QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 ----- ==== ====

Tuesday, September 19, 2017

Hậu Quả Của Hoa Kỳ Sau Khi Bỏ Rơi Đông Dương.


         Kính chuyển quývị, quýCH baì ít nhất nên đọc một lần, ht


----- Forwarded Message -----
From: D N Krall
Sent: Monday, September 4, 2017 6:27 PM
Subject: Fwd: WG: Hậu Quả Của Hoa Kỳ Sau Khi Bỏ Rơi Đông Dương.


🇱🇷 WE DO NOT LIVE IN VIỆT NAM, VIỆT NAM LIVES IN US.
.
Hu Qu Ca Hoa Kỳ Sau Khi B Rơi Đông Dương.

Tác Giả: Giáo sư Robert F. Turner
nhanvat gs turner
Giáo sư Robert F. Turner
Trung tâm an ninh Luật Pháp Quốc Gia
Đại Học Luật Khoa Virginia & Học Viện Hải Quân.
(Trích trong “Những sự thật về Chiến Tranh Việt Nam)

Tôi là một sinh viên trong số tương đối ít ỏi đã thực tin rằng việc chống Cộng sản xâm lược của Hoa kỳ ở Việt Nam, Lào, Cambodia là đúng.

Tôi lần đầu đến Việt Nam trong một giai đoạn ngắn khi là phóng viên năm 1968, rồi quay về đi lính, bắt đầu chức vụ Trung úy rồi sau lên Đại úy rồi trở lại đó hai lần làm việc tại một bộ phận của toà Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, là Văn phòng Nghiên cứu về Bắc Việt và Việt Cộng.
Tôi có cơ hội được đi tới nhiều địa phận tại Việt nam, khoảng 44 tỉnh thành, có chỗ chỉ đi ngang qua. Tôi được qua Lào, Cambodia. 
Sau khi giải ngũ tôi gia nhập Hoover Institution, tôi đã viết cuốn sử quan trọng đầu tiên về “Cộng sản Việt Nam” (Anh ngữ).

Trong hơn hai chục năm, tôi đã có nhiều khóa giảng dạy tại viện Đại học Virginia về Chiến tranh Việt Nam. Vì thời giờ có hạn, tôi phải nói ngắn, nhưng trước khi đề cập tới chủ điểm của bải thuyết trình, tôi xin có thêm một lời cảnh báo, nhất là với các khán thính giả trẻ tuổi.

Rằng đa số lập luận “sáng suốt phổ biến” của người Mỹ về Chiến tranh Việt Nam thật ra lại không đúng. Rất đáng tiếc rằng điều ấy có nghĩa là đa số những gì được giảng dạy tại cấp trung và đại học lại gần với thần thoại hơn là lịch sử. Tôi chi xin đơn cử hai thí dụ, hai thí dụ quan trọng:

1- Ngày nay, chúng ta được nghe rằng cuộc chiến Việt Nam là “bất khả thắng”. Chúng ta đứng sai chỗ. Tôi xin được góp tiếng bên cạnh nhiều sử gia thuộc loại xuất sắc nhất ngày nay khi nêu lập luận ngược rằng chúng ta không chỉ hy vọng thắng mà thực tế đã thắng vào đầu thập niên 1970.
(Và khi nói “chúng ta”, tôi không nghĩ rằng đấy là Quân lực Hoa Kỳ mà là nỗ lực chung của hai quân đội miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ cùng với người dân miền Nam).

2- Chuyện gì đã xảy ra? Khi tôi tuyên bố là có thể thắng. Tôi xin đưa câu nói của người bạn thân Douglas Pike: ông Douglas Pike đã quá vãng, người mà tôi hoán đổi công vụ nhiều lần trong Sứ quán Hoa Kỳ, ông Pike nói rằng: Tôi tin rằng chúng tôi có thể đã thắng cuộc chiến Việt Nam. Tôi tin rằng trong tương lai lịch sử sẽ nói rằng chúng ta đã thắng. Đó là sự thật! Một số thí dụ sau đây sẽ chứng minh.

Có một bài viết trong báo Foreign Affairs năm 2004 do Giáo sư John Lewis Gaddis Khoa trưởng Americạn Diplomatic Historians nói rằng: Các sử gia hiện tại công nhận rằng miền Nam Việt Nam và đồng minh đã thắng cuộc chiến quân sự. Nhưng lại thua cuộc chiến tâm lý tại Mỹ.
 Tôi xin nhắc lại cho quý vị trẻ biết sau khi bị bỏ bom tơi bời, Hà Nội vội vã trở lại đàm phán tại Paris. Và mọi chuyện êm xuôi nếu chúng ta dùng máy bay B52 để trấn giữ hiệp định.

Nhưng quốc hội với áp lực của “Phong trào Hòa Bình” đã thông qua dự luật vào tháng Năm 1973. Sẽ là bất hợp pháp nếu Tổng Thống sử dụng bất cứ đồng nào trong công quỹ cho cuộc chiến tại Việt Nam, Lào và Cambodia. Làm như vậy, Quốc hội đã chuyển thắng thành bại.


Quốc hội phản bội lời cam kết lịch sử của Hoa Kỳ là bảo vệ các nước không Cộng sản tại Đông Dương. Lúc ấy tôi làm việc tại Thượng nghị viện, nghị sĩ Ted Kennedy tuyên bố rằng “Việt Nam không cần giúp đỡ,họ đã có lượng vũ khí trị giá vô số triệu đô la”. Đó là sự thật. Việt Nam có phi cơ trực thăng, xe tăng Hoa Kỳ. Nhưng cái mà họ không biết là, Việt Nam không có đạn, không có xăng. không có phụ tùng. Đống đồ đó trở nên vô dụng. Đây là câu chuyện tôi chưa bao giờ kể cho ai nghe.

Ngay sau khi di tản từ Việt Nam về tới Mỹ, tôi gặp Nghị sĩ Ted Kennedy tại Thượng Nghị Viện. Đó là lần đầu tiên tôi gặp ông ấy khi trở về Mỹ. Ông ấy đứng cách tôi khoảng 3 mét. Tôi cung tay phải lên và tự nhủ: “mình phải cho nó biết tay, phải đấm gục hắn ta và nói cho thế giới biết rằng chúng tôi vừa mới phản bội chính danh dự của mình và bỏ rơi những người đáng yêu.” Nhưng tôi đã tự cản bản thân mình vì làm vậy sẽ ảnh hưởng đến cương vị Nghị sĩ của tôi và Ted Kennedy sẽ trở thành người hùng. Không phải là việc làm đúng đắn nhưng đôi lúc tôi nghĩ là mình đã bỏ rơi cơ hội ấy.

Sau khi Quốc Hội cắt hết viện trợ cho Việt Nam, Trung cộng gia tăng viện trợ cho Hà Nội. Phạm Văn Đồng nói rằng: “Được cho kẹo tụi nó cũng không dám quay lại”. Đó là lý do của sự thất bại tại chiến trường Việt Nam.

Quân nhân Mỹ, QLVNCH, và miền Nam Việt Nam không bị bại trận, mà thua vì cái gọi là “tự do” của Quốc hội Hoa Kỳ.

Điềm thứ 2 tôi muốn đưa lên là: Việt Nam rất quan trọng. Họ cho rằng Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến “phi lý” tiến hành không lý do chính đáng, do hiểu lầm về vụ đụng độ không đáng kể ở Vịnh Bắc Bộ. Thật sự là ngớ ngẩn.

Tôi đã viết 450 trang trình bày trong luận án đạt giải danh dự năm 1976. Tôi đã ghi lại vào tháng 3 năm 1975 đảng Lao động của Cộng sản Việt Nam đã quyết định từ Tháng Năm năm 1959 là mở ra đường mòn Hổ Chí Minh và gửi vào Nam hàng ngàn lính và vô số chiến cụ với mục đích lật đổ chính phủ trong Nam. Đây là hành động xâm lược quốc tế và vi phạm Hiên chương Liên hiệp quốc. Hoa Kỳ tham chiền để giúp người dân miền Nam tự vệ vì cùng một lý do như việc chúng ta tham chiến tại Cao Ly, nhằm bảo vệ tự do của con người và thực thi việc chống xâm lược đã được ghi trong Hiến chương Liên hiệp quốc.

Trong cuốn sách “Cộng sản Việt Nam” xuất bản năm 1975, Hà Nội đã nhiều lần xác nhận sự thực đó từ Tháng Năm năm 1959 ngay ngày sinh nhật Hồ Chí Minh. 10 năm trước, chúng tôi đã thảo luận tại Đại học Luật Virginia về vấn đề hợp pháp này. Luật quốc tế và Hiến chương Liên hiệp.
....Không thể thảo luận nỗi vì Hà Nội lập luận rằng đó là nội chiến trong miền Nam VN v.v... hãy bỏ qua 1 số điểm vì thời gian có hạn.
Tôi nêu lên hậu quả của việc bỏ rơi VN.

