QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Sunday, December 29, 2013

Việt Dzũng - Tên Anh Vẫn Sống Trong Tim Nhiều Người

Kính chuyển tiếp.
NL
 
On Saturday, December 28, 2013 9:43 AM, Binh Huynh <> wrote:

Việt Dzũng - Tên Anh Vẫn Sống Trong Tim Nhiều Người

Huỳnh Quốc Bình

LTG: Sau khi giới truyền thông loan tin ca nhạc sĩ đấu tranh chống cộng- Việt Dzũng đã lìa trần thì lập tức người ta thấy có nhiều bài viết bày tỏ lòng tiếc thương anh... Rồi người ta cũng thấy có bài viết hay những loại "phát biểu" thật lạc điệu. Nó lạc điệu là vì cho dù người dễ tính cũng dễ dàng nhận ra chân tướng và xuất xứ của nó. Bọn VC và đám tay sai tìm cách khai thác sự ra đi của Việt Dzũng cho mục tiêu tuyên truyền bằng loại "lưỡi gỗ" của chúng; còn người Quốc Gia chân chính nhắc đến Việt Dzũng bằng tất cả sự mến phục, tiếc thương.

Người viết bài này cũng xin được viết đôi lời tiếc thương người bạn cùng chiến tuyến chống cộng. Dù muộn màng nhưng người viết cũng xin cùng mọi người chia sẻ sự mất mát to lớn này với gia đình Việt Dzũng, với cộng đồng chống cộng và bằng hữu... trước sự ra đi của anh. (HQB)

***

Tôi bắt đầu biết đến danh của ca nhạc sĩ Việt Dzũng vào đầu năm 1982 khi tận mắt chứng kiến một người trẻ tuổi hơn mình đang chống nạng gỗ, ôm đàn và hát những bài đấu tranh rực lửa trong ngày cộng đồng người Việt Quốc Gia miền Bắc California tổ chức xuống đường tranh đấu “Ủng Hộ Tinh Thần Võ Đại Tôn” khi người chiến sĩ kiên cường ngày đã  xổng lưng "tát vào mặt" nhà cầm quyền VC qua lời tuyên bố trong cuộc họp báo quốc tế do chính bọn chúng tổ chức tại Hà Nội ngày 13 tháng 7 năm 1982: “Tôi không phản bội bất cứ ai đã giúp đỡ, ủng hộ tôi. Tôi tiếp tục duy trì lập trường chính trị của tôi để tranh đấu cho tự do và giải phóng dân tộc. Tôi sẵn sàng nhận bất cứ một bản án nào mà chế độ cộng sản dành cho tôi…”

Tôi nhắc đến lời khẳng khái của Chiến Sĩ Võ Đại Tôn chỉ để muốn nói rằng, lời nói ấy và những hành động dấn thân của những ai dám rời bỏ nơi êm ấm để trở về quốc nội chiến đấu hay hết lòng vì công cuộc đấu tranh chống cộng.. đã ít nhiều ảnh hưởng đến tinh thần tranh đấu của Việt Dzũng, của tôi và nhiều người trẻ khác trong thời đó và suốt hơn ba Thập Niên qua. Điều này tôi không nói thay Việt Dzũng, bởi chính anh đã bộc lộ bằng lời nói trước mỗi bài hát của anh ngày hôm đó.

Viết về tinh thần đấu tranh chống cộng và sự đa tài của Việt Dzũng trong lúc này chẳng khác nào làm công việc “chở củi về rừng”. Dù vậy, trong bài viết vội này tôi chỉ muốn góp thêm vài dữ kiện, về kỷ niệm mà tôi có với anh.

Thân tình:Dù tên tuổi anh thật “lừng lẫy” nhưng anh rất thân tình với mọi người. Khoảng năm 1993 tôi cùng chú em họ, người mới đến Hoa Kỳ, cùng đồng bào Bắc California biểu tình tranh đấu cho quyền làm người tại Việt Nam. Gặp Việt Dzũng, tôi hướng dẫn chú em họ tôi đến chào anh. Dù anh đang bận rộn, dù bao người chờ đợi bắt tay anh, nhưng anh cũng thân mật bắt tay chú ấy và lập tức “tuyên vận” bằng một câu nói hết sức thân tình, đại ý như sau: “Anh hân hạnh biết em và xin chúc mừng em đến xứ tự do. Em hãy cố gắng học, siêng năng làm việc, nhớ cùng các anh và đồng bào tranh đấu cho Việt Nam sớm được tự do, nhé em…”

Khiêm nhường:Dù Việt Dzũng là người đa tài, nổi tiếng khắp năm Châu, dù tuổi của anh không nhỏ hơn tôi nhiều lắm nhưng lúc nào anh cũng gọi tôi bằng “Anh Bình” và xưng em với tôi một cách "ngọt lịm". Điều này đối với người khác có thể không có gì gọi là quá đặc biệt, nhưng đối với người viết thì nó đặc biệt, bởi Việt Dzũng không giống một số người. Có đứa “hỉ mũi còn chưa sạch”, nhưng khi mới vừa được đám đông biết đến là đã tỏ ra kênh kiệu thấy mà… “ứa gan”. Tôi không gọi Việt Dzũng theo cách xã giao thông thường, nhưng thân tình gọi anh là “bạn” để đáp lại tình thân mà anh dành cho tôi.

Việt Dzũng và Nguyệt Ánh đến Oregon:Đó là năm 1999, lúc tôi trực tiếp sinh hoạt trong Ban Chấp Hành Cộng Đồng Việt Nam Oregon. Trong một buổi tổ chức đấu tranh chống cộng, tôi thay mặt cộng đồng mời anh và nữ ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh về hát ủng hộ tinh thần tranh đấu của đồng bào.

alt

altHình: Việt Dzũng- Nguyệt Ánh - Quốc Hận 30-4 tại Oregon năm 1999

Khôi hài, vui tính: Sau buổi tổ chức, một số anh em trong Hội Hoạ Sĩ tại Oregon có tổ chức buổi ăn chiều để thiết đãi ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh và Việt Dzũng, để nói lời cảm ơn anh chị đã bỏ thì giờ quý báu lên vùng Oregon lạnh lẽo, “mưa nhiều hơn nắng”. Trong bữa tiệc thân mật, một hoạ sĩ trẻ (Hố) cao hứng đề nghị: “Chị Nguyệt Ánh kể chuyện vui cho anh em nghe và nhân tiện tặng anh Bình luôn, để anh ấy biết rằng Việt Dzũng và bà chị Nguyệt Ánh ngoài tài sáng tác và ca hát nhạc đấu tranh, còn có thêm biệt tài kể truyện tiếu lâm, mắng chế độ VC không hay không… lấy tiền”. Cả bàn vỗ tay tán thưởng. Chị Nguyệt Ánh lên tiếng: “Việt Dzũng nên kể cho anh Bình và mấy anh em cùng nghe, chứ chị không dám qua mặt Việt Dzũng về tài kể truyện đâu…”. Truyện Việt Dzũng kể tôi nghe vừa dí dỏm, vừa sâu sắc, nói lên được tính ngu dốt nhưng hay làm phách của đám lãnh đạo VC. Cả bàn tiệc có dịp cười lăn bởi tài kể truyện của Việt Dzũng.

alt
Hình: Việt Dzũng qua nét vẻ của Hố

Có những điều ít ai biết: Tôi có người bạn chuyên về truyền thông và âm nhạc, kể cho tôi nghe thêm công lao của Việt Dzũng về mặt ngoại vận hay quốc tế vận, nhưng điều này ít thấy ai đề cập đến… Việt Dzũng đã sử dụng tài sáng tác và ca hát để kết thân và thuyết phục được một nữ ca sĩ phản chiến Hoa Kỳ- Joan Baez, quay 180 độ để lên án tội ác VC. Thời chiến tranh Việt Nam, nói đến chuyện "phản chiến" thì không thể không nhắc đến nữ tài tử điện ảnh Hoa Kỳ-  Jean Fonda. Chị này nỗi tiếng là nhờ đóng phim lõa lồ và hành vi phản bội những người chiến binh Hoa Kỳ đang chiến đấu cho hòa bình thế giới tại Việt Nam. Nếu so sánh về sự nỗi tiếng giữa hai người, một nỗi tiếng về tài sáng tác và ca hát, một "nỗi tiếng" nhờ tài "phản bội" và "lõa lồ"... Thì chắc chắc ca nhạc sĩ Joan Baez đáng cho người ta chú ý hơn.

alt
alt
Hình: Joan Baez - 1963

Mới đây tôi có dịp đọc được bài viết “Thương tiếc nhạc sĩ, ca sĩ Việt Dzũng” của tác giả Sơn Hà, tôi mới biết rõ ràng hơn. Có một đoạn tác giả Sơn Hà viết về Việt Dzũng như sau: “Một loạt các bài hát về thuyền nhân được anh sáng tác trong giai đoạn này đã lay động tâm cang nhiều người, trong đó có ca nhạc sĩ Joan Baez, một người nổi tiếng của phong trào phản chiến của Mỹ, chống lại chiến tranh Việt Nam. Tháng Năm - 1979, Joan Baez đã tố cáo Việt cộng trên 4 tờ báo lớn nhất của Hoa Kỳ rằng, “cộng sản Việt Nam là thủ phạm làm nên những cơn ác mộng”. Việt Dzũng đã cùng với Joan Baez hát chung nhiều lần ở các trường đại học vùng Trung Nam Hoa Kỳ. Thời gian này, các chiến dịch cứu người vượt biển của Liên Hiệp Quốc và của nhiều quốc gia tự do hoạt động rất tích cực trong công tác cứu thuyền nhân trên biển Ðông…”

Lần cuối bắt tay anh: Năm 2009, tôi cùng với ông Lê Hồng Long, tức nhà báo Hồng Phúc, chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp Chí Thế Giới Ngày Nay về Nam California để tham dự ba cuộc hội luận chính trị trên diễn đàn “nhìn về Việt Nam” với nhà văn Trần Phong Vũ, do Nhà Báo Võ Long Triều thực hiện trên đài SBTN. Chúng tôi đã mạnh dạn tố cáo những kẻ "Ban ngày hô hào chống cộng, nhưng đêm về lại chăn gối với kẻ thù". Tôi và nhà báo Hồng Phúc có dịp gặp lại Việt Dzũng và cùng ăn bữa cơm tối thân mật với anh. Đó cũng là lần sau cùng tôi có dịp bắt tay anh. Chúng tôi trao đổi nhiều đề tài, nhưng đặc biệt về truyền thanh. Anh đề nghị cá nhân tôi và nhà báo Hồng Phúc nên thực hiện một đài phát thanh để làm phương tiện chống cộng, nhưng anh cũng dặn dò thêm: “Nếu chú Long và anh Bình muốn ra một đài phát thanh thì nên chờ thêm thời gian ngắn, bởi kỹ thuật phát thanh hiện nay đang có nhiều thay đổi…”. Được biết, Việt Dzũng gọi nhà báo Hồng Phúc bằng "chú", bởi nghe đâu nhà báo Hồng Phúc và thân phụ Việt Dzũng là Bác Sĩ Bảy từng là bạn thân hồi còn ở Việt Nam.

Đang ngồi ăn uống, truyện trò, Việt Dzũng ăn ít mà tâm tình thì nhiều; lúc ấy có người gọi anh. Nghe những gì anh nói với người bên kia đầu dây: “Anh vẫn còn nói chuyện với Chú Long và anh Bình. Em hãy chờ anh về ăn tối, khoảng 30 phút nữa anh sẽ về tới nhà...” Tôi hỏi đùa: “Ai mà bạn nói chuyện nghe tình tứ quá vậy?” Và Việt Dzũng trả lời: “Dạ, đó là Nhà Em”. Lần đó tôi mới viết Việt Dzũng đã lập gia đình. Được biết hiền thê của anh là một nhiếp ảnh gia, rất ủng hộ việc làm của anh, nhất là những gì liên quan đến đấu tranh chống cộng. Tôi và nhà báo Hồng Phúc bắt tay tạm biệt, để "trả anh về với vợ". Đó là lần cuối tôi có dịp bắt tay anh.

Tuần trước, một người bạn thân của tôi mà cũng là bạn thân của Việt Dzũng gọi báo cho tôi biết “Việt Dzũng đã qua đời”, và anh còn nói thêm: “Ai có thể không viết về Việt Dzũng, chứ còn ông dù có bận, dù ở đâu cũng phải viết vài điều về anh ấy.”

