QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Thursday, March 10, 2016

Nhân dịp 30 tháng 4, giới thiệu sách CHIẾN TRANH VIỆT NAM TOÀN TẬP của Tiến sĩ Nguyễn Đức Phương


Nhân dịp 30 tháng 4, giới thiệu sách
CHIẾN TRANH VIỆT NAM TOÀN TẬP
của Tiến sĩ Nguyễn Đức Phương
do nhà xuất bản Làng Văn ấn hành

(nếu không thấy hình, xin bấm vào attachment bên dưới để xem)

      Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập là một tác phẩm lớn, đúc kết toàn diện, nghiêm chỉnh và chính xác về chiến-tranh Việt-Nam trên bình-diện quân-sự. Tác giả đã tập trung tài liệu về các trận đánh tiêu biểu từ năm 1963, thời điểm Cộng Sản bắt đầu đưa chiến tranh sang giai-đoạn mới, cho đến khi Miền Nam hoàn toàn lọt vào tay Cộng-Sản Bắc Việt năm 1975. Cho đến nay, đây là quyển sách duy nhất liệt kê theo thứ tự và đi sâu vào chi tiết các trận đánh trong khoảng thời gian vừa kể, nhất là các trận đánh mà thành phần tham dự chủ lực là các đơn vị thuộc Quân lực VNCH. Căn-cứ vào cường-độ chiến-tranh và mức độ tham chiến của hai phía Quốc Cộng, khoảng thời-gian nầy có thể chia ra làm ba giai-đoạn; quyển sách do đó gồm có 4 chương.
      Chương 1 tóm tắt bối cảnh lịch-sử để độc giả có một ý niệm tổng quát về những biến chuyển liên quan đến cuộc chiến tranh Việt-Nam trong khoảng thời gian từ năm 1963 đến năm 1975.
      Chương 2 ghi lại các trận đánh trong hai năm 1963-64 khi Cộng-Sản Bắc-Việt bắt đầu phát-động chiến-tranh xâm-lược tại Miền Nam.
      Chương 3 mô tả giai-đoạn VNCH và đồng-minh chống Cộng-Sản xâm-lược. Giai-đoạn nầy bắt đầu năm 1965, kéo dài đến mùa hè năm 1972 khi VNCH nhận được sự giúp đỡ trực tiếp của các quốc-gia đồng-minh.
      Chương 4, bắt đầu với sự rút lui của quân-đội đồng-minh theo hiệp-định Ba-Lê năm 1973. QL/VNCH tiếp tục cuộc chiến chống xâm-lược một cách đơn độc, cho đến khi CSBV cưỡng chiếm hoàn toàn Miền Nam vào năm 1975.
      Về tài-liệu tham-khảo, tác-giả đã cố gắng sưu tập từ cả hai phía Tự do và Cộng-Sản để đưa đến cái nhìn tổng thể.
      Về nội-dung, tác-giả trình bày một cách trung thực những sự kiện đã xảy ra. Quá khứ đã trôi qua mấy mươi năm, cùng với sự sụp đổ của chủ-nghĩa Cộng-Sản đã đủ để chứng-minh tất cả. Ðể đạt tới mức chính-xác trên phương-diện sử liệu, tác-giả đã liên-lạc những chứng nhân lịch-sử, ghi nhận hoặc kiểm chứng những điểm liên hệ.
      Về hình thức, các tài-liệu tham-khảo và bản đồ liên hệ được đặt ở phần cuối của từng trận đánh để độc-giả có thể tra cứu một cách dễ dàng và nhanh chóng.

