm dung trên đất Thái tham gia vào tổ chức Chính phủ Cách mạng Việt Nam Tự do (CPCMVNTD) để tiếp tục đưa các chiến sỹ “sang sông” vào các nhà tù của Cộng Sản Việt Nam nhằm tiếp tục tạo tiếng vang cho Chính phủ Cách mạng Việt Nam Tự do (CPCMVNTD) của Chú Chánh. Đặc biệt gần đây nhất, "Ngài Chủ Tịch" Lê Huy Tâm, tức Tâm Râu Hay Lee còn khai trương một số quán phở Việt Nam tại Bangkok và một số vườn rau xanh tại những vùng ven Bangkok với chiêu bài là "gây quỹ phục quốc" nhưng thực chất là để "chiêu mộ" những người Việt thực sự yêu nước, với mong muốn giải thể chế độ cộng sản, giành lại tự do, dân chủ cho quê hương, để rồi đưa họ "Qua Sông" với những bó truyền đơn, những khối thuốc nổ, rồi mật báo cho các cơ quan an ninh của CSVN mà Lê Huy Tâm vẫn thường xuyên tiếp cận qua các Sex-Tours, để tiếp tục đẫy những người yêu nước vào vòng lao lý, nhằm lập công với "đảng và nhà nước" CSVN hòng chuộc tội vượt ngục, hầu có thể tiếp tục sống yên ổn tại Thái Lan với người vợ gốc Miến Điện là Mo Ma Kham mà Lê Huy Tâm đã chung sống sau khi từ bỏ bà góa phụ người Y Sản mà Chủ Tịch Mặt Trận Kháng Chiến Lê Huy Tâm từng chung sống trong những năm đầu mới đến Thái Lan.
 Mong rằng những thông tin này sẽ giúp cho cộng đồng người Việt hải ngoại, đặc biệt là những người Việt đang tạm dung trên đất Thái Lan, Cambodge hãy luôn cảnh giác với những âm mưu thâm độc và bịp bợm của một tàn dư Nguyễn Hữu Chánh tại Thái Lan, để không phải chịu cảnh tù đày lao lý để PR cho Chính phủ Cách mạng Việt Nam Tự do (CPCMVNTD) bịp bợm.
Vùng Tam Biên Thái-Miên-Lào, ngày 9 tháng 8 năm 2015
Phan Hữu Trí - Đảng Nhân Dân Hành Động, Xứ Bộ Chùa Tháp

VÌ AN TOÀN TÍNH MẠNG, ĐỒNG BÀO VIỆT NAM HÃY LUÔN CẢNH GIÁC VỚI LÊ HUY TÂM (TÂM RÂU), MỘT TÀN DƯ CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM TỰ DO CỦA CHÚ CHÁNH BỊP TẠI THÁI LAN

Phan Hữu Trí
Sơ Lược Về Chính phủ Cách mạng Việt Nam Tự do (CPCMVNTD)

Qua một thời gian tham gia Chính phủ Cách mạng Việt Nam Tự do (CPCMVNTD) do Nguyễn Hữu Chánh dựng lên, các ông Nguyễn Duy Hinh thiếu tướng QLVNCH, luật sư Trần Văn cựu sĩ quan quân pháp, Nguyễn Văn Tánh Chức vụ tổng vụ trưởng Tổng vụ Hải ngoại, Trần Đức Hậu Tổng trưởng Thanh niên, Lê Viết đại biểu của CPCMVNTD tại Arizona đã tỏ ra lạnh nhạt với tổ chức này khi thấy được rõ bộ mặt của Nguyễn Hữu Chánh với nhiều thủ đoạn bịp bợm đến mức tột cùng của sự vô liêm sỹ, nên đã chính thức ly khai với Chính phủ Cách mạng Việt Nam Tự do, đồng thời cũng đã có tiếng nói chính thức trên các phương tiện truyền thông về sự bịp bợm của Nguyễn Hữu Chánh, hầu cảnh báo cho những người Việt có tấm lòng với công cuộc cách mạng giải thể chế độ cộng sản sẽ không bị chú Chánh Bịp lừa phỉnh để phải tán gia bại sản như những nạn nhân đầu tiên của Chú Chánh.
Thiếu Tướng QLVNCH Nguyễn Duy Hinh, nguyên cựu tư lệnh Sư Đoàn 3 Bộ Binh đã trình bày rằng: “Vào đầu những năm 90, miền Nam California nổi tiếng là nơi sôi động với nhiều hoạt động “cách mạng” thật giả lẫn lộn.
Đầu năm 1994, Chú Chánh tung tin có một tổ chức gọi là Liên quân Kháng chiến Đông Dương, với quân số 2 vạn, rồi mời cựu tướng Lâm Văn Phát hợp tác. Nhưng ông này sau khi tham quan tìm hiểu ở Campuchia đã lẳng lặng rút lui. Không chịu nằm im, cuối năm 1994, Chú Chánh lại tập hợp một nhóm luật sư gồm Đoàn Văn Tiên, Trần Danh San, bác sĩ Lê Quang Giao... để thành lập một chính phủ lưu vong, nhưng cũng bất thành vì có nhiều ý kiến khác nhau.

  
Cuối tháng 4 năm1995, Chú Chánh tuyên bố hình thành CPCMVNTD do “thủ tướng” Nguyễn Hoàng Dân nắm quyền ở quốc nội và mình được giao toàn quyền hành động để “làm cách mạng” trong và ngoài nước. Giữa năm 1996, cựu trung tướng Lưu Quang Viên và một vài nhân vật Việt Nam Cộng hòa cũ tham gia CPCMVNTD nên tên tuổi Nguyễn Hữu Chánh bắt đầu được chú ý, khởi sắc.
Đến cuối năm 1996, Nguyễn Hữu  Chánh tung thêm tài liệu chi tiết về CPCMVNTD, xem chừng rất quy củ. Nhưng những đồng hội đồng thuyền của Chánh nói: “Chánh làm việc nặng về hình thức và trình diễn. Giấy tờ, hồ sơ tài liệu, biểu đồ in hay vẽ nhiều màu sắc, hội họp rềnh rang, khua chiêng gõ trống rùm beng...”. Có lần, “hội nghị cao cấp” bàn chuyện mật lại họp ở nơi trống trải. Còn “thủ tướng” Dân chỉ là bù nhìn, dựa vào đấy Chánh “múa gậy vườn hoang”, phóng đại lừa dư luận hải ngoại.
 
Gần cuối tháng 9 năm 1997, Nguyễn Hữu Chánh đưa ra một “công điện tối mật” của Nhà Trắng về việc đảo chính tại Việt Nam, nêu đích danh ủng hộ Nguyễn Hữu Chánh làm Thủ tướng của Chính phủ mới... Chuyện đảo chính ở Việt Nam như quả bóng xì hơi, nhưng trót đâm lao, Chánh đề xướng tiếp chương trình “đào tạo cán bộ cách mạng quốc nội”. Vài thành viên được cử đi Phnôm Pênh (Campuchia) chiêu mộ người. Vào thời gian đó, Bộ Tham mưu tiền phương di chuyển đến Khlong Yai là một thị trấn nằm ở bờ biển Đông Thái Lan, gần Hà Tiên. Từ tháng 10 năm 1997 đến đầu năm 1998, “tân thủ tướng” tổ chức được 6 khóa cấp tốc huấn luyện, mỗi khóa 10 người đều là người Việt Nam sống tại Campuchia và các lão già cựu quân nhân Việt Nam Cộng hòa.
Sang đầu năm 1998, Nguyễn Hữu Chánh đưa ý kiến tổ chức đại hội biên thùy vào dịp 30 tháng 4. Để thực hiện kế hoạch này 60 người Việt tị nạn “tân tuyển” được thu gom đưa ra biên giới Thái Lan - Campuchia, lén chặt cây, dựng nhà sàn, lập vài cơ sở lậu gọi là “căn cứ kháng chiến” Nguyễn Hữu Chánh đã bổ nhiệm một đồng hương người Bình Định vừa mãn án tù là Lê Huy Tâm, bí danh là Lee hoặc Ly làm chủ tịch mặt trận, tổng chỉ huy căn cứ kháng chiến. Ngày 29 tháng 4 năm 1998, một phái đoàn hải ngoại khoảng 70 người từ tứ phương đến căn cứ, gồm một số người Mỹ, Người Italia thất nghiệp và cả một số người Thái được Nguyễn Hữu Chánh thuê đóng vai nhân viên CIA, tỷ phủ, chủ nhà băng ủng hộ công cuộc kháng chiến của chính phủ Cách mạng Việt Nam Tự do của Nguyễn Hữu Chánh và thủ tướng quốc nội Nguyễn Hoàng Dân. Sáng sớm 30 tháng 4, đại hội biên thùy bị Cảnh sát Thái Lan bao vây, lục soát gây hỗn loạn. Đến trưa, nhờ quân lực Thái Lan giải cứu, căn cứ ổn định lại và Chánh cố thực hiện được vài lễ kỷ niệm. Nhưng hôm sau, Cảnh sát Thái Lan lại ập tới bố ráp dữ hơn trước. Đoàn khách hải ngoại may mắn thoát khỏi vòng vây, còn các “cán bộ cách mạng quốc nội” thì bị bắt giữ. Thế nhưng Chú Chánh cũng kịp chụp được một số hình ảnh, quay được vài đoạn phim với vai diễn của nhóm người Việt lưu vong trong quân phục rằn ri mới, với khẩu hiệu, biểu ngữ, khách quốc tế... thật giả lẫn lộn.