Tôi đang hồi tưởng lại vài kỷ niệm mà tôi có được với Việt Dzũng. Tuy kỷ niệm không nhiều, không khắng khít như người chị kết nghĩa của anh là nữ ca nhạc sĩ đấu tranh Nguyệt Ánh, hay nhà báo Huỳnh Lương Thiện hoặc cùng với quý anh chị em trong Đoàn Văn Nghệ Hưng Ca... Nhưng tôi muốn ghi lại để chào vĩnh biệt người bạn đấu tranh chống cộng, chốn trần gian tạm bợ này.

Thiết nghĩ, tôi không cần phải cầu nguyện cho linh hồn anh vào chốn vĩnh hằng, bởi tôi tin rằng Thiên Chúa đã dành cho anh một chỗ trên Nước Thiên Đàng. Tôi chỉ cần cầu nguyện xin Thiên Chúa xót thương, an ủi chị Việt Dzũng và những người thân yêu của anh, đang đau buồn, thương tiếc trước sự ra đi của anh. Khi viết những lời này tôi đã căn cứ vào lời khuyến cáo của Kinh Thánh rằng Nước Thiên Đàng không dành cho những kẻ có nhiều tội mà trong các tội đó có tội “dối trá” và “hèn nhát” (Khải Huyền 21:8)

Ngày nay, nếu có ai nhớ đến Việt Dzũng qua truyền thanh, truyền hình về biệt tài của anh thì chắc chắn khó ai quên về những cá tính của anh, mà tác giả Sơn Hà đã nhắc đến: "Cuộc đời cứ trôi qua, Việt Dzũng vẫn cứ yêu đời và yêu người mà các văn nghệ sĩ, gặp ai cũng nói, Việt Dzũng là người hiền hậu vui tính, yêu đời và lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ người khác..."

Xin chào "tạm biệt" Việt Dzũng, người bạn đấu tranh chống cộng không mệt mỏi. Anh hãy ngủ yên, vì tên anh vẫn sống trong tim nhiều người.

Huỳnh Quốc Bình

(503) 949-8752


TÌNH CA CHO NGUYỄN THỊ SÀI GÒN.


Ca nhạc sĩ Việt Dzũng qua đời


Một Chút Quà Cho Quê Hương _ Việt Dzũng - Trung Tâm Asia






Date: Sat, 28 Dec 2013 18:30:14 -0800
From: trinhbtam84

Đêm Nhạc Việt Dzũng "Như Một Lời Chia Tay" tại Sydney, Úc Châu

 photo _DSC9378_zps8d503e8a.jpg


Đêm ca nhạc Việt Dũng “Như Một Lời Chia Tay” do Nhóm Thân Hữu Sydney trong Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu tiểu bang New South Wales tổ chức tại Trung Tâm Văn Hóa và Sinh Hoạt Cộng Đồng vào đêm Thứ Sáu 27/12/2013 đã thu hút được khoảng ba trăm đồng hương tham dự.

Người ta nhận thấy có sự hiện diện của TS Hà Cao Thắng và LS Janice Lê, Chủ Tịch và Tổng Thư Ký, đại diện cho CĐNVTD-UC/NSW, KS Phan Đông Bích Cựu CT CĐNVTD-UC/NSW và nhiều Hội Đoàn, Đoàn Thể trong CĐ cùng các cơ quan truyền thông như SBTN và SBS Radio.

Sau nghi lễ Chào Cờ và một phút mặc niệm, ông Vũ Trọng Khải, Trưởng Ban Tổ Chức giới thiệu thành phần quan khách và trình bày mục đích của đêm nhạc không chỉ mang thuần một ý là tỏ lòng thương tiếc khi phải chia tay với một chiến sĩ của Tự Do, một đứa con yêu của Mẹ Việt Nam như ca nhạc sĩ Việt Dzũng, mà thực tâm anh chị em trong ban tổ chức và các ca nhạc sĩ Sydney mong mỏi thổi bùng lên khí thế đấu tranh mạnh hơn nữa từ Hải Ngoại về với Quốc Nội trong "Tinh Thần Việt Dzũng". Hoài bão đó chúng ta không bao giờ được quên, phải cố gắng tiếp tục con đường rất là cao cả của Anh.

  photo _DSC9263_zps6677b124.jpg
                                      Ông Vũ Trọng Khải, Trưởng Ban Tổ Chức

TS Hà Cao Thắng, Chủ Tịch CĐNVTD-UC/NSW, trong lời phát biểu cho biết cá nhân ông khi còn làm Phó CT CĐ đã từng gặp anh Việt Dzũng tại Sydney, sự ra đi của Anh rõ ràng là một mất mát quá lớn cho người Việt chúng ta bởi vì Anh là người luôn dấn thân trong tất cả mọi cuộc đấu tranh. Anh thật sự là người Việt yêu nước chân chính. TS Thắng cũng gửi lời thành kính phân ưu tới gia đình cùng thân quyến của Anh. 

 photo _DSC9277_zpsd2042cba.jpg
                             TS Hà Cao Thắng, Chủ Tịch CĐNVTD-UC/NSW

Sau phần ca sĩ Thanh Thúy trình bày nhạc phẩm mở đầu “Hát Cho Tự Do”, KS Phan Đông Bích, Cựu Chủ Tịch CĐNVTD-UC/NSW, tỏ lòng vô cùng thương tiếc về sự ra đi của một nghệ sĩ tài hoa, có lòng sâu đậm với dân tộc và đất nước. KS Bích được vinh hạnh từng làm việc chung với anh Việt Dzũng trong một số chương trình ca nhạc và truyền thông tại Úc và đã có cơ hội nói chuyện, tâm sự nhiều với Anh, không ngờ lần gặp ở Sydney là lần cuối. Anh Việt Dzũng đã nhắn nhủ cho chúng ta qua các bản nhạc và các hoạt động yêu nước là hãy luôn nghĩ về dân tộc, cố gắng đấu tranh để có ngày Việt Nam có được tự do, dân chủ và nhân quyền.

 photo _DSC9418-2_zps10ba4682.jpg
                               Ca sĩ Thanh Thúy mở đầu chương trình văn nghệ

Ca sĩ Quỳnh Xuân tiếp tục chương trình với nhạc phẩm “Lời Kinh Đêm” … Lời kinh đêm ôi lời kinh đêm, lời kinh buồn như tiếng mẹ thở dài…  Trời mong manh ôi đời lênh đênh, thuyền bấp bênh cuộc sống mơ hồ…

 photo _DSC9378_zps8d503e8a.jpg
                                      Nhạc sĩ Vũ Hùng và Ca sĩ Quỳnh Xuân

Nhạc sĩ Phạm Quang Ngọc sơ lược về nhóm Hưng Ca Úc Châu trong Phong Trào Hưng Ca Việt Nam tại hải ngoại, qua âm nhạc thể hiện tình quê hương dân tộc và nung sôi ngọn lửa đấu tranh sẽ không bao giờ phai mờ trong lòng người dân Việt.

Slide show cũng được trình chiếu những hình ảnh của Việt Dzũng chụp trong hành trình ca nhạc đấu tranh và đặc biệt trong lần gặp gỡ với đồng hương Úc Châu như chị Quỳnh Lan, ca sĩ Xuân Thảo, anh Phan Đông Bích, anh Nguyễn Văn Bon v.v.

 photo _DSC9345_zpse276a305.jpg
                                    Nhạc sĩ Vũ Hùng và Ca sĩ Xuân Thảo

Tiếp tục chương trình văn nghệ là các nhạc phẩm Chút Quà Cho Quê Hương, Tình Ca Nguyễn Thị Sài Gòn, Những Đứa Con Của Mẹ, Mời Em Về, Có Những Cuộc Tình Không Là Trăm Năm, Dấu Chân Của Biển, Và Em Hãy Nói Yêu Anh,  Thung Lũng Chim Bay, Cỏ Tương Tư, Xin Hãy Làm Ánh Đuốc, Vẫn Còn Đây Các Con Của Mẹ được trình bày bởi các nghệ sĩ Xuân Thảo, Tuyết Trinh, Thanh Xuân, Ánh Linh, Đào Thúy, Quỳnh Xuân, Thanh Thúy, Nga Uyên và Vũ Hùng.

Kết thúc chương trình, toàn thể hội trường đã đứng lên đồng ca nhạc phẩm “Hát Cho Ngày Sài Gòn Quật Khởi” trong khí thế hào hùng.

 photo _DSC9434_zps036d4801.jpg
                                          Nhạc sĩ Vũ Hùng và Ca sĩ Ánh Linh

Sau buổi lễ ông Đỗ Quang Bích, Gia Trưởng Gia Đình Hải Quân Hàng Hải NSW đã cho BTC biết cảm tưởng của ông. Qua các ca nhạc sĩ trình bày những ca khúc nổi bật của Việt Dũng sáng tác từ khi đặt chân tỵ nạn ở Mỹ tới nay đã khiến cho khán thính giả bồi hồi xúc động, thương tiếc cho một chiến sĩ Quốc Gia chống Cộng, đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ của VN không mệt mỏi cho đến hơi thở cuối cùng. Bài ca cuối cùng, Hát Cho Ngày Sài Gòn Quật Khởi, do toàn thể ca, nhạc sĩ trình bày với sự phụ họa của toàn thể khán giả, như một điềm báo trước ngày tàn của chế độ Cộng Sản Việt Nam, một chế độ ươn hèn, bán nước buôn dân, tham nhũng và thối nát. Từ ngày thành lập tới nay, đã gây bao nhiêu tội ác với dân lành. Chế độ đó phải xụp đổ trước những phong trào đấu tranh giành lại Tự Do Dân Chủ và tiêu diệt chế độ độc tài đảng trị Cộng sản của toàn dân trong cũng như ngoài nước.

 photo _DSC9432_zps79def9cb.jpg
                                                      Quang cảnh Hội trường 

Đêm ca nhạc tưởng niệm ca nhạc sĩ Việt Dũng đã kết thúc vào lúc 22 giờ, mọi người ra về trong niềm thương tiếc ca nhạc sĩ Việt Dũng. Anh là ngọn đuốc thắp sáng để chúng ta, người Việt lưu vong, vẫn tiếp tục con đường tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền trong niềm tin chế độ Cộng sản sẽ cáo chung trong một tương lai rất gần.

AT tường trình với hình ảnh của TT


 photo _DSC9331_zps2add659d.jpg
                                         Nhạc sĩ Vũ Hùng và Ca sĩ Tuyết Trinh

 photo _DSC9360_zpscb782e31.jpg
                                            Nghệ sĩ Đào Thúy ngâm thơ

 photo _DSC9370_zps71b1e119.jpg
                                Ca sĩ Nga Uyên và Nhạc sĩ Vũ Hùng

 photo  _DSC9399_zps26fbb89d.jpg
                                    Nhạc sĩ Vũ Hùng và Ca sĩ Thanh Xuân

  

Việt Dzũng, niềm thương nhớ khôn nguôi

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-12-28

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
VHNT12282013.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
vietdzung-305.jpg
Ca nhạc sĩ Việt Dzũng.
File photo





Em gửi về cho anh dăm bao thuốc lá
Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay
Gửi về cho mẹ dăm chiếc kim may
Mẹ may hộ con tim gan quá đọa đày

Gửi về cho chị dăm ba xấp vải
Chị may áo cưới hay chị may áo tang
Gửi về cho em kẹo bánh thênh thang
Em ăn cho ngọt vì đời nhiều cay đắng

Con gửi về cho cha một manh áo trắng
Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây
Gửi về Việt Nam nước mắt đong đầy
Mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình
Những năm đầu thập niên 80 có lẽ không bài hát nào nổi tiếng, được biết và được hát nhiều tại hải ngoại như nhạc phẩm Một Chút Quà Cho Quê Hương, do Việt Dzũng sáng tác.

