QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Sunday, March 9, 2014

Ý kiến Trân Nguyễn: ASIA, Nguyệt Ánh





Date: Thu, 6 Mar 2014 09:32:09 -0800
Subject: Fwd: [Daploisongnui] Ý kiến Trân Nguyễn: ASIA, Nguyệt Ánh
From: ngokycali@gmail.com
Hi,
Thấy trên net, FYI.
Ngô Kỷ
 

4 hours ago 

Những trung tâm ban nhạc truyền thông hải ngoại đã bị vc mua chuộc cả rồi, như trung tâm Thúy Nga (qua băng nhạc 'chủ đề Mẹ', 'B40'), Trung tâm Asia của Trúc Hồ (Băng nhạc DVD 66, nhục mạ vợ Lính VNCH, nói những lời có lợi cho vc), giờ còn tới trung tâm băng nhạc Vân Sơn, nghe lịnh vc về VN quay phim "phóng sự" tuyên truyền cho vc tới những người VN tỵ nạn cs ở hải ngoại, và giờ có người lật mặt Nghệ Sĩ Tấu Hài Vân Sơn chính là cháu ruột, gọi việt gian, việt cộng nguyễn tấn dũng bằng cậu ruột!!

Trân đã nói rồi, ai muốn bỏ công sức ra tìm hiểu về vc/vg mới hiểu được việt gian là ai, chúng nó là 'trúc hồ, nam lộc, việt dzũng'!
À à, giờ có người còn lật mặt Ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh cũng là việt gian tiếp tay cho việt tân và việt cộng luôn!! Mời bà con coi đoạn trích và link sau mới thấy sự thâm độc của bọn bịp việt gian ở hải ngoại này!
Trích:
"Hàng năm, bọn chó đẻ (Trung tâm Asia) này thường tổ chức đại nhạc hội “cám ơn anh”, rồi quyên tiền hàng triệu đô la gởi về Việt Nam để nuôi …. đảng việt gian cộng sản! Chúng ta hãy đặt câu hỏi: - Số tiền bạc triệu đô la quyên được đã đi về đâu? Xin thưa, 99% đã chui vào túi bọn việt gian cộng sản và bọn chó đẻ trung gian cò mồi, sống bằng nghề “từ thiện”, ăn cắp, lường gạt, móc túi của đồng bào! May lắm là chỉ 1% đến tay những thương phế binh mà bọn lưu manh thường quay phim, chụp hình phổ biến ở hải ngoại để lừa bịp đồng bào.

Ở phần cuối DVD, tên việt gian Nam Lộc đã lên tiếng kêu gọi đồng bào ở hải ngoại hợp tác với bọn việt gian cộng sản để chống Trung Cộng xâm lăng! Bộ mặt việt gian của tên Nam Lộc đã lộ nét quá rõ! Tất cả những điều mà chúng tôi nêu trên là những bằng chứng rất cụ thể tố cáo trung tâm băng nhạc Asia chính là ổ rắn độc của bọn việt gian cộng sản và bọn Mỹ chó đẻ. Chúng nó chỉ vờ vịt “chống cộng” để lừa bịp đồng bào. Chúng nó chính là đảng cướp Hoàng Cơ Minh tái sinh. Chúng nó “vinh danh” VNCH một phần thì đồng thời đâm vào sau lưng chúng ta hàng ngàn nhát dao ác hiểm!" 





Sự phản bội của trung tâm băng nhạc Asia
- Trần Thanh -
  
Mới đây, trung tâm băng nhạc Asia đã tung ra thị trường DVD số 66 với chủ đề “Cánh hoa thời loạn” để “vinh danh” những người vợ lính VNCH. Một lần nữa, chúng ta lại thấy bộ mặt lưu manh, đểu cáng của tập đoàn Asia gồm những tên đầu sỏ như Trúc Hồ, Nam Lộc, Việt Dũng, nói là “vinh danh” VNCH nhưng thật ra bọn chúng đã cầm dao đâm vào sau lưng chúng ta những nhát dao lút cán! 
  
Có thể chứng minh qua những điểm sau đây: 
 
  1. Bản nhạc “Cái trâm em cài” do hai ca sĩ Cardin và Thùy Hương trình diễn. (Tiết mục số 9, đĩa 1) Hai MC Việt Dũng và Thùy Dương đã giới thiệu nội dung bài hát như sau: những người lính trẻ khi ở ngoài chiến trường, luôn nhớ đến người yêu, mỗi khi rảnh, các anh thường làm quà để gởi tặng người yêu. Nhưng thật ra, khi xem xong bản nhạc, chúng ta thấy không phải như vậy. Bọn chó săn, tay sai của việt gian cộng sản đã biến nội dung bài hát thành chủ đề: - NHỮNG NGƯỜI VỢ LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA LÀ NHỮNG KẺ ĐI LÀM ĐĨ!!!
  
Bài hát có sự phụ diễn của khoảng 6 vũ công với hai vũ công chính, kiêm ca sĩ là Cardin và Thùy Hương. Bối cảnh là một quán rượu với những cô gái làm nghề bán bar (làm điếm) và một số khách làng chơi. Những vũ công thường xuyên diễn tả những động tác uống rượu, say xỉn. Ca sĩ Thùy Hương đóng vai vợ một người lính Việt Nam Cộng Hòa, làm điếm trong một quán rượu. Mở đầu bản nhạc, một người bồi mang đến cho cô một ly rượu. Cô nốc cạn ly rượu rồi bắt đầu múa hát. Cô diễn tả những động tác của một cô gái giang hồ, với hai bàn tay rất dẻo, điệu nghệ, những ngón tay xòe ra, cụp vào để bốc hốt, chụp giựt tiền bạc của khách làng chơi. Đặc biệt, đến giữa bản nhạc, bảy cô gái đồng loạt làm động tác khom người xuống,chổng mông lên, hai tay đặt đàng sau lưng như đang bị còng hoặc bị trói. Đằng sau bảy cô gái là bảy thằng đàn ông khách làng chơi đứng chờn vờn…. 
  