      Tóm tắt nội dung:
      53 trận đánh lớn với sơ đồ mặt trận, diễn tiến, kết quả.
-          1963-1964, QL/VNCH chiến đấu đơn độc (chưa có quân Đồng Minh): Ấp Bắc, Đầm Giơi, Hiệp Hòa, Suối Đá, An Lão, Bình Giã.
-          1965-1972 (có Đồng minh): Vũng Rô, Ba Gia, Phụng Dư, Đồng Xoài, Đức Cơ, Bố Đức, Vạn Tường, Pleime, Ia Drang, Bàu Bàng, Hành quân Masher/White Wing, A-Shau, Hành quân Attleboro, Long Tân, Hành quân Cedar Falls, Hanh quân Junction City, Cồn Tiên, Rạch Ba Rài, Dakto, Khe Sanh, Tổng công kích Mậu Thân, Làng Vây, Đại Độ, Khâm Đức, Lam Sơn 719, Căn cứ Hỏa lực Mary Ann, Mùa hè 1972.
-          1972-1975, QL/VNCH chiến đấu đơn độc (sau khi Đồng minh tháo chạy): Hồng Ngự, Cửa Việt, Sa Huỳnh, Quảng Đức, Hoàng Sa, Hành quân Trí Pháp, Hành quân Svay Riêng, Tống Lê Chân, Thượng Đức, Phước Long, Chiến dịch 275, Lui binh trên tỉnh lộ 7B, Lui binh tại Quân đoàn 1, Phan Rang, Xuân Lộc, “Chiến dịch Hồ Chí Minh” của CS Bắc Việt.
-          Phụ-bản A sơ-lược sự hình thành và phát-triển của QLVNCH.
-          Phụ-bản B giải-thích cơ-cấu tổ-chức của các đơn-vị quân-đội Mỹ tham chiến tại Việt-Nam.
-          Phụ-bản C viết về quân-đội CSBV và Việt-Cộng.
-          Phụ-bản D liệt kê một số quân-cụ tiêu biểu.
-          Phụ bản E và G là hai văn kiện lịch sử: Hiệp-định Genève năm 1954 dẫn tới việc thành lập nước Việt-Nam Cộng-Hòa và Hiệp-định Ba-Lê năm 1973 đưa đến sự cáo chung của chính thể tự do đó.

Các tướng lãnh VNCH đóng góp tài liệu: Nguyễn Xuân Thịnh, Vĩnh Lộc, Bùi Đình Đạm, Nguyễn Duy Hinh, Lê Minh Đảo, Lý Tòng Bá, Trần Quang Khôi, Lê Quang Lưỡng, Mạch Văn Trường, Phạm Duy Tất, Hồ Văn Kỳ Thoại.

Tác giả Nguyễn Đức Phương, sinh năm 1950 tại Sài Gòn, tốt nghiệp khóa 27 Sĩ quan hiện dịch, Hải quân thiếu úy, tốt nghiệp Tiến sĩ Cơ khí tại Anh quốc năm 1983, phục vụ trong Bộ Quốc phòng nước Anh.

Sách Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập khổ lớn, bìa cứng, dày 960 trang, nguyên giá 45 mỹ kim.
Làng Văn “sales” trong 30 ngày với giá 30 mỹ kim bao luôn cước phí nội địa Mỹ (độc giả ở các nước khác xin liên lạc để biết cước phí).

Có thể mua ngay từ bây giờ, trả qua Paypal cho địa chỉ langvan@langvan.net
hoặc gửi chi phiếu về:
Làng Văn
250 North Service Road
Grimsby, Ontario L3M-4E8
Canada

Hạn chót: 30 tháng 4, 2016




  

Tết Mậu Thân 68 CS chiếm Huế 26 ngày  . Nhóm SV tranh đấu nằm vùng theo CS cho treo các tấm Banner :

" Tinh thần Cách Mạng 1-11- 63 BẤT DIỆT "  ,  hung hăng tàn sát dân lành vô tội.


http://farm8.staticflickr.com/7054/6913272279_58a4676a7a_b.jpg


Huế tang thương trong máu lửa ngập trời ...với hơn bảy ngàn nhân viên chính phủ , cảnh sát và thường dân bị chôn sống.
 
Sau Tết Mậu Thân , dân Huế kinh nghiệm đau thương, đã sáng mắt ra và tự đó gọi Thượng Tọa  Thích Trí  Quang là  " Sư  Hổ  Mang "



On Tuesday, March 8, 2016 8:03 PM, " hungthe   wrote:


 
         Kính chuyển quývị, baì viết rất giá trị đọc cuả T/g thẩm phán PhanThiết Nguyễn Kim Khánh, ht

----- Forwarded Message -----
From: Phaolo Thai wrote
Sent: Tuesday, March 8, 2016 2:37 PM
Subject: Đệ nhất Cộng Hoà ....???

​
              Đệ nhất Cộng Hòa có kỳ thị Phật giáo không ?
Phật giáo Thống nhất đã đòi:  Một trong năm nguyện vọng của Phật giáo đồ" là yêu cầu chế độ Ngô Đình Diệm để cho tăng ni được tự do truyền đạo và hành đạo".

Nhưng họ lại không đưa ra được bằng chứng nào cụ thể chứng minh chính quyền Ngô Đình Diệm gây ra những khó khăn hoặc ngăn cản việc truyền đạo hay hành đạo.
Ngược lại người ta có rất nhiều bằng chứng, chứng minh đạo Phật đã phục hưng rất mạnh trong chín năm cầm quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Trước nhất, là số chùa được xây cất.