Tôi có thể nói hoài về việc người Mỹ bỏ rơi Việt Nam. Tôi là người đứng ngay trong trận khi Quốc Hội biểu quyết không giúp đỡ Angola vì sự xâm lăng của Xô Viết. Kết quả nạn nhân bị tử vong ở đấy được ước lượng là không dưới trăm ngàn người.

Đến việc Liên Xô xâm chiếm Afghanistan khiến cả triệu người chết. Sẽ không xảy ra nếu chúng ta không rút lui.

Và lần đầu tiên trong sáu chục năm, Moscow bảo với tay sai của họ ở Mỹ châu La Tinh rằng tiến hành “đấu tranh võ trang” để cướp chính quyền thì cũng được, từ đấy mới xảy ra nội chiến tại El Salvador, Nicaragua, Honduras, Guatemala, Costa Rica và các nước khác trong vùng. Vô số người lại thiệt mạng vì chuyện đó. Một số lớn súng M16 tịch thu được từ quân phiến loạn El Salvador, căn cứ theo số xê ri là súng bỏ lại tại chiến tranh VN của quân đội Mỹ
. Hà Nội đã cung cấp cùng với Xô Viết qua đường Cuba rồi đưa lậu qua El Salvador.

Đối với những người nói chiến tranh VN là phi lý. Họ đã sai.

                                                                         &

Nhưng hôm nay tôi không muốn tập trung về các vấn đề dù rất quan trọng là địa dư chiến lược. Tôi muốn nói về hậu quả của quyết định của Hoa Kỳ đối với con người.

“Phong trào hòa bình” – của phe phản chiến – trấn an chúng ta rằng Hoa Kỳ chỉ lần rút quân và chấm dứt chiến tranh thì mình sẽ phát huy “nhân quyền” và “ngăn nạn tàn sát”. Tôi rất ngại nói về những gì xảy ra tại Việt Nam sau khi Hoa Kỳ triệt thoái, vì trong hội trường này và tại khu “Little Sàigon” có nhiều người đã trực tiếp nếm mùi và biết rõ hơn những gì mà mọi “học giả” Mỹ có thể muốn biết. Nhưng có một số sự thật thì đã rõ ràng.

Hãy trước tiên nói về nhân quyền. Tháng Tư năm 1975, khi sự chiến thắng của Cộng sản đã thành công trước mắt mọi người, Đệ nhất Bí thư đảng Lao Động là Lê Duẩn đã tuyên bố rằng: sau khi “giải phóng” Miền Nam, chúng ta sẽ biến nhà tù thành trường học”. Tới Tháng 10 năm 1978, nhật báo Times đầy uy tín tại Luân Đôn đã báo cáo sự thật: Cộng sản Việt Nam đã biến nhà trường và cô nhi viện thành nhà tù vì họ có quá nhiều tù nhân.

Điều 11 của Hiệp định Paris ký kết năm 1973 cấm “mọi hành vi trả thù hay kỳ thị các cá nhân hay tổ chức đã hợp tác với một phe bên này hay bên kia”, và còn rõ ràng bảo đảm quyền tự do báo chí, tôn giáo, tự do sinh hoạt chính trị và một loạt những quyền thiêng liêng khác. Vậy mà

Tháng Năm năm 1977, tờ Quân đội Nhân dân công khai thông báo “triệt để cấm mọi hành vi chống lại chế độ và tước hết mọi quyền tự do của những kẻ không tin vào xã hội chủ nghĩa”. Bài báo tuyên bố: “Với bọn phản cách mạng... nhân dân ta dứt khoát xoá bỏ quyền tự do ngôn luận và trừng phạt đích đáng”.

Sau đó, một dân biểu duy nhất của Quốc hội Việt Nam Cộng Hòa được phép tham gia cái gọi là “Quốc hội Thống nhất” đã tuyên bố: Chế độ CS cai trị bằng bạo lực và khủng bố. Không có tự do di chuyển hay lập hội; không có tự do báo chí hay tự do tôn giáo hay... cả quyền tự do có ý kiến riêng... Sự sợ hãi tràn ngập khắp nơi”

QUYỀN TỰ DO BÁO CHÍ

Tháng Chín năm 1970, Trưởng phòng Sài Gòn của tờ Christian Science Monitor là Daniel Sutherland - ông bạn của tôi vào thời ấy - có viết một bài dài về “quyền tự do báo chí” trong Nam. Ông viết: “Dưới bộ luật báo chí mới, Miền Nam bây giờ có một nền báo chí thuộc loại tự do nhất Đông Nam Á...”. Tôi tin chắc rằng mình không là người duy nhất trong hội trường này có thề xác nhận điều ấy. Riêng Sài Gòn thì đã có hơn ba chục tờ báo, và nhiều tờ trong số đó kịch liệt chống chính phủ.


Dĩ nhiên là để thu thập dữ kiện về quyền tự do ấy, tôi thường cầm máy ảnh lang thang trong Sài Gòn vào những chiều Chủ Nhật được nghỉ.

Tôi thấy bày bán công khai những quyển sách như “Chiến tranh Nhân dân và Quân đội Nhân dân” của Tướng VC Võ Nguyên Giáp là cuốn chỉ nam về nổi dậy của Việt Cộng, vài cuốn của lãnh tụ cộng sản Cuba là Ché Guevarra, và cả các cuốn sách về hay của Mao Trạch Đông. Sau ngày gọi là “giải phóng”, người Cộng sản chiếm đóng đã “tạm thời” đình chỉ xuất bản mọi tờ báo hay tạp chí độc lập. Chưa đầy một tháng sau, mọi tiệm sách báo đều bị đóng cửa và việc mua bán hay tàng trữ các văn hoá phẩm xuất hiện “dưới chế độ cũ!” đều bị cấm.


TÙ CHÍNH TRỊ

Một trong các vấn đề nặng nề nhất là những người chống Việt Nam thường nêu ra, là cái gọi là “chế độ phát xít” tại miền Nam đã giam giữ hơn 200 ngàn “tù chính trị”. Khi trở lại Đông Dương vào Tháng Năm 1974 - cũng là dịp thăm viếng Cam Bốt và Lào – tôi chú trọng đến việc điều tra những lời cáo giác trên.

Tôi ghé thăm Linh mục Chân Tín, nổi danh lãnh tụ của “lực lượng thứ ba” nhưng có lẽ là một cán bộ của Hà Nội. Tôi hỏi ông là tìm đâu ra con số “202 ngàn tù nhân chính trị?” Ông ta bảo rằng mình đã hỏi các tù nhân cũ và gia đình thân nhân của họ là họ nghĩ xem có bao nhiêu tù nhân.

(Tôi nghi là họ đã cộng lại tổng số của các câu trả lời). Sự thật thì thời đó chỉ có khoảng 35 ngàn tù nhân trong tất cả các nhà tù của Miền Nam.

Tôi cũng gặp một lãnh tụ khác của “lực lượng thứ ba” là bà Ngô BáThành, người nói với tôi rằng định nghĩa của bà về “tù nhân chính trị” có thể gồm cả người như­ Sirhan. Sirhan, là tay cán bộ người Palestine đã ám sát nghị sĩ Robert Kennedy vào tháng Sáu năm 1968. Mục đích của hắn, bà Ngô Bá Thành giải thích là, “chính trị” khi hắn ám sát một ứng cử viên Tổng thống rất nổi tiếng của Hoa Kỳ.

Rồi còn vụ “chuồng cọp” đầy tai tiếng tại Côn Sơn, được họ mô tả như sau: ,”… xà lim chôn dưới mặt đất với các đống sắt, đồng trên trần thay vì ở dưới. Mà trần xây thấp đến nỗi tù nhân không thể đứng được …” .”… những hố nhỏ được đào dưới đất và che bằng chấn song sắt.”

- “[Mấy hầm đó] quá hẹp cho những người Việt Nam dù thấp bé cũng không thể nằm duỗi thẳng và trần quá thấp nên tù nhân khó có thể đứng thẳng người”

Thật ra, tôi có đến đảo Côn Sơn và thăm những chuồng cọp này. Tôi nghĩ rằng chúng ta cùng đồng ý là tôi hơi cao hơn đa số người Việt Nam. Vậy mà tôi chưa thể với tới các chấn song trên trần - vốn cao tới ba thước (khoảng 10 bộ) kể từ mặt đất lên.

Ngay cả lực sĩ Nghiêu Minh (Yao Minh) người Tầu - tay trung phong của đội bóng rổ Rocket's ở Houston bên Texas - cũng chỉ cao tới bảy bộ và sáu phân - hơn hai thước hai - nên anh ta cũng chẳng gặp khó khăn gì đề duỗi dài trong căn xà lim một bề thước rưỡi một bề ba thước của cái gọi lả “chuồng cọp”.