Khán giả tinh ý có thể dễ dàng thấy rõ hoạt cảnh đó muốn diễn tả rằng: bảy cô gái chính là bảy nô lệ tình dục, hai tay bị trói đằng sau lưng, chổng mông lên cho bảy thằng đàn ông nó chơi … kiểu chó! Người Mỹ gọi là “dog-fucking”! Và bảy cô gái này chính là VỢ CỦA NHỮNG NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA!!! 
  
Sự lưu manh, đểu cáng, mất dạy của băng đảng Hồ-Lộc-Dũng nằm ở chỗ này: đánh lạc hướng sự chú ý của khán giả và xuyên tạc nội dung của bài hát. Trước khi bản nhạc được trình diễn, Việt Dũng và Thùy Dương giới thiệu nội dung của bản nhạc. Nhưng khi xem hoạt cảnh, chúng ta không hề thấy có hình ảnh nào về anh lính VNCH ngoài mặt trận, ngồi cặm cụi làm quà tặng cho người yêu. Trái lại, chúng ta chỉ thấy những người vợ lính VNCH đi làm điếm! Và khi xem đến đĩa số 2, tiết mục số 17, “Những kẻ mồ côi trong cuộc chiến”, hai MC Nam Lộc và Dương Nguyệt Ánh đã đề cập đến việc những người vợ lính VNCH, sau khi chồng bị tử trận, đã phải đi làm điếm để nuôi con! Để chứng minh những điều này là có “thật”, bọn chúng đã cho chiếu video clip những người Mỹ lai đứng trước bức tường đá đen, tưởng nhớ đến cha của mình đã hy sinh trong cuộc chiến tại Việt Nam! 
  
Hai sự kiện được tách rời nhau (tiết mục số 9 và 17) nhưng nếu đem ráp nối lại, chúng ta sẽ thấy băng đảng chó đẻ trung tâm băng nhạc Asia đã cố ý bôi nhọ tập thể những người vợ lính VNCH qua những điểm chính sau đây: 
  
-        Tập thể những người vợ lính VNCH là những kẻ đi làm điếm, phục vụ sinh lý cho quân đội Mỹ! 
-        Bằng chứng là đã có hàng chục ngàn những Mỹ lai ra đời! 
  
MC Dương Nguyệt Ánh còn dẫn chứng rất rõ ràng là bà có một người quen, vợ lính VNCH, chồng bị tử trận, đã phải đi làm điếm để nuôi sáu đứa con! 
  
Có thể có người sẽ cãi rằng những người vợ lính VNCH chỉ làm nghề “bán bar” chớ đâu có phải đi làm điếm? Xin thưa: trước năm 1975, chúng ta thường nghe nói “gái bán bar”, “chiêu đãi viên”, “đi lấy Mỹ”. Đây là hình thức nói khéo, nghe cho có vẻ lịch sự nhưng thật ra đó là đi làm đĩ, nghĩa là, một người đàn bà phải phục vụ sinh lý cho nhiều người đàn ông để đánh đổi lấy tiền bạc. 
  
Vấn đề làm cho chúng ta phẫn nộ là: bọn chó đẻ băng đảng Hồ-Lộc-Dũng đã nhục mạ cả tập thể những người vợ lính VNCH và dán cho họ cái nhãn hiệu là “đĩ điếm”!!! 
  
Chúng ta hãy nhìn vào thực tế trước năm 1975, khi nửa triệu quân đồng minh đổ vào miền Nam thì đúng là có nhiều phụ nữ đi làm điếm. Nhưng có phải tất cả họ đều là vợ lính VNCH hay không? Chúng ta hãy xét cho kỹ vấn đề này. Nếu phân loại tập thể “gái bán bar”, chúng ta thấy có những thành phần sau đây: 
  
-        Những phụ nữ ở nông thôn bị bọn việt cộng như chú Tư Cầu khủng bố, cướp bóc, sống không nổi, phải bỏ lên thành thị để kiếm sống. Chiến tranh tàn phá nông thôn là do bọn cộng sản gây ra. Nông dân bị mất ruộng mất vườn cũng do bọn cộng sản gây ra. Những cô gái thôn quê có thể còn độc thân, có thể đã có chồng là nông dân hoặc việt cộng. Thậm chí nhiều người trong số họ đã từng là việt cộng, trà trộn vào đoàn người di tản về thành phố, đi làm nghề “bán bar” để làm công tác tình báo cho cộng sản. Đó là lý do vì sao chúng ta thấy có nhiều căn cứ của Mỹ đã từng bị đặt mìn, bị quăng lựu đạn. Thành phần này khoảng chừng 40% trong tổng số những người làm nghề “bán bar”. 
  
-        Những thành phần khác tham gia vào nghề “bán bar”, đa số là những NGƯỜI NGHÈO CÒN ĐỘC THÂN. Nếu đã có gia đình thì chồng của họ có thể thuộc những thành phần KHÔNG phải là lính VNCH. 
  
-        Chúng ta không phủ nhận thực tế là có những người vợ lính đã phải đi làm nghề “bán bar”. Nhưng chắc chắn họ không phải là đa số, ước tính chỉ khoảng từ 5 đến 10%. 
  
Khi xét đoán một tập thể, chúng ta phải nhìn vào cái đa số, đại diện cho tập thể đó. Chúng ta không thể đem những cái râu ria, lặt vặt của tập thể, rồi khái quát hóa, biến nó thành ra đại diện cho tập thể. Ví dụ như tập thể của chiến sĩ VNCH. Chúng ta không phủ nhận là có những kẻ đã hèn nhát, đào ngũ, đầu hàng quân giặc. Nhưng có phải tất cả những người lính VNCH đều như vậy hay không? Nếu ai cũng hèn nhát và đào ngũ thì làm sao chế độ VNCH đã đứng vững được 20 năm và 35 năm sau 1975 vẫn còn tiếp tục chiến đấu? 
  
Khi nhắc đến tập thể những người lính VNCH, chúng ta phải nêu lên những đặc trưng: - dũng cảm, hy sinh bảo vệ đất nước. Không phải vì có một vài ngàn kẻ đào ngũ mà chúng ta gán cho tập thể chiến sĩ VNCH, gồm hàng triệu người, cái nhãn hiệu “tập thể đào ngũ”! 
  