- Trong cuốn "Our Vietnam Nightmare" bà  Maguerite Higgins  cho biết:
"  1275 ngôi chùa được xây cất,  1295 ngôi chùa được trùng tu dưới trào Ngô Đình Diệm".

- Theo cụ Đoàn Thêm và cụ  Mai Thọ Truyền thì trước khi Tổng thống Ngô Đình Diệm cầm quyền, Nam Việt Nam chỉ có   2206 ngôi chùa, đến năm 1963 số chùa tăng lên thành   4766  ngôi. Nhiều ngôi chùa được quốc gia trợ cấp tiền bạc để xây cất.

- Về các sở văn hóa, trước khi Tổng thống Ngô Đình Diệm cầm quyền, đạo Phật chưa mở trường học. Dưới chế độ Tổng thống Ngô Đình Diệm, hệ thống Trung tiểu học Bồ Đề ra đời. Đỗ Mậu cho biết năm 1970 Phật giáo có  160 trường trung tiểu học trong cả nước. Đa số trường này được xây cất  trước ngày  1.11.1963.

Đọc những thành quả trên, liệu người ta có dám kết luận Tổng thống Ngô Đình Diệm và chế độ của ông đã "kỳ thị Phật giáo" không ?

Xét chung trên bình diện chính sách quốc gia cũng như thành quả của đạo Phật trong chín năm cầm quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm, người ta không tìm ra được bằng cớ nào chứng tỏ Tổng thống Ngô Đình Diệm và chính quyền của ông kỳ thị đạo Phật, kỳ thị giáo hội Phật giáo, kỳ thị tín đồ đạo Phật.

Khi tôi đưa ra một vài vấn đề để viết bảng so sánh dưới đây, tôi không đề cao Công giáo hay miệt thị Phật giáo. Tạm thời tôi chỉ nói về:

Yếu tính đạo giáo
- Đạo Phật không hẳn là một tôn giáo, vì tôn giáo phải có Thần Linh .
Đức Phật không phải là Thần Linh. Ngài chỉ là bậc Đại giác, bậc Chánh Đẳng Chánh giác, nói theo chữ Phạn là A-niệu-da-la Tam-niệu Tam bồ đề (Amuttara Samyak Samboddhi). Các đệ tử theo ngài đều là tỳ kheo như nhau, không đẳng cấp. Đã không không hẳn là tôn giáo, thì cũng không hẳn phải có giáo hội mà chỉ có những tu hội quy tụ những người đồng một chí hướng trong một tu viện hay một ngôi chùa.

- Đạo Công giáo rõ ràng là một Tôn giáo vì có Thần Linh Tối Cao là Thiên Chúa, và có hàng giáo phẩm thống thuộc từ cao xuống thấp tỏa rộng sinh hoạt trong cộng đồng tín đồ. Chúa Jêsu đã thiết lập giáo hội, đặt ông Phê-rô làm đầu chăn "các chiên mẹ và chiên con". Chúa như cây nho, tín đồ là cành nho. Thánh Phao-lô gọi giáo hội là là "thân thể mầu nhiệm" của Chúa. Giáo hội trở thành keo sơn liên kết người sống và kẻ chết: Giáo hội đang chiến đấu là giáo hội hữu hình, gồm toàn dân Thiên Chúa ở trần gian, giáo hội khải hoàn là toàn thể dân Chúa trên Thiên đàng, giáo hội đau khổ là toàn thể dân Chúa đang chịu thanh luyện sau khi chết, để nhập vào giáo hội khải hoàn.

- Hệ quả: Chữ Giáo Hội trong đạo Phật là mượn của Đạo Thiên Chúa: Là Ecclesia, Église, Church, theo Thánh Kinh (Mat.16,19), nhưng chỉ mượn được "sắc tướng" thôi, chứ bản chất thì không thể mượn được . Vì thế, tín đồ Công giáo đoàn kết keo sơn thành một cộng đồng rõ nét, và tuân lệnh chủ chiên của mình là hàng giáo phẩm trong vấn đề đức tin. Đời sống giáo hội thông hiệp với tín đồ bằng lời Chúa do giáo sĩ giảng dạy và nuôi dưỡng tinh thần tín đồ bằng các phép Bí tích. Bí tích Thánh thể trung tâm của đời sống Công giáo. Điều này, đạo Phật không thể có được, vì trong đạo Phật ai tu nấy chứng. Trong Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng ai cũng phải tự mình mà đạt tới. Chính đức Phật đã dạy:
"Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành" và "Chúng sanh hãy tự đốt đuốc tìm đường mà đi".
Tuy gọi là "quy y Tam Bảo", nhưng tín đồ đạo Phật hoàn toàn tự do, không lệ thuộc vào ai. Đã không lệ thuộc ai, thì sự giao tế trong một cộng đồng chỉ còn là giao tế xã hội hàng ngang. Kết quả sự tôn kính dành cho kẻ truyền pháp (tương đương với giáo sĩ truyền giáo) giảm. Những cái giảm kia xẩy ra ngay trong cộng đồng đạo Phật tỏa rộng ra toàn xã hội, đưa đến Ngộ Nhận là "kỳ thị Phật giáo".