Trọn đời tranh đấu cho dân chủ

Sau năm 1975 hàng loạt thuyền nhân Việt Nam bỏ nước ra đi đã góp vào trang sử lưu vong của thế giới một chương mới mang tên Thuyền nhân Việt Nam. Vượt qua bão tố, thần chết và chia ly để rồi khi đến được bến bờ tự do những con người khốn khổ ấy lại đối diện với một bất hạnh khác, bất hạnh của kẻ lưu vong không biết bao giờ trở lại quê hương trong khi tại quê nhà cha, mẹ vợ hay chồng có khi là con cái, anh em vẫn ngày ngày mòn mỏi.
Việt Dzũng như hàng trăm ngàn thuyền nhân khác tận tụy làm việc để gửi về quê nhà những món quà nhỏ bé mà trong thời kỳ ấy không khác gì những viên thần dược có thể cứu vớt được hàng ngàn gia đình qua cơn hấp hối của nền kinh tế suy kiệt.
Trời sinh ra anh có một tinh thần sắc đá nhưng lại có một trái tim nhân ái. Có lẽ vì Dzũng được sinh ra với một trái tim như vậy cho nên anh dễ xúc động trước những hoàn cảnh, những khổ đau của nhân loại.
-Nhạc sĩ Nam Lộc
Nhưng trong từng món quà nhỏ bé ấy của Việt Dzũng là những thông điệp về sự cùng quẫn tinh thần, là tội ác của bên thắng cuộc. Việt Dzũng đã thẩm thấu nỗi tủi nhục của người còn lại để anh có thể xuất thần viết nên một nhạc phẩm mà cho tới nay đã hơn ba mươi năm nhưng lời nhạc vẫn đau đáu đối với một số người.
Nếu nói sự nổi tiếng của anh dính liền với hoạt động tranh đấu cũng không sai, thế nhưng khó mà phân biệt đâu là một Việt Dzũng tranh đấu không khoan nhượng đối với những sai trái của chính quyền mới và đâu là nét dí dỏm, cường tráng đầy chất nghệ sĩ nơi một con người vừa là nhạc sĩ, nhà truyền thông và sở hữu một giọng ca không hề lép vế trước bất cứ một ca sĩ chuyên nghiệp nào. Việt Dzũng tài năng đã đành, nét tài hoa của anh khiến nhiều người ngưỡng mộ và đâu đó trong lòng họ tự hỏi không biết con người này còn một bí ẩn nào mà dư luận chưa biết tới hay chăng?
Nếu có sự bí ẩn có lẽ đó câu hỏi mà nhiều người đặt ra cần giải đáp: tại sao một người tài hoa như anh, gia đình và bản thân anh chưa bao giờ bị bạc đãi bởi nhà cầm quyền Việt Nam tuy cha anh là một Thiếu tá bác sĩ quân y, kiêm Dân biểu thời Đệ nhị Cộng hòa nhưng ông và gia đình sang Mỹ rất sớm, từ năm 1976, vậy thì động lực nào thúc đẩy Việt Dzũng khước từ những cơ hội khác của nước Mỹ đã dành cho anh để lao vào cuộc chiến chống lại nhà nước Việt Nam không mệt mỏi để đến nỗi bị kết án tử hình khiếm diện?
Nhạc sĩ Nam Lộc, người cũng nổi tiếng với nhạc phẩm Sài gòn Vĩnh biệt có thời gian làm việc chung với Việt Dzũng hơn ba mươi năm chia sẻ những nhận xét của ông về câu hỏi này:
165959-vietDzung-305.jpg
Nhạc sĩ Việt Dzũng tại buổi gặp gỡ, chuyện trò với độc giả ở tòa soạn Người Việt Online hôm 14 tháng 5 năm 2013.
“Tôi cho đó là tâm hồn tự nhiên của một người trẻ. Trời sinh ra anh có một tinh thần sắc đá nhưng lại có một trái tim nhân ái. Có lẽ vì Dzũng được sinh ra với một trái tim như vậy cho nên anh dễ xúc động trước những hoàn cảnh, những khổ đau của nhân loại và khi bắt đầu nhận thức được hình ảnh của những thuyền nhân vượt biển ra đi phải bỏ xác trên biển cả thì tôi nghĩ rằng Việt Dzũng nhạy cảm ngay lập tức.
Khi anh trưởng thành hơn một chút, tìm hiểu rõ ràng hơn thì anh nhìn thấy chế độ nó đã làm cho người ta bỏ nước ra đi và sự nghiệt ngã của chế độ đã càng ngày càng tạo cho anh cảm thấy cần phải thay đổi cũng như cần phải có hình thức nào đó để lên tiếng chống đối chế độ độc tài đảng trị, đặc biệt là chế độ cộng sản hà khắc và đàn áp con người.
Như anh đã nhìn thấy không những người vượt biển ra đi chịu chết trên biển cả và đồng thời còn những người bị bắt vào trại cải tạo, những người bị đày ải đi vùng kinh tế mới thì càng ngày anh Việt Dzũng, như tôi đã nói là người có trái tim nhân ái, khi nhìn thấy chính đồng bào mình, những người đã từng phục vụ trong quân đội cùng với bố của mình.
Chính những người mang thân phận tỵ nạn như mình nhưng bất hạnh hơn, những người đi sau. Tôi cho đó là những lập luận chính đã đưa anh Việt Dzũng vào con đường sinh hoạt với tinh thần như anh vừa nói là tranh đấu cho tự do dân chủ, nhân quyền cho quê hương mình đồng thời cho những người bất hạnh đã trải qua khổ đau để tìm tự do.”
Việt Dzũng là một ngôi sao tại hải ngoại điều đó không cần phải chứng minh. Lối nói chuyện cuốn hút, cách pha trò duyên dáng và lời dẫn chuyện thông minh trong các show ca nhạc của Asia đã khiến chương trình trở nên sống động và cuốn hút hàng triệu người xem. Việt Dzũng là người đi khắp thế gian, đã đặt chân hầu hết nơi nào có người Việt sinh sống và do đó nói anh là người của thế giới người Việt hải ngoại cũng không quá đáng.
“Tôi đã bị Việt Dzũng thu hút hay lôi cuốn từ trước khi tôi làm việc với anh. Kể từ ngày tôi gặp anh lần đầu tiên vào đầu thập niên 80 khi anh trình diễn trên sân khấu đại học Long Beach. Tôi đã bị thu hút bởi giọng nói của anh, dáng dấp của anh lúc ấy là một thanh niên trẻ tóc dài ôm đán hát đã lôi cuốn tôi với cái dáng vẻ nghệ sĩ đó, cộng thêm giọng nói nhẹ nhàng và giọng hát rất ngọt ngào.”
Tuy là người đi khắp nơi nhưng một chỗ duy nhất Việt Dzũng không thể trở về, đó là nơi anh bỏ hết cuộc đời tranh đấu cho hạnh phúc, tự do dân chủ của nó. Đó là nơi mà anh đăm đắm một ánh mắt, đau đớn một con tim và khóc thầm hằng đêm vì một nỗi nhớ: Nỗi nhớ Việt Nam.
Cho tới khi anh vĩnh viễn nằm xuống vì một cơn trụy tim vào ngày 20 tháng 12 khi vừa được 55 tuổi tại thành phố Fountain Valley nơi anh đang sống đời lưu vong, thì  có lẽ niềm đau ấy cũng sẽ chấm dứt sau gần bốn mươi năm chờ đợi.
Có lẽ qua cái chết của người bạn đồng hành với mình thì mình đã tìm thấy mình có đến hàng trăm ngàn người bạn đồng hành khác âm thầm và cùng chí hướng với người bạn mình đã mất.
-Nhạc sĩ Nam Lộc
“Quả thật là tôi không ngờ cái phản ứng nó lại mạnh mẽ đến như vậy. Tôi không chỉ nghĩ rằng chỉ là những thương cảm cho một người có lòng, có một tinh thần cao trong việc chống cộng, tranh đấu cho tự do dân chủ. Tôi không ngờ sau đó có một lời chia sẻ của một người gửi cho chúng tôi, trung tâm Asia đài phát thanh Blosa và các diễn đàn, báo chí và đặc biệt là phàn ứng từ nhiều nhân vật ngay cả những người Hoa Kỳ, một số các vị dân cử cấp liên bang cũng như tiểu bang hay các quận hạt.
Đặc biệt trên lĩnh vực truyền thông báo chí người Việt ở hải ngoại hay báo chí Hoa Kỳ ….thì tôi mới nhìn thấy rằng việc làm của anh Việt Dzũng đã có ảnh hưởng rất sâu đậm. Có những cái nhìn rất tích cực và được quý mến một cách rộng rãi làm cho tôi cảm thấy xúc động vô cùng.
Vừa xúc động vừa hãnh diện và sung sướng vì anh em chúng tôi đã cùng đồng hành trên con đường có nhiều người cùng chí hướng với mình. Thậm chí tôi còn cảm thấy đó là mối an ủi lớn lao dành cho mình và lúc nào tôi cũng nghĩ rằng tôi đã mất đi một người bạn, một người bạn đống hành rồi.
Có lẽ qua cái chết của người bạn đồng hành với mình thì mình đã tìm thấy mình có đến hàng trăm ngàn người bạn đồng hành khác âm thầm và cùng chí hướng với người bạn mình đã mất thành ra tôi vô cùng hãnh diện.”
Vâng đúng như nhạc sĩ Nam Lộc chia sẻ, khi nghe tin Việt Dzũng nằm xuống chưa bao giờ truyền thông Việt ngữ khắp thế giới lại cuống cuồng loan tin như vậy. Từ California tới Ba Lan, xa hơn nữa là Nga, rồi Úc, Canada… tất cả mọi chương trình phát thanh, bài viết trên mặt báo hình ảnh cuối cùng của anh cũng như thông tin anh nằm xuống đã trở thành cuồng phong. Hàng triệu người Việt khắp nơi lặng lẽ thương tiếc anh, lặng lẽ nghe lại hơn 400 nhạc phẩm anh đã sáng tác trong suốt cuộc đời lưu vong mà một trong những nhạc phẩm để đời ấy có bài Tự tình khúc, viết về nấm mộ của một thuyền nhân, một trú khách, mãi khi chết rồi vẫn canh cánh với quê nhà.
Hình ảnh ấy có phải anh viết cho chính anh, một con chim báo bão chưa bao giờ có cơ hội trú thân trong chính những trăn trở của mình?
Bài hát có những nốt trắng làm người nghe tê dại. Chỉ còn lại tiếng kinh chiều, rất thê thiết và rất tha ma. Tiếng kinh lưu vong ấy có tiễn được Việt Dzũng về tới quê nhà hay không và trong cõi hư vô anh có cơ hội nghe lại được chính mình để im lặng suy tư về một thuở?
Chiều nay ai ra mộ vắng
Thắp dùng tôi nén hương tàn
Thương người nằm sâu đất lạnh
Đang buồn quê hương nát tan
Chiều nay ai ra bờ sông
Xem con nước có xuôi dòng
Ra quẩn quanh hoài một nhánh
Lặng buồn như kiếp lưu vong
…..
Chiều nay ai ra phố vui
Phố vui vẫn chỉ là phố người
Còn lại thân mình ta giữ
Thương nhớ quê nhà khôn nguôi….

TÌNH CA CHO NGUYỄN THỊ SÀI GÒN.


Ca nhạc sĩ Việt Dzũng qua đời


Một Chút Quà Cho Quê Hương _ Việt Dzũng - Trung Tâm Asia






Việt Dzũng: Giấc mơ chưa thực hiện

Nhạc sĩ Việt Dzũng. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)Nhạc sĩ Việt Dzũng. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
  •  
  •  
  •  

Tin liên hệ

  • Hoài niệm và thương tiếc cố ca nhạc sĩ Việt Dũng
  • Xin chia tay 'Một chút quà cho quê hương'
  • Nhạc sĩ Việt Dzũng qua đời vì bệnh tim tại California
  • Nghe BS Quế: 'Dân chủ hóa giúp đòi quyền lợi quốc gia trên Biển Đông'
  • Hội Nhiếp ảnh Việt Nam vùng Hoa Thịnh Đốn kỷ niệm 20 năm thành lập
  • Phong trào tranh đấu cho quyền phụ nữ, 50 năm sau khi được khởi xướng
CỠ CHỮ
28.12.2013

Một nhạc sĩ được nhiều người trong cộng đồng người Việt hải ngoại mến mộ, Việt Dzũng, đã ra đi trong những ngày cuối cùng của năm 2013. Tên tuổi Việt Dzũng gắn liền với Phong trào Hưng ca, anh đã sáng tác nhiều ca khúc nổi tiếng về thân phận người tỵ nạn và tấm lòng của người ra đi đối với quê hương và những người thân còn ở lại. Một người hoạt động lâu năm với Việt Dzũng, nhạc sĩ và MC Nam Lộc, nói Việt Dzũng là một 'con người sắt đá nhưng có trái tim nhân ái'. Trong mục Đời sống Văn hóa do Hoài Hương phụ trách tuần này, Nam Lộc chia sẻ kỷ niệm khi lần đầu ông gặp Việt Dzũng, và những cảm nghĩ của ông về những đóng góp của Việt Dzũng cho làng nhạc của người Việt ở nước ngoài, và hoài bão chưa thực hiện của Việt Dzũng là xây dựng một trung tâm văn hóa của người Việt tại thủ đô của người tỵ nạn ở California.