Tương tự như vậy, không phải vì thấy có vài ngàn người vợ lính trong số hàng trăm ngàn người làm nghề “bán bar” thì chúng ta vội vàng kết luận TẤT CẢ NHỮNG NGƯỜI VỢ LÍNH VNCH ĐỀU NHƯ VẬY! Đây là sự kết luận hết sức ngu dốt mà tiếc thay, nó lại xuất phát từ cửa miệng của bà Dương Nguyệt Ánh, người được mệnh danh là “khoa học gia”!!! 
  
Theo câu chuyện bà Ánh kể, bà có một người quen vốn là vợ lính VNCH, chồng tử trận, phải đi lấy Mỹ để nuôi sáu đứa con. Câu chuyện của bà đã DẪN DẮT và MỚM Ý CHO KHÁN GIẢ TIN RẰNG toàn bộ những cô gái bán bar, làm điếm đều là những người vợ lính VNCH! Người Mỹ gọi kỹ thuật này là “misleading”, tức là cố ý đưa ra một tiền đề sai lầm để rút ra một kết luận sai lầm, nhằm mục đích lừa bịp người khác. 
  
Chúng ta hãy nghe câu chuyện tiếu lâm về thí nghiệm “khoa học” của một “khoa học gia”: bà ta đặt lên bàn một con cào cào, sau đó bà vỗ mặt bàn và hô “cào cào, nhảy đi”. Con cào cào búng chân nhảy đi. Tiếp theo, bà “khoa học gia” bẻ gãy hai chân con cào cào rồi lại vỗ mặt bàn và hô “cào cào nhảy đi”. Nhưng lần này thì con cào cào không chịu nhảy, cứ nằm ỳ ra đó. Bà “khoa học gia” tiếp tục hô nhiều lần: “cào cào nhảy đi, mụ nội cha mày, cào cào nhảy đi”. Nhưng con cào cào không chịu nhảy. Cuối cùng, bà “khoa học gia” rút ra kết luận: CON CÀO CÀO BỊ ĐIẾC!!! 
  
Câu chuyện của bà Dương Nguyệt Ánh chính là sự phụ họa cho hoạt cảnh “Cái trâm em cài”: tập thể những người vợ lính VNCH đều là những kẻ đi làm đĩ!!! Đây là thủ đoạn VƠ ĐŨA CẢ NẮM. Để cho có vẻ “khoa học”, băng đảng chó đẻ Asia đã nêu ra những bằng chứng sống là hiện nay đang có vài chục ngàn trẻ Mỹ lai đang sống tại Mỹ! Quý vị hãy tiếp xúc với những em này, hỏi xem có phải cha ghẻ của các em là lính VNCH, còn “cha ruột” là lính Mỹ hay không? Hay cha ghẻ của các em là những tên việt cộng như chú Tư Cầu? Thành phần có cha ghẻ là lính VNCH chiếm bao nhiêu phần trăm? 
  
Khi nhắc đến tập thể chiến sĩ VNCH, cũng như chế độ VNCH, chúng ta phải nêu lên những cái hay, cái chính nghĩa của chúng ta chớ không phải cố ý bới lông tìm vết, moi móc những cái rơm rác ra để dẫn dắt khán giả/độc giả đi đến sự hiểu lầm và đầu độc họ. Do đó, DVD số 66 “Cánh hoa thời loạn” chính là sản phẩm tội ác của tập đoàn chó đẻ Asia do những tên đầu sỏ như Trúc Hồ, Nam Lộc, Việt Dũng cầm đầu. Phụ họa cho những tên này chính là Thùy Dương và Dương Nguyệt Ánh. Ngoài ra, chúng ta đừng quên, có hai tên văn công cộng sản hết sức nguy hiểm, đó là Quang Minh và Hồng Đào. Hai tên này do bọn việt gian cộng sản đào tạo trong nước rồi tung ra hải ngoại hoạt động, chuyên viết kịch và trình diễn những vở kịch bôi nhọ chính nghĩa VNCH, bôi nhọ cộng đồng người Việt tại hải ngoại và ca ngợi cộng sản. Hai tên Quang Minh và Hồng Đào đã được bọn việt gian cộng sản cho về nước và thậm chí được lên đài truyền hình để trình diễn. Điều này chứng tỏ là cặp Hồng-Đào đã được bọn giặc hết sức tin cậy vì đã lập được nhiều công lớn, đánh phá VNCH tại hải ngoại, cụ thể như vở kịch “Chú Tư Cầu”. Có thể hai tên này đã được bọn giặc kết nạp vào đảng và hiện nay bọn chúng đang tiếp tục xuất hiện trên trung tâm băng nhạc Asia!!! 
   
  1. Lời của bản nhạc “Cái trâm em cài”:
  Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã viết bản nhạc này hồi trước năm 1975. Lời như sau: 
  
Cái trâm em cài là do tình nhân em biếu đó 
Chốn xa muôn trùng người yêu của em gởi về 
Cái trâm em cài là muôn niềm thương nỗi nhớ 
Nhớ nhớ người nhân tình thề một lòng trọn đời yêu em 
  
Cái trâm em cài bằng chi nào em có biết? 
Ấy, anh đã làm bằng viên, bằng viên đạn đồng! 
Ấy, anh đã làm bằng viên đạn đồng sáng chói 
Cướp, cướp nơi quân thù làm một ngày gởi về cho em 
  
Ai nhớ ai, cái trâm em cài – để làm tin, tình của mình đó 
Trâm hỡi trâm, lòng này thầm nhớ, nhớ nhớ nhớ nhớ, nhớ thương tình nhân 
  
Cái trâm em cài là do tình nhân em biếu đó 
Đáng chi đâu nào một viên, một viên đạn đồng 
Thế sao đêm ngày ngồi mơ rồi thương với nhớ 
Nhớ nhớ người nhân tình đã thề nguyền cùng mình se duyên  
  
Nội dung bản nhạc này kể chuyện một đôi tình nhân trong thời chiến. Chàng là một chiến sĩ VNCH nơi miền địa đầu giới tuyến. (Căn cứ vào câu “ … chốn xa muôn trùng ngưòi yêu của em gởi về”) Nàng là một em gái hậu phương, có thể là một nữ sinh hay sinh viên, hay một người tiểu thương buôn bán lẻ. Một hôm, chàng cướp được một viên đạn đồng của kẻ thù (việt cộng). Lính thì nghèo mạt rệp mà lòng dạ thì luôn thương nhớ đến người yêu, thế là chàng nảy ra sáng kiến, biến viên đạn đồng thành ra cái trâm kẹp tóc. Thế là bằng mọi phương tiện eo hẹp, tự chế, chàng hì hục cắt gọt, mài dũa viên đạn suốt một ngày trời, đến nỗi cuối cùng viên đạn đồng đã trở thành cái trâm kẹp tóc sáng chói, le lói, làm quà tặng người yêu! 
  