Trong phần cuối bản phúc trình hai năm tham dự tổ chức Nguyễn Hữu Chánh từ năm 1997 đến năm 1998, Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh cho rằng vở tuồng cần chấm dứt: “... Đôi ba người ngẩn ngơ hay thiếu suy nghĩ không biết rằng tất cả đã bị lộ, đã dại dột nhận tiền, nghe theo lời Chánh mang một vài bó cờ hay truyền đơn về Việt Nam nên sa vào bẫy. Đây là một minh chứng rằng Chú Chánh đã đưa các chiến hữu vào tử địa để kiếm lợi riêng.”  Ít nhất đã có 37 người do Lê Huy Tâm tức Lee, Chủ Tịch Mặt Trận, Tổng Chỉ Huy “Căn Cứ Kháng Chiến” cử về nước với những bó truyền đơn, nhưng khối chất nổ để thực hiện hành vi khủng bố tại một số địa điểm được Nguyễn Hữu Chánh chỉ định tại Sài Gòn. Điều đáng thương cho những người nhận nhiệm vụ nhập nội này đã không biết rằng chính “Thủ Tướng” Nguyễn Hữu Chánh và “Thủ Tướng” Nguyễn Hoàng Dân đã cung cấp tất cả thông tin về chiến dịch “Hòa Bình” và chiến dịch “Qua Sông” cho cơ quan an ninh của Cộng Sản Việt Nam, cho nên lần lượt 37 nhân sự của Chính phủ Cách mạng Việt Nam Tự do vừa đặt chân đến Sài Gòn, chưa kịp hành động gì thì đã bị tóm gọn và đã bị đưa ra tòa án xét xử với tội danh “Khủng Bố” vào ngày 16 tháng 5 năm 2001 với những mức án hết sức nặng nề mà không ít người đã chết trong các trại giam do bệnh tật vì bị giam chung với những phạm nhân hình sự đã nhiễm bệnh lao hoặc bệnh AIDS. Hiếm hoi có một vài người sống được đến ngày mãn án đã được trả tự do như Nguyễn Thị Thu Thủy, Huỳnh Bửu Châu, Huỳnh Anh Tú, Huỳnh Anh Trí… Điều đáng lưu ý ở đây là mặc dù được “chính phủ” thông qua chủ tịch mặt trận Lê Huy Tâm giao trọng trách nhập nội, nhưng cũng chính chính phủ và chủ tịch mặt Trận đã mật báo cho cơ quan an ninh Việt Nam về kế hoạch nhập nội đó, để các chiến sỹ nhập nội bị bắt, bị đưa ra tòa và lãnh án tù nhằm tạo tiếng vang cho Chính phủ Cách mạng Việt Nam Tự Do và cho “Thủ Tướng” Nguyễn Hữu Chánh, nhưng trong suốt thời gian chịu án tù, tất cả 37 “chiến sỹ” của Chính phủ Cách mạng Việt Nam Tự do đều là những người tù mồ côi, chỉ nhận được sự trợ giúp của quỹ tù nhân lương tâm cũng như của Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Và Tôn Giáo Việt Nam mà chưa bao giờ có được một lời thăm hỏi hay một viên thuốc Aspirin hay một đồng xu thăm nuôi nào của Chính phủ Cách mạng Việt Nam Tự do cả.
Đến nay những lãnh đạo quốc nội của Chính phủ Cách mạng Việt Nam Tự do như Thủ Tướng Nguyễn Hoàng Dân, Đại tướng Nguyễn Văn Sỹ đều đang im hơi lặng tiếng. Riêng “Chủ Tịch Mặt Trận” Lê Huy Tâm, tức Lee, sau khi được tái định cư ở Đan Mạch một thời gian đã quay lại Bangkok, Thái Lan từ năm 2006 sống bất hợp pháp bằng giấy tờ tùy thân giả mạo của Thái, tại một Soi 40 Srinakalin tức soi Suphaphong tại Bangkok, Thái Lan và hiện là tour guide cho môt công ty du lịch của Việt Nam là công ty “Tọn Xảm” tức là công ty du lịch 333. Công việc hằng ngày của “Chủ Tịch Mặt Trận” Lê Huy Tâm là đưa đón du khách Việt Nam nhất là các quan chức cao cấp của Hà Nội đi các sex tour tại Thái Lan. Ngoài ra “Chủ Tịch Mặt Trận” Lê Huy Tâm còn tiếp tục móc nối những người Việt Nam đang tạm dung trên đất Thái tham gia vào tổ chức Chính phủ Cách mạng Việt Nam Tự do (CPCMVNTD) để tiếp tục đưa các chiến sỹ “sang sông” vào các nhà tù của Cộng Sản Việt Nam nhằm tiếp tục tạo tiếng vang cho Chính phủ Cách mạng Việt Nam Tự do (CPCMVNTD) của Chú Chánh.
Mong rằng những thông tin này sẽ giúp cho cộng đồng người Việt hải ngoại, đặc biệt là những người Việt đang tạm dung trên đất Thái Lan cảnh giác với những âm mưu thâm độc và bịp bợm của tàn dư Nguyễn Hữu Chánh tại Thái Lan, để không phải chịu cảnh tù đày lao lý để PR cho Chính phủ Cách mạng Việt Nam Tự do (CPCMVNTD) bịp bợm.

Phan Hữu Trí





__._,_.___

Posted by: =?UTF-8?B?VOG7mEkgw4FDIEjhu5IgQ0jDjSBNSU5I?= 

Wednesday, August 26, 2015

Đệ Nhất Cộng Hòa có "kỳ thị Phật giáo" không?

 
 PT/ NKK: Đệ Nhất Cộng Hòa có "kỳ thị Phật giáo" không?  
 
Đ Nht Cng Hòa có "kỳ th Pht giáo" không?

Phan Thiết Nguyễn Kim Khánh   

Giáo lý nhà Phật rao giảng thập nhị nhân duyên, để đi đến kết luận triệt để là bài trừ sắc tướng. Đạo Phật cũng như Đạo Thiên Chúa cao khiết mênh mông, bao trùm toàn thể nhân loại, là gia sản chung của toàn thể loài người, không thể đóng khuôn đạo giáo trong một văn bản của một quốc gia. Các nhà lãnh đạo của đạo Phật đã mắc vào vòng sắc tướng và họ đã chịu hậu quả như thế này: Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa ngày 30.4.1975, chúng tuyên bố hủy bỏ tất cả luật lệ của Việt Nam Cộng Hòa. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được thành lập do sắc lệnh 158/SL/CP, ngày 14.5.1964. Sắc lệnh ấy, cũng cũng chịu chung số phận với mọi văn bản lập pháp, lập quy của Việt Nam Cộng Hòa. 

Kỳ thị Phật giáo trong chính sách và xã hội:

Trước kia, Phật giáo Thống nhất đã đòi:  Một trong năm nguyện vọng của Phật giáo đồ" là yêu cầu chế độ Ngô Đình Diệm để cho tăng ni được tự do truyền đạo và hành đạo". Có lẽ trong trí các vị này nghĩ rằng Phật giáo bị kỳ thị nên tăng ni không được tự do hành đạo và tự do truyền đạo. Nhưng họ lại không đưa ra được bằng chứng nào cụ thể chứng minh chính quyền Ngô Đình Diệm gây ra những khó khăn hoặc ngăn cản việc truyền đạo hay hành đạo.

Ngược lại người ta có rất nhiều bằng chứng, chứng minh đạo Phật đã phục hưng rất mạnh trong chín năm cầm quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Trước nhất, là số chùa được xây cất.

- Trong cuốn "Our Vietnam Nightmare" bà  Maguerite Higgins  cho biết: "1275 ngôi chùa được xây cất, 1295 ngôi chùa được trùng tu dưới trào Ngô Đình Diệm".