VOA: Thưa ông, đối với ông, nhạc sĩ Việt Dzũng không những là một người bạn thâm giao mà còn là một nghệ sĩ đồng hành, dùng văn nghệ và âm nhạc như một công cụ đấu tranh, xin ông chia sẻ với độc giả của đài những cảm xúc của ông về sự ra đi của Việt Dzũng?

Nam Lộc: “Dạ vâng, chị diễn tả như vậy thì cũng đã nói lên được sự xúc động của tôi khi mà nghe tin người bạn đồng hành, một người mà tôi cũng ngưỡng mộ, một nhân vật đấu tranh, một nghệ sĩ và đồng thời cũng là một người em mà tôi quý mến từ lâu, vì thế cho nên dĩ nhiên sự xúc động đến với tôi một cách hết sức mạnh mẽ. Đối với tôi đây là một sự mất mát rất lớn lao. Vâng thưa chị, đấy là cảm nghĩ bất chợt đến với tôi khi nghe tin Việt Dzũng qua đời.”

VOA: Thưa ông, ông đánh giá những cái đóng góp của Việt Dzũng cho cộng đồng người Việt ở hải ngoại như thế nào?

Nam Lộc: “Vâng, Việt Dzũng là một người có lòng và có tâm huyết đối với quê hương đất nước, đối với nhân loại nói chung, và đối với đồng bào của mình nói riêng. Khi hoạt động bên cạnh Việt Dzũng, tôi thấy anh ấy là một người đa tài, hoạt động trong nhiều lãnh vực, luôn luôn quan tâm đến tự do dân chủ và nhân quyền ở quê hương mình, luôn luôn quan tâm đến người thấp cổ bé miệng, không nói lên được tiếng nói của mình. Có thể nói một cách tóm gọn là Việt Dzũng là một con người sắt đá nhưng có trái tim nhân ái. Nhưng bên cạnh đó anh là một người dễ xúc động. Chính 2 điểm đó đã giúp Việt Dzũng nói lên được những bất hạnh trên cuộc đời này, những bất hạnh của đồng hương, của nhân loại, nhưng đồng thời cũng là một người dấn thân để mà tranh đấu cho tự do dân chủ và nhân quyền nói chung, và cho quê hương mình nói riêng.”

VOA: Thưa ông xin ông chia sẻ kỷ niệm lần đầu tiên gặp Việt Dzũng trong hoàn cảnh nào và ca khúc nào của Việt Dzũng đã gây nhiều ấn tượng nhất?

Nam Lộc: “Đối với tôi thì một bài hát gây ấn tượng rất là mạnh và có thể là đã tạo cái hình ảnh về Việt Dzũng trong đầu óc của tôi là bài 'Lời Kinh Đêm'. Tôi nhớ mãi đó là thời điểm đầu thập niên 1980. Tôi có nghe tên Việt Dzũng trước đó nhưng đó là lần đầu tiên tôi gặp anh bằng xương bằng thịt là thời gian chúng tôi có một buổi sinh hoạt tôi điều khiển chương trình gây quỹ của sinh viên Đại học Long Beach. Khi tôi giới thiệu Việt Dzũng thì tôi thích ngay bởi vì một người nghệ sĩ trẻ, tóc dài, ôm cây đàn trông rất là nghệ sĩ tính. Anh trình bày một bài hát, giọng rất là ngọt ngào truyền cảm, giọng nói từ tốn, thu hút, tôi thích Việt Dzũng ngay, nhưng khi nghe Việt Dzũng hát thì sự yêu thích quý mến của tôi còn lên gấp bội lần nữa tại vì bài hát anh hát nó ý nghĩa quá. Nhưng mà đến khi tôi biết anh ấy là tác giả bài hát này thì phải nói rằng tất cả sự ngưỡng mộ đưa đến cảm phục quý mến của tôi kéo dài mãi cho đến ngày hôm nay.”

VOA: Dạ thưa ông, sự ra đi của Việt Dzũng ở tuổi 55, hãy còn quá trẻ, đã gây sốc cho một số fan hâm mộ anh, nhưng có lẽ đối với người thân và bạn bè thì có thể không phải là một ngạc nhiên. Như vậy nhạc sĩ Việt Dzũng có thì giờ để tâm sự với ông về những hoài bão mà Việt Dzũng muốn thực hiện trước khi ra đi không ạ?

Nam Lộc: “Chị nói đúng, Việt Dzũng cũng biết là cái tình trạng bệnh trạng của anh cũng không có khả quan, đôi khi tôi tránh đề cập đến, nhưng mà anh em chúng tôi ngồi cạnh nhau cũng không thể không đề cập đến được, nhất là lại có những chương trình, dự án làm việc dự tính làm chung với nhau. Có hai điều, thứ nhất là Dzũng mong mỏi một ngày được trở về quê hương, và những mơ ước của anh không những là anh được về quê hương mà còn được gặp lại đồng bào mình sống dưới một chế độ tự do dân chủ và tôn trọng nhân quyền. Đó là hoài bão lớn của anh. Đối với Việt Dzũng, anh nghĩ rằng ngày đó không xa. Nhưng mà hoài bão gần nhất đối với anh em chúng tôi có lẽ ít người biết là tôi và Việt Dzũng đã âm thầm hoạt động cùng với một số những người có lòng ở Nam California,chúng tôi chia sẻ hoài bão là làm thế nào để dựng lên một cái trung tâm văn hóa của người Việt tại nơi gọi là thủ đô của người tỵ nạn Việt Nam bởi vì sự thành công của người Việt với những công trình xây dựng hay thương mại rất lớn nhưng hầu như chúng ta chưa có một chỗ nào để tạo ra một trung tâm văn hóa hầu giữ lại cái lịch sử thành lập cái thủ đô tỵ nạn, có thể nói là một nơi mà người Việt Nam chúng ta sinh sống và tạo dựng sự nghiệp. Đấy là những điều mà anh Việt Dzũng rất là mong mỏi, hầu cho thế hệ trẻ đi sau biết được cha ông của họ đã làm những gì, đã hy sinh như thế nào và đã bỏ ra bao nhiêu mồ hôi nước mắt để tạo dựng được. Các em trẻ đến thăm khu Little Saigon, các em không có một địa điểm, có chỗ nào để các em tìm hiểu được lịch sử ở đâu, các em chỉ nhìn thấy khu Phước Lộc Thọ chẳng hạn, rồi thấy cái tượng Phước Lộc Thọ, nhiều khi dẫn những người bạn ngoại quốc hay bản xứ, họ lại hiểu lầm hay là đây là tổ tiên của người Việt? Thì đấy là cái hoài bão và quan tâm rất lớn của Việt Dzũng cũng như của anh em chúng tôi.”

VOA: Dạ thưa xin cám ơn ông đã chia sẻ hoài bão đó, nhưng mà hoài bão đó đã trở thành một dự án chưa, và dự án đó có khả thi hay không dựa trên những điều kiện kinh tế hiện nay?

Nam Lộc: “Dạ vâng thưa chị, dự án đó đi có lẽ mới được 1 phần 3 đường, tức là muốn thực hiện được điều đó, như chị đã nói đó là cần phải có một cái dự án tài trợ rất là lớn. Chúng tôi cũng xúc động là chúng tôi cũng đã tiếp xúc được những người có khả năng tài chính để có thể làm điều này, thậm chí có những người có cả địa điểm, đất đai để có thể cống hiến vào công việc này. Tuy nhiên cái vấn đề quan trọng là chúng ta cần nhiều người nắm tay lại, đây là một dự án có tính cách lưỡng lợi cho những người làm thương mại, họ sẽ đóng góp, chia sẻ những sự tốn kém để tạo dựng nên cái trung tâm này. Anh Việt Dzũng và chúng tôi đã gặp được một số các nhân vật đó, và hiện chúng tôi hy vọng là có thể theo đuổi được cái hoài bão này, đặc biệt những người đó là thuộc thành phần trí thức trẻ, thành công trong sự nghiệp và muốn đóng góp một phần vào việc đó. Họ cũng đồng ý với chúng tôi là nếu không thành lập trung tâm này thì một ngày nào đó, những người đi trước không còn hiện diện nữa thì những chi tiết, những tin tức, những cam kết của họ sẽ mất đi thì khó có thể thực hiện được. Thưa chị trả lời câu hỏi của chị thì đây là một công việc không phải là dễ làm nhưng mà nó đã bắt đầu và đã có những người hỗ trợ, thưa chị.”

VOA: Dạ xin cám ơn ông chia sẻ cái hoài bão đó của ông, và cũng là của nhạc sĩ Việt Dzũng. Thay mặt cho Đài VOA và độc giả của đài, xin cám ơn và chúc ông thành công.

Nam Lộc: “Vâng thành thật cám ơn chị và cám ơn độc giả của Đài VOA.”


http://www.voatiengviet.com/content/viet-dzung-giac-mo-chua-thuc-hien/1819280.html

CHÂN DUNG VIỆT NAM SAU NGÀY 2-9-1945

From: an Do <
Date: 2013/12/28
Subject: CHÂN DUNG VIỆT NAM SAU NGÀY 2-9-1945
To:

Hồi Kí
CHÂN DUNG VIỆT NAM SAU NGÀY 2-9-1945
Bài 5
GS Bút Xuân Trần Đình Ngọc

Chúng ta hãy lấy ngày 19-8-1945 làm cái mốc lịch sử để phân chia ra: trước đó là thời Pháp thuộc và từ ngày đó (hay sau đó) là thời Việt Minh cai trị.

THỜI PHÁP THUỘC

Thời Pháp thuộc, người dân có quyền muốn ở đâu thì ở, không phải báo cáo tạm trú, tạm vắng như từ sau 19-8-1945 dưới sự cai trị hà khắc của Việt Minh.
Tôi nhớ nhà thầy mẹ tôi ở Phố Cố Đạo Hải Phòng (hay có thời gian ở phố Huế, Hà Nội) vì thầy tôi rất hiếu khách và hay giúp đỡ người làng nên hầu như lúc nào trong nhà cũng có cơm ngang khách tạm. Họ đi buôn bán hay làm ăn ở Hải Phòng, Hà Nội hoặc các thành phố lân cận: Kiến An, Quảng Yên (Đông Triều, Mạo Khê), Hà Đông v.v… ghé vào thăm gia đình tôi, ăn bữa cơm, ngủ một đêm, rồi mai lại đi. Buôn bán nhỏ ít tiền, họ không dám mướn phòng ngủ, vốn thời nào cũng đắt. Khách khứa hà rầm vậy, đa số là đàn ông, thanh niên nhưng không bao giờ bị Cảnh sát hay Trưởng phố làm khó dễ mà cũng chẳng bao giờ phải đi khai với Khu phố. Có khi gần nửa đêm, ba bốn người làng mới gõ cửa vào xin cho bữa cơm và ngủ nhờ đến sáng mai. Nhà tôi khá rộng, lại có hai tầng nên thầy mẹ tôi chấp nhận hết mà không hề phàn nàn. Chỉ có anh giúp việc bị dộc dạy thổi cơm thì lầm bầm khó chịu nhưng bữa sau mẹ tôi cho một món quà nhỏ là lại tươi nét mặt. Thầy mẹ tôi coi những chuyện giúp đỡ đó như làm phúc, để âm đức lại cho con cháu sau này vì trong Kinh Thánh có dạy: “cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho khách đỗ nhờ v.v…” Người quá nghèo và bệnh hoạn thì thầy mẹ tôi cấp cho một số tiền nhỏ trong lúc ngặt, nuôi và chữa bệnh cho dăm hôm rồi trở lại làng. Thầy mẹ tôi chỉ làm được đến thế vì không giầu có gì nhưng tấm lòng thì trải rộng ra hết mọi người, ngay những người không phải Công giáo cũng chạy đến thầy tôi xin giúp đỡ khi quá cần.