Chàng gởi quà về cho người yêu qua KBC bưu chính. Cô gái nhận được quà thì rất ngạc nhiên, bởi vì cái trâm này không giống bất cứ cái trâm nào mà cô đã từng thấy. Nó lạ lắm, tưởng chừng như làm bằng vàng mà không phải là vàng. Do đó, cô mới viết thơ hỏi thăm người yêu: “ … cái trâm em cài (làm) bằng chi nào em (đâu) có biết?” 
  
Anh chiến sĩ bèn trả lời: “Ấy, anh đã làm bằng viên, bằng viên đạn đồng. Ấy, anh đã làm bằng viên đạn đồng sáng chói. Cướp, cướp của quân thù làm một ngày gởi về cho em! …. Trâm hỡi Trâm, lòng này thầm nhớ, nhớ thương tình nhân!” 
  
(Có lẽ cô gái tên là “Trâm”. Tác giả chơi chữ, vừa có nghĩa là cái trâm kẹp tóc, vừa là tên người)  
  
Nghe người yêu giải thích như vậy thì cô gái cảm động vô cùng. Không ngờ “ảnh” lo đánh giặc, không biết sống chết lúc nào, mà “ảnh” còn có thì giờ chế tạo ra cái trâm để gởi tặng mình. Xét về mặt vật chất thì cái trâm này chỉ có giá trị rất nhỏ vì nó chỉ được làm ra từ một viên đạn đồng. Nó không được đính kim cương hay mạ vàng. Nhưng nếu xét về giá trị tinh thần thì nó VÔ GIÁ vì nó là trọn vẹn tấm lòng mà chàng trai đã dành cho cô gái, đặc biệt là nó được chế tạo sống động ngay từ nơi chiến trường còn dày đặc khói súng, ngổn ngang xác quân thù. Cái trâm đã được chế tạo bằng những phương tiện hết sức thô sơ, tự chế. Anh lính đã hì hục, cặm cụi, mài dũa nó suốt ngày, làm đến quên ăn quên ngủ trong một ngày để gởi về cho người yêu. 
  
Đó là lý do vì sao cô gái đã đem lòng thương anh lính, suốt ngày tương tư, nhớ đến anh ta: 
  
Cái trâm em cài là do tình nhân em biếu đó 
Đáng chi đâu nào một viên, một viên đạn đồng 
THẾ SAO đêm ngày ngồi mơ rồi thương với nhớ? 
Nhớ nhớ người nhân tình đã thề nguyền cùng mình se duyên  
  
Có lẽ đây là câu chuyện có thật, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã lấy đó làm cảm hứng để sáng tác. Đây là một trong hàng ngàn chuyện tình đẹp trong thời chiến. 
  
Qua lời của bài hát trích dẫn nêu trên, chúng ta thấy rằng nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ không hề viết một câu một chữ nào cho rằng cô gái, người em gái hậu phương, là kẻ đi làm điếm, làm gái bán bar, phục vụ cho quân đội Mỹ. Thế nhưng bọn Asia chó đẻ đã xuyên tạc nội dung bản nhạc, dựng nên nhạc cảnh gái “bán bar” - vợ lính VNCH- ăn chơi trác táng, uống rượu nhảy múa, rồi chổng đít lên cho mấy thằng Mỹ nó chơi! Đoạn cuối của nhạc cảnh là ca sĩ Thùy Hương được mấy thằng Mỹ bồng trong tay, nhấc bổng lên! 
  
Xuyên tạc và bôi nhọ tập thể những người vợ lính VNCH đến thế là cùng! Thâm độc hơn nữa là băng đảng chó đẻ Asia đã mời cả bà Thiệu, phu nhân cố tổng thống Thiệu; giới thiệu bà Vỹ, phu nhân cố thiếu tướng Lê Nguyên Vỹ; mời những bà cựu sĩ quan cấp úy, cấp tá, nữ quân nhân VNCH đến dự để được nghe bọn lưu manh nó …. “vinh danh”! Tâm lý thông thường, khi được thông báo đến xem ca nhạc để được “vinh danh” thì ai cũng sướng mê người, cố gắng rủ thật đông bạn bè, thân nhân cùng toàn bộ con cháu chắt đến xem ca nhạc, để được quay phim, chụp hình, để được hãnh diện, nhưng rồi bất ngờ, họ đã bị hai thằng lưu manh Nam Lộc và Việt Dũng nó … trét bùn, bôi gio trát trấu vào mặt! Nó nói mình đi làm đĩ mà không biết, cứ ngồi ở dưới vỗ tay khen hay!  Cả tập thể nữ quân nhân quân lực VNCH, từ người lãnh đạo cao nhất là bà phu nhân cố tổng thống Thiệu đến những nữ sĩ quan cấp úy anh hùng đều bị bọn giặc bôi nhọ, phỉ báng. Nó mời toàn bộ đến rạp hát để rồi nó xỉ vả, chửi thẳng vào mặt: - bọn chúng bay đều chỉ là những kẻ đi làm đĩ! 
  
Thật là hết sức nhục nhã! 
  