Ít nhất, một số cán bộ chống Việt Nam Cộng Hòa đã từng cáo giác chuyện “chuồng cọp” biết là họ nói láo. Trước khi qua Việt Nam năm 1974, tôi nói với một người trong số này rằng tôi dự tính sẽ tới nhà tù Côn Sơn để tự mình xem tận mắt và anh ta có vẻ khó chịu – có lẽ biết rằng tôi sẽ thấy sự thật. Anh ta nói rằng vấn đề thật bây giờ chính là tại nhà tù Chí Hòa ở Sài Gòn.

Vì vậy sau khi thăm Côn Sơn, tôi xin phép vào xem nhà tù Chí Hòa và chưa đầy 48 tiếng sau đã được tới đó trong mấy tiếng đồng hồ. Đây không là nơi mà mình thích sống nhưng cũng chẳng tệ hơn đa số các nhà tù và bên trong tôi không thấy dấu vết gì của những sự lạm dụng phổ biến. Tôi nói riêng với vài người Mỹ đã từng ở trong này và họ nói rằng dù có nghe nhiều lời tố cáo nhưng tất cả đều cho biết là họ không hề nghe thấy “tiếng gào thét trong đêm vắng” hoặc được báo cáo về nạn tra tấn hay hành hạ tù nhân.

NGĂN CHẬN TÀN SÁT khi Cộng sản nắm quyền

Bi thảm nhất của những người chống Việt Nam Cộng Hòa là lý luận của họ, rằng cắt viện trợ cho Miền Nam là Hoa Kỳ sẽ “ngăn được nạn tàn sát”. Họ sai lầm tới chừng nào. Ông bạn Giáo sư R.J. Rummel của tôi (một người từng được tuyển liên tiếp cho giải Nobel Hòa Bình) ước lượng là tổng số người bị giết sau khi miền Nam được “giải phóng” lên tới 643 ngàn.

- Khoảng 100 ngàn bị xừ tử qua quít ngay sau khi Cộng sản VN chiếm được miền Nam. Qua quít là vì cũng chẳng có một hình thức tạm bợ về “tiến trình hợp pháp” hay một toà án.

- Giáo sư Rummel cho là 400 ngàn là “thuyền nhân” bị chết ngoài biển cả khi muốn thoát khỏi chê độ CSVN độc tài và đàn áp đã trùm lên quê hương. Cao ủy Tỵ nạn của Liên hiệp quốc thì cho là một phần ba những người vượt biên bằng thuyền đã chết ngoài biển - một số là vì tầu quá đông người bị chìm, hoặc chết vì đói, vì khát. Nhiều người tử nạn sau khi bị hải tặc cướp bóc và cưỡng hiếp. Cao ủy cũng tường trình rằng có khoảng 840 ngàn người tới được Hong Kong hay các nước không Cộng sản ở Đông Nam Á. Nếu áp dụng tỷ số “chết một phần ba” cho con số này thì ta đoán là có một triệu 300 ngàn người vượt biên bằng thuyền và khoảng 420 ngàn người đã chết trên đường tìm tự do. Con số không xa với ước lượng của Giáo sư Rummel.

Giáo sư Lewia Sorley, tác giả cuốn sách có giá trị của một dấu mốc là “A Better War” - một Cuộc Chiến Khá Hơn - mà tôi ân cần giới thiệu đến quý vị, cho rằng có chừng 250 ngàn sĩ quan và binh lính của miền Nam cũ đã chết trong các “Trại Cải Tạo” do chế độ Cộng sản VN lập ra.

- Khoảng một triệu rưởi người dân miền Nam bị đày vào các khu “Kinh Tế Mới” để sống trong những điều kiện nghiệt ngã và chừng 48 ngàn đã chết tại đấy. Tôi biết rằng rất đông người trong cộng đồng này có thể kể lại những kinh nghiệm thật về “Trại Cải Tạo” và khu “Kinh Tế Mới” và khuyên các sinh viên ở đây nên tìm ra họ, ghi nhận câu chuyện của họ để làm chứng liệu cho lịch sử. (Phụ chú: Đấy là chưa kể có hàng chục ngàn thanh niên đã bị "nướng" với phong trào "Thanh niên xung Phong" đi làm công tác khai khẩn đất hoang và mặt trận Kampuchia)

CĂM BỐT

Và còn chuyện xứ Căm Bốt nữa

Khi Tổng thống Nixon gửi quân đội Hoa Kỳ sang Cam Bốt vào năm 1970 đề yểm trợ các đơn vị Việt Nam Cộng Hòa, khuôn viên các Đại học Mỹ bị đóng vì những cuộc phản đối đầy bạo động chống lại vụ xâm lược “phi pháp”.

Thật ra, về pháp lý thì y như Việt Nam, Căm Bốt là “quốc gia thành viên của Nghị định thư” - Protocole States - đã được cam kết bảo vệ chống Cộng sản xâm lăng trong khuôn khổ Hiệp ước SEATO năm 1954.

Mười năm sau, và với tỷ lệ đầu phiếu là 99,6%, khi Quốc hội Hoa Kỳ cho phép Tổng thống Johnson tham chiến tại Đông Dương. quy chế ấy hoàn toàn có thể áp dụng cho Căm Bốt như cho Việt Nam và Lào. Nghị quyết ấy của Quốc hội chỉ cần dẫn chiếu “Protocole States” của hiệp ước SEATO (South East Asia Treaty Organization).

Tôi thăm viếng Căm Bốt nhiều lần trong năm 1974 và trong nhiều năm đã viết về Khmer Đỏ. Thời ấy, việc họ là những kẻ sắt máu có dự tính tàn sát không tưởng tượng nỗi với đồng bào Khmer của họ thật ra chẳng còn là bí mật. Và dĩ nhiên, khi tôi trở lại Việt Nam vào Tháng Tư năm 1975, một trong những mục tiêu chính của tôi là đễ cố gắng cứu lấy đám trẻ cô nhi tại Căm Bốt.

Tôi đến quá trễ và có lẽ những đứa trẻ tôi hy vọng cứu được chắc là đã chết. Không hề có một cuộc khảo sát dân số tại Căm Bốt và chẳng ai biết thực sự có bao nhiêu người đã sống tại nơi ấy. Con số ước đoán về nạn nhân có những dị biệt lớn, với một số chuyên gia thì cho là có hơn hai triệu. Tài liệu khảo cứu khá nhất mà tôi được đọc là của Đại học Yale, nơi mà Chương trình của Yale về nạn Diệt chủng Căm Bốt ước tính là Pol Pot và bọn đao phủ của hắn đã thảm sát một triệu bảy trăm ngàn người - hơn 20% dân số toàn quốc.

Một bài báo về “các vùng thảm sát” của Căm Bốt trên tạp chí Nattonal Geographic Today trong số tháng Giêng năm 2004 cho chúng ta những chi tiết này: “Nhân viên hướng dẫn giải thích rằng đạn quá quý để dùng cho việc tàn sát. Rìu, dao và gậy tre thật đắc dụng hơn. Còn về trẻ em thì bọn đồ tể chỉ đơn giản dọng chúng vào thân cây”.


Ông Douglas Pike đã quá vãng, người mà tôi hoán đỗi công vụ nhiều lần trong Sứ quán Hoa Kỳ, có viết như sau về hậu quả nhân sinh của việc Hoa Kỳ bội ước sự cam kết của mình là sẽ bảo vệ người dân của các nước không cộng sản ở Đông Dương: “Dù có ước l­ượng dè dặt nhất, có nhiều thường dân Đông Dương bi bạo sát sau Chiến tranh Việt Nam hơn là tổng số nạn nhân trong thời chiến, ít ra là hơn hai triệu... Nỗi khổ đau lên tới mức chưa từng thấy, còn thê thảm hơn những ngày chinh chiến”.

Thật bi đát vì tôi nghĩ rằng ông Pike có lý. Và tôi lại càng tin rằng cộng đồng tại đây, đôi khi ngay trong hội trường, có những người có thể cung cấp những dữ kiện trực kiến về thảm kịch nêu như ta muốn tìm đến họ và ghi nhận lời chứng của họ. Việc này thì chẳng ai có tâm trí bình thường lại thích làm, nhưng là điều mà những ai muốn truy lùng sự thật tới cùng vẫn có nhiệm vụ thực hiện. Chúng ta phải kể lại chuyện này - một cách chính xác và cẩn trọng – để người khác sẽ biết rất lâu về sau, khi các nhân chứng cuối cùng không còn tại thế nữa.

Chúng ta phải kể lại, nếu không chuyện đó sẽ lại tái diễn.

Những ai thấy bàng hoàng về những chuyện đã xảy ra khi Cộng sản khống chế người dân Miền Nam và của Căm Bốt hay Lào thật ra không hiểu gì về lịch sử hiện đại.