- Theo cụ Đoàn Thêm và cụ Mai Thọ Truyền thì trước khi Tổng thống Ngô Đình Diệm cầm quyền, Nam Việt Nam chỉ có 2206 ngôi chùa, đến năm 1963 số chùa tăng lên thành 4766 ngôi. Nhiều ngôi chùa được quốc gia trợ cấp tiền bạc để xây cất.

- Về các sở văn hóa, trước khi Tổng thống Ngô Đình Diệm cầm quyền, đạo Phật chưa mở trường học. Dưới chế độ Tổng thống Ngô Đình Diệm, hệ thống Trung tiểu học Bồ Đề ra đời. Đỗ Mậu cho biết năm 1970 Phật giáo có 160 trường trung tiểu học trong cả nước. Đa số trường này được xây cất trước ngày 1.11.1963. 
Đọc những thành quả trên, liệu người ta có dám kết luận Tổng thống Ngô Đình Diệm và chế độ của ông đã "kỳ thị Phật giáo" không ? 

Xét chung trên bình diện chính sách quốc gia cũng như thành quả của đạo Phật trong chín năm cầm quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm, người ta không tìm ra được bằng cớ nào chứng tỏ Tổng thống Ngô Đình Diệm và chính quyền của ông kỳ thị đạo Phật, kỳ thị giáo hội Phật giáo, kỳ thị tín đồ đạo Phật. 

Khi tôi đưa ra một vài vấn đề để viết bảng so sánh dưới đây, tôi không đề cao Công giáo hay miệt thị Phật giáo. Tạm thời tôi chỉ nói về:  
Yếu tính đạo giáo 
- Đạo Phật không hẳn là một tôn giáo, vì tôn giáo phải có Thần Linh.
Đức Phật không phải là Thần Linh. Ngài chỉ là bậc Đại giác, bậc Chánh Đẳng Chánh giác, nói theo chữ Phạn là A-niệu-da-la Tam-niệu Tam bồ đề (Amuttara Samyak Samboddhi). Các đệ tử theo ngài đều là tỳ kheo như nhau, không đẳng cấp. Đã không không hẳn là tôn giáo, thì cũng không hẳn phải có giáo hội mà chỉ có những tu hội quy tụ những người đồng một chí hướng trong một tu viện hay một ngôi chùa. 
- Đạo Công giáo rõ ràng là một Tôn giáo vì có Thần Linh Tối Cao là Thiên Chúa, và có hàng giáo phẩm thống thuộc từ cao xuống thấp tỏa rộng sinh hoạt trong cộng đồng tín đồ. Chúa Jêsu đã thiết lập giáo hội, đặt ông Phê-rô làm đầu chăn "các chiên mẹ và chiên con". Chúa như cây nho, tín đồ là cành nho. Thánh Phao-lô gọi giáo hội là là "thân thể mầu nhiệm" của Chúa. Giáo hội trở thành keo sơn liên kết người sống và kẻ chết: Giáo hội đang chiến đấu là giáo hội hữu hình, gồm toàn dân Thiên Chúa ở trần gian, giáo hội khải hoàn là toàn thể dân Chúa trên Thiên đàng, giáo hội đau khổ là toàn thể dân Chúa đang chịu thanh luyện sau khi chết, để nhập vào giáo hội khải hoàn. 

- Hệ quả: Chữ Giáo Hội trong  đạo Phật là mượn của Đạo Thiên Chúa: Là Ecclesia, Église, Church, theo Thánh Kinh (Mat.16,19), nhưng chỉ mượn được "sắc tướng" thôi, chứ bản chất thì không thể mượn được. Vì thế, tín đồ Công giáo đoàn kết keo sơn thành một cộng đồng rõ nét, và tuân lệnh chủ chiên của mình là hàng giáo phẩm trong vấn đề đức tin. 

Đời sống giáo hội thông hiệp với tín đồ bằng lời Chúa do giáo sĩ giảng dạy và nuôi dưỡng tinh thần tín đồ bằng các phép Bí tích. Bí tích Thánh thể trung tâm của đời sống Công giáo. Điều này, đạo Phật không thể có được, vì trong đạo Phật ai tu nấy chứng. Trong Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng ai cũng phải tự mình mà đạt tới. Chính đức Phật đã dạy:

"Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành" và "Chúng sanh hãy tự đốt đuốc tìm đường mà đi". 
Tuy gọi là "quy y Tam Bảo", nhưng tín đồ đạo Phật hoàn toàn tự do, không lệ thuộc vào ai. Đã không lệ thuộc ai, thì sự giao tế trong một cộng đồng chỉ còn là giao tế xã hội hàng ngang. Kết quả sự tôn kính dành cho kẻ truyền pháp (tương đương với giáo sĩ truyền giáo) giảm. Những cái giảm kia xẩy ra ngay trong cộng đồng đạo Phật tỏa rộng ra toàn xã hội, đưa đến Ngộ Nhận là "kỳ thị Phật giáo". 
- Về những người làm việc tôn giáo 
- Đạo Phật: Các tu sĩ đồng hạng đều là tỳ kheo, tức là những người sống theo lối tu hành của Đức Phật. Muốn làm tỳ kheo chỉ cần tâm nguyện xuất gia là đủ. Xuất gia rồi, thì giữ giới luật là thành tỳ kheo. Không bắt buộc trình độ văn hóa hoặc là phải tu học bao lâu. Không có các trường chuyên nghiệp bắt buộc đào tạo tỳ kheo theo một học trình mở rộng cả đạo lẫn đời. 

Thường thì các vị sư cụ (đại lão Hòa thượng, Thượng tọa) thu nhận một số đệ tử rồi tự các ngài huấn luyện lấy, xong cho thụ giới thành tỳ kheo. Bởi đó, trình độ văn hóa tổng quát của các vị tỳ kheo thường yếu  kém, nhiều vị ngay sự hiểu biết về Phật pháp cũng rất lờ mờ, pha trộn tín ngưỡng dân gian, ngoại đạo. Ấy là chưa nói tới một số kẻ lợi dụng như: họ nguyên chỉ là thầy cúng của "đạo" dân gian, bỗng chốc mặc áo tỳ kheo nhập hàng tu sĩ của đạo Phật. 

- Đạo Công giáo: Người giáo sĩ Thiên Chúa dù là giáo sĩ dòng hay giáo sĩ triều (thuộc mỗi địa phận) được đào tạo trong các trường chuyên nghiệp, theo học một học trình Quốc Tế là bảy năm, sau khi tốt nghiệp bậc trung học hay "phổ thông". Ở Đại Chủng Viện, họ được học đủ các môn học về đạo và đời, học về phương pháp truyền giáo, và học cả về các tôc giáo khác… Đại Chúng Viện trang bị cho họ đủ khả năng trở thành những "cán bộ" tôn giáo xuất sắc. Nhiều người trong số họ uyên bác và nói chung đều có học thức. 

- Hệ quả: Xã hội Việt Nam trọng kẻ sĩ, những kẻ có học thức thường được kính trọng. Các nhà sư nhiều người xuất thân từ thầy cúng, hoặc là đệ tử của các sư cụ khả năng yếu kém, thì sẽ không đủ uy tín lãnh đạo và không tạo được sự kính trọng của người khác. Điều này, đem so sánh với giáo sĩ Công giáo sẽ tạo ra sự ngộ nhận là "kỳ thị Phật giáo". 

Trước năm 1955, đạo Phật ở Việt Nam chỉ là những "tập đoàn" rời rạc, quy tụ chung quanh một ngôi chùa hay một tu viện, lấy việc tu niệm làm chính. Các "giáo hội" Tăng già, Thiền tịnh đạo tràng, Tăng sĩ  Theravada, Tăng già nguyên thủy… giữ nguyên bản sắc của mình giống như dòng tu riêng biệt, không lệ thuộc một "giáo hội" trung tâm như Công giáo. Các vị tỳ kheo tu hành thuần túy không màng tới chuyện đời, không lưu tâm tới vật chất. Những dòng tu hoằng dương đạo pháp, không lệ thuộc một giáo quyền nào cả. 

Ở thôn quê có các ngôi chùa làng. Chùa làng là công sức và của cải của dân làng chung lưng mà dựng nên, không thuộc tập đoàn Phật giáo nào. Khi đã có chùa rồi, thì hội đồng kỳ mục tự tìm kiếm lấy sư để mời về trụ trì, và dân làng cũng có quyền trục xuất vị sư ra khỏi chùa, nếu ông ta phạm giới. 

Từ năm 1955, do cố gắng vượt bực về tài chánh, do chính quyền giúp đỡ, Tổng giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có các hoạt động xã hội và từ thiện: hệ thống trung tiểu học Bồ Đề ra đời, mà trước đó không có. 