Có người nêu thắc mắc tại sao bọn lưu manh nó công khai bôi nhọ Việt Nam Cộng Hòa ngay trên sân khấu, trước mặt hàng ngàn khán giả mà không có ai lên tiếng phản đối liền lúc đó? Xin thưa rằng, bọn chó săn này nó ma mãnh quỷ quyệt lắm. Những sự ngụy trang của bọn chúng hết sức tinh vi, thâm độc, diễn ra chỉ trong vòng 5,6 phút cho một bản nhạc, chỉ khi nào về nhà ngồi hồi tưởng lại, nếu có nhận ra thì cũng đã muộn rồi! Khi xem một tiết mục ca múa, mọi tình tiết đều diễn ra rất nhanh. Khán giả không đủ nhanh nhạy, tỉnh táo để phán đoán vấn đề ngay tại thời điểm trong rạp. Vả chăng, ai cũng yên chí mấy ông như Trúc Hồ, Nam Lộc, Việt Dũng là vua …. “chống cộng”, không lẽ mấy ổng nói xấu Việt Nam Cộng Hòa! Hình ảnh hai ông Nam Lộc và Việt Dũng mặc bộ quân phục nhảy dù, hiên ngang đứng trên sân khấu thì ai mà dám nghi ngờ kia chứ? Nhưng khán giả có ngờ đâu BỌN CHÓ ĐẺ NÀY ĐÃ ĐẦU HÀNG GIẶC TỪ LÂU RỒI, đừng có mê ngủ, tưởng bọn chúng là “chống cộng”! Sẽ có một ngày nào đó, quý vị sẽ thấy mấy thằng “chống cộng” như Trúc Hồ, Nam Lộc, Việt Dũng về Việt Nam, hợp tác, làm ăn với việt cộng, công khai xuất hiện trên đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh. Lúc đó quý vị sẽ tức hộc máu, chỉ còn có nước cắn lưỡi tự tử mà chết!  Đáng tiếc là cho đến giờ phút này, nhiều người vẫn còn mê ngủ, đã moi hết ruột gan và tiền bạc ra, giao trứng cho ác, để nhờ “bác Hồ” (Trúc Hồ) chống cộng giùm! Bố của nó, Trúc Giang, đang làm việc “từ thiện” ở Việt Nam thì nó chống cái gì??? Bố của nó đang tình nguyện làm con tin ở Việt Nam thì ông cố nội nó có sống lại cũng không dám chống cộng! 
  
 Một khía cạnh khác chúng ta cần nhìn thấy, đó là, bọn băng đảng Asia không dại gì làm quá lộ liễu, ví dụ như treo cờ máu của việt cộng trên sân khấu hay công khai ca ngợi thằng Hồ chó đẻ. Mồm miệng của bọn chúng lúc nào cũng ti toe, trơn láng như cái lồn của con đĩ, luôn miệng “vinh danh” và “biết ơn” tập thể chiến sĩ VNCH! Miệng của nó nói là “vinh danh” và “biết ơn” nhưng thật ra là nó chửi cha chúng ta, đái ỉa lên đầu chúng ta mà chúng ta đâu có biết, thậm chí còn vỗ tay hoan hô khen hay nữa chớ! 
  
Để chứng minh điều này, chúng tôi xin kể một câu chuyện có thật đã xảy ra thời Pháp thuộc: “Đại điểm quần thần”. 
  
Có một ông nọ, tên là “Tâm”, làm quan to cho Pháp. Ông rất tự hào về sự nghiệp của mình, cho nên một hôm ông cho mời một ông thầy đồ thật hay chữ đến nhà để xin thầy viết cho một bức hoành phi. Ông thầy đồ ngẫm nghĩ một hồi rồi phóng bút viết bốn chữ Tàu rồng bay phượng múa. Viết xong, ông giải thích: 
  
-        Bốn chữ này có nghĩa là “Đại điểm quần thần”. “Đại điểm” tức là “công lớn “, “quần thần” tức là “bầy tôi”. Ý muốn nói quan lớn là bầy tôi có công lớn đối với nhà nước Đại Pháp! 
  
Ông quan này rất lấy làm đắc ý, vì vậy ông cho treo bức hoành phi ngay tại phòng khách để quan khách đến chiêm ngưỡng sự nghiệp vĩ đại của ông. Nhưng một hôm có một ông bạn đến chơi, nhìn thấy bức hoành phi, bèn hỏi: 
  
-        Ai đã viết bức hoành phi này cho bác? 
  
Ông Tâm trả lời: 
  
-        Ấy, tôi đã nhờ một ông thầy đồ hay chữ nhất trong vùng viết đấy! Ông ta “vinh danh” sự nghiệp của tôi! 
  
Ông bạn bèn nói: 
  
-        Nó chửi cha ông mà ông không biết, cứ thế, ông treo bức hoành phi này cao hơn bàn thờ tổ nhà ông thì thế hệ con cháu của ông sẽ bị mạt! 
  
Ông Tâm tái mặt: 
  
-        Xin bác giải thích giùm, nó chửi cha tôi ở chỗ nào? 
  
Ông bạn bèn giải thích: 
  
-        Này nhé, “đại điểm” là “chấm to”, nói lái lại là … chó Tâm! “Quần thần” là “bầy tôi”, nói lái là “bồi tây”. Như vậy, ý nó muốn nói: - thằng chó Tâm là thằng đi làm bồi cho Tây! Lúc còn trẻ, bác đã bắt đầu sự nghiệp “làm quan” bằng cách đi làm bồi cho Tây, có đúng không nào? 
  
Ông Tâm quan nhớn, sau khi nghe người bạn giải thích xong thì chết cay chết đắng trong lòng. Ngay lập tức, ông cho hạ tấm hoành phi xuống, chẻ làm củi đun bếp và sai lính đi truy nã thằng thầy đồ xỏ lá, nhưng ông “thầy đồ” đã cao bay xa chạy rồi! Ông Tâm chỉ còn biết vò đầu bứt tóc, than trời: 
  
-        Đéo mẹ, thế mà mình cứ tưởng nó “vinh danh” mình, mình cứ luôn miệng ca tụng nó, đã vậy mình còn sai gia nhân đem biếu xén nó vô số quà cáp! 
  