Về những người làm việc tôn giáo
- Đạo Phật: Các tu sĩ đồng hạng đều là tỳ kheo, tức là những người sống theo lối tu hành của Đức Phật. Muốn làm tỳ kheo chỉ cần tâm nguyện xuất gia là đủ. Xuất gia rồi, thì giữ giới luật là thành tỳ kheo. Không bắt buộc trình độ văn hóa hoặc là phải tu học bao lâu. Không có các trường chuyên nghiệp bắt buộc đào tạo tỳ kheo theo một học trình mở rộng cả đạo lẫn đời. Thường thì các vị sư cụ (đại lão Hòa thượng, Thượng tọa) thu nhận một số đệ tử rồi tự các ngài huấn luyện lấy, xong cho thụ giới thành tỳ kheo. Bởi đó, trình độ văn hóa tổng quát của các vị tỳ kheo thường yếu kém, nhiều vị ngay sự hiểu biết về Phật pháp cũng rất lờ mờ, pha trộn tín ngưỡng dân gian, ngoại đạo. Ấy là chưa nói tới một số kẻ lợi dụng như: họ nguyên chỉ là thầy cúng của "đạo" dân gian, bỗng chốc mặc áo tỳ kheo nhập hàng tu sĩ của đạo Phật.

- Đạo Công giáo:  Người giáo sĩ Thiên Chúa dù là giáo sĩ dòng hay giáo sĩ triều (thuộc mỗi địa phận) được đào tạo trong các trường chuyên nghiệp, theo học một học trình Quốc Tế là bảy năm, sau khi tốt nghiệp bậc trung học hay "phổ thông". Ở Đại Chủng Viện, họ được học đủ các môn học về đạo và đời, học về phương pháp truyền giáo, và học cả về các tôc giáo khác… Đại Chúng Viện trang bị cho họ đủ khả năng trở thành những "cán bộ" tôn giáo xuất sắc. Nhiều người trong số họ uyên bác và nói chung đều có học thức.

- Hệ quả: Xã hội Việt Nam trọng kẻ sĩ, những kẻ có học thức thường được kính trọng. Các nhà sư nhiều người xuất thân từ thầy cúng, hoặc là đệ tử của các sư cụ khả năng yếu kém, thì sẽ không đủ uy tín lãnh đạo và không tạo được sự kính trọng của người khác. Điều này, đem so sánh với giáo sĩ Công giáo sẽ tạo ra sự ngộ nhận là "kỳ thị Phật giáo".

Trước năm 1955, đạo Phật ở Việt Nam chỉ là những "tập đoàn" rời rạc, quy tụ chung quanh một ngôi chùa hay một tu viện, lấy việc tu niệm làm chính. Các "giáo hội" Tăng già, Thiền tịnh đạo tràng, Tăng sĩ  Theravada, Tăng già nguyên thủy… giữ nguyên bản sắc của mình giống như dòng tu riêng biệt, không lệ thuộc một "giáo hội" trung tâm như Công giáo. Các vị tỳ kheo tu hành thuần túy không màng tới chuyện đời, không lưu tâm tới vật chất. Những dòng tu hoằng dương đạo pháp, không lệ thuộc một giáo quyền nào cả. Ở thôn quê có các ngôi chùa làng. Chùa làng là công sức và của cải của dân làng chung lưng mà dựng nên, không thuộc tập đoàn Phật giáo nào. Khi đã có chùa rồi, thì hội đồng kỳ mục tự tìm kiếm lấy sư để mời về trụ trì, và dân làng cũng có quyền trục xuất vị sư ra khỏi chùa, nếu ông ta phạm giới.