Đồng hóa đạo Phật với dân tộc: 

Chắc chắn dân tộc Việt Nam đã có một đạo giáo khác hẳn với đạo Phật. Đạo ấy, là việc thờ cúng tổ tiên và trọng thánh thần. Việc thờ cúng tổ tiên minh thị chấp nhận như chân lý của dân tộc là linh hồn bất diệt. Vì linh hồn bất diệt cho nên mới có việc thờ cúng người chết, xem người chết như còn hiện diện và vẫn tác động vào các sinh hoạt của người sống. 

Trong khi đó, thì giáo lý căn bản làm nên Phật pháp của đạo Phật là thuyết luân hồi, phủ nhận linh hồn hằng sống. Đức Phật không dạy rõ, nếu linh hồn không bất diệt thì cái gì sẽ làm cho các pháp (con người cũng là một pháp) được tái sinh vào các cảnh giới trước khi chấm dứt sinh tử thoát khỏi luân hồi mà vào Niết Bàn ???
Các nhà Phật học đã sáng chế ra duy thức học. Cái thức cuối cùng là A-lại-da thức, tiếng Việt dịch là Tâm thức, tức là cái thức "máy móc" tạo thành cái nghiệp theo luân hồi. Dù sao thì thuyết luân hồi cũng trái hẳn với tín ngưỡng của dân tộc là lòng tin vào linh hồn bất diệt qua việc thờ cúng người chết. 
Chính vì thế, nên cho dù đạo Phật đã vào nước Việt sớm hơn đạo Thiên Chúa, nhưng mỗi ngày càng xa rời với niềm tin của Đạo Việt tin vào linh hồn hằng sống; đến khi thấy con số tín hữu Công giáo tăng lên vào thời Đệ Nhất Cộng Hòa, thì các tăng lữ đạo Phật vì không biết làm gì hơn, nên đã lên án chế độ của Tổng thống Ngô Đình Diệm là "kỳ thị Phật giáo", là bất công và gian trá. 
Nhưng đánh thẳng vào Công giáo không được, vì phạm tới tín ngưỡng của người khác, được xem là tội mọi rợ, bị cả thế giới lên án, vì đó là nhân quyền căn bản và thiêng liêng nhất của con người. Ngay cả cộng sản bài trừ tôn giáo triệt để, nhưng cũng không dám công khai xúc phạm thẳng tới tôn giáo, họ phải nhờ cái cầu "giai cấp". Ở Việt Nam những người thù nghịch Thiên Chúa Giáo đánh Công giáo bằng cách chụp cho Công giáo một cái mặt nạ, một cái mũ. Mặt nạ ấy, là Cần Lao, nhà Ngô và chủ nghĩa Thực dân Pháp. Đọc những lời lên án Công giáo đầy rẫy ta thấy rõ "Thực dân, Cần Lao, nhà Ngô chỉ là cái diện để những người thù nghịch đánh vào Công giáo, không những Công giáo Việt Nam mà cả Công giáo hoàn cầu, là Tòa Thánh La Mã. 

Nghiên cứu về mưu kế, sách lược này được sách "Tam thập lục kế" gọi là "Thanh Đông  kích Tây hay dương Đông kích Tây". Ở đây không phải là nhà Ngô hay thực dân, mà chính là Đạo Thiên Chúa vậy. 

Trở lại cuộc đấu tranh của đạo Phật vào năm 1963. Đa số các tông phái của đạo Phật chỉ lo tu thân, học Phật, nhiều tông phái không muốn lao thân vào cuộc đấu tranh lật đổ "nhà Ngô". Nhiều vị tỳ kheo đức độ nhìn nhận Tổng thống Ngô Đình Diệm là người có công giúp cho các đạo giáo phục hưng và phát triển ở miền Nam, trong đó có đạo Phật. 

Nếu cứ để tình trạng ấy thì các nhà sư chính khách không thể thực hiện được mưu đồ của mình, mà việc trước mắt là đoàn kết các tông phái rời rạc trong cùng một đạo thu về một mối. Họ đã phát động cuộc đấu tranh: Tổng thống Ngô Đình Diệm trở thành thứ "oan dương" cho họ đổ lên đầu những tội lỗi tưởng tượng.

Kẻ làm chính trị được phép sử dụng những thủ đoạn, được quyền dùng những giả diện để chiếm mục tiêu, nhưng phải thành thật với chính mình, nếu không thì chết. Hứa Du hỏi Tào Tháo về quân lương. Tào Tháo làm mặt bảnh nói quanh, nhưng trong bụng thì lo lắm vì quân hết lương rồi. Sau phải thưa thiệt để Hứa Du hiến kế.

Những kẻ nhận phần trăm dân số đạo Phật ở Việt Nam đã vẽ ra một tương lai tươi sáng cho "đạo pháp và dân tộc" bằng không tưởng, rồi quyết tâm hạ bệ "nhà Ngô". Đến khi "nhà Ngô" đổ rồi, thì đạo pháp trở thành mạt pháp, còn dân tộc thì điêu linh khốn cùng tới tận đất đen. 

Các tay chính khách đạo Phật từng ngụy trang thành tăng sĩ chính khách, đã đồng hóa đạo Phật với dân tộc, để nhận cái số đông quần chúng làm quần chúng của mình theo cái cách thức của những kẻ làm chính trị. Công thức "đạo pháp và dân tộc" không những trái với lịch sử mà còn tỏ ra là gian dối. Nay họ vẫn chưa từ bỏ tham vọng, dù thực chất của họ chẳng có gì. Những ai có lòng với đất nước Việt Nam không nên ngại ngùng gì mà phải đưa vấn đề ra trước ánh sáng, để quốc dân biết mà tránh sau này.   

Phan Thiết Nguyễn Kim Khánh
       

__._,_.___


Posted by: <vneagle_1

Monday, August 10, 2015

SÀI GÒN VÀ NHỮNG TÊN ĐƯỜNG XƯA

 

 
SÀI GÒN VÀ NHỮNG TÊN ĐƯỜNG XƯA
Trần Ngọc Quang
SAIGON DUONG XUA
Từ hơn một thế kỷ nay, nước Việt Nam đã chịu rất nhiều thay đổi về chánh trị, hành chánh, văn hóa, xã hội…. luôn cả tên đường của Sài Gòn. Nhiều đường đã thay đổi tên hai, ba lần và vài đường mang tên các vị anh hùng hồi đời nhà Nguyễn đều biến mất. Vài người Việt ở nước ngoài khi trở về nước gặp nhiều khó khăn mới tìm lại được nhà mình đã ở lúc trước. 

Những bạn sanh ra sau 1975 lại không thể hình dung các tên đường thuở trước, nói chi đến lịch sử và tiểu sử của các vị đó. Riêng tôi, nhờ những kỷ niệm in sâu vào óc từ thuở niên thiếu và lại có tánh tò mò muốn biết thêm lịch sử nên tôi cố gắng nhắc lại đây vài tên đường để công hiến các bạn đọc giả và xin ngọn gió bốn phương cho biết thêm ý kiến để tu bổ về sau.

Tôi sanh ra tại nhà bảo sanh của Bác Sĩ Lâm Văn Bổn số 205 đường Frère Louis, gần chợ Thái Bình thuộc Quận 3 thuở đó của Đô Thành Sài Gòn, vào thời Đông Dương sắp vào chiến lửa binh đao, chín tháng trước khi Trân Châu Cảng chìm trong khói lửa, lúc đó Việt Nam còn là một thuộc địa của Pháp Quốc và nhiều đường Sài Gòn mang tên Pháp.

Tôi lớn lên tại Sài Gòn, tại số 148 đường Colonel Boudonnet dọc theo đường rầy xe lửa, sau nầy đổi tên là Lê Lai tới nay, đường lấy tên của Đại Tá Théodore Boudonnet thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh Thuộc-Địa và Tư lệnh Sư Đoàn Bộ Binh An Nam, tử trận bên Pháp hồi 1914. Mặt đất đường nầy thấp hơn các đường Frère Louis, Phan Thanh Giản và Frères Guillerault nên mỗi khi mưa lớn là đường bị ngập : “nhờ vậy” mà sau khi tạnh mưa, dọc theo bức tường ngăn đường rầy và đường lộ những con dế từ đất chui ra hang để khỏi bị ngộp, nên tôi đi bắt đến khuya mới về ít lắm là ba bốn con và thường bị mẹ tôi quở trách.

Sau khi “chạy giặc” hồi 1945 vì máy bay đồng minh oanh tạc nhà ga và đường rầy xe lửa để chận tiếp tế cho quân Nhựt, gia đình tôi trở về sống tạm trước Nhà thờ “Huyện Sỹ” đường Frères Guillerault và năm sau rồi dọn trở về lại hẻm 176/11 đường Colonel Boudonnet.