Cho đến giờ phút này, chúng ta có thể nhận định rằng, băng đảng trung tâm băng nhạc Asia và đài truyền hình SBTN chính là SỰ TÁI SINH CỦA MẶT TRẬN HOÀNG CƠ MINH. Đồng bào chúng ta đã bị bọn giặc Hoàng Cơ Minh lừa cách đây 30 năm, bài học cũ vẫn chưa thuộc, bây giờ vẫn tiếp tục lao đầu vào cái cạm bẫy cũ! Số tiền mà đồng bào đã đóng góp cho bọn Hoàng Cơ Minh cách đây 30 năm, nếu so với thời giá bây giờ, tương đương khoảng 100 triệu đô la! 
 
  1. Sửa đổi lời của bản nhạc:
  
Bài hát “Cái trâm em cài” đã được các ca sĩ như Mai Lệ Huyền, Carol Kim hát trước năm 1975. Sau năm 1975, những ca sĩ như Linda Trang Đài, Thiên Kim cũng đã hát bài này. Nếu so sánh lời do ca sĩ Mai Lệ Huyền hát trước năm 1975 và lời do ca sĩ Thu Hương hát trong DVD Asia 66, chúng ta thấy có vài chỗ khác biệt, cụ thể như: 
  
-        Lời trước năm 1975: 
“ … cướp cướp TỪ QUÂN THÙ làm một ngày gởi về cho em ...” 
“ …. THẾ SAO đêm ngày ngồi mơ rồi thương với nhớ …. “ 
  
-        Lời trong Asia DVD 66: 
“ …. cướp CƯỚP NƠI CHIẾN TRƯỜNG làm một ngày gởi về cho em ...” 
“ …. THẾ GIAN đêm ngày ngồi mơ rồi thương với nhớ ...” 
  
Chúng ta cần lưu ý sự khác biệt giữa mấy chữ “THẾ SAO”  và “THẾ GIAN” 
  
Xin hãy xem lại lời của bản gốc trước năm 1975: 
  
“ Cái trâm em cài là do tình nhân em biếu đó 
Đáng chi đâu nào một viên, một viên đạn đồng 
THẾ SAO đêm ngày ngồi mơ rồi thương với nhớ 
Nhớ, nhớ người nhân tình đã thề nguyền cùng mình se duyên” 
  
Hai chữ “thế sao” trong trường hợp này diễn tả một sự ngạc nhiên, tương đương với hai chữ “but why” trong tiếng Anh.  Món quà của người tình chỉ là một món quà rẻ tiền làm từ viên đạn đồng, vậy tại sao (thế sao) lại làm cho cô gái cảm động, tương tư? 
  
Toàn bộ Ý NGHĨA CÔ ĐỌNG CỦA BẢN NHẠC NẰM Ở CÂU HÁT NÀY. Cái hay nhất của bản nhạc là nằm ở câu hát này. 
  
Nếu chúng ta thế hai chữ “THẾ GIAN” vào chỗ của “thế sao” thì sẽ làm cho bốn câu cuối của bài hát và làm cho toàn bộ bài hát trở nên hoàn toàn vô nghĩa, vô duyên, chẳng khác gì vá một miếng giẻ rách vào chiếc áo gấm! 
  
 Cái lưu manh của bọn chó săn băng đảng Asia là ở chỗ này! Chúng ta không thể trách những ca sĩ trẻ như Cardin và Thùy Hương. Họ chỉ là những con rối, những thiên lôi chỉ đâu đánh đó, đi làm mướn cho trung tâm băng nhạc Asia. Hơn nữa tiếng Việt của họ còn rất kém! 
  
 
  1. Lợi dụng uy tín của những nhân vật trong cộng đồng để ăn cắp, ăn cướp, móc túi đồng bào:
   Tục ngữ Việt Nam có câu “Ném chuột sợ vỡ đồ”. Những con chuột hôi thối đôi khi dám trèo lên cả bàn thờ để ngồi mà không có ai dám lấy cây đánh đuổi chúng. Lý do vì người ta sợ bị bể những món đồ quý. Tương tự như vậy, chúng ta thấy bọn lưu manh, điếm chính trị luôn luôn tìm cách lợi dụng tên tuổi của những người có uy tín khi bọn chúng tổ chức đại nhạc hội có quyên tiền. Trong buổi văn nghệ “Cánh hoa thời loạn”, bọn chúng đã mời bà Thiệu,  phu nhân cố tổng thống Thiệu, cùng nhiều cựu nữ sĩ quan đã từng là những người hùng chống cộng trước và sau năm 1975. Mỗi khi đi móc túi đồng bào, bọn chúng luôn luôn đem tên tuổi của quý bà cựu trung tá Hồ Thị Vẻ, Hạnh Nhơn ra để làm tấm mộc che thân. 
  
Lần này, muốn bôi nhọ tập thể nữ quân nhân thì bọn lưu manh, điếm chính trị đã núp đằng sau lưng bà Dương Nguyệt Ánh, để cho bà ta kể chuyện những người vợ lính đi làm đĩ! Nếu có ai đó bất mãn thì bọn chúng sẽ thanh minh và hù dọa:  “ Đấy nhé, đấy chính mồm bà Dương Nguyệt Ánh nói đấy nhé. Nếu chúng tôi (Lộc và Dũng) nói thì lại bảo là chúng tôi bôi nhọ danh dự của tập thể nữ quân nhân VNCH!  Quý vị nên nhớ, bà Ánh chính là …. tổng thống tương lai của Việt Nam đấy nhé! Bà là … con gà của Mỹ đấy! Liệu hồn, đừng có ai đụng tới bà ta, ông thầy Mỹ, ổng sẽ cho CIA hoặc Việt Tân ám sát chết liền!!!” 
   
  
5.      Bôi nhọ quân lực VNCH: 
  
Trong Asia DVD 66, chúng ta thấy Nam Lộc và Việt Dũng mặc quân phục nhảy dù, và hầu như trong DVD nào chúng ta cũng thấy có màn hề rẻ tiền sau đây diễn ra: 
  
-        MC Thùy Dương thường cất giọng ỏn ẻn hỏi:  “ Anh Lộc ơi, có phải hồi trước năm 1975, anh là lính VNCH, phải không anh?” 
  
Nam Lộc bèn hùng dũng đáp: “Phải rồi, anh là cựu quân nhân quân lực VNCH đó em, thuộc sư đoàn 5 bộ binh!” 
  