Nếu quý vị muốn biết rõ hơn về thảm kịch, tôi xin đề nghị tập sách do nhà Harvard University Press xuất bản có tên là “The Black Book of Communism” - Cuốn Hắc thư về Chủ nghĩa Cộng sản”. Do một nhóm trí thức Âu Châu thuộc khuynh hướng trung tả biên soạn, cuốn sách kết luận là trong thế kỷ 20, chủ nghĩa cộng sản quốc tế đã gây ra cái chết cho từ 80 đến 100 triệu sinh linh.

Những ai muốn biết sâu xa hơn về Chiến tranh Việt Nam có thể còn bị lầm lạc lớn nếu không chịu khó tìm đọc các cuốn sách do chư vị diễn giả nơi đây hoặc bằng hữu của chúng tôi đã biên soạn.

Đây là một vinh dự cho tôi khi được thuyết trình trước một cử toạ quan trọng như hôm nay và trong cơ hội long trọng này. Với những người giận dữ về sự bội phản của nước tôi 35 năm về trước, xin cho tôi được nói rằng sự giận dữ này cũng là sự giận dữ của bản thân tôi. Tôi yêu quý Hoa Kỳ và tin rằng đây là một xứ tuyệt vời nhất trên địa cầu.

Nhưng khi đa số của Quốc hội Hoa Kỳ phản bội nạn nhân của Cộng sản xâm lược họ cũng phản bội 58 ngàn 200 lính Bộ binh, Hải quân và Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đã dâng hiến mạng sống trong sự hy sinh cao quý nhất cho chính nghĩa này. Họ cũng phản bội sự hy sinh xương máu của hai triệu bảy trăm ngàn người Mỹ đã từng phục vụ tại Việt Nam từ năm 1959 cho đến 1975.

Chúng ta không cải sửa được điều ác đã xảy ra. Nhưng chúng ta có thể nghiên cứu nó và có thể hành động để người Mỹ chúng ta lánh xa truyện thần thoại sai lạc mà hiểu rõ thảm kịch lớn lao của sự bội tín. Tôi thiết tha kêu gọi giới trẻ trong cử toạ nơi đây là hãy tự nguyện giành một chút cố gắng để học hỏi trang sử này và chia sẻ với ng­ười khác. Quan trọng nhất, hãy chú ý đến các cựu chiến binh và những người sống sót trong cộng đồng, hãy ghi lại lời kể của họ khi mình còn cơ hội. Nếu mình làm được như vậy thì may ra những hy sinh lớn lao của thảm kịch bi đát này sẽ không bị uổng phí
./.





Posted by: lpk 116



Sunday, September 10, 2017

Trương Vĩnh Ký Phản Bội Tổ Quốc, Sao Lại Gọi Là Yêu Nước ?


Bi có nhng cu con hoang dt nát như Aladin Qut Lôi Phong nên cn phi dy d thiên h m mang trí óc cho đến nơi đến chn. Ko chúng c làm chuyn di dt người ngoài chê dân Vit Nam ngu dt tôn my tên phn quc lên làm thy, làm cha. Bn bài đó nói v nhiu người ch đâu phi riêng Trương Vĩnh Ký. Cu bé Aladin biết không : Thiên h không chu ni nhng s tht mà thy Gai Cát nói ra,  viết ra nên ch có cách ba đt, ngy tao, ghép ba tên nào tht xu cho Kim Âu nhưng đi nhân này đâu có xem ra gì chng qua chúng nó hc bn Vit cng gi VNCH là NGY thôi. Đy là nguyên nhân mà Kim Âu ta không coi nhng li bá láp, xo s đó là gì c. Sao bây gi thì hc được chuyn Ngô Đình Kh gây ra ác nghip ri ch.
 Cu ch đáng tui con ta thôi, ăn nói mt dy din đàn coi cu là th con hoang vô giáo dc thôi. Aladin canh me vượt biên đến đo có mt thân mt mình, mi 13, 14 tui nay xây dng được gia đình là may ri. C gi cái tâm cho ngay thng kéo lãnh nghip báo như  Tú Gàn nói đó. Thy không Tú Gàn cũng b b giò tp tnh, gìa khú đế cũng phi ráng lò mò làm bi bút kiếm cơm. Din đàn ch là phương tin chuyn ti nên nó rt bn nếu có ch din đàn ngu như Aladin thì ch ngu hóa con người vì nó làm người ta hiu sai tt c mi vn đ. Có nhng bài chà láng ca Kim  Âu nên nó còn th hin được chút s tht.


----- Forwarded Message -----
From: Gia Cat giacat5
Sent: Saturday, September 9, 2017, 10:14:25 AM EDT
Subject: [ChinhNghia] ] KINH CHUYÊN: Phóng sự Lễ Động Thổ XDTĐ Petrus Ký- Hải Ngoại

 
Đây là hu qu ca chính sách nhi s, ty não ca nn giáo dc chu áp lc nô dch ca Thiên Chúa Giáo. Mt tên phn quc như Petrus Ký mà đưa ra tôn vinh thì tht là đáng xu h. Nhng k t nhn là có hc mà hành đng toàn đi ngược li đo lý làm người vì nhng mc đích khó hiu trách chi chuyn vong gia tht th..
Tài cao, hc rng cũng ch đ bán thân nuôi ming. Bán thân mình kiếm cơm không ai nói nhưng bán c sinh mnh dân tc thì đó là ti đ muôn thu, không có cách gì đ bin minh.
Hay ho gì mà khoe khoang khoác lác.

Trương Vĩnh Ký Phn Bi T Quc,
Sao Li Gi Là Yêu Nước ?



Nhiu thp niên qua, tên tui ca cu giáo sĩ Pétrus Trương Vĩnh Ký đã đi vào lch s. Dưới thi Pháp thuc và VNCH, người ta vinh danh ông bng cách đt tên đường, tên trường. Vì áp lc chính tr hoc vì tình cm đa phương hay vì cm tình tôn giáo hoc thiếu s liu nên tên tui ca Sĩ-Ti Bao-ti-xi-ta Pétrus Trương Vĩnh Ký đã được đánh giá thiếu cn trng.

Trong bài viết này, tôi s c gng vượt ra ngoài các phm trù chính tr, đa phương và tôn giáo đ, góp phn vào vic tr li cho Trương Vĩnh Ký cái giá tr đúng như tư duy và hành đng ca ông trong thi kỳ Pháp đô h nước ta.

 

Đ vic đnh v công (nếu có) và ti ca h Trương được chính xác, tôi x dng các tài liu do chính Trương đã viết cho các viên chc cao cp ca thc dân Pháp dưới hình thc nhng lá thư, và tài liu ca chính nhân viên trong chính ph thuc đa Pháp ti Vit Nam thi by gi. Các tài liu ny được tìm thy trong cun sách có ta đ "Cun S Bình Sinh ca Trương Vĩnh Ký" t trang 93-143 bis và t trang 251-285. Tác gi là Nguyn Sinh Duy, NXB Nam Sơn, Sài gòn in và phát hành tháng 3, 1975 (1).

Công hoc ti ca Bao-ti-xi-ta Trương Vĩnh Ký, tng quát, cn được xét trên hai phương din: Quan đim chính tr, và nhng đóng góp văn hc ca ông nhm mc đích gì? Trong phn kết lun chúng ta s tìm hiu ti sao h Trương li có nhng tư duy và hành đng đi ngược vi quyn li ca t quc.

A. Quan đim chính tr ca Trương Vĩnh Ký (1837 - 1898)

Ngày 1.9.1858, đô đc thc dân Pháp Rigault de Genouilly đánh Đà Nng. Quân dân Vit Nam nht t chng Pháp xâm lược. Vi s phn ng kiên trì ca Vit Nam cng thêm khí hu khc nghit ti Đà Nng lúc by gi, quân Pháp đã phi rút khi Đà Nng đ vào Nam chiếm thành Gia Đnh ngày 17. 2. 1859. Sau mt thi gian ngn, trung tá hi quân Jean Bernard Jaureguiberry và 800 lính li gi thành Gia Đnh, còn de Genouilly thì tr ra Đà Nng đánh phá ln th nhì.

1. Trước cnh nước mt nhà tan, Trương Vĩnh Ký đã không tham gia phong trào đánh đui thc dân như bao nhiêu người khác. Trái li ông còn viết thư cho viên trung tá thc dân nói trên, yêu cu giúp đ đ tiêu dit quân dân Vit Nam mà h Trương gi đó là k thù. Thư nói trên viết tay vào cui tháng 3.1859, lúc Trương 22 tui, trong đó có đon như sau:

"... Nhưng tôi nhân danh là người đi din cho tín hu Ki-tô kính dâng lên Ngài li cu xin ca chúng tôi... ni thng kh mà chúng tôi hng gánh chu dưới bo quyn ca các quan li triu đình gây ra... Tt c chúng tôi chc s chu chết nếu Ngài không kp đánh đui k thù* ca chúng ta..." (Văn kh Hi quân Pháp, Paris: SUM Vincennes. Vũ Ng Chiêu sưu tp).
 