Nhà thờ Huyện Sỹ xây cất năm 1905, ông là người giàu có vùng Gò Công, tên thật là Lê Phát Đạt và là Ông ngoại của Nam Phương Hoàng Hậu, vợ của Hoàng Đế Bảo Đại. 2
Gần nhà thờ Huyện Sỹ có hai đường mang tên Frère nhưng nếu Frère Louis là để tưởng nhớ đến Thầy Louis Gaubert lập ra trường Tabert, đường Frères Guillerault (có chữ “S” sau Frères) là để tưởng nhớ đến hai anh em Roland và Léon Guillerault sinh trưởng tại Sài Gòn và tử trận trong Đệ Nhứt Thế Chiến bên Pháp.

Trong lúc “tản cư” tôi đi học lớp chót trường làng tại quận Hóc Môn và vì một sự tình cờ mà Ba tôi ghi cho tôi học tiếp miển phí lớp “Douzième” trường Chasseloup-Laubat, thay vì Petrus Ký như Ba tôi.”Trường Chasseloup” xây cất trong ba năm nơi rạp hát bội của Tả Quân Lê Văn Duyệt, lúc đầu mang tên Collège Indigène de Saigon, nhưng khi khánh thành năm 1877 thì đổi lại là Collège Chasseloup-Laubat và từ 1928 trở thành Lycée có nghĩa là luyện thi đến lớp Tú Tài, mang tên của Hầu Tước Justin De Chasseloup Laubat, Bộ Trưởng Bộ Hải Quân và Thuộc Địa dưới thời Napoléon III, người quyết tâm chiếm và giữ Nam Kỳ. 

Hồi 1946 quân đội Pháp mới trở lại Việt Nam nên ít có gia đình và trẻ con Pháp sống tại Sài Gòn nên dư giáo viên mà thiếu học trò ! Lớp 12è niên khoá 1946-1947 trai và gái học chung tại Collège Calmette gần đó, sau đó vài năm trường nầy đổi tên là Lycée Marie Curie cho đến ngày nay. Tôi còn nhớ lúc ra về tôi chạy nhanh ra cổng, không phải để tìm Ba tôi, thường người ra sở trễ và đi xe đạp từ “Toà Tân Đáo” (Sở Ngoại Kiều) ở đường Georges Guynemer dưới Chợ Cũ lên rước tôi, mà là để tranh thủ thời gian để cạo mủ cao su !

Thật vậy, giữa trung tâm thành phố Sài Gòn không hiểu ông Tây nào có ý kiến trồng cây cao su theo hai bên đường Jauréguiberry cho có bóng mát ? Bernard Jauréguiberry là một Đề Đốc Pháp đã đánh vào Đà Nẳng và chiếm thành Gia Định, về sau giữ chức Thượng Nghị Sĩ và Bộ Trưởng Bộ Hải Quân, mà tại sao lại đặt tên cho một đường nhỏ bên hông trường Calmette ? Nhưng dù sao đi nữa những cây cao su đó, sau khi lấy đá đập vào vỏ thì chảy ra mủ trắng rất nhiều. Tôi trét mủ ấy trên cập táp da của tôi rồi khi mủ khô thì cuốn tròn quanh một cục sỏi và ngày qua ngày trở thành một trái banh nhỏ.

Như vậy tôi thuộc vào thành phần “Nam Kỳ chánh cống” và “dân Sài Gòn một trăm phần trăm”, lớp tuổi gần 70 và và sống tại Saigon trong 34 năm. Những bạn lớn hơn tôi vài tuổi và những bạn gốc “Bắc trước năm mươi tư” mới biết tên đường cũ như tôi, các bạn khác ráng mà tìm các tên trong trang sau cùng ! Không phải tôi bị “tây hóa” nên không chịu dùng tên Việt Nam, nhưng các tên đường cũ đả khắc sâu vào trí nhớ tuổi thơ của tôi, hơn nửa lúc trẻ tôi hay tìm tòi trong tự điển Larousse coi ông nầy là ai mà họ đặt 3 tên đường, sau thế hệ của chúng tôi, ít còn ai nhớ đến tên những con đường Sài Gòn năm xưa…

Mẹ tôi có thuê một cyclo để đi làm và đưa tôi đi học tại trường Chasseloup, “Chú Ba Xích Lô” mỗi ngày chạy ra phía nhà ga Sài Gòn theo đường Colonel Boudonnet, sau khi qua rạp hát Aristo, nay là New World Hotel, quẹo trái qua đường Chemin des Dames và băng qua đường Lacote (chớ không phải Lacotte, Moïse Lacote là cựu Trưởng Ban Hành Chánh vùng Gia Định và Giám Đốc Thuế Vụ Nam Kỳ vào năm 1896) hoặc theo đưòng Amiral Roze (người đã từng tấn công Nam Hàn) để đi thẳng tới đường Gia Long, tên của đường La Grandière vào khoảng ấy (Đề Đốc Pierre De La Grandière thay thế Đề Đốc Bonard là một trong những Thống Đốc đầu tiên của Nam Kỳ, Ông tự động đi chiếm xứ Cambodge năm 1863 mà không có lệnh của Hoàng Đế Napoléon III và cũng chính Ông đã chiếm ba tỉnh miền Tây năm 1867 làm cho Cụ Thống Tướng Phan Thanh Giản phải đầu hàng và sau đó tự vận, dưới thời Đề Đốc De La Grandière Sài Gòn phát triển mạnh mẽ).

Chú Ba Xích Lô xuyên qua vườn “Bờ Rô” để có bóng mát rồi ra đường Larégnère, sau nầy là đường Đoàn Thị Điểm. Tôi không biết tại sao người ta kêu công viên đó bằng tên ấy, có thể là phiên âm của chữ “préau (sân lót gạch) nhưng theo học giả Trần Văn Xướng thì do Ông “Moreau”, tên của người quản thủ Pháp đầu tiên chăm nom vườn nầy; thuở trước các người lớn tuổi còn gọi là “vườn Ông Thượng”, có thể là vì trước kia Tả Quân Lê Văn Duyệt là người tạo ra vườn nầy. 

Dưới thời Pháp thuộc vườn “Bờ Rô” nằm trong khu đất của dinh Thống Đốc nhưng vào năm 1869 Phó Đề Đốc Hector Ohier, người thay thế Đề Đốc De La Grandière, cắt chia đất và tặng thành phố vườn nầy mang tên Parc Maurice Long. Mười năm sau đường Miss Cavell được tạo ra, lúc đó mang tên rue de la Pépinière, để biệt lập với dinh Thống Đốc mà sau nầy là Palais Norodom và sau 1954 trở thành Dinh Độc Lập rồi Dinh Thống Nhứt sau 1975. Cũng có thể tên “Ông Thượng” là Ông Ohier, có tên đường dưới chợ cũ, nhưng tới đời tôi chỉ gọi vườn đó là “vườn Bờ Rổ”, sau nầy mang tên vườn Tao Đàn.

Ra vườn Bờ Rô gặp đường Chasseloup-Laubat rồi đi thẳng trên đường Larégnère, sau đó tới đường Testard : hai tên nầy ở gần nhau cũng đúng vì Trung Tá Bộ Binh Jules Testard và Thiếu Úy Hải Quân Etienne Larégnère, 31 tuổi (chớ không phải Lareynière hay Laraignère) tử vong cùng một trận đánh ác liệt tại Đồn Kỳ Hòa, ở vùng trường đua Phú Thọ, giữa lực lượng của Thống Tướng Nguyễn Tri Phương và Đô Đôc Victor Charner năm 1861. Ai cũng biết đường Chasseloup-Laubat, một đường chiến lược rất dài đi từ Chợ Lớn, từ đường 11è R.I.C (Régiment d’Infanterie Coloniale) đến Thị Nghè, sau 1955 đường nầy đổi tên là Hồng Thập Tự.

Đi thẳng đến đường Testard, chú Ba quẹo mặt và bỏ tôi xuống ở góc đường Barbé vì học sinh vào trường Chasseloup bằng cửa sau. Góc đường nầy sẽ liên hệ nhiều với tôi sau nầy khi tôi trở thành sinh viên y-khoa. Đường Barbé (chớ không phải Barbet ) có từ lâu và mang tên của Đại Úy Nicolas Barbé thuộc Sư Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến Pháp bị Ông Trương Định cho tên Nguyễn Văn Sất ám sát vào năm 1860 gần chùa Khải Tường, nơi vua Minh Mạng sanh ra năm 1791 lúc Nguyễn Ánh chạy lọan vào miền nam để tránh anh em Tây Sơn. Chùa nầy do Nguyễn Ánh sau khi trở thành vua Gia Long ra lệnh xây cất để tạ ơn Phật Trời đã che chở cho con trai là Nguyễn Phúc Đàm (vua Minh Mạng sau nầy), sau đó chùa được lập làm đồn chống Pháp nên bị lính Pháp phá dẹp hồi 1880, pho tượng Phật hiện còn lưu niệm trong Viện Bảo Tàng Sài Gòn, trong Sở Thú. 