Từ năm 1955, do cố gắng vượt bực về tài chánh, do chính quyền giúp đỡ, Tổng giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có các hoạt động xã hội và từ thiện: hệ thống trung tiểu học Bồ Đề ra đời, mà trước đó không có.

Đồng hóa đạo Phật với dân tộc:
Chắc chắn dân tộc Việt Nam đã có một đạo giáo khác hẳn với đạo Phật. Đạo ấy, là việc thờ cúng tổ tiên và trọng thánh thần. Việc thờ cúng tổ tiên minh thị chấp nhận như chân lý của dân tộc là linh hồn bất diệt. Vì linh hồn bất diệt cho nên mới có việc thờ cúng người chết, xem người chết như còn hiện diện và vẫn tác động vào các sinh hoạt của người sống.
Trong khi đó, thì giáo lý căn bản làm nên Phật pháp của đạo Phật là thuyết luân hồi, phủ nhận linh hồn hằng sống. Đức Phật không dạy rõ, nếu linh hồn không bất diệt thì cái gì sẽ làm cho các pháp (con người cũng là một pháp) được tái sinh vào các cảnh giới trước khi chấm dứt sinh tử thoát khỏi luân hồi mà vào Niết Bàn?

Các nhà Phật học đã sáng chế ra duy thức học. Cái thức cuối cùng là A-lại-da thức, tiếng Việt dịch là Tâm thức, tức là cái thức "máy móc" tạo thành cái nghiệp theo luân hồi. Dù sao thì thuyết luân hồi cũng trái hẳn với tín ngưỡng của dân tộc là lòng tin vào linh hồn bất diệt qua việc thờ cúng người chết.

Chính vì thế, nên cho dù đạo Phật đã vào nước Việt sớm hơn đạo Thiên Chúa, nhưng mỗi ngày càng xa rời với niềm tin của Đạo Việt tin vào linh hồn hằng sống; đến khi thấy con số tín hữu Công giáo tăng lên vào thời Đệ Nhất Cộng Hòa, thì các tăng lữ đạo Phật vì không biết làm gì hơn, nên đã lên án chế độ của Tổng thống Ngô Đình Diệm là "kỳ thị Phật giáo", là bất công và gian trá.
Nhưng đánh thẳng vào Công giáo không được, vì phạm tới tín ngưỡng của người khác, được xem là tội mọi rợ, bị cả thế giới lên án, vì đó là nhân quyền căn bản và thiêng liêng nhất của con người. Ngay cả cộng sản bài trừ tôn giáo triệt để, nhưng cũng không dám công khai xúc phạm thẳng tới tôn giáo, họ phải nhờ cái cầu "giai cấp". Ở Việt Nam những người thù nghịch Thiên Chúa Giáo đánh Công giáo bằng cách chụp cho Công giáo một cái mặt nạ, một cái mũ. Mặt nạ ấy, là Cần Lao, nhà Ngô và chủ nghĩa Thực dân Pháp. Đọc những lời lên án Công giáo đầy rẫy ta thấy rõ "Thực dân, Cần Lao, nhà Ngô chỉ là cái diện để những người thù nghịch đánh vào Công giáo, không những Công giáo Việt Nam mà cả Công giáo hoàn cầu, là Tòa Thánh La Mã.

Nghiên cứu về mưu kế, sách lược này được sách "Tam thập lục kế" gọi là "Thanh Đông kích Tây hay dương Đông kích Tây". Ở đây không phải là nhà Ngô hay thực dân, mà chính là Đạo Thiên Chúa vậy.

Trở lại cuộc đấu tranh của đạo Phật vào năm 1963. Đa số các tông phái của đạo Phật chỉ lo tu thân, học Phật, nhiều tông phái không muốn lao thân vào cuộc đấu tranh lật đổ "nhà Ngô". Nhiều vị tỳ kheo đức độ nhìn nhận Tổng thống Ngô Đình Diệm là người có công giúp cho các đạo giáo phục hưng và phát triển ở miền Nam, trong đó có đạo Phật. Nếu cứ để tình trạng ấy thì các nhà sư chính khách không thể thực hiện được mưu đồ của mình, mà việc trước mắt là đoàn kết các tông phái rời rạc trong cùng một đạo thu về một mối. Họ đã phát động cuộc đấu tranh: Tổng thống Ngô Đình Diệm trở thành thứ "oan dương" cho họ đổ lên đầu những tội lỗi tưởng tượng.
Kẻ làm chính trị được phép sử dụng những thủ đoạn, được quyền dùng những giả diện để chiếm mục tiêu, nhưng phải thành thật với chính mình, nếu không thì chết. Hứa Du hỏi Tào Tháo về quân lương. Tào Tháo làm mặt bảnh nói quanh, nhưng trong bụng thì lo lắm vì quân hết lương rồi. Sau phải thưa thiệt để Hứa Du hiến kế.