(Xin lưu ý, Nam Lộc lớn tuổi hơn …. ông nội của Thùy Dương, vậy nhưng hai người vẫn cứ “anh anh em em với nhau ngọt sớt”!) 
  
Bằng câu nói có vẻ như vô tư, Nam Lộc đã khéo léo tự đánh bóng mình: Lộc chính là “đệ tử” của cố tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và tướng Lê Nguyên Vỹ! Vì sao?  Vì hai ông Thiệu và Vỹ đã từng là tư lệnh sư đoàn 5 bộ binh! Tướng Vỹ đã tuẫn tiết để bảo vệ danh dự cho Tổ Quốc và được người dân tôn thờ như vị anh hùng. Do đó, nếu có ai thấy được chân tướng việt gian của Nam Lộc thì ít ra cũng phải nể nang hai ông tướng tư lệnh. Đánh chó phải kiêng chủ nhà là như vậy! 
  
Trước năm 1975, Nam Lộc đã từng là gã hippy để tóc dài, ăn chơi trụy lạc. Hắn có đi lính nhưng chỉ là thứ lính kiểng, lính thành phố, và có lẽ trong cả cuộc đời quân ngũ, hắn chưa bao giờ bắn một phát đạn nào! Cái loại lính kiểng đó nếu ra mặt trận, chỉ mới nghe tiếng súng nổ thì đã đái ra quần! Do đó, Nam Lộc chỉ dám đem cái mác “lính sư đoàn 5 bộ binh” ra để dợt le với những thành phần thuộc hàng cháu chắt như Thùy Dương, vốn hoàn toàn mù tịt về quân lực VNCH. Thỉnh thoảng hắn lại khoác lên người bộ quân phục nhảy dù để che đậy cho cái quá khứ lính kiểng hút xì ke của mình! Những người lính dù thứ thiệt đã từng vào sinh ra tử mà thấy Nam Lộc mặc quân phục bông dù thì họ chỉ cưòi khinh và tội nghiệp! 
  
Không cần so sánh với lính dù thứ thiệt, chỉ cần so sánh với nữ ca sĩ Ánh Minh, thuộc hàng cháu chắt, thì Nam Lộc và Việt Dũng chỉ đáng đi xách dép! Ca sĩ Ánh Minh thường hát cặp với Đoàn Phi, chuyên hát những bản nhạc kích động ca ngợi lính dù, tựa như cặp Hùng Cường và Mai Lệ Huyền trước năm 1975. Ánh Minh đã từng nhảy dù ở độ cao sáu ngàn feet! Cô dám chơi môn thể thao Sky-diving. Quý vị có thể vào YouTube để xem Ánh Minh nhảy dù ở độ cao sáu ngàn feet! Nữ giới mà dám chơi môn thể thao này là rất gan dạ. Nam Lộc và Việt Dũng có dám nhảy dù không mà bày đặt mặc quân phục nhảy dù? 
  
Trước khi nhảy dù, Ánh Minh đã nói:  “I hope I will come back alive!” (Hy vọng còn sống sót trở về!) Tuy nhiên sự nguy hiểm của Ánh Minh nếu so với lính dù thứ thiệt thì không thấm vào đâu. Quý vị hãy tưởng tượng những người lính dù, khi nhảy ra khỏi máy bay, phải đeo súng đạn và quân trang nặng khoảng 50 ký, đồng thời lưới đạn của việt cộng ở bên dưới bắn lên như mưa! Có người đã hy sinh ngay giữa lưng trời! 
  
*Việt Dũng mặc quân phục nhảy dù: 
  
Trong Asia DVD 66, quý vị thấy Việt Dũng mặc quân phục nhảy dù, đóng một màn kịch ngắn, hề rẻ tiền với MC Thùy Dương. Cô bé Thùy Dương đóng vai người yêu của lính đi thăm anh tân binh quân dịch Việt Dũng tại trung tâm huấn luyện Quang Trung. Điều đáng nói ở đây là Việt Dũng bị tật bẩm sinh, hai chân bị què, phải chống nạng. Vậy mà ông ta lại đóng vai người lính VNCH, như vậy hóa ra lính nhảy dù của VNCH chỉ toàn là những thành phần què quặt! Sư đoàn dù của VNCH, những thiên thần mũ đỏ, đều là những người như … Việt Dũng hay sao???!!! Oh, my God!!! 
  
Như vậy, không phải là cố ý bôi nhọ quân lực VNCH thì là gì? 
  
Ca sĩ Tuấn Vũ trong vai sĩ quan võ bị Đà Lạt: 
  
Trong những bài viết trước, chúng tôi đã góp ý về vấn đề này nhưng băng đảng Asia vẫn cố tình để cho Tuấn Vũ xuất hiện trong bộ lễ phục sĩ quan Đà Lạt. Ca sĩ Tuấn Vũ quá ốm yếu, tóc dài thậm thượt, vai so cổ rụt, trông như người nghiện hút xì ke. (Thực tế ở ngoài đời anh ta đã từng hút xì ke và đã từng bị bọn việt gian cộng sản cấm không cho nhập cảnh, với lý do “thành phần nghiện xì ke”) Đây là sự nhục nhã cho tập thể ca sĩ ở hải ngoại. 
  
Thế nào là một người sĩ quan Đà Lạt? Như quý vị đã biết, muốn trở thành sĩ quan Đà Lạt, các ứng viên phải hội đủ tiêu chuẩn về vóc dáng, người phải cao lớn, khỏe mạnh và có văn bằng tú tài hai ban toán. Trước năm 1975, chắc chắn quý vị không bao giờ thấy có sĩ quan Đà Lạt nào mà tướng ốm yếu như Tuấn Vũ, tóc dài thậm thượt như vậy, mặc bộ lễ phục đi ngoài đường! 
  
Tóm lại, tổng kết những màn trình diễn của băng đảng Asia, chúng ta thấy rằng bọn chúng đã cố ý bôi nhọ tập thể quân nhân VNCH. Lính thì lính kiểng, lính què; sĩ quan thì ốm yếu, tướng gió thổi bay, hút xì ke! Trong số những nam ca sĩ, thiếu gì người có tướng cao lớn, đẹp trai, hát hay. Tại sao không cho họ đóng những vai sĩ quan lính dù, võ bị Đà Lạt? 
  