Nhm gim s trang, tôi ch ct mt đon thư viết tay ca h Trương và vài đon tài liu khác như trên.

[Ngun: “H Chí Minh, con người và huyn thoi’, Chánh Đo, Tp I (1892-1924), in ln th hai. Văn Hóa, Hoa Kỳ].

Đc đến đon ny, có người s nghĩ rng vì vua quan nhà Nguyn quá tàn ác vi giáo dân Công Giáo nên Trương Vĩnh Ký phi kêu gi thc dân gii cu. Thc tế không phi như vy. Sau đây là li phát biu ca đô đc Page, mt tên thc dân cao cp, đã viết thư cho b trưởng hi quân Pháp ngày 15.12.1859 như sau:

"Nhng năm đu mi lên ngôi, vua T Đc có mt thái đ đi x khá ân cn vi h (các giáo dân, BK). Nhà vua đã ra lnh cho các quan li đa phương có thái đ khoan dung, rng rãi vi h trong nhng chuyn làm trái pháp lut, nhng v phm pháp nh. Nhưng ri các giáo dân, do các giáo sĩ lãnh đo ngày càng xc xược ngo mn đến mc đ h không thèm biết đến c chính quyn đa phương. H công khai ni lon, h tuyên b người Công giáo không th vâng li nhng k theo mt tôn giáo khác...(Nguyn Xuân Th, Bước M Đu ca S Thiết Lp H Thng Thuc Đa Pháp Vit Nam - 1858-1897, tác gi xut bn Hoa Kỳ 1995, trang 86. Phn tiếng Pháp có th tìm thy trong thư kh Pháp, tài liu Hi Quân s hiu BB4-77).


 

Hình: Sài gòn b chiếm ngày 17/2/1859

Gi s nếu triu đình có nhng lúc đi x cng rn vi các giáo dân thì đó là điu d hiu và không th tránh được. Nếu chúng ta vào hoàn cnh đó; và mun cho quc gia được đc lp và có ch quyn thì cũng không th làm khác hơn. Dưới đây là li phát biu ca mt đô đc thc dân khác, người ch huy tn công Đà Nng. Thư đ ngày 29.1.1859 (Hai tháng trước thư ca Trương Vĩnh Ký), Genouilly viết:

"Không mt nn cai tr nào, dù là phc v đo Công giáo, li có th dung th cho s xâm phm thường xuyên và ngu xun vào các vn đ chính tr, dân s và quân s vn không được và không phi thuc quyn hn ca h (các giáo sĩ - BK). 
Nếu cũng vì nhng yếu t phm pháp y mà Giám mc Pellerin b nhà cm quyn Annam trc xut, thì báo chí ca người truyn giáo li kêu la om sòm là h b bo hành.

(Fut-elle au service de l'intérêt chrétien, ne pouvait tolérer leur intrusion permanente et insolente dans les affairs politiques, civiles et militaires qui se sont et ne doivent pas être de leur ressorts. Si l'expulsion du Mgr Pellerin avait été prononcée pour les mêmes chefs d'accusation, par un autorité Vietnamien, la press des missionnaires aurait crié partout persécution." [(Dépêche du 29.1.1859, Archives Nationales Fonds Marine BB4, 769, P. 113). CHT, Christianisme et Colonialisme au Vietnam - 1867-1914].

Sau đây, tôi s dn chng mt s văn thư khác do chính Bao-ti-xi-ta Trương Vĩnh Ký ch không phi ai khác, viết cho các viên chc thc dân, đ thy tm lòng ca h Trương đi vi quc gia dân tc như thế nào.

2. Thư đ ngày 28.4.1876, gi cho tướng Pháp, quyn thng đc, đ trình bày công tác đi Bc Kỳ. Có nhng đon h Trương viết mà đc k s thy não trng ca ông ta. Trương mô t sai v tình trng xã hi và phóng đi mt nhu cu cn ci cách đ c vn cho thc dân Pháp nên chiếm và cai tr toàn x Bc kỳ:

"…Và trong khi đó thì quãng đi qun chúng vô danh, nhng th thuyn, nhà nông đang rên siết trong s nghèo đói cùng cc, tng tri qua nhng ngày dài không go và không vic làm. Và phi chăng s khn cùng đang bao trùm trong dân chúng, và phi chăng khp nơi người ta đang nghe đòi hi nhng s thay đi và mt nn cai tr hu hiu đ duy trì trt t, ban cho dân chúng mt ngày mai, đm bo tài sn, cho công ngh và thương mi có được s an ninh và sinh hot cn thiết cho s sng còn ca h, nói tóm li, t trong cái đói và bn cùng gii thoát mt dân tc đang cm thy suy vong."

S Pháp do d không chu chiếm, Bao-ti-xi-ta còn đem miếng mi kinh tế béo b ca x Bc Kỳ ra đ khơi đng lòng tham ca thc dân Pháp:

"Và tt nhiên, x s chng thiếu tài nguyên, đt đai mà tôi dám quyết rng có th sánh vi th nhưỡng ca nước Pháp, ít ra là đi vi Algérie, cht cha nhiu ca ci đ đ làm nên tài sn cho mt quc gia. Đt này tin li cho nhng v trng trt các mùa thay đi khác nhau. Nhng cuc thí nghim trng nho và gieo lúa mì cho thy nhng kỳ vng chc chn. Tôi tng thy lúa mì mc trong đt, cây trông đp, bông đy và ln ht. Tôi chưa nói ti đây nhng tài nguyên khoáng cht, người ta bo là bao la, và tôi xin được phép nói rng dân ca x này đã chết đói trên mt chiếc giường đy vàng".

Trương li còn c vn c th cho thc dân Pháp phương cách bá đo, nhưng hu hiu, đ kết np các thành phn bt mãn vi triu đình Vit Nam, hu to ni chiến làm cho dân chúng chán chiến tranh đ ri h mơ tưởng mt cuc sng "bình yên" như x bo h Nam-kỳ:

"Tôi tìm ra s gii thích theo đó, các nh hưởng ca lòng tham lam và táo bo d dàng thu dng đ đng, kết np thành đoàn và c võ chiến tranh phe phái v.v...và như vy dân chúng khát khao mt cuc sng lành mnh hơn là luôn luôn phi tht vng, vi hy vng cui cùng tìm thy s che ch đ khi s đói khát. Hơn thế, không th không có mt cái nhìn ham mun, mt đôi khi h đã so sánh thân phn ca h vi cuc sng ca nhng người dân Nam-kỳ".

Cũng trong thư ny, h Trương còn báo cáo li cho quan chc Pháp mt cuc đi đáp gia Trương vi các quan li triu đình. Trong cuc đi đáp đó, Trương đã đng hn v phía thc dân đ ch trích và hăm da hu thuyết phc các viên chc triu đình:

- "Làm thế nào cư x đi vi người Pháp đ kh dĩ thu hoch thng li hoàn toàn?" Người ta li hi tôi như vy.

- "Thưa quý v, tôi đáp, tt c quý v đu phi thy rng nếu nhà cm quyn Pháp có ý xâm chiếm x này, h đã có th làm vic y t lâu, mt cách d dàng không cn phi bàn cãi gì c. Quý v phi hiu rng quí v là nhng k yếu, tht s quá yếu, cn s giúp đ ca mt ai đó đ gượng dy. Và tt hơn, chi bng quí v ch nên tin tưởng vào nhng bn đng minh tiếng tăm ca quí v và phi da vào h mt cách thành tht đ đng lên, nhưng phi thng thn, phi không hu ý, phi không mưu tính kín đáo, dang c hai tay ra vi h, ch không phi mt cái chìa ra còn bàn tay kia thì gi li. Bng ngược li, mt trí vì nhng do d ca quí v, nước Pháp buc lòng phi ngưng che ch và b mc quý v vi s phn.

Nói rõ hơn, đây là hình nh tương t tôi dùng đ ví: nếu mt bàn tay quí v ta vào cánh tay ca mt người, còn bàn tay kia quí v dùng đ cù h, tc nhiên cánh tay ca người đó t nó phi tut ra; quí v s phi đón nhn mt sc phn đng nào đó, quí v s rơi xung rt thp và hu như mãi mãi không có cơ gượng dy được na.