Những kẻ nhận phần trăm dân số đạo Phật ở Việt Nam đã vẽ ra một tương lai tươi sáng cho "đạo pháp và dân tộc" bằng không tưởng, rồi quyết tâm hạ bệ "nhà Ngô". Đến khi "nhà Ngô" đổ rồi, thì đạo pháp trở thành mạt pháp, còn dân tộc thì điêu linh khốn cùng tới tận đất đen. Các tay chính khách đạo Phật từng ngụy trang thành tăng sĩ chính khách, đã đồng hóa đạo Phật với dân tộc, để nhận cái số đông quần chúng làm quần chúng của mình theo cái cách thức của những kẻ làm chính trị. Công thức "đạo pháp và dân tộc" không những trái với lịch sử mà còn tỏ ra là gian dối. Nay họ vẫn chưa từ bỏ tham vọng, dù thực chất của họ chẳng có gì. Những ai có lòng với đất nước Việt Nam không nên ngại ngùng gì mà phải đưa vấn đề ra trước ánh sáng, để quốc dân biết mà tránh sau này.    

Phan Thiết Nguyễn Kim Khánh
__._,_.___

Posted by: nguyen thao 
__._,_.___

Posted by: =?UTF-8?Q?Vi-b=C3=A1o_v=C3=A0_nxb_L=C3=A0ng_Van?= 

Wednesday, March 9, 2016

Bác Nguyễn Ngọc Bích...Trịnh Hội Gửi cho BBC từ London



----- Forwarded Message -----
From: MINHHA PHAM <
To:
Sent: Tuesday, March 8, 2016 12:43 AM
Subject: Bác Nguyễn Ngọc Bích - Trịnh Hội

Bác Nguyễn Ngọc Bích

Trịnh Hội Gửi cho BBC từ London
  • 7 tháng 3 2016
Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích và Trịnh Hội ở hội nghị tại Philippines trong năm 2015 Đêm nay là đêm Chủ Nhật, một đêm không trăng ngày 6 tháng 3.
Tôi đang ngồi trên chuyến bay của hãng hàng không Philippines bay đến London.
Còn bác Bích, chính xác hơn là thi hài của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, thì đang bay ngược trở về Mỹ. Sau đúng ba ngày kể từ khi ông mất. Cũng trên một chuyến bay đêm như đêm nay.
Bác mất trên chuyến bay từ Istanbul đến Manila đáp xuống sân bay Ninoy Aquino International Airport vào lúc 8 giờ tối thứ năm ngày 3 tháng 3.

Giảo nghiệm trong đêm

Đã có đến hàng trăm lần tôi đưa hoặc rước người quen ở phi trường này. Đưa những thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam đi định cư sau nhiều năm bị kẹt lại tại Philippines. Rước bà con, bạn bè đến thăm tôi và tổ chức phi chính phủ VOICE mà tôi đang đảm trách.
Nhưng chưa bao giờ tôi phải ra đón một người bạn, một người thân, một bậc cha chú mà tôi rất kính trọng, trong một hoàn cảnh như thế này. Chỉ trước đó một ngày bác còn email nhờ tôi in ra cho bác bài nghiên cứu mà bác đã soạn sẵn để trình bày trong hội nghị Biển Đông Việt – Phi lần thứ II mà tôi và bác là đồng trưởng ban tổ chức.

Thế mà bây giờ, chỉ vọn vẹn sau 24 giờ đồng hồ, tôi phải mang xác bác đi giảo nghiệm ngay trong đêm.
Để kịp làm giấy chứng tử nội trong ngày mai là thứ sáu. Nếu làm không kịp thì khó mà có thể đem thi hài bác trở về Mỹ ngay trong tuần này theo ước nguyện gia đình bác.

Ngồi trên xe từ phi trường về nhà quàn, xác của bác đã được bọc lại trong tấm bông sô trắng nằm ngay đó, tôi thật không biết phải nói gì với bác Hợi là vợ của bác cũng đang ngồi trên xe.