Về việc không phải khai báo hay khai báo nhẹ nhàng khi có người lạ trong nhà, luật lệ của thành phố do người Pháp cai trị là dễ dàng, thành phố hay nông thôn nào cũng thế chứ không phải đặc ân hay hối lộ như 70 năm nay tại Việt Nam. Các cụ già đã sống từ ngày 2-9-1945 đến nay (2013) còn nhiều, có thể kiểm chứng lời tôi nói. Cũng có thời gian, khu phố nào đó phải khai những người lạ đến trú ngụ một, hai đêm, khai với Trưởng phố, vì nơi đó có rải truyền đơn chống người Pháp, xách động biểu tình, bãi thị v.v…nhưng khi tình trạng nhẹ bớt, lại bãi bỏ ngay, người dân không cảm thấy áp lực nặng nề từ nhà chức trách. Tình trạng chung cũng tương tự, nếu không có những “hội kín” tức hội làm cách mạng hoạt động thì dân chúng không bao giờ bị quấy nhiễu bởi nhà cầm quyền Pháp. Như nhà thầy mẹ tôi, cả năm không có Cảnh sát, công an hay mật vụ tới dò hỏi hay làm phiền. Đó là cái đặc điểm dễ chịu trong thời Pháp thuộc. Xin giấy tờ hành chính cũng dễ dàng dù ở nông thôn mà không bị đối xử tệ hại hoặc bắt nạt như thời VM. Báo chí VN nay nói: hành là chính! 

Về việc học của anh em tôi cũng vậy. Nhà nước Pháp khuyến khích đã đành như tiểu học không phải đóng học phí (6 năm), trong Nam học sinh giỏi có học bổng (200 đồng tiền Đông Dương) để theo học Trung học, nghỉ hè phát sách, tập vở, bút mực cho mọi học sinh hoặc cho phần thưởng là sách giáo khoa hữu ích v.v…Tôi nhớ ông hiệu trưởng trường làng tôi còn gọi cha mẹ mấy học sinh nghèo đến tặng vải để may quần áo cho con họ vì thấy học trò đi học mà rách rưới rất đáng thương. Ông nói cho cả lớp nghe rằng những tặng phẩm cho học trò nghèo là từ Nha Học chính Đông Pháp tại Bắc Kỳ (L’Enseignement Indochinois du Tonkin), chứ không phải của ông. Ông chỉ làm nhiệm vụ trao và đối tượng là các học sinh thật nghèo nhưng chăm chỉ, học giỏi và hạnh kiểm tốt.

Về phần gia đình, giáo dục là rất quan trọng với thầy tôi vì thầy tôi thường nói: “Ấu bất học, lão hà vi”: Nhỏ không học, già làm gì. Học chương trình Pháp văn, Việt văn mà còn phải học Hán văn nữa (tức chữ Nho, bắt đầu là cuốn Tam tự kinh), đó là 3 chương trình anh em tôi phải học từ lúc khai tâm 6 tuổi đầu, học đêm học ngày. Tôi nghĩ không phải riêng tôi mà rất nhiều người (90% là con trai) phải học vậy. Và cũng nhờ học vậy mà sau này dưới các triều đại VM hay VNCH còn có tạm đủ người có chữ nghĩa mà làm việc, từ xã ấp lên đến trung ương. Ngay như ông HCM bài bác Pháp thực dân là thế nhưng những kiến thức ông có lại cũng chỉ là chục năm Tiểu học ông đã được học tại các trường Pháp cho đến năm 1911, ông xuống tầu Admiral LaTouche  xin làm bồi tầu để đi free sang Pháp kiếm ăn mà sau này được thổi phồng lên là bác đi cứu nước.
Có khi tôi đang ở làng quê với mẹ, học trường làng, cũng chương trình Tiểu học Pháp (chung cho cả xứ Đông Dương do người Pháp cai trị lúc bấy giờ), thầy tôi nhắn về là phải ra với thầy tôi. Tôi xin ông hiệu trưởng trường quê chứng nhận cho tấm giấy tôi đang học lớp nào, tên trường và địa chỉ, thế là ra thành phố hôm trước, ngay hôm sau thầy tôi đưa tôi đến một trường công gần nhà  nhất (không phải đóng học phí) do người Pháp làm hiệu trưởng (thành phố chỉ có loại trường này) xin cho tôi học. Tôi được nhận ngay và từ hôm đó, tôi lại có ngôi trường mới, cô giáo mới, thường là cô đầm trẻ măng xinh đẹp, nói tiếng Pháp giọng Parisienne, nghe cứ mê đi, rất yêu học sinh và bà hay ông hiệu trưởng cũng người Pháp. Mọi học sinh nam nữ khác cũng được hưởng y như tôi, không hề có phân biệt đối xử, ngay những học sinh con người Pháp và các học sinh con người Việt, người Lào, người Miên, người Chà và, người Tàu …bất kể cha mẹ làm nghề gì, ngay một nghề hèn mọn nhất là đổ thùng (phân) ban đêm tại các thành phố. Phương châm của người Pháp lúc đó là: Liberté, Fraternité, Égalité: Tự do, Huynh đệ và Bình đẳng. Phương châm này và sự tàn lụi của chủ nghĩa thực dân sau thế chiến II đã làm cho nước Pháp trở thành một bó đuốc của châu Âu cùng với cuộc cách mạng thực sự năm 1789 phá ngục Bastille. Tuy nhiên những chi tiết này không phải là chủ điểm của bài này.

 Sau này VM tuyên truyền là Pháp thực dân chủ trương chính sách ngu dân. Từ năm 1945, ai cũng phải nói như thế không thì vào tù nhưng ngày nay, sau khi suy xét kĩ vấn đề, người Việt Nam thấy người Pháp không dùng chính sách ngu dân, mà trái lại, họ mở mang, thúc đẩy và khuyến khích Tân học (Tây học) cho dân Việt theo kịp bằng các nước khác nên mới có LS Nguyễn mạnh Tường, Học giả Đào duy Anh, Thạc sĩ Toán học Hoàng xuân Hãn và hàng trăm ngàn kẻ sĩ khác đã phục vụ cho Xã nghĩa, cũng như VNCH tại Việt Nam. Chính VM với cách tuyển lựa học sinh theo lí lịch, con bần cố mới được lên đại học v.v…đã là những rào cản thiếu niên tiến lên cho bằng người. Ngày nay, nhìn vào các thanh thiếu niên VN là người ta rút ra được cái kết quả của nền giáo dục do Xã nghĩa chủ trương. Không ai có thể tưởng tưọng để có bằng Tiến sĩ, chỉ cần học trong 6 tháng và chi ra vài, ba chục ngàn đô-la. Tiến sĩ có bằng thiệt mà không biết một từ Anh ngữ làm duyên. Thi cử thì phao đề như bươm bướm, giám thị bị thí sinh con cán bộ lớn đánh trọng thương vì không cho y sao chép phao đề, dùng cả cell phone để làm bài. Con cán bộ lớn chỉ đi chơi, không thèm đến trường cũng đậu cao. Nền giáo dục như vậy bảo sao nước ta dân trí ngày càng mù mịt, hai, ba trăm năm nữa không theo kịp các nước láng giềng. Đó là chủ trương của Xã nghĩa chăng?

Vào những thời kỳ cho mua gạo theo Sổ Gia đình thì người chủ gia đình phải đến khai với Trưởng phố nhưng rất dễ dàng và nhanh chóng không ai bị làm khó hay đòi tiền đòi bạc. Khi từ vùng quê ra, thầy tôi phải dẫn tôi đến Trưởng phố khai thêm người vào trong Sổ Gia đình để được mua gạo. Điếu ấy cũng rất dễ dàng.

Dăm, ba tờ báo tiếng Việt của tư nhân trong đó chuyện chính trị nói ít hoặc nói bóng nhưng vẫn có, Toàn quyền Pháp vẫn cho phép chứ không như thời Việt Minh cai trị, hoàn toàn cấm báo tư nhân vì sợ bị moi móc những vụ xấu trong khi truyền thông là để đánh bóng chế độ chứ không phải đệ tứ quyền làm thăng hoa đất nước. Ngoài tin thời sự Việt Nam và quốc tế mà nhiều người “ghiền” theo dõi thời đó, một món ăn tinh thần không có không được, trong tờ báo còn có các tin tức, tin sinh hoạt trong thành phố, tai nạn như bão lụt v.v…(nếu có) xẩy ra ở trong nước và cuối cùng là mục Văn, Thơ xướng họa v.v…Báo chí lưu chuyển tự do, khắp nơi không bị cấm đoán, ngoại trừ những tin (sẽ bị đục bỏ trước khi báo phát hành) như tin xách động bãi thị, bãi khóa, đình công, v.v…Còn ngoài ra đều được tự do in ấn và phát hành. Ngay tại Paris, tờ Le Paria (Kẻ nghèo khổ) của Phan chu Trinh, Nguyễn thế Truyền và Hồ chí Minh vẫn xuất bản và phát hành đều đặn. 

Người dân được tự do kinh doanh, muốn buôn bán gì tùy ý, trừ buôn lậu những đồ quốc cấm như thuốc phiện, vũ khí v.v… Người dân được toàn quyền theo một hay nhiều tôn giáo. Thiên Chúa giáo, do Tây phương truyền bá sang Á châu và Việt Nam, lẽ dĩ nhiên không có trở ngại về việc truyền bá, giữ đạo và tu trì. Nhưng đạo Phật, đạo Khổng (thờ ông bà tổ tiên) hay Đạo Lão, các đạo này có tự do tuyệt đối cũng y như Thiên Chúa giáo mà không hề có bất cứ sự ta thán nào trong việc truyền bá và tu hành. Như đạo Lão có tục lên đồng và mê tín dị đoan nhưng không bị nhà cầm quyền Pháp giải tán hoặc làm khó những khi lên đồng hoặc hành lễ. Sách báo hàng ngày cũng như sách học của học sinh chỉ khuyên là không nên mê tín dị đoan dù mặc ai nấy giữ, chỉ khi phạm vào luật pháp là bị ra tòa án mà thôi.
Sau ngày 2-9-1945, ngày ông Hồ chí Minh đọc tuyên ngôn Độc Lập của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thì tuy người dân đều vui mừng vì nước đã được Độc Lập nhưng nét âu lo hiện rõ trên mặt mọi người.
Người ta đồn đại về ông Hồ này là Cộng sản, Cộng sản thì Tam vô: Vô gia đình, Vô Tổ quốc, Vô Tôn giáo. Loại người xưa nay bần cùng, nghèo đói, hoặc du thủ du thực, bất tài vô tướng trong làng xã thì rất thích Việt Minh vì Việt Minh hứa đưa họ lên những chức tước cao, đầy quyền hành trong làng xã. Còn những người xưa nay sống mực thước, hiền lành, có ý thức, có địa vị như trùm trưởng, kỳ mục trong làng xã, có chút học vấn phổ thông đủ để làm việc cho dân làng như chánh tổng (coi một tổng) lý trưởng (coi một làng hay xã) phó lý, phụ tá lý trưởng cho đến hương sư (dạy học) và trương tuần đều có vẻ đăm chiêu vì nghe rằng VM sẽ thay đổi hết và sẽ bắt tội những người này vì các tội:
-      Làm việc cho Pháp, dù làm một cách lương thiện, giúp đỡ dân.
-      Có chút của cải do cha mẹ để lại hoặc đã tạo ra khi làm việc. Những chức vụ trước kia nay chính là mối lo cho tính mạng của mình và gia đình mình nhưng không thể trốn đi đâu được, phải chờ đó mà chịu tội.
-      Các lãnh đạo Tôn giáo, nhất là Công giáo, như các Giám mục, Linh mục, Thầy giảng, Nữ tu, Trùm trưởng trong xứ đạo v.v…bị cho là Việt gian theo Pháp bán nước, rất dễ bị qui chụp và đưa ra tòa án nhân dân xử.
-      Những nhà giầu có xưa nay. Những người có bằng cấp cao Tân học tức là với Pháp. Những người buôn bán, giao dịch với Pháp.

Người ta lo ngại mất ăn mất ngủ, ngoại trừ những kẻ đã vào thành sống dưới sự cai trị và bảo vệ của quân đội Pháp. Nhiều người đem cả gia đình trốn lên tỉnh, có người may mắn thoát, có người bị bắt lại và bị đem ra xử. Tất cả hầu như chỉ phạm một tội: Việt gian bán nước tay sai chó săn cho Pháp. Và bản án chỉ là một: xử tử ngay. Tòa án là VM trong làng xã, lập tòa án nhân dân xử theo ý họ mà không dựa vào luật lệ nào. Hầu như gần 100% là tử hình vì  không có nơi giam giữ. Tù cải tạo rất ít. Ra tòa án nhân dân cầm bằng cái chết chắc chắn.