Đó là nhng nét ni bt hơn c trong các cuc đàm thoi, nhưng tt c nhng ln trò chuyn, chi tiết tôi rút ra được rng, nói chung các quan li, nht là nhng người có thành kiến, h không đòi hi gì hơn là mong theo nhng tư tưởng mi. Thế nhưng các truyn thng vn còn ng tr mnh m, và h ngi phô bày nhng tư tưởng mi vì nó mt duyên c chính đáng đang vây bc quanh nhng truyn thng đó. Tng quát, tt c đu tin chc rng không th chng li người Pháp và nếu nước Pháp mun ly x này, có th làm mà không phi mt nhiu khó khăn và tn kém" [Phn tiếng Pháp cui bài ny (2)].

3. Như linh mc Nguyn Hong, Trương Vĩnh Ký cũng là mt người Pháp tay trong, được gài bên cnh Vua Đng Khánh đ ly tin tc và khuynh loát ông vua bù nhìn ny nhm thc hin các kế hoch có li cho thc dân Pháp. T Huế, ngày 10.5.1886, Pétrus Trương Vĩnh Ký gi thư cho viên thượng thư Paul Bert, trong đó có đon đáng lưu ý:

“Tôi cũng đang lo tiếp xúc đ cung cp cho ngài nhng tin tc chính tr hu ích. Tôi hết lòng tán đng d án hoàn m ca ông Pène* v công cuc bình đnh thi hành bi nhng yếu nhân bn x và, đây, tôi đang bám sát nhà vua cùng Vin Cơ Mt. Như s gi tiên khu ca Chúa, tôi tìm cách dn đường cho ngài; tôi tán dương cái uy danh mà tôi ra sc vây bc quanh con người cũng như tên tui ca ngài”.

4. Vic h Trương lèo lái ông vua bù nhìn Đng Khánh và thao túng Cơ Mt Vin ca triu đình Vit Nam đã có kết qu tt cho Pháp, đến ni Paul Bert trong mt thư gi Thiếu tướng thc dân Thng đc Nam-kỳ, ngày 20.5.1886, có đon: 
"Tôi nhn thy Huế, ông Trương Vĩnh Ký đã tn lc làm tròn s mng công vic trong triu đình và ít nhiu nh hưởng trên nhà vua. Trong nhng điu kin đó, tôi tin rng s có li cho người Pháp hin thi nếu gi ông ta li Huế trong mt thi gian tôi không dám xác đnh, nhưng chc chc cũng khá lâu..."

5. Hơn mt tháng sau, vào ngày 17.6.1886, Trương Vĩnh Ký li viết thư tiếp cho Paul Bert đ thông báo công tác quan trng ca ông:

"Tôi s trn áp tt c các hnh thn và bao vây nhà vua, tôi s kiếm nhng người tht s có kh năng cho Vin Cơ Mt".

Mt đon khác trong lá thư ny, Pétrus Trương Vĩnh Ký cũng có ý kiến như Nguyn Trường T hơn 15 năm trước đó là, chính ph Vit Nam phi tha hip vi nước Pháp hu như đó là mt đnh lut tt yếu không th chng li được:

"Tôi va minh chng xong cho các nho sĩ thy rng nước An Nam không th không cn đến nước Pháp, càng không th chng li nó được, phi tay trong tay cùng đi, không hu ý và chúng ta nên chp ngay ly nhng ho ý ny n trong chúng ta, ca mt người như ngài chng hn".

6. Gn 4 tháng sau, trong mt bc thư ngày 5.10.1886 gi cho quan Thượng thư Pháp, Pétrus Ký tn dng nhng kiến thc quân s, trong s hc ca mình đ, c vn cho thc dân phương pháp tiêu dit các phong trào Cn Vương và các lc lượng vũ trang ca dân Vit Nam đang hy sinh chng Pháp cu nước:

"Vy hãy nhanh chóng thành lp các đoàn lp binh và võ trang cho h; ngài không có điu gì phi quan ngi dù các nhà quân s đã nói v vic đó, bi vì, nhng quân khí do ngài cung cp, cho mượn hoc bán, đu thuc trách nhim trc tiếp ca nhà vua và chính quyn An Nam, sau cuc bo hành ngày 5 tháng 7, nay ch còn cách thn phc nước Pháp. 
X Trung-kỳ mà ngài va ban cho nn t tr s phi bt buc dưới s giám h ca Người Bo h nó và vi hai thế đng ca Pháp ti Bc và Nam-kỳ, nhng nghĩa c ri ra s được cng c và hiu nghim hơn lên. Tôi hiu nhng tình ý tht s ca người An Nam mà tôi dám khng đnh vi ngài rng chính sách y là tt hơn c, bi vì, mt mt ngài có cái li đem li cho nước Pháp s mến m và lòng tin tưởng đã b đánh mt t bao năm qua, và mt khác, ngài s tìm thy nhng ngun li không kém phn thc tế cho các đng bang ca ngài trong cái x Bc-kỳ giàu có..."

Cu giáo sĩ Bao-ti-xi-ta Trương Vĩnh Ký còn ngy bin và xuyên tc đ thc dân Pháp biết đng cơ nào mà các phong trào kháng Pháp ni lên. Và h Trương còn gi các phong trào yêu nước này là quân phiến lon:

"Tôi thiết tưởng có bn phn, cũng nhân dp này, cng hiến cho ngài: Tư tưởng ca nhng người phiến lon An Nam mà tôi đã có th tìm hiu trên nhng nơi có tàu đi qua. 
Nhng k phiến lon, như tôi đã tng nhiu dp trình vi ngài, h có lý do cho ch nghĩa ái quc ca h: S hn thù đi vi các con chiên (Công giáo) mà h cáo buc là nhng hàng ngũ bên cnh người Pháp, được dùng như nhng k đưa đường ch li".

S thc dân Pháp còn phân vân và không đ quyết tâm, Pétrus Trương Vĩnh Ký đã khuyên Pháp không nên s vì nghĩa quân Vit Nam, mà h Trương cũng gi là bn phiến lon, ch có nhng khí gii thô sơ:

"Bn phiến lon không đáng s; h ch có nhng khí gii c l ca chính quyn An Nam và vài võ khí mi mua li được ca bn buôn lu Trung Hoa. Cái chng c phơi bày ra Qung Tr và Qung Bình, h đã không th ct được, dù ch mt ln, đường dây đin thoi. H rt d b tiêu mòn và tr li ngoan ngoãn..."

Trương Vĩnh Ký lúc nào cũng t ra st sng gn bó và tn tâm vi thc dân Pháp. Ông c gng lèo lái thuyết phc triu đình Vit Nam nên chp nhn hip ước đánh dp các phong trào kháng Pháp cu quc ca dân tc Vit. H Trương t ra đc lc vi thc dân hơn là mt người Pháp chính hiu. Cũng trong thư nói trên, ông viết:

"Tuy nhiên, tt c nhng điu đó thúc đy tôi nht quyết lo liu cho cái hip ước mà ngài mun chính ph An Nam sm chính thc đưa ra đ minh đnh ngõ hu chm dt s trng và quyết đnh chính sách sau này phi theo. Vì thế tôi xin nhc li ngài cái d án bình đnh vi nhng phương tin hành đng đã được mt ước, đ tiến ti thành qu mà chúng ta có th phô trương. V phn tôi, ngài có th luôn luôn cy vào s giúp sc nh yếu ca tôi, vì dù sao nhng cm tình ca gi phút đu tiên đã tr thành mt mi nhit tâm chân thành đi vi ngài."

7. Trong mt thư khác gi cho viên giám đc thc dân ngày 19.1.1887, Pétrus Ký cho biết vai trò gián đip và thuyết khách ca ông lúc vào làm vic trong Cơ Mt Vin ca triu đình bù nhìn Đng Khánh:

"...V phn tôi, xâm nhp vào Cơ Mt Vin ca nhà vua, vai trò ca tôi là làm cho nhà vua và triu thn hiu được các ý tt ca chính ph Pháp cũng như điu đng chính sách ca chính ph An Nam đi gn vi chính sách ca nước Pháp."

8. Công tác chính tr ca Trương Vĩnh Ký trong nhim v ym tr thc dân Pháp sm n đnh chính sách cai tr dân tc ta. Và đ làm tròn nhim v gián đip đó, Pétrus Trương Vĩnh Ký đã phi hy sinh ước mơ được vào quc tch Pháp. Ông t thú như sau trong thư đ ngày 15.9.1888, gi cho mt linh mc là ông Pène Siefert, Trương Vĩnh Ký cho biết ông không mun vào quc tch Pháp vì s b nghi ng, khó làm vic:

"...lúc đã gia nhp quc tích Pháp, tôi s mt hết uy tín, mt thế lc, chng còn được vua, triu đình và dân chúng An Nam tín nhim na".