Trên nền chùa bỏ hoang nầy về sau có cất lên một biệt thự lầu lớn kiểu âu-châu tại số 28 đường Testard mà Bà Bác Sĩ Henriette Bùi (con gái thứ ba của Ông Bùi Quang Chiêu) mướn lại của người chủ là một luật sư người Pháp làm dưỡng đường sản-phụ khoa vào thập niên 1940. Ông Bùi Quang Chiêu (1872-1945) là kỹ sư canh nông Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp bên Pháp năm 1897 và bị Trần Văn Giàu (phong trào Việt Minh) ám sát cùng ba người con trai vào tháng 9 năm 1945. Còn Bà Henriette Bùi Quang Chiêu sanh năm 1906 là người đàn bà Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp y-khoa bác sĩ tại Paris năm 1929, nay Bà đã 103 tuổi và hiện còn minh mẩn và sống tại ngoại ô Paris: Bà kể lại rằng vào năm 1943 nhà nầy được bán lại cho một người Do Thái tên là David chủ của nhiều biệt thự tại Sài Gòn; vào đầu năm 1945 chánh phủ Pháp trưng dụng nhà nầy và cho Bà thuê một biệt thự khác ở đưởng Blancsubé để dời dưỡng đường đến đấy. Tháng 3 năm 1945 Nhựt đảo chánh Pháp và tịch thu căn villa nầy, và khi Pháp trở lại thì trao cho Viện Đại Học Sài Gòn để rồi năm 1947 nơi nầy trở thành chi nhánh của Đại Học Y-Dược Khoa Hà Nội rồi năm 1954 thành Đại Học Y-Dược Khoa Saigon, nơi tôi được đào tạo trong sáu năm với GS Phạm Biểu Tâm làm Khoa Trưởng. Nơi đầy kỷ niệm nầy nay là Bảo Tàng chứng tích chiến tranh.

Lớn lên tôi đi xe đạp về một mình nhưng thích đi theo đường Testard hơn vì có bóng mát dưới hàng cây me, song song với đường Richaud (sau đổi lại đường Phan Đình Phùng) và thường ghé biệt thự số 6 đường Eyriaud des Vergnes (sau là Trương Minh Giảng) chơi với một bạn học cùng lớp, nhứt là vào mùa các cây trứng cá có trái. Ông Etienne Richaud là một Toàn Quyền Đông Dương hồi cuối thế kỷ XIX, còn Ông Alfred Eyriaud Des Vergnes 5 người gốc Châteauroux là Kỹ Sư Trưởng Nha Công Chánh Nam kỳ (Cochinchine), Ông là một thần đồng tốt nghiệp trường Polytechnique tại Paris lúc 17 tuổi sau đó học trường Ponts et Chaussées, ra lệnh lấp kinh Charner, tạo hệ thống cống dài 7 km, cất 12 cầu theo “Kinh Tàu” (Arroyo chinois nối liền với rạch Bến Nghé chảy ra sông Sài Gòn). 

Ông Eyriaud Des Vergnes là người đầu tiên có ý lập ra đường sắt tại Việt Nam chạy lên Cambodge nhưng kế hoạch không thành, về sau nhờ Kỹ Sư Thévenet Giám Đốc Nha Công Chánh Nam Kỳ và sự hỗ trợ của Cố Vấn chánh phủ Paul Blanchy mà Việt Nam có đường sắt đầu tiên đi từ Sài Gòn đến Mỹ Tho năm 1885. Hai người nầy cũng có tên đường và sau 1955 đổi lại là Tú Xưong (Thévenet) và Hai Bà Trưng (Paul Blanchy).

Sau khi qua đường Pierre Flandin (tên của một “đứa con” của Sài Gòn tuy sanh tại vùng Vaucluse và tử trận tại Noyon, tỉnh Oise, miền bắc nước Pháp vào năm 1917), đến cuối đường gặp rạp hát Nam Quang (nay vẫn còn), tôi quẹo trái ra đường Verdun (khoảng đó tên là đường Thái Lập Thành), đến ngã sáu Sài Gòn thì tôi lại đi qua đường Frère Louis để về nhà bằng đường d’Ypres cho vắng xe. Đường nhỏ nầy ở sau “Mả Lá Gẫm”, đúng hơn là của Ông Mathieu Lê Văn Gẫm, có bức tượng trong nhà thờ Huyện Sỹ, tử đạo thời vua Thiệu Trị vì bị hành hình lối năm 1847, mả đó nay vẫn còn nguyên tuy bị che khuất, và Ypres là tên một thành phố nhỏ bên vương quốc Bỉ, như thành phố Dixmude, nơi đã xẩy ra những trận đánh lớn hồi Đệ Nhứt Thế Chiến.

Đi xích lô mỗi ngày như vậy hoài cũng chán nên tôi thường đề nghị với Chú Ba đi về bằng ngả khác, thuở ấy đường phố ít xe hơn bây giờ vì Sài Gòn và Chợ Lớn không hơn một triệu dân cư. Tôi thích nhứt đi về nhà qua chợ Sài Gòn : Chú Ba tránh đường Mac Mahon (sau 1952 đoạn nầy lấy tên De Lattre de Tassigny và sau đó là Công Lý), đi đường Barbé và một đoạn đường Chasseloup-Laubat, rồi quẹo trái qua đường Miss Cavell với hàng cây cao bên hông Cercle Sportif Saigonnais (tên không phải viết Cawell hay Cavel : Edith Cavell là một nữ y-tá người Anh bị quân Đức xử bắn tại Bỉ vào năm 1915 lúc 50 tuổi vì giúp tù binh Anh, Bỉ và Pháp trốn qua Hòa Lan) để trổ ra đường Aviateur Garros rồi xuống chợ Sài Gòn, nơi bán nhiều trái cây (Roland Garros là phi công Pháp đầu tiên bay xuyên biển Méditerranée hồi 1913 và tử trận năm 1918).

Rồi cứ đi theo mãi đường d’Espagne (sau là Lê Thánh Tôn) vì vào 1859 quân lính Tây-Ban-Nha dưới quyền chỉ huy của các Đề Đốc Pháp đóng tại đó) để về Ngã Sáu (Phù Đổng) rồi về Colonel Boudonnet bằng ngã Amiral Roze. Đặc biệt Sài Gòn có rất nhiều tên đường mang tên các trận đánh thời Đệ Nhứt Thế Chiến (Boulevard de la Somme, Chemin 6 des Dames, đường Verdun, đường Arras, đường Champagne, đường Dixmude, đường Douaumont, Quai de la Marne….) và tên các đề đốc Pháp vì dưới thời các vua Minh Mạng và Tự Đức tất cả quân Pháp đến Việt Nam bằng tàu thủy mà hai vị có tiếng nhứt là Charner và Bonard. 

Đô Đốc Léopold Victor Charner người vùng Bretagne, gốc Thụy Sĩ là Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Hải Quân Pháp tại Đông Nam Á, ngưòi đã chiếm Nam Kỳ, còn Đề Đốc Adolphe Bonard (chớ không phải Bonnard ) là Thống Đốc đầu tiên của Nam Kỳ do hoàng đế Napoléon III bổ nhiệm vào năm 1861 dưói thời vua Tự Đức.
Vào cuối thế kỷ XIX kinh rộng nhứt của Sài Gòn là “Kinh Lớn” hay “Kinh Charner” đi từ sông Sài Gòn đến Tòa Thị Sảnh, có hai đường dọc hai bên : đường chạy xuống bờ sông là đường Rigault de Genouilly, đường chạy lên là đường Charner. Vì mùi hôi thúi người Pháp lấp kinh lại sau nhiều năm bàn cãi và khi “đường Kinh Lấp” thành lập thì đương nhiên lấy tên Boulevard Charner vào năm 1861 nhưng Ba tôi vẫn gọi là đường Kinh Lấp vào những năm 1930. 