Trong nhân dân người ta cũng ta thán chuyện VM giết người Quốc gia tức những người không theo họ. Lúc đó báo chí viết rằng: bì oa chử nhục, huynh đệ tương tàn (nồi da nấu thịt, anh em giết nhau) nhưng báo chí chưa nhìn ra như bây giờ là chiến tranh ý thức hệ hoặc có nhìn ra cũng là rất khái quát.     

Cũng nên nhắc lại trong Bản Tuyên ngôn Độc lập, ông Hồ chí Minh hứa hẹn cùng toàn dân ông sẽ tranh đấu cho một nước Việt Nam tiến bộ, độc lập tự do và hạnh phúc cho nhân dân và ông không bao giờ phản bội dân tộc. Ông tuyên bố trong nhiều cuộc mít tinh mà người dự hàng nửa triệu hay một triệu:
“Toàn dân hãy tin tưởng tuyệt đối vào Hồ này, Hồ này thề không bao giờ phản bội nhân dân đâu!” 
Từ sau ngày 19-8-1945, lệnh từ Chính phủ, trên bất cứ văn kiện nào, công hay tư, ngay một lá thư riêng tư gửi cho người quen, trên đầu bao giờ cũng phải để: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và ngay hàng dưới: Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc rất kính cẩn, lại có những người, sau hai hàng đó còn để: Hồ chí Minh muôn năm hay Chủ tịch Hồ chí Minh sống mãi với nhân dân. Những cái “slogan” này là rất quan trọng, nếu sơ sót không khỏi bị tội.
Như người làng tôi, cụ P. đã hơn 70 tuổi, bữa đó cụ phải làm lá đơn ra xã để xin được tiếp tục trồng hai sào dưa (đất của xã) mà cụ đã làm từ một năm trước. Cụ biết đọc chút chút nhưng không viết được chữ Quốc ngữ, bèn sang hàng xóm nhờ viết dùm. Người hàng xóm viết đơn cho cụ, sau đó đọc cụ nghe, cả hai đồng ý nên cụ P. đem ra xã trình. Chủ tịch xã là một anh mổ heo khi xưa, chữ nghĩa rất kém nhưng anh ta bắt một thanh niên đã đậu bằng Tiểu học Pháp - Việt năm 1943 làm thư ký cho anh ta, đọc cho anh ta nghe các công văn đến rồi quyết định. Anh thư ký này cũng phải thảo các đơn từ về hành chánh của xã khi gửi lên huyện xin chấp thuận. Khi cụ P. trình tờ đơn, Chủ tịch K. cầm đọc, không thấy hàng chữ Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa và Độc lập Tư Do Hạnh phúc anh ta gắt toáng lên:
-      Ủa, đơn từ gì mà ông không viết cái biểu ngữ: Việt Nam dân chủ cộng hòa, Độc lập Tự do Hạnh phúc là làm sao?
Cụ P. nghe chủ tịch xã nói, hoảng hồn:
-      Ủa, cái chú Mền viết dùm tôi đấy thưa ông Chủ tịch chứ tôi chỉ đánh vần chậm chậm được thôi chứ không viết được. Chú ta quên viết cái biểu ngữ đó à, thưa ông chủ tịch? Xin ông đánh chữ đại xá, để tôi mang về bảo chú ta viết thêm rồi sẽ mang trở lại, xin ông chủ tịch tha lỗi cho.
Chủ tịch K. hầm hầm trả lời:
-      Tôi phải trình vụ việc này lên huyện. Việc này rất quan trọng như trên Tỉnh ủy và huyện ủy đã thông tư về. Ông cố tình chứ không phải quên!
Cụ P. nghe đến tỉnh ủy thì hồn vía lên mây, có cái việc đơn giản vậy mà hóa ra quá quan trọng. Chung qui cụ không ngó kĩ lại trước khi ra xã, và cũng tại chú Mền quá sơ sót. Nhưng đã trễ rồi, chủ tịch xã đuổi cụ về bảo chờ đó. Một tuần sau, cụ bị đòi ra xã, chủ tịch xã bảo cụ:
-      Lỗi ông phạm là quá nặng vì bây giờ bọn Việt gian theo Pháp rất đông. Chúng sẵn sàng bán nước cho Pháp để dân tộc ta lại bị Pháp đô hộ một lần nữa. Tỉnh đang thụ lý vụ của ông. Họ nói có thể ông phải vào trại cải tạo ở Thái Nguyên, Tuyên Quang hay Thanh hóa vài năm rồi mới được về…
Cụ P. nghe, sợ run bần bật, cụ muốn khóc nhưng phải cố nén, mếu máo:
-      Xin ông chủ tịch thương giúp đỡ, nói dùm tôi. Xưa nay tôi là người hiền lương thế nào thì ông chủ tịch đã biết. Bà vợ tôi nhận là mẹ nuôi chiến sĩ của bộ đội cụ Hồ, tháng nào cũng góp 20 cân gạo, hai thằng con trai tôi đang đi bộ đội cho cụ ở Cao Bắc Lạng. Gia đình tôi một lòng với cách mạng, chỉ vì chú Mền sơ sót mà ra nông nỗi…
-      Thôi, ông về đi. Có tin gì tôi báo. Tôi cũng nể lời ông mà nói giúp với tỉnh cho. Còn hai sào dưa coi như năm tới này, tôi phải để cho người khác làm.
Cụ P ra về, mặt như đưa đám. Dăm ngày sau, chủ tịch đòi cụ ra, bắt nộp phạt 15 thùng thóc, nếu không có thóc thì phải đi tù cải tạo ít nhất một năm. Cụ P. vét hết cả nhà được 12 thùng, phải năn nỉ cô con gái với con rể cho vay 3 thùng cho đủ để nộp phạt. Số thóc gánh thẳng đổ vào cót nhà ông chủ tich xã thật gọn. Nếu có tỉnh hoặc huyện hỏi thì ông chủ tịch xã chỉ thưa:
“Bởi xã chưa có kho đựng thóc nên phải đổ đỡ vào cót nhà ông chủ tịch. Khi nào phải dùng, lấy ra đong đủ 15 thùng, ấy là xong.”Còn như xã không có việc phải chi tiêu thì lâu ngày người ta cũng quên mất 15 thùng thóc này. Ông chủ tịch lãnh cả! 
    
(còn tiếp)
GS Bút Xuân Trần Đình Ngọc

Vừa đi đường vừa bịa chuyện...

Kuốc Kuốc (Danlambao)

TỘI ÁC HỒ CHÍ MINH


Cải cách ruộng đất (1949 -1956) - HỒ CHÍ MINH - LAND REFORM






Hoa Kỳ Quyết Định Để Cho Miền Bắc Xâm Lăng Miền Nam


ThanChuyen.
***********

Một trang sử đã qua nhưng chưa được đọc!!!.
On Saturday, 28 December 2013 8:41 AM, Had V

Xin chuyểnttiếp và phổ biến,

---------- Forwarded message ----------
From: thohuu nguyen <>
Date: 2013/4/20
Subject: Thủ phạm bán đứng VNCH : Hoa Kỳ Quyết Định Để Cho Miền Bắc Xâm Lăng Miền Nam / xin pho bien
To: Minh Pham <>



Hoa Kỳ Quyết Định Để Cho Miền Bắc Xâm Lăng Miền Nam

Người Trung Hoa có một câu châm ngôn: “Thất trận rồi người ta mới đếm xác chết và mới đi tìm người trách nhiệm.” Phản ứng của người dân, thường hay trút hết trách nhiệm cho người lãnh đạo hoặc cho người lính chiến. Tại Việt Nam thì cả hai đều có phần trách nhiệm của mình, nhưng cả hai đều không thể làm gì hơn được với hai bàn tay trắng vì đã bị người ta tước hết khí giới từ lâu!

Việt Nam là một nước nông nghiệp nên không thể sản xuất vũ khí được, do đó trong cuộc chiến, cả hai bên miền Nam và miền Bắc đều bắt buộc phải nhận sự viện trợ quân sự từ bên ngoài. Do vậy, người ta thường nói rằng chỉ cần chấm dứt viện trợ ngoại quốc cho cả hai bên Nam và Bắc thì ngọn lửa chiến tranh ở Việt Nam sẽ yếu dần và đi đến chỗ tàn lụi ngay, cuộc chiến đương nhiên phải chấm dứt. 

Nhưng cũng có người chỉ đứng về một phía, đã khẳng định quá đơn phương, và khiếm diện rằng chỉ cần người Mỹ, hay đúng hơn là đế quốc Mỹ như người ta đã cáo buộc, chấm dứt mọi viện trợ kinh tế và quân sự cho miền Nam Việt Nam, là miền Bắc sẽ chấm dứt cuộc chiến tranh nầy trong chiến thắng. Và đó là những điều đã xảy ra trên thật tế.

Người ta đã từng cho rằng chiến tranh ở Việt Nam không phải là một cuộc nội chiến giữa miền Nam và miền Bắc, vì nếu giữa người Việt với nhau thì không chóng thì chầy họ đã có thể đạt được một sự thỏa thuận nào đó với nhau rồi. “Nhưng đây là một cuộc chiến tranh giữa các siêu cường”
Nhưng đây là một cuộc chiến tranh giữa các siêu cường quốc, mượn tay người Việt Nam (hay sinh mạng người Việt Nam cũng thế) và ngay trên lãnh thổ Việt Nam, để so tài hơn thua cao thấp với nhau, ngăn chặn nhau không cho bên nào bành trướng thêm ra hơn nữa, vì hai bên không thể trực tiếp đối đầu với nhau được, tránh bị tổn thất nặng có thể đi đến chỗ tiêu diệt lẫn nhau.

 Có điều là cả hai bên đều nuôi dưỡng một mối thù hằn mà nguyên nhân không phải xuất phát từ nước Việt Nam và nước Việt Nam cũng không có gì để mà thiết tha quan tâm đến.

Hoa Kỳ thì "ngăn chận"
Khối Cộng Sản thì "xâm chiếm, bành trướng"

Người ta có thể thấy được rất rõ là Nga và Trung Quốc vẫn không bao giờ che dấu tham vọng xâm chiếm toàn cầu của họ theo đúng hướng chiến lược đã hoạch định trước rất rõ ràng, và nếu Hoa Thịnh Đốn chỉ bo bo theo sách lược “tạo uy tín và bành trướng kinh tế” thì chiến lược đó của Hoa Kỳ hoàn toàn nằm trong thế thủ, bị động. 

Đặc biệt là ở Á Châu, Hoa kỳ nhất nhất theo thuyết “ngăn chận” các bước tiến của Cộng Sản. Do vậy mà trên mảnh đất đầy hình ảnh đau thương và tàn khốc của cuộc chiến, người ta đã “đóng khuôn” cho miền Nam Việt Nam trong nhiệm vụ phòng thủ thụ động, và các đồng minh lớn của họ không bao giờ muốn cho họ đi ra ngoài khuôn khổ nhiệm vụ đó, trong khi bộ đội Bắc Việt thì được tung ra trên khắp cả 3 nước Đông Dương, từ Lào, Cam Bốt đến Miền Nam Việt Nam, ẩn hình dưới danh nghĩa của lực lượng cách mạng Pathet Lào, Khmer đỏ, và Việt Cộng, để rồi cuối cùng họ cũng phải bỏ cái mặt nạ của họ ra, hiện “nguyên hình” là quân xăm lăng Bắc Việt, là kẻ chiến thắng, để tiến vào Sài Gòn.

Tuy trận tấn công vào tỉnh lỵ Phước Long vào tháng 1-75 của bộ đội Bắc Việt là một cuộc tấn công có giới hạn (mà phía Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa một phần vì sợ bị nhử vào bẫy có thể bị hao quân và mất thêm chiến cụ, một phần cũng không có đủ lực lượng để đối phó được với một loại tấn công qui mô như vậy, nên không có phản ứng đối kháng mạnh, nhưng họ cũng thu lượm được quá đủ bằng cớ để chứng minh với những ai còn chút nghi ngờ, là “Hoa Kỳ không còn can thiệp vào chiến cuộc nữa”. Và như vậy là Bắc Việt cho tiến hành ngay cuộc tổng tấn công mùa xuân với đầy đủ bảo đảm trong một sự an toàn tuyệt đối.