Trên đây là mt s chng c được trích dn t tám trong nhiu bc thư do chính Trương Vĩnh Ký viết [vui lòng xem trong sách “Cun s bình sinh ca Trương Vĩnh Ký, như đã trình bày phn đu ca bài ny] đã cho thy tư duy và hành trng ca ông, mt trong nhng Vit gian đc lc và nguy him nht trong thi Pháp đô h nước ta. Có người châm chế cho Trương Vĩnh Ký và phát biu rng ‘ch thun túy v phương din văn hóa không mà thôi, ông đã biên son và dch thut nhiu tác phm mà nhng tác phm đó giúp ích cho nn văn hóa nước nhà’. Đó là mt nhn đnh hoàn toàn sai lm. Dưới đây, chúng ta s tìm hiu v dng tâm ca các tác phm có tính văn hóa ca h Trương.

Mc Đích Công Tác Văn Hóa Ca H Trương.

1. Mc đích dch thut, sáng tác, làm t đin ca Bao-ti-xi-ta Trương Vĩnh Ký được ông nói rõ trong thư gi "Các V trong Ban Duyt Xét Bn Tho"*:

"Tôi hân hnh được gi ti quí v vài dòng dưới đây đ gii thích mc đích mà tôi theo đui khi làm nhng vic trước tác mà tôi đ trình xin các v thm đnh. Có th xét nhng tác phm này theo hai phương din khác nhau tùy theo hai ch đích ca chúng: thu xếp n đnh thihin ti và gn lin dĩ vãng vi tương lai x s. Đó là mc đích ca tôi."

"Thu xếp n đnh thi hin ti" tc là dp yên các phong trào Cn Vương và các cuc ni dy chng Pháp cu nước. H Trương viết tiếp:

"V phương din chính tr và kinh tế, người Pháp là k đi đng hóa, còn người An Nam là k chu đng hóa. Người yếu cn da vào người mnh đ đưa mình lên bng người khe*. Đó chính là mc đích cn phi theo đui và đt ti. Bng cách nào? Bng cách đng hóa. Và đng hóa ch có th thc hin được bng giáo dc và hc vn. T đó mi ny sinh mi thin cm gia k chinh phc và người b chinh phc, mi thin cm do quyn li chung mà có. Quyn li chung ny li ch được to ra nh nhng quan h h tương và trc tiếp. Nhng quan h này ch được thiết lp gia h qua s hiu biết tiếng nói ca nhau. Người Pháp vi tư cách là ch, cn biết tiếng An Nam đ ging dy người An Nam là hc trò nhng tư tưởng và khái nim cn thiết cho vic ci to và phc sinh ca người An Nam."

2. Ngày 3.9.1868, Trương Vĩnh Ký gi thư cho ông Giám đc Ni tr đ xin t chc. Trong đó có nhng câu cho thy h Trương không còn là người Vit na:

"Khi tr li đi sng tư, lòng tôi luôn luôn thuc v nước Pháp, và nhng công vic phc v nh mn ca tôi cũng thuc v nước Pháp...Người b tôi tn tâm và vâng li."

3. Thư đ ngày 12.1.1882, t Ch Quán "Kính gi các v trong Hi Đng Thuc Đa", Bao-ti-xi-ta Trương Vĩnh Ký viết rõ hơn v mc đích các tác phm ca ông:

"Thưa quí v,
Tôi hân hnh gi đến quí v mt bn trình bày tng tác phm xut bn mà tôi đã biên son.

Làm như vy, ý đnh ca tôi là đ chng t vi quý v rng trong 13 cun sách tôi đã xut bn cho đến nay do tin tôi b ra, tôi chưa bao gi đi lch mc tiêu chính và trc tiếp mà tôi đã trình bày trước đây trong các thư tôi viết va cho nhà cm quyn, va cho y ban Ph trách Cu xét nhng tác phm ca tôi. Mc tiêu đó là s biến đi và đng hóa dân tc An Nam” (ch đm là ca Bùi Kha mun nhn mnh).

4. Trương Vĩnh Ký rt nóng lòng mun Pháp đng hóa dân tc Vit Nam nhanh hơn và toàn din hơn, bên cnh đó ông cũng s kiếm được li nhun do vic chính ph thc dân Pháp b tin tài tr và mua sách. Ông cũng nói rõ là nếu Pháp h tr bng cách mua sách, ông s phn khi và hăng hái hơn trong vic viết thêm các tác phm khác trong tương lai cho mc đích (đng hóa) nói trên. Li ca chính h Trương v chiến lược đng hóa:

trình vi quý v nhng tác phm này, tôi khn xin quý v thm đnh mc đích mà tôi đã đ ra khi son tho, và nếu quí v nghĩ rng nhng tác phm đó có th là mt li khí ca tiến b và là mt phương tin thích hp đ to ra trong lúc này, s thay đi và đng hóa mà nhà cm quyn đang tìm cách thc hin x này có li cho nhng k thn phc mi ca nhà cm quyn, tôi mong rng qúy v s góp phn vào vic xut bn nhng sách này. S chp thun và hơn na, s xưng tng mà quí v dành cho nhng tác phm ca tôi s là phn thưởng êm du nht cho nhng công trình tôi đã làm và là khích l ln lao hơn c cho tôi trong tương lai."

Qua s văn thư va trích dn do chính Trương Vĩnh Ký viết, chúng ta đã thy rõ tâm cht ca ông. Mt điu khác đáng chú ý là trong các văn thư y luôn luôn có các câu: "B tôi rt khiêm tn và tn ty" hoc "B tôi tn tâm và vâng li." Điu đó cho thy mc du h Trương còn mang thân xác Vit Nam nhưng tâm hn đã khác.

5. S tn tâm và đc lc ca h Trương trong nhim v giúp thc dân Pháp d dàng thi hành chính sách thng tr và đng hóa dân tc Vit, được ông Luro, Thanh tra và Giám đc trường Sư Phm Thuc Đa Pháp ti Vit Nam, trong mt bn nhn xét đ ngày 16.6.1875, có đon nói rõ:

"Ông Pétrus Ký làm vic rt nhiu...Rút cc, đó là người An Nam Pháp hóa duy nht mà chúng ta có, và gương mu. S tr giúp ca ông tht đã rt ích li cho nh hưởng ca chúng ta và cho nn hc chính nói chung."

Nh công lao phc v thc dân đc lc và tn ty nên ngày 20.5.1886, ông Paul Bert gi thư cho Ngoi trưởng Pháp đ tán đng đ ngh ca Thng Đc Nam-kỳ, ban thưởng huy chương cao cp cho Trương Vĩnh Ký: Đ Ngũ Đng Bc Đu Bi Tinh.

6. Trong thư gi cho mt bác sĩ người Pháp, Alexis Chavanne, đ ngày 6.8.1887, cho thy cái tâm ca h Trương đến ni chính ph thc dân xem ông như mt đa con nuôi đy tin tưởng. Trương viết:

"Tôi càng t ra biết ơn nước cng Hòa (Pháp) không nhng đã công nhn tôi là con nuôi mà còn cho tôi nhiu vinh d và nht là rt tin tưởng tôi."

Các chng liu không th chi ci nêu trên chúng ta có nên kết lun Trương Vĩnh Ký là mt đi Vit gian phn quc nguy him nht hay không? Người làm tay sai cho gic hu hiu nht trong lch s Vit Nam ta thi Pháp thuc?

C. Lý do nào khiến Trương Vĩnh Ký phn quc?

Ti sao mt người có tài, thông minh, biết nhiu th tiếng li tr thành mt tên đi Vit gian như thế? Đáp s ca câu hi ny có l là do hoàn cnh và nn giáo dc mà Trương hp th.

1. H Trương được sinh ra và nuôi dưỡng trong mt gia đình có đo, và "thành người" trong chính sách giáo dc ca thc dân đế quc nhm biến đi con người trong các x thuc đa tr thành công dân ca k đi chinh phc. Mc du có hc T Thư Ngũ Kinh nhưng Trương Vĩnh Ký chng tiếp thu được tinh thn trung quân ái quc vì lúc đó ông ta ch mi 11 tui.

2. Nhiu tín đ Công giáo thi by gi được hiu là "nhng người Pháp tay trong, lưng mm d un, chy theo ch mi". Nói như giám mc Puginier: "Không có các giáo sĩ và giáo dân thì người Pháp như cua b b gy hết càng". (Sans les missionnaires et les chrétiens, écrit Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé toutes les pattes). Him ha ni thù ny càng làm cho triu đình Vit Nam thêm có lý do đ "cm đo", và Trương Vĩnh Ký, mt con chiên ngoan đo, cũng càng có thêm lý do đ ngã v Tây.

3. Thêm vào đó, Trương Vĩnh Ký là con ca mt gia đình đo dòng, li được mt giáo sĩ thc dân nhn làm con nuôi, đưa vào đào to ti chng vin Pinhalu (Nam Vang) ri chng vin Pénang (Mã Lai). Ti nhng nơi ny, mà phn ln do các c đo thc dân Pháp điu khin, chương trình đào to nhm vào hai mc tiêu chính: đào to cho Pháp mt tp đoàn làm thông ngôn, làm thơ ký ti nhng vùng đã chiếm đóng đ thc hin chương trình đng hóa và d dàng đi chiếm thêm nhng vùng còn li. Mc đích th hai ca nn giáo dc ny là đ đào to nhng người Vit Nam Công giáo, ch không phi đào to nhng người Công giáo Vit Nam.