Trước đó, có một kinh dẫn nước sình lầy chảy ra Kinh Tàu từ chợ Bến Thành (người Pháp gọi là Les Halles Centrales), theo Học Giả Vương Hồng Sển vì gần rạch Bến Nghé và gần Thành Gia Định, kinh đó mang tên kinh Gallimard. Thiếu Tá công binh Léon Gallimart có dự trận đánh Kỳ Hòa, và đào kinh nầy vào năm 1861 theo lệnh của Đô Đốc Charner. Kinh nầy sau khi lấp lại theo ý kiến của kỹ sư Thiếu Tá Bovet năm 1867 lấy tên là Đại Lộ Bonard, vì thế đường nầy mới rộng lớn như ngày nay. Lúc lấp kinh và bến đò họ thành lập một công trường lớn, đó là “Bùng Binh” trước chợ Bến Thành mà người Pháp gọi là Place Eugène Cuniac, tên của một Thị Trưởng Sài Gòn, nay vẫn còn tên Công Trường Quách Thị Trang, một nữ sinh thiệt mạng lúc biểu tình dưới thời Ngô Đình Diệm năm 1963. 

Trước Tòa Thị Xã Sảnh, ở góc đường Charner và Bonard cũng có một bùng binh nhỏ với nước phun lên tên là Place Francis Garnier, nay là công trường Lam Sơn, để tưởng nhớ đến một sĩ quan hải quân trẻ tuổi phiêu lưu trên đất bắc và tử thương tại Hà Nội hồi 1873. Nhiều đường khác củng do lấp kinh mà ra như Boulevard de La Somme (rạch Cầu Sấu, sau nầy là đại lộ Hàm Nghi), đường Tổng Đốc Phương (hay Đỗ Hữu Phương), đường Pellerin (tên của một Giám Mục đã bênh vực công giáo Việt Nam nhưng khuyên lầm Đề Đốc Rigault De Genouilly lúc tấn công Đà Nẳng vào 1858) sau nầy đường Pellerin lấy tên là Pasteur.

Đường mà tôi thích nhứt, sang trọng nhứt và có tiếng nhứt Sài Gòn là đường Catinat, có trước khi người Pháp đến và mang tên một thuyền lớn đã bắn đại bác vào Đà Nẳng (chớ không phải tên của một Đề Đốc như nhiều người tưởng, thuyền “Le Catinat” lấy 7 tên của Thống Chế Nicolas de Catinat, sống hồi thế kỷ XVII dưới thời Louis XIV). Nơi đó có rất nhiều tiệm sang trọng, đường phố sạch sẽ và có nhiều “Ông Tây” ngồi uống cà phê tại khách sạn Continental, lúc đó chưa có tiệm Givral và nơi đó là Nhà Thuốc Tây Solirène, thay thế Pharmacie Centrale. Sau nầy có thêm tiệm Brodard ở gốc đường Catinat và Carabelli, tên của một Nghị Viên thành phố. 

Tôi cũng có dịp vô nhà sách Albert Portail (nay vẫn còn dưới tên Xuân Thu từ 1955) và đi dạo trong Passage Eden vì trong cùng có rạp hát Eden, rạp nầy và rạp Majestic ở cuối đường Catinat là hai rạp chiếu bóng sang nhứt Sài Gòn vào thuở đó; đi chơi vậy chớ có tiền đâu mà mua đồ, nhiều lắm thì lấy vài tấm hình mà các ông phó nhòm chụp dạo lúc đi trước “Nhà Hát Tây”, cất theo kiểu Opéra bên Paris. Đường Catinat là đường tráng nhựa đầu tiên của Sài Gòn, khi mới tráng nguời ta kêu là đường “Keo Su” dài tới Nhà Thờ Đức Bà ; qua công trường Pigneau de Béhaine trước Bưu Điện có bức tượng Ông “Cha Cả” hay Evêque d’Adran dẫn Hoàng Tử Cảnh ra trình diện Louis XVI tại Versailles. Sau khi qua khỏi đường Norodom thì đường Catinat lấy tên của Cố Vấn chánh phủ và Nghị Viên Thị Xã Sài Gòn Blancsubé và tiếp theo công trường Maréchal Joffre với tượng đài chiến si tử vong trong Đệ Nhứt Thế Chiến là đưòng Garcerie với những hàng cây cao, sau nầy mang tên Duy Tân và công trường Quốc Tế hay “Hồ Con Rùa”.

Ba tôi có nhiều bạn người Tàu và thừờng vô Chợ Lớn chơi bằng xe lửa điện (tramway) mà người ta thường gọi là “xe lửa giữa” vì chạy giửa đường Gallieni, tới trạm gare de Nancy thì bạn của Ba tôi lên xe lửa đi cùng vì ở gần thành Ô Ma (Camp des Mares, sau nầy là Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia). Tôi còn nhớ xe lửa giữa đó, với ghế cây theo kiểu của Métro xưa bên Paris, chạy thẳng theo đường Gallieni nối liền Sài Gòn với Chợ Lớn. 

Ba tôi nói lúc trứớc nơi đây toàn là đất hoang và sình lầy, sau khi lấp bưng thành đường đất gồ ghề rồi khi Ba tôi xuống Sài Gòn học vào năm 1928 thì đường mới được tráng nhựa và năm sau điện giăng giữa chia con đường làm hai chiều, một bên chạy lên một bên chạy xuống, đường rầy xe điện đặt trung tâm đại lộ, đến năm 1953 mãn hạn giao kèo khai thác mới dẹp. Đường nầy mang tên của Thống Chế lừng danh Joseph Gallieni chết năm 1916 nhưng phục vụ ngoài Bắc lúc còn Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh và sách vở ghi công Ông về tổ chức hành chánh tại Đông Dương. Tên của Ông viết với chữ “e” chớ không phải với chữ “é” vì là người gốc Ý Đại Lợi.

Xe điện chạy thẳng vô đường rue des Marins, qua khu Đại Thế Giới nay là khu Cát Tường và đường Jaccario (vì lúc trước pháo hạm “Le Jaccario” đậu gần đó trên “Kinh Tàu” hay Arroyo chinois trong Chợ Lớn, và chắc lính thủy lên bờ nhiều nên mới gọi là rue des 8 Marins), ở góc đường có vũ trường Arc-En-Ciel, sau 1975 đổi tên là nhà hàng và khách sạn Arc-En Ciel Thiên Hồng, đến đường Tổng Đốc Phương thì quẹo qua trái mới đến Bưu Điện Chợ Lớn, nhà ga cuối cùng là Gare Rodier, tại Kinh Tàu.

Lúc còn ở đường Colonel Boudonnet tôi có nhiều bạn ở khu nhà thờ Huyện Sỹ và thường vô phía sau nhà thờ bắn “giàn thun” trên mấy cây soài nên bị “Ông Từ” rượt nhiều lần ! Ngoài đường Frères Guillerault trước nhà thờ, còn có đường Duranton và đường Léon Combes mà sau nầy đổi tên là Sương Nguyệt “Ánh”. Trung Sĩ Léon Combes là một đứa con của Sài Gòn ở Giồng Ông Tố bên Cát Lái tử trận năm 1917 tại Craonne, thuộc tỉnh Aisne vùng Picardie phía Bắc Paris. Tôi nhớ, vì học “trường tây” nên tôi thắc mắc và tự hỏi Bà nào mà mang họ Sương mà tôi tìm hoài trong sách vở không thấy ? Sau nầy tham khảo mới biết đó là tên bút hiệu của Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuê (có sách nói là Nguyễn Xuân Khuê), con gái thứ tư của cụ Nguyễn Đình Chiểu, người đàn bà đầu tiên làm Chủ Bút báo “Nữ Giới Chung” cho phụ nữ hồi 1918. Tuần báo nầy còn tên là Fémina Annamite và tòa soạn ở 13 đường Taberd, trong sách kể là Sương Nguyệt ANH (=Góa phụ Nguyệt Anh), nhưng tại sao hồi 1955 họ đổi tên đường Léon Combes thành Sương Nguyệt ÁNH ?

Về sau, gia đình tôi dọn về Chợ Lớn ở đường Lacaze, nay là đường Nguyễn Tri Phương, nổi tiếng vì “Mì La Cai”, đường mang tên của Đô Đốc Lucien Lacaze, Bộ Trưởng Bộ Hải Quân từ 1915 đến 1917 hồi Đệ Nhứt Thế Chiến, nhưng chúng tôi ở khúc trên, gần gốc đường Pavie (nay là Lý Thái Tổ chớ không phải đường 3 tháng 2 vì dường nầy mới có vào lối 1957, lúc trước là trại lính) dẫn lên trường đua Phú Thọ. Khúc dưới đường mang tên ông Auguste Pavie (lừng danh trên đất Lào) dặc biệt rộng lớn và rất dài, có nhiều cây và bên trong có đường dành cho xích lô và xe đạp. Nếu đi từ Ngã Bảy xuống công trường Khải Định, từ giữa đường nầy đến đường Frédéric Drouhet sẻ thấy những biệt thự mà “Chú Hoả” cất cho con cháu ở (tên thường gọi của Jean-Baptiste Hui Bôn Hoả một triệu phú người Tàu tham gia với chánh quyền tặng thành phố Sài Gòn Policlinique Déjean De La Bâtie, tên của một bác sĩ tận tụy lo cho người Việt Nam, ngoài đường Bonard, sau nầy trở thành Bệnh Viện Đô-Thành), sau 1954 các nhà nầy dành cho Ủy Hội Kiểm Soát Quốc Tế Đình Chiến ở và khúc đường nầy gọi là đường Hui Bôn Hoả.