Rõ ràng là Hoa Kỳ đã khuyến khích Bắc Việt bằng thái độ im lặng và quá thụ động của họ sau vụ tấn công quan trọng vi phạm rất nặng và rất trắng trợn “Hiệp Định Paris 1973 về Ngừng Bắn và Tái Lập Hòa Bình ở Việt Nam”. 

Thật ra, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa đã được báo động về thái độ “bất can thiệp” nầy của Hoa Kỳ từ lâu rồi. 

Trong những tháng 1, 2, và 3-75, đã có nhiều nghị sĩ dân biểu Hoa Kỳ đến thăm Việt Nam và đã từng xác nhận với Tổng Thống Thiệu là “viện trợ của Hoa Kỳ cho Việt Nam Cộng Hòa trong những ngày sắp tới sẽ rất là mong manh trong may rủi”. 

Mỉa mai thay, viện trợ nầy trước đó đã được Tổng Thống Hoa Kỳ là ông Nixon long trọng tuyên hứa với Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa!!!

Những cuộc vận động của Hoa Kỳ
Tại Guam, Tổng Thống Nixon đã công bố kế hoạch 5 điểm trong sách lược yểm trợ Thế Giới Tự Do của Hoa Kỳ, chính yếu là “cây dù nguyên tử” và viện trợ đầy đủ vô điều kiện cho tất cả mọi quốc gia dân tộc nào chứng minh có quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do của mình.

Hiệp Định Paris 1973, cuối cùng rồi cũng được Tổng Thống Thiệu bằng lòng ký tên vào, vì ông không còn có khả năng từ chối thêm lần thứ hai, dù đó chỉ là trong cung cách ngoại giao thôi, nhưng với những lý lẽ vững chắc mà ông đưa ra trước khi ký, Tổng Thống Nixon đã phải đích thân nhận chịu trách nhiệm chẳng những bằng lời nói mà còn cả trên giấy trắng mực đen nữa:
“Hoa Kỳ sẽ cung cấp viện trợ kinh tế và quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa để giúp Việt Nam Cộng Hòa đương đầu với mọi biến cố mà vì không có thiện ý, Bắc Việt sẽ có thể không ngớt tạo ra sau nầy.”

Nếu trước kia Tổng Thống Nixon đã thật lòng đưa ra lời hứa chắc chắn như vậy, không có một hậu ý quanh co ngoằn ngoèo nào, thì sau đó với một anh chàng Kissinger mà ông chưa từng quen biết nhưng vì áp lực từ sự vận động của cánh Do Thái sau khi ông đắc cử, ông đã trở nên bớt nhiệt tình hơn nhiều đối với những gì mà ông đã long trọng cam kết với ông Thiệu.

Nhiều cuộc tranh luận gay gắt đã xảy ra trong những cuộc thăm viếng sau đó, và ông Thiệu đã phải can thiệp thẳng với Nixon để cho thơ từ công văn của ông, thường không được hồi âm, nay phải được tới tay ông Nixon mà không đi qua sự kiểm duyệt của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Dã tâm của Kissinger, một con người mà ai cũng cho là “bạn”, là “tri kỷ”, sau đó được phát giác tiết lộ ra là: xuyên qua một đệ tam nhân, ông đã có những lời hứa hẹn cũng như thi hành những cam kết không đồng nhứt với từng nhân vật cùng có trách nhiệm trong công tác ngăn chận bước tiến của Cộng Sản Bắc Việt trên bán đảo Đông Dương, như Hoàng Thân Souphana Phouma, Thống Chế Lon Nol và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. 

Thế nhưng, vụ việc gây nhiều tai tiếng “Watergate” đã đưa Nixon ra khỏi Nhà Trắng đồng thời giết chết cả thân thế và sự nghiệp chính trị của ông ta, dẫn đến hậu quả tai hại là những gì ông Nixon đã cam kết, dù là trên giấy trắng mực đen, đã không còn một chút giá trị nào nửa. Và sau đó, vào tháng 8-1973, Thượng Viện Hoa Kỳ đã bỏ phiếu thuận cho tu chính án “Case-Church” nhằm cắt hết ngân khoản dành cho mọi viện trợ quân sự cho các quốc gia Đông Nam Á.

Cộng Sản tiến chiếm miền Nam qua hai cửa ngỏ chính:
Cam Bốt và Lào

Do vậy, việc Mỹ chánh thức hứa giúp thành lập và trang bị quân đội Cam Bốt với quân số 205,000 người phải được hủy bỏ. Hình thành được việc nầy sẽ giúp cho Cam Bốt chẳng những có thừa khả năng dẹp được lực lượng Khmer Đỏ (tất cả cán bộ khung đều là bộ đội Bắc Việt) mà còn lập lại được trật tự trong nước, đuổi các sư đoàn Bắc Việt ra khỏi lãnh thổ Cam Bốt nữa, vì chính các đơn vị xăm lăng Bắc Việt nầy đã tạo ra không khí cách mạng bất ổn ở nông thôn Cam Bốt, sau đó Hoàng Thân Shianouk đã phải thoái vị và nước Cộng Hòa Khmer ra đời.

Điều đáng tiếc là ở Cam Bốt cao trào của giới trẻ mà người ta gọi là “những anh lính chiến giờ thứ 24” đang lên vùn vụt, trong số nầy có những sinh viên và học sinh lớp 5 lớp 6, tình nguyện ra mặt trận, chiến đấu rất anh dũng bằng vũ khí tịch thu được của quân ngoại xâm Bắc Việt. 

Những người “Khmer Tự Do” nầy (Khmer Krom) đã học và tiêm nhiễm lịch sử Pháp, rất tự tin và đặt hết lòng tin vào lời hứa của Hoa Kỳ, đã nhất tề đứng dậy khi tổ quốc lâm nguy, y như người Pháp chúng ta trong những biến cố cách mạng trong lịch sử vậy. 

Trong lúc đó tại Thượng Viện Hoa Kỳ, nghị sĩ Fulright lại tuyên bố là cuộc chiến ở Cam Bốt là một “cuộc chiến vô đạo đức!” Với một ít ngân khoản vụn vặt du di được đâu đó, chánh phủ Hoa Kỳ “nhỏ từng giọt” giúp cho Cam Bốt, trong khi những sư đoàn Bắc Việt ồ ạt viện trợ đúng mức cho các đơn vị “Khmer Đỏ” đang thành lập, càng ngày càng lớn mạnh thêm lên. 

Do đó quân lực Cộng Hòa Khmer bị tiêu hao lần lần để đi đến sụp đổ, và ngày 1-4-75, Thống Chế Lon Nol phải “chạy” khỏi thủ đô Cam Bốt, sau đó Phnom Penh bị thất thủ vào ngày 10-4-75. Cũng trong thời gian nầy, nỗ lực thành lập một chánh phủ “liên hiệp 3 thành phần” tại Vương Quốc Lào bị thất bại và Cộng Sản Pathet Lào lên nắm chánh quyền, tuyên bố không chấp nhận sự có mặt của người Mỹ tại đây.

Người ta thường hay nói chiến tranh ở Việt Nam chỉ là một cuộc nội chiến, rất hạn chế giữa người Việt và người Việt mà thôi. Nhưng đến cuối cùng sự thật cho thấy không phải như vậy. Cam Bốt là mục tiêu chủ yếu, là bàn đạp quan trọng hàng đầu để từ đó Cộng Sản tiến chiếm miền Nam Việt Nam, và theo quan điểm từ đầu của Hà Nội thì mục tiêu không phải chỉ có miền Nam Việt Nam mà phải là toàn bộ bán đảo Đông Dương, vì đó mới là giấc mơ thật sự từ lâu của Hồ Chí Minh.

Việc chiếm giữ các tỉnh miền Đông của cả hai quốc gia Lào và Cam Bốt là chỉ nhằm dọn đường cho công tác tiếp vận của quân đội Bắc Việt. Sau khi Hiệp Định Paris 1973 được ký kết, trong thời gian hơn một tháng, hệ thống đường mòn thường gọi là “đường mòn Hồ Chí Minh” được họ cải tiến, mở rộng và trải đá suốt cả tuyến đường, để từ Hà Nội, Bắc Việt có thể đưa quân lính, chiến cụ, đạn dược cũng như xăng nhớt, đến một nơi chỉ còn cách Sài Gòn dưới 100 cây số (Lộc Ninh) mà chỉ mất trên dưới có 5 ngày đường. 

Các sư đoàn Bắc Việt đóng quân thường xuyên dọc theo biên giới Lào và Cam Bốt, trên các cao điểm từ Bắc xuống Nam, từ đó lúc nào cũng sẵn sàng tấn công xuống Miền Nam Việt Nam, một lãnh thổ quá dài mà bề ngang quá hẹp, có đoạn dưới 100 cây số tính từ miền núi xuống đến biển, nên thủ đô Việt Nam Cộng Hòa luôn bị đe dọa vì Sài Gòn chỉ cách biên giới Lào-Khmer không quá 100 cây số ngàn, cũng giống y như hiệp ước đình chiến 1919 của nước Pháp chúng ta đã “bị” để cho các đơn vị Đức đóng quân ở vùng Aisne và La Marne vậy.

Ngày 10-4 thủ đô Phnom Penh bị thất thủ, ở Vientiane thì một chánh phủ Cộng Sản đã lên cầm quyền, trong khi Vùng I và Vùng II của Việt Nam Cộng Hòa cũng đã bị rơi vào tay Bắc Việt, như vậy Hà Nội được quá rảnh tay để sẵn sàng đưa quân tràn xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Hoa Kỳ sẽ không can thiệp nữa
Nhưng vẫn còn một yếu tố chưa biết rõ được: đó là phản ứng của Hoa Kỳ. Trước đó, ngày 21-3-75, chánh phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt), trong một bản tuyên bố, đã yêu cầu chánh phủ Hoa Kỳ chấm dứt tất cả mọi dính líu quân sự và mọi hành động can thiệp vào việc nội bộ của Miền Nam Việt Nam. Ngày 25-3-75, Tổng Thống Ford gởi đến Sài Gòn tướng Weyand, Tham Mưu Trưởng Lục Quân Hoa Kỳ.

 Tướng Weyand có vẻ thuận cho một hành động tiếp ứng tuy hơi muộn nhưng hữu hiệu bằng cách cho lệnh thiết lập hai cầu không vận Bangkok-Saigon và Manila-Saigon, để kịp tiếp vận cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 3-4-75, trong một cuộc họp báo, Tổng Thống Ford tuyên bố là ông sẽ không bỏ rơi Đông Nam Á. Ông nói không nhất thiết ông Thiệu phải rời khỏi chánh quyền, nhưng ông cũng bảo đảm thêm rằng cho dù có một sự thay đổi nào đó của cấp lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa thì sự việc đó cũng không thay đổi được nỗ lực của Hoa Kỳ tại Sài Gòn.

Ngày 10-4-75, ngay lúc Phnom Penh thất thủ, trong bài diễn văn đọc trước Quốc Hội, Ông cho biết là ông có ý định tiếp tục cuộc chiến ở Việt Nam, và tiếp tục ủng hộ chánh phủ Thiệu. Ông đề nghị với Quốc Hội một ngân khoản viện trợ quân sự 722 triệu đô la, và một ngân khoản viện trợ kinh tế là 250 triệu. Các nghị sĩ Stevenson, Humphrey, Jackson, Mc Govern và Kennedy đều chống lại đề nghị nầy. Gần như Quốc Hội Hoa Kỳ đã mặc nhiên bỏ rơi cả ông Ford. 

Thế là hết ! Hoa Kỳ sẽ không can thiệp, và những quốc gia đã từng ký tên bảo đảm cho việc thi hành Hiệp Định Paris 1973 cũng giữ một sự im lặng hoàn toàn! Còn nước Pháp thì xuyên qua lời tuyên bố của Tổng Trưởng Ngoại Giao tại Dublin, trước một số ngoại trưởng phần đông đều không muốn chen sâu vào việc nội bộ của một nước khác, thì lại tỏ ý muốn thấy Tướng Thiệu rút lui, một điều rất trùng hợp với sự mong muốn của Cộng Sản Bắc Việt, vì dưới con mắt của họ Tướng Thiệu là biểu tượng của một tinh thần chống Cộng cực đoan, chống đến giọt máu cuối cùng.