Mt viên chc thc dân người Pháp, đô đc Page, cũng cho biết thêm:

"Ngoài ra không mt người Vit Nam nào theo Công giáo li ngn ngi xin gia nhp làm lính dưới c Pháp, ông vua Vit Nam không theo đo, không phi là vua ca h. Chc bây gi Ngài (B trưởng) đã hiu ti sao vua, quan đã coi các nhà truyn giáo là k thù?"

(Du reste, pas un Vietnamien catholique n'hésita à demander à s'enrôler comme soldat sous le drapeau francais, le roi payen du Vietnam n'était point leur roi. "Votre Excellence comprendra sans doute maintenant comment le Roi et les mandarins regardent les missionnaires catholiques comme des ennemis?" (Depêche de l'Amiral Page, du 14-12 et 25-12-1859. Archives Nationales, Fonds, Marine BB4-777. Cité par
CHT, p. 129).

Mt người Pháp khác, đi tá Bernard cũng nhn xét:

"B săn đui ra khi làng vì ti phm hoc s khn cùng, nhng k lang thang đã đến đây vi mt lưng mm d un, tham sng s chết; h hoàn toàn hng h vi cuc đu tranh ca dân tc, sn sàng phng s bt c ông ch nào...Chính trong bn ny mà người ta s tuyn dng, trong s h, tt c nhng nhân viên hành chính cn thiết cho nhà nước, hoc nhng người giúp vic gia đình: làm đy t, phu khuân vác, làm người chy giy, và c nhng tên thông ngôn, hoc nhng người ghi chép, được đào to thô sơ qua các nhà trường ca Hi truyn giáo. Chính qua s tiếp xúc vi nhng k khn nn này mà đoàn thc dân và công chc va mi đ b, đã làm quen được vi dân tc Vit nam..."

(Les vagabonds", ecrit le colonel Bernard, "chassés de leur village par la misère ou le crime, arrivaient, l'échine souple; pris de l'âpre désir de vivre, insoucieux de la lutte nationale, prêts à servir tous les maitres. C'est parmi eux que l'on recruta tout le personnel nécessaire à l'administration ou aux besognes domestiques: boys, coolies, plantons, et aussi des interprètes et des copistes, grossièrement formés dans les écoles de la mission. C'est au contact de ces misérables que les colons ou les fonctionnaires fraichement débarqués firent connaissance avec le peuple d'Annam...Dn theo Nguyn Xuân Th, trong Histoire de La Penetration Francaise au Vietnam, 1858-1897, p. 126-127).

4. Mc du Trương Vĩnh Ký thông minh biết nhiu th tiếng, nhưng vì quá cung tín, b các giáo sĩ thc dân tuyên truyn nên c nghĩ rng vic Pháp chinh phc Vin Đông, trong đó có Vit Nam, là do ý ca Thượng Đế sai phái nước Pháp làm như vy. Trong thư gi ông Koenfen, giám đc Vin M Thut Paris, h Trương viết:

"Các x Vin Đông...già ci đ th nên đã đến lúc phi làm cho chúng tái sinh và ci cách chúng: song ai được giao phó cho cái quyn y nhim cao quí đó? y chính là nước Pháp được Thượng Đế tín cn giao cho..."

Trong thư gi bác sĩ A. Chavanne, nói mt đon trên, cu giáo sĩ Trương Vĩnh Ký cũng viết:

"...cái vương quc An Nam kh s ny mà chính ph Pháp s làm giám h, là có mt s biến thuc v Thiên ý kêu gi đến..."

Đáng ti nghip cho Trương Vĩnh Ký, quá ngây thơ đ không biết được rng mc đích ca các đế quc Tây phương là li dng tôn giáo và dùng cun Thánh Kinh như mt li khí; đ đi chiếm thuc đa và xâm thc văn hóa bt c đâu và bt c lúc nào mà h thy có th. Bi vy, mt người Phi Châu, giám mc Anh giáo Desmond Tutu, được gii thưởng Nobel hòa bình năm 1984, đã cay đng phát biu:

"Khi người da trng đến, h có cun Kinh Thánh, chúng tôi có đt đai.
Chúng tôi tin tưởng h, nhm mt cu nguyn vi cun Kinh Thánh trong tay.
Lúc m mt ra, chúng tôi có cun Kinh Thánh còn h có tt c đt đai lãnh th ca chúng tôi".

(We have our lands and they came with their Bible.
We believe in them and we pray with the Bible in our hands and our eyes closed.
When we open our eyes, we have the Bible and they have our lands).

5. Vic Trương Vĩnh Ký cong lưng làm tay sai cho Pháp cũng không loi b mt đng cơ khác là vì danh và li. Danh, được chính ph thc dân ban tng huy chương Đ Ngũ Đng Bc Đu Bi Tinh, và được chính ph thuc đa b tin mua sách ca h Trương và cp cho Trương bng lc hu h. Lương mi năm ca Trương là 13.800 quan, k c tin dy hc, trong lúc lương ca ông Thng đc Nam-kỳ cũng ch có 18.000 quan. Lương ông Tng thư ký là 15.000 quan. Như vy lương h Trương đng hàng th ba sau hai viên chc cao cp nht người Pháp.

Kết lun

Vi nhng chng c quá rõ ràng qua các văn thư do chính Trương Vĩnh Ký và các viên chc cao cp thc dân Pháp viết, chúng ta có th kết lun dt khoát rng Trương Vĩnh Ký là mt người phn bi t quc. Ông không có mt my may công lao nào đi vi dân tc, ngược li, ông hoàn toàn là k có ti. T nhng ý đ và hành đng chính tr, cho đến các công trình mang tính văn hóa nói chung ca h Trương, tt c ch xoáy vào mt mc đích duy nht là phc v cho chính sách thc dân Pháp đ nô l và đng hóa dân tc ta.

Do đó, nhng tên đường, tên trường, tên các hi ái hu được dùng đ vinh danh Trương Vĩnh Ký có cn được tháo g và hy b hn đ tránh b lch s phê phán hay không?

Thái đ nghiêm túc, dt khoát và đúng đn vi Trương Vĩnh Ký cũng cn được áp dng cho nhng tên tay sai và gián đip khác như Nguyn Trường T, Alexandre de Rhodes (Cha Đc L), Trn Lc, Ngô Đình Dim … đ hu thế xem đó như mt bài hc cn thiết cho vic vun bi lòng yêu nước.

Du ai vì lý do nào đó mà vn còn vinh danh ông, nhưng nhng hành đng Vit gian và gián đip văn hóa cho thc dân Pháp ca h Trương có th ty xóa ra khi lch s được không? nht là nhng d kin lch s y li do chính h Trương viết.

Bùi Kha


___________________

(1) Nguyn Sinh Duy: “Trương Vĩnh Ký, Cun s bình sanh” do nhà xut bn Văn hc và Trung tâm nghiên cu Quc hc tái bn năm 2004, được b sung nhiu tài liu và hình nh mi. Giáo sư Trn Thanh Đm viết li ta.

* Các ch đm lúc trích dn là ý ca chúng tôi mun nhn mnh.

* Pène Siefert là mt linh mc người Pháp

* Thư không thy đ ngày. Còn Ban Duyt Xét là Hi Đng Thuc Đa ca thc dân Pháp Nam-kỳ.

* Người yếu (An Nam) cn da vào người mnh (Pháp) đưa mình lên bng người khe. Còn lâu bn thc dân mi đ cho người Vit bng vi người Pháp.

(2) Toàn b bc thư này được Giáo sư P. J. Honey School of Oriental and African Studies, University of London, công b trong tác phm Voyage to Tonking in the Year of t Hi (1876)



Nơi các trang: 122, 123, 124 & 125. Hoc website:
 

 

 
 


 




----- Forwarded Message -----
From: 'Patrick Willay' pwillay>
To: "ChinhNghiaVie>
Sent: Saturday, September 9, 2017, 9:58:23 AM EDT
Subject: [ChinhNghiaViet] KINH CHUYÊN: Phóng sự Lễ Động Thổ XDTĐ Petrus Ký- Hải Ngoại

 







KÍNH CHUYỂN :

Lễ động thổ  XDTD Petrus Ký - Hải  Ngoại






__._,_.___

Posted by: Gia Cat <

Featured Post

Hậu Quả Của Hoa Kỳ Sau Khi Bỏ Rơi Đông Dương.

          Kính chuyển quývị, quýCH baì ít nhất nên đọc một lần, ht ----- Forwarded Message ----- From: D N Krall Sent:...

Popular Posts

Popular Posts