Lúc vừa gặp tôi và mọi người khi nãy ở phi trường bác Hợi cứ hỏi đi, hỏi lại tại sao bác Bích có thể đi mau như thế, chỉ bảo với bác Hợi là bác cảm thấy mệt, rất mệt như chưa bao giờ mệt đến thế trong đời và thế là bác mất.
Lúc vừa gặp tôi và mọi người khi nãy ở phi trường bác Hợi cứ hỏi đi, hỏi lại tại sao bác Bích có thể đi mau như thế, chỉ bảo với bác Hợi là bác cảm thấy mệt, rất mệt như chưa bao giờ mệt đến thế trong đời và thế là bác mất.
Có lẽ bác Hợi vẫn chưa tin là người bạn đời của bác đã mãi mãi ra đi. Theo lời bác sĩ giảo nghiệm tử thi cho biết vào rạng sáng hôm kia, bác Bích đã bị nhồi máu cơ tim (heart attack) và đã có một cái chết rất nhanh chóng, hoàn toàn không đau đớn.

Âu đó cũng thật là phần phước cho riêng bác. Còn gì hơn, ở những người luôn hoạt động, luôn hướng về đất nước như bác, có được một cái chết như thế?
Chết ngay trên đường đi công tác, trên hành trình đi tìm một tương lai, một giải pháp tốt hơn cho dân tộc. Chết trong sự tiếc thương, cảm phục của nhiều thế hệ đến từ nhiều nước khác nhau trên thế giới.
Từ những người Việt, bằng hữu đã quen biết bác trong nhiều thập niên qua cho đến những người Phi bác vừa mới quen năm ngoái trong hội nghị Biển Đông Việt – Phi lần thứ I.
Tôi không nghĩ có một cái chết nào có ý nghĩa hơn. Mặc dù tôi cũng biết đây là một mất mát rất lớn cho cộng đồng người Việt hải ngoại và đặc biệt là đối với bác Hợi, với gia đình bác.

Nhân cách lớn

Không dễ tìm được ở cộng đồng chúng ta một nhân cách lớn hơn bác Nguyễn Ngọc Bích. Một tài năng không chỉ liên quan đến các vấn đề văn hoá, giáo dục, dịch thuật mà còn lan toả sang cả truyền thông, tổ chức cộng đồng, và tự do, dân chủ cho Việt Nam.
Và trên hết là ở tấm lòng, cách đối nhân, xử thế của bác.
Nhiều người đã biết bác từng giữ những chức vụ quan trọng gì, từ trước năm 1975 và sau này ở hải ngoại. Bác đã có bao nhiêu bài viết, sách được in, tôi không cần phải nhắc lại.
Buổi lễ giản dị tiễn Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích ở Philippines
Ở đây tôi muốn chia xẻ ba khoảnh khắc đã in đậm vào tâm trí của tôi mỗi khi nghĩ về bác. Nó vừa là những kỷ niệm riêng tư giữa tôi và bác, vừa nói lên một phần nào đó tính chất, con người thật của bác lúc sinh tiền.
Tôi gặp bác lần đầu tiên vào đầu thập niên 2000 khi tôi sang Washington D.C. vận động cho các thuyền nhân Việt nam được tái định cư. Điều làm cho tôi ấn tượng nhất khi vừa gặp bác là khả năng viết, nói và dịch tiếng Anh của bác. Khó tìm được một người khác ở cùng thế hệ của bác lại có khả năng Anh ngữ chuẩn như bác.
Mà hình như cả gia đình của bác đều giỏi như nhau. Vợ của bác là tiến sĩ Đào Thị Hợi cũng thế. Anh trai của bác nguyên là Tổng Giám Đốc Thông Tấn Xã Việt Nam, ông Nguyễn Ngọc Linh vẫn thường xử dụng tiếng Anh khi trao đổi với tôi. Ông từng làm tuỳ viên báo chí và thông dịch cho cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Một người anh trai khác, ông Nguyễn Ngọc Phách cũng là một học giả, chuyên dịch văn, thơ Việt Nam.
Đấy cũng là lý do tại sao tôi đã nhờ bác dịch hộ cho tôi cái tên ‘VOICE’, viết tắt của 5 chữ ‘Vietnamese Overseas Initiative for Conscience Empowerment’ khi nó được cho ra đời cách đây đúng 10 năm.
Lúc ấy bác đã không hề ngần ngại và cho dịch ra ngay là: Sáng Kiến Thể Hiện Lương Tâm Người Việt Hải Ngoại.