Lúc đó đường Pavie có xe nhà binh pháp chạy nhiều vì có thành lính gần đó và tại khu đường Cây Mai, trước khi tới Phú Lâm. Khu đất từ đường Lacaze đến đường Ducos (sau đổi là đường Triệu Đà) là đồng mả, đường hẻm tôi ở trước một mả đá lớn, mới phá hồi tháng 11 năm 2004 : đó là mả có từ thế kỷ thứ XVIII của một người đàn bà lối 50 tuổi 9 và quan tài thứ nhì chắc là của một người đàn ông, chỉ có vài nữ trang chớ không có vàng bạc chôn theo như người ta tưởng.
Từ đường Lacaze đi ra trường Chasseloup Laubat xa hơn, tôi phải đạp xe xuống Ngã Bảy, quẹo trái qua đường Général Lizé, rồi đạp thẳng hoài, qua khỏi đường Verdun đường nấy lấy tên Legrand De La Liraye. 

Qua khỏi trường nữ sinh Gia Long (hồi xưa gọi là Collège des Jeunes Filles Annamites, sau là Trường Aó Tím) và đến tận trường Marie Curie mới quẹo xuống đường Barbé. Đường Général Lizé là một đường chiến lược rất dài lúc trước gọi là đường Hai Mươi, đi từ Ngã Bảy Chợ Lớn, nối dài đường Pierre Pasquier, đến đường Albert Premier trên Dakao, lấy tên của Trung Tướng Lucien Lizé, xuất thân từ trường Polytechnique, Paris, Tư Lệnh Pháo Binh chiến trường Ý tử trận hồi 1918, có phục vụ bên Việt Nam lúc còn Đại Tá, còn Legrand De La Liraye là một trong những linh mục thông ngôn cho Đề Đốc Rigaud De Genouilly và trở thành Thanh Tra phụ trách về các hồ sơ giưã người Việt và chánh quyền bảo hộ. 

Sau 1954 đường nầy đổi thành đường Phan Thanh Giản, một vị anh hùng sáng suốt và can đảm của Việt Nam. Tiếc thay sau 1975 không còn đường nào trên mảnh đất Việt Nam mang tên anh hùng dân tộc nầy, cũng như không còn đường vào mang tên Lê Văn Duyệt và cũng không còn trường học nào mang tên Petrus Ký ! Cho tới nay tôi chưa thấy một học giả Việt Nam nào giỏi hơn Petrus Trương Vĩnh Ký, tuy vài “Sử Gia” buộc tội vị nầy nhiều điều vô lý, họ quên rằng công lao lớn nhứt của Ông Petrus Ký là truyền bá cho dân chúng sử dụng chữ quốc ngữ có từ Alexandre de Rhodes vào thế kỷ XVII thay thế chữ Nôm khó học và khó viết. 

Tôi nghe nói ở Vĩnh Long hiện nay có một trường học mang tên Phan Thanh Giản và vào tháng 11 năm 2008 rạp chiếu bóng Nguyễn Văn Hảo đường Trần Hưng Đạo tại Sài Gòn đang hát tuồng “Tả Quân Lê Văn Duyệt”, đó là điều đáng mừng vì những vị anh hùng các triều nhà Nguyễn phải được hồi phục.

Hồi thời Pháp thuộc cũng có những tên đường mang tên những anh hùng hay nhân tài Việt Nam như đường Paulus Của (Đốc Phủ Sứ Hùynh Tịnh Của) trên Dakao, đường Tổng Đốc Phương (Đổ Hữu Phương) trong Chợ Lớn, đường Phủ Kiệt (Đốc Phủ Sứ Trần Văn Kiệt là Nghị Viên thành phố trên 25 năm), Hùynh Quan Tiên, Nguyễn Văn Đưởm trên Tân Định (cà hai là Nghị Viên Thuộc Địa và Nghị Viên Thành Phố), Nguyễn Tấn Nghiệm (Nghị Viên), và Trương Minh Ký, một trong những Nghị Viên đầu tiên của thành phố, ông nầy tên thật là Trương Minh Ngôn cháu bốn đời của Trương Minh Giảng, được ông Trương Vỉnh Ký đem về nuôi và đổi tên, cho đi Pháp học và là một trong 7 10 người sáng lập viên ra Trường Thông Ngôn (Ecole des Interprètes) nằm trong Tòa Án, nhờ làm thông dịch viên lúc Traité de Patenôtre năm 1884 nên được vô quốc tịch Pháp, người mất lúc 55 tuổi vì bệnh lao phổi.

Vị anh hùng Đại Úy phi công của quân đội Pháp, xuất thân từ trường Võ Bị Saint-Cyr và là cựu sĩ quan Lê Dương mang tên Đỗ Hữu Vị có tên trên một đường từ bùng binh chợ Bến Thành đến đường Charner, trước đó đường nầy mang tên Hamelin sau nầy đổi lại là Huỳnh Thúc Kháng. Đại Úy Vị là con thứ năm của Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương, sau khi học trung học tại trường nổi danh Janson De Sailly tại Paris, nhập học vô trường Saint-Cyr vào năm 1904. Trung Úy bên Bắc Phi, ông gia nhập vào binh chủng Không Quân vừa thành lập ; bị thương nặng Đại Úy Vị từ chối giải ngũ và trở về đơn vị Lê Dương và tử thưong tại mặt trận tỉnh Somme năm 1916. Hài cốt được người anh cả là Đại Tá Đỗ Hữu Chấn đem về chôn cất trong nghĩa trang gia đình tại Chợ Lớn.

Nay Sài Gòn mất nhiều di tích ngày xưa, vì chiến tranh và vì sự thay đổi thời cuộc, tôi tiếc nhứt là hồi tháng ba năm 1983 đã sang bằng “Lăng Cha Cả”, có từ 1799 để lập một công trường mà chả thấy ai ngồi … Hai người ngọai quốc đã ảnh hưởng Việt Nam nhiều nhứt là Alexandre de Rhodes va Pierre Joseph Pigneau de Béhaine, được dân Việt Nam biết dưới tên Bá Đa Lộc hay Evèque d’Adran, người đã giúp Nguyễn Ánh lên ngôi, đi với Hoàng Tử Nguyễn Phúc Cảnh qua triều đình vua Louis XVI để ký Hiệp Ước Versailles năm 1787. 

Tên thật là Pigneau, sau đó thêm vô sau tên ấp Béhaine của làng Origny-en-Thiérache mà gia đình có phần đất, thuộc tỉnh Aisne, trong vùng Picardie ở miền bắc nước Pháp. Vua Gia Long cất một ngôi nhà ở số 180 đường Richaud cho Bá Đa Lộc (nay vẩn là Tòa Tổng Giám Mục đường Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3) và đọc điếu văn khi người mất năm 1799.

 Mộ ông người Sài Gòn gọi là Lăng Cha Cả là một trong những di tích xưa nhứt của Sài Gòn “ở Gia Định” vào thời Gia Long, sau nầy ở trước trại Phi Long trên Tân Sơn Nhứt. Cốt của Cha Pigneau de Behaine được đem về Pháp năm 1983 và chôn trong nhà thờ Séminaire des Missions Etrangères, rue du Bac tại quận XV Paris. Tôi có viếng thăm nhà kỷ niệm cua Cha Pierre Joseph Pigneau de Béhaine, ở làng Origny-en-Thiérache, trở thành từ năm 1953 “Musée Monseigneur Pigneau de Béhaine” và sau khi xem xong tâm hồn tôi thả về dĩ vãng của một Việt Nam oai hùng tranh đấu cả ngàn năm để giử biên cương …

Tôi cũng có dịp thăm viếng nhiều di tích của xứ Pháp từ thời Trung Cổ, nhiều lâu đài của Âu Châu và Nga Sô có từ thế kỷ XV, luôn cả những ngôi mộ bên Ai Cập có trước 11 nền văn hóa của Hy Lạp và tiếc rằng xứ tôi không biết giữ gìn những kho tàng quý giá của lịch sử.



__._,_.___

Posted by: truc nguyen 

Featured Post

Tên các Quốc gia mà người Sài Gòn hay gọi trước năm 1975

https://www.facebook.com/groups/miennamvietnam/posts/1953798441526381/ https://www.facebook.com/buianhhuy095096/posts/t%C3%AAn-c%C3%A...

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List