Như vậy là thật sự Bắc Việt nay đã được rảnh tay trong hành động rồi. Họ đã được bảo đảm là Hoa Kỳ sẽ không còn can thiệp được nữa. Họ cũng đã thấy một sự tán thành ngấm ngầm của các nước khác, không những trong khối Cộng Sản mà còn có cả các quốc gia cấp tiến, tự do nữa, trong đó dĩ nhiên là có cả nước Pháp. Với tất cả mọi điều kiện thuận lợi chánh trị và quân sự như thế, Bắc Việt quyết định cho tiến hành ngay “chiến dịch Hồ Chí Minh”, không cần phải mất thêm thời gian chờ thành lập một “chánh phủ ba thành phần”, để nhanh chóng thôn tính cả bán đảo Đông Dương trên cả hai phương diện quân sự và chánh trị.

Đúng như họ tuyên bố đây là một cơ hội ngàn năm mới chỉ có một lần !
Vậy liệu người ta có nghi ngờ là người Mỹ đã phản bội đồng minh ? Nhân vật chính yếu liên can trong nội vụ là Tổng Thống Thiệu, người biết rõ nhiều về những lời hứa hẹn, cam kết, và thi hành. Ông đã công khai nêu rõ trước dư luận mà Hoa Kỳ không dám có một tiếng trả lời, có chăng chỉ là những lời an ủi cam kết quá muộn màng của một mối tình bạn bè, một mối tình loại “qua đường!” 

Ông Thiệu là người không muốn chơi trò người hùng, cũng không thích biểu tình hoan hô rầm rộ, nhưng rất nhạy cảm với lòng tin tưởng sâu đậm của đồng bào miền Nam, bây giờ ván bài đã ngã ngũ, ông đã thua cả về chánh trị lẫn quân sự, nên ông quyết định phải rời quê hương mà ông đã từng hiến dâng tất cả. Với một tâm hồn chết lặng ông nói lên những lời từ biệt cuối cùng.

 Những lời lẽ thật cảm động của ông được truyền đi trên đài phát thanh làm cho những người dù cứng lòng đến đâu cũng phải nhỏ lệ, ngay những người đã từng muốn ông phải từ chức cũng vậy. Ông ra đi, mang theo sự tin yêu và lòng mến phục của dân chúng miền Nam mà từ đây không có ông, họ sẽ cảm thấy mất mát một cái gì ...

Đối với người Mỹ, ông đã có những sỉ vả thật dữ dội và nặng nề:
-Tôi đã nói với họ (Hoa Kỳ) rằng: Các ông muốn rút chân ra khỏi cuộc chiến ở Việt Nam trong danh dự, mà các ông đòi hỏi chúng tôi những điều thật vô lý không thể làm được chút nào. 

Đánh giặc mà viện trợ quân sự cứ nay bị cắt mai bị xén mốt bị cúp mãi như thế, thì có khác nào chỉ cho tôi mỗi ngày có 3 đồng mà bảo tôi phải ăn tiêu như một ông hoàng hay một người khách du lịch sang trọng! 

 Các ông muốn chúng tôi hôm nay với một “xu ăn mày” phải làm được những gì mà ngày hôm qua các ông không sao làm được với ngân khoản 6 tỷ đô la ...! Tôi đã nói với họ rằng câu hỏi duy nhất hiện giờ là liệu Hoa Kỳ có quyết định giữ những gì mà Hoa Kỳ đã cam kết với Việt Nam Cộng Hòa hay không? Và liệu những lời nói và chữ ký của Tổng Thống Hoa Kỳ còn có chút giá trị gì nữa hay không!

Thế là quá rõ, Hoa Kỳ thật sự đã phản bội.....

Ngạo mạn và ngu xuẩn, lưỡng viện Hoa Kỳ đã nói lên sự vui mừng của họ về sự từ chức của ông Thiệu, vì họ nghĩ nhờ đó sẽ có khả năng “đạt được một nền hòa bình nào đó trong thương lượng” với Cộng Sản, trong giới hạn một thời gian nào đó, “với đường lối chánh trị mềm dẻo hơn, để làm giảm đi những chết chóc vô ích, và nhất là để bảo vệ cho những người Mỹ hiện còn tại miền Nam Việt Nam”. 

 Nước Pháp cũng có một thái độ tương tự, vì hoàn toàn không nắm vững được tình hình và cũng vì quyền lợi của chính nước Pháp. Đối với Hoa Kỳ, trên thế giới nầy tất cả đều có thể bị mất hết, chỉ riêng có người công dân Mỹ, được coi như thần thánh, là không thể mất được.

Ngũ Giác Đài không chấp nhận như vậy
Các cấp chỉ huy quân sự của Ngũ Giác Đài cũng như các cấp quân nhân đã từng tham chiến bên cạnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không đồng ý về những hành động của Hoa Kỳ, vì tình cảm gắn bó với người chiến hữu Việt Nam cũng như gắn bó với quốc gia nầy, giống như người Pháp chúng ta vậy. Họ có cố gắng thử giúp đỡ cho Việt Nam một cái gì đó, nhưng người ta đã ngăn cấm họ. Họ chỉ còn có một cách là càu nhàu, và sự hằn thù trong căm lặng nầy mãi mãi sẽ là một yếu tố của tình trạng phân hóa tại Hoa Kỳ.

Bốn năm trước đó, dựa theo bản tuyên ngôn Guam của Tổng Thống Nixon, Ngũ Giác Đài đã soạn thảo một quan niệm mới cho chiến lược ở Á Châu. Bây giờ thì bắt buộc họ phải duyệt xét lại để giảm bớt khả năng tiềm lực quân sự của Hoa Kỳ: đó là bỏ cả các căn cứ ở lục địa Á Châu và các quốc gia đồng minh “nhược tiểu”, dùng Nhật Bản và Úc Châu như những pháo đài phòng thủ cho lục địa Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương. 

Dầu sao, theo họ nói, đó là một quyết định cấp quốc gia mà họ là những người chịu trách nhiệm, không thể cưỡng lại được: “quân nhân chúng tôi trước quyết định như vậy không thể làm gì hơn là phải thi hành, dù dư luận Mỹ có cho rằng Hoa Kỳ không nên sửa đổi chiến lược như vậy.”

Hoa Kỳ đã không làm đúng lời hứa của họ. Họ đã phản bội những người mà chính họ đã đưa vào cuộc chiến, một cuộc chiến mà họ chẳng những phải tốn quá nhiều đô la mà còn phải hy sinh gần 60 ngàn quân nhân các cấp (chưa tính thương binh) để chỉ đem về một “con số không” to tướng. Nói như thế có gì quá đáng lắm không?

Tướng Westmoreland, cựu chỉ huy trưởng lực lượng Mỹ tại Việt Nam thì phát biểu có phần nào nhẹ lời hơn cho Hoa Kỳ, nhưng cũng đã quy trách nặng nề cho giới chánh trị về hành động làm mất hết danh dự của Mỹ: “Miền Nam Việt Nam phải chăng không thể tránh được một sự chiến bại? 

Vâng, đúng như vậy. Nhưng chúng ta phải xét lại tình hình: Bắc Việt đã vi phạm hoàn toàn Hiệp Định Paris 1973, Hoa Kỳ hoàn toàn bất lực trên phương diện chánh trị, và các quốc gia có nhiệm vụ bảo đảm việc thi hành Hiệp Định thì hoàn toàn im lặng không nhúc nhích.”

Người ta phải nhìn những cảnh cướp xe, hôi của, dọn sạch nhà cửa, phòng ốc hay kho tàng của người Mỹ tại Sài Gòn, thì mới thật sự thấy được mức độ thù ghét Hoa Kỳ của cả một dân tộc. 

Người ta phải nhìn cảnh ông Martin, Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam lúc rời khỏi Việt Nam sau khi cho di tản xong xuôi người Mỹ cuối cùng, thì mới thấy được cả một sự thẹn thùng nhục nhã của Hoa Kỳ trên nét mặt xanh xao như người chết của ông. Và người ta cũng phải nhìn thấy cảnh một người Việt Nam kéo lê bằng hai ngón tay lá cờ Mỹ to lớn của tòa Đại Sứ Mỹ để dìm xuống rạch những “50 sao và 13 vạch” mà người Mỹ thường hãnh diện.

Tổng Thống Hoa Kỳ, Ông Ford, đã từng nói: “Chúng tôi không thể bỏ được những người bạn của chúng tôi.”

Nhưng nói là nói như vậy, mà họ lại không làm đúng như vậy!

Tác giả: Vanuxem, cựu Trung Tướng Quân Lực Pháp
Phỏng dịch: Cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa

Tổng thống Nixon từng đe dọa “cắt đầu” Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
Wednesday, June 24, 2009

Nguồn: BBCVietnamese.com
'Tôi không rõ đe dọa đó có đủ hay không, nhưng tôi sẵn sàng làm bất cứ điều gì, kể cả cắt đầu của y nếu cần thiết'. (Lời Tổng thống Nixon đe dọa Tổng thống Thiệu).
***
Các cuốn băng ghi âm từ năm 1973 được giải mật cho thấy Tổng thống Richard Nixon đã muốn đạt được thỏa thuận tại Hòa đàm Paris với Hà Nội bằng mọi giá và gây sức ép rất lớn đối với Sài Gòn.

Một đoạn băng trong số 150 giờ thu âm và 30 nghìn trang tài liệu được Thư viện Nixon công bố hôm thứ Ba vừa qua có lời của Tổng thống Nixon nói với Cố vấn An ninh Henry A. Kissinger về Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Nixon nói để bắt Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa ký vào hòa đàm, ông sẵn sàng 'cắt đầu y nếu cần thiết' (cut off his head if necessary).

Bài của Shaun Tandon trên AFP hôm 23 tháng 06 thì mô tả ông Nixon đã yêu cầu ông Kissinger nói với Tổng thống Việt Nam Cộng hòa rằng Quốc hội Mỹ sẽ cắt viện trợ nếu Sài Gòn không đồng ý với kết quả hòa đàm.
Nhưng có vẻ như ông Nixon sẵn sàng làm mạnh hơn nếu lời đe dọa cắt viện trợ không đạt mục đích.

Các đoạn băng cũng cho thấy một thứ ngôn ngữ rất 'Kissinger' mà Cố vấn An ninh của Tổng thống Hoa Kỳ dùng để nói về đồng minh.
Ông Kissinger nói với Tổng thống về Ngoại trưởng Trần Văn Lắm của Nam Việt Nam, người có mặt khi đó tại Paris để dự họp.

Dùng từ tục để gọi ông Lắm là 'an ass', ông Kissinger n
ói ' Y cũng chẳng làm được gì cả đâu'.

Cũng chỉ tháng trước, ông Nixon đã tiếp Ngoại trưởng Nam Việt Nam và hứa sẽ 'làm tất cả để giúp Nam Việt Nam' và 'nền độc lập' của nước này.
Ông Nixon còn nói: 'Điều chính yếu là cần phải nhớ: chúng tôi biết ai là những người bạn thực thụ'.

Nhà nghiên cứu về Nixon, ông Ken Hughes từ đại học Virginia nói ông bị chấn động khi nghe đoạn ghi âm mà ông Nixon nói về ông Thiệu.

Báo New York Times 23/06/2009 trích lời ông Hughes, người nghiên cứu các băng ghi âm của nhiều tổng thống Mỹ, nói cuộc đàm thoại trên càng làm ông tin tưởng vào quan điểm rằng cả ông Nixon, ông Thiệu và ông Kissinger đều biết trước rằng cuộc ngưng bắn không thể duy trì nổi.

Đó cũng chẳng phải là 'hòa bình trong danh dự' như ông Nixon mô tả, mà chẳng qua chỉ là cách để Hoa Kỳ rút khỏi cuộc chiến mà 'không mất mặt'.
Vẫn các báo Mỹ trích lời Ken Hughes tin rằng các nhân vật trong cuộc biết rằng Bắc Việt Nam sẽ vi phạm thỏa thuận ngưng bắn và tiến chiếm miền Nam.

Các đoạn băng được ghi bằng các microphone mật đặt trong Phòng Bầu Dục từ tháng 1 đến tháng 2/1973.

Theo New York Times, các cuốn băng rọi thêm ánh sáng vào một giai đoạn quan trọng trong lịch sử Mỹ, gồm cả lễ đăng quang lần thứ nhì của Tổng thống Nixon, cuộc ngưng bắn tại Việt Nam, vụ xử bảy người đột nhập vào trụ sở đảng Dân chủ tại khu nhà Watergate.

Posted by SQTB K10B/72 THSQ-QLVNCH at 2:03 AM 0 comments 

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List