Cũng có thể trong tương lai chúng tôi cần sửa lại đôi chút cái tên này. Bởi lẽ bây giờ VOICE không chỉ bao gồm những người Việt hải ngoại mà còn có sự góp mặt của nhiều anh em trong nước.
Tính cách của bác Bích là thế. Luôn sẵn lòng giúp đỡ mọi người. VOICE bác cũng giúp. Những ông già, bà cả từ Việt Nam sang, chưa quen biết gì, bác cũng giúp. Bác cũng từng là Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị của Boat People SOS là một tổ chức đã giúp rất nhiều thuyền nhân Việt Nam.

Nhưng tôi sẽ mãi luôn trân trọng tấm lòng và cảm tình của bác dành cho VOICE từ những ngày nó vừa mới được thành lập. Từ việc dịch thuật cho đến lúc cuối đời khi bác và cả bác gái dùng tiền túi để bay sang Phi làm việc với chúng tôi.

Điều thứ hai mỗi khi nghĩ đến bác tôi sẽ phải nhớ đến là lần cách đây hai năm tôi dắt cả ba bác, bác Huỳnh, bác Trâm và cô Liên là ba, mẹ của tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Quốc Quân và Đinh Nguyên Kha, sang Washington D.C. để vận động cho con của họ.

Chính bác Bích là người đã sắp xếp cho phái đoàn gặp được Uỷ Ban Nhân Quyền Tom Lantos ở Hạ Viện Hoa Kỳ. Cũng chính bác là người sắp xếp và giúp tôi chở mọi người đến để gặp mặt cộng đồng người Việt ở Washington D.C. Mặc dù với tuổi đời và ở vị trí của bác, bác hoàn toàn không cần phải làm điều đó.

Tính cách của bác Bích là thế. Luôn sẵn lòng giúp đỡ mọi người. VOICE bác cũng giúp. Những ông già, bà cả từ Việt Nam sang, chưa quen biết gì, bác cũng giúp. Bác cũng từng là Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị của Boat People SOS là một tổ chức đã giúp rất nhiều thuyền nhân Việt Nam.

'Người ơi, người ở đừng về'

Nhưng khoảnh khắc mà tôi sẽ luôn nhớ mãi là cũng vào tháng này năm ngoái khi chúng tôi cùng tham dự hội nghị Biển Đông và sau đó là tĩnh hội của Họp Mặt Dân Chủ. Sau ba ngày làm việc liên tục, chúng tôi đã có một đêm văn nghệ dã chiến.
Đêm hôm ấy lần đầu tiên tôi đã nghe bác hát. Hát với cái giọng Bắc rất chuẩn của bác, hát đi, hát lại câu hát:
Người ơi, người ở đừng về Người ơi, người ở đừng về
Tôi vẫn thường nghĩ trong cuộc sống này, đôi khi không phải ta chọn cho ta một người bạn đời, hay một việc làm có ý nghĩa. Mà chính ta là người được lựa chọn. Nó vừa là một trọng trách, vừa là một nhân duyên.
Bác đã cười rất tươi trong đêm hôm ấy. Hình như bác còn đứng lên, vừa hát, vừa biểu diễn thì phải. Như thể bác được trở về thời ấu thơ trên đất Bắc.
Tôi vẫn thường nghĩ trong cuộc sống này, đôi khi không phải ta chọn cho ta một người bạn đời, hay một việc làm có ý nghĩa. Mà chính ta là người được lựa chọn. Nó vừa là một trọng trách, vừa là một nhân duyên.
Cũng có thể bác Bích đã chọn anh em chúng tôi trong VOICE để lo cho bác trong những ngày vừa qua. Để nhắn nhủ rằng con đường mang dân chủ đến cho Việt Nam sẽ còn gặp rất nhiều khó khăn, và đôi khi sẽ phải hy sinh suốt cuộc đời.

Nhưng chúng ta không thể bỏ cuộc. Không nên bỏ cuộc. Vì có quá nhiều người đã hết lòng vì nó. Trong đó có bác.
Nếu thật thế thì tôi phải cảm ơn bác. Con phải cảm ơn bác.

Cảm ơn bác đã cho con có những kỷ niệm tuyệt vời. Cảm ơn bác đã và sẽ luôn là một nhân cách lớn. Và cảm ơn bác đã ở lại với chúng con trong ba đêm qua.
Như đã hứa trước linh cữu, chúng con sẽ không bao giờ bỏ cuộc.
Vĩnh biệt bác. Nguyễn Ngọc Bích 26.7.1937 – 3.3.2016

Cây bút Trịnh Hội nhớ về Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người qua đời 'trên hành trình đi tìm một tương lai, một giải pháp tốt hơn cho dân tộc'.


__._,_.___

Posted by: Phu Van 

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List