Chưa hết, chúng ta thấy, băng đảng Asia qua những màn bôi nhọ phe quốc gia, bọn chúng luôn tìm cách đánh bóng cho bọn giặc. Trong vở kịch “Chú Tư Cầu” quý vị thấy tên việt cộng do diễn viên Quang Minh đóng, là người cao lớn đẹp trai, có nhiều đào. Chú Tư Cầu là người “hiền lành”, “thật thà” đã bị Mỹ Ngụy giết chết, không được nhìn mặt đứa con mới sinh ra đời! Nhưng có ai ngờ đâu những tên việt cộng như Chú Tư Cầu đã từng giết hại hàng trăm ngàn người dân vô tội ở miền Nam bằng cách chặt đầu, mổ bụng, dồn trấu thả trôi sông, đặt mìn nơi đường rầy xe lửa, quăng lựu đạn vào rạp hát, bắn hỏa tiễn 122 ly vào thành phố!!! 
 
  1. Lời phát biểu của Nam Lộc:
Trong tiết mục số 13, đĩa 2, Nam Lộc đã phát biểu như sau:  “ Năm 1975 nhà văn Dương Thu Hương theo chân đoàn quân cộng sản Hà Nội vào TIẾP THU SÀI GÒN ….” 
  
Đây chính là bằng chứng Nam Lộc là tên việt gian, đi làm tay sai cho bọn việt gian cộng sản và bọn Mỹ chó đẻ (giới tài phiệt). Dương Thu Hương là tên việt cộng hết sức nguy hiểm, đang đóng vai “đối lập cuội”, đánh phá cộng đồng người Việt hải ngoại hết sức khốc liệt. Hắn đã viết quyển tiểu thuyết dày 800 trang “Đỉnh Cao Chói Lọi” để ca ngợi tên Hồ tặc. Tác phẩm “văn học” này đã được phổ biến công khai trên internet và đăng trên nhật báo Người Việt, ổ rắn độc của việt cộng. 
  
Chắc quý vị vẫn còn nhớ, trước năm 1975, trên đài truyền hình Sài Gòn thường xuyên phát hình những tội ác của cộng sản, kèm theo bài hát, lời như sau: 
  
“…. giặc từ miền bắc vô đây, bàn tay nhuốm máu đồng bào. Giặc từ miền bắc vô đây, bàn tay giết chóc hôi tanh. Hận thù đó chất cao trong lòng người, lòng anh, lòng tôi ….” 
  
Tiếp theo những câu hát này là giọng đọc của người xướng ngôn: - Ai chém giết đồng bào vô tội? - Cộng sản và tay sai! 
  
Đối với những người dân miền Nam, ai cũng nói: - Bọn cộng sản bắc việt XÂM LĂNG MIỀN NAM, XÂM CHIẾM MIỀN NAM. Tuyệt đối không có người nào nói là “chính quyền Hà Nội vào tiếp thu miền Nam, tiếp thu Sài Gòn”. Chỉ có bọn việt gian cộng sản và cái đám chó săn như Nam Lộc mới dùng nhóm chữ “tiếp thu Sài Gòn”! 
  
Dương Thu Hương là tên điếm văn nghệ, tên việt cộng răng đen mã tấu, một tên đối lập cuội, điều này đã quá rõ ràng, ai cũng biết. Vậy nhưng Nam Lộc từ bên Mỹ vẫn cố thè lưỡi vươn qua đại dương để liếm trôn Dương Thu Hương! Thật là đáng ghê tởm!   
  • PHẦN KẾT LUẬN:
  Trung tâm băng nhạc Asia, đài truyền hình SBTN là hai ổ rắn độc của việt gian cộng sản. Bọn chúng đi làm tay sai cho việt gian cộng sản và bọn Mỹ chó đẻ. (giới tài phiệt) Sở dĩ chúng ta chống cộng 35 năm liên tiếp mà không lật đổ được cộng sản là vì có sự phản bội của bọn Mỹ chó đẻ, cố ý tìm cách duy trì chế độ cộng sản để bọn chúng hưởng lợi. Chúng tôi sẽ trình bày vấn đề này trong những bài viết kế tiếp, tố cáo những tội ác của bọn Mỹ chó đẻ, thông qua nhiều trung gian và bọn CIA để đâm sau lưng chúng ta. 
  
Những tên việt gian như Trúc Hồ, Nam Lộc, Việt Dũng chính là những tên Xuân Tóc Đỏ của thời đại, nhờ gặp thời thế mà bỗng nhiên nhảy lên cỡi trên đầu trên cổ chúng ta, tựa như loài chó nhảy bàn độc. Bọn CIA Mỹ và việt gian cộng sản rất cần những tên ngu dốt nhưng tham lam, háo danh và DỄ SAI BẢO. Đó là lý do vì sao những con chó nhảy bàn độc đã được đề bạt lên làm “giám đốc”! 
  
Hàng năm, bọn chó đẻ này thường tổ chức đại nhạc hội “cám ơn anh”, rồi quyên tiền hàng triệu đô la gởi về Việt Nam để nuôi …. đảng việt gian cộng sản! Chúng ta hãy đặt câu hỏi: - Số tiền bạc triệu đô la quyên được đã đi về đâu? Xin thưa, 99% đã chui vào túi bọn việt gian cộng sản và bọn chó đẻ trung gian cò mồi, sống bằng nghề “từ thiện”, ăn cắp, lường gạt, móc túi của đồng bào! May lắm là chỉ 1% đến tay những thương phế binh mà bọn lưu manh thường quay phim, chụp hình phổ biến ở hải ngoại để lừa bịp đồng bào. 
  
Ở phần cuối DVD, tên việt gian Nam Lộc đã lên tiếng kêu gọi đồng bào ở hải ngoại hợp tác với bọn việt gian cộng sản để chống Trung Cộng xâm lăng! Bộ mặt việt gian của tên Nam Lộc đã lộ nét quá rõ! Tất cả những điều mà chúng tôi nêu trên là những bằng chứng rất cụ thể tố cáo trung tâm băng nhạc Asia chính là ổ rắn độc của bọn việt gian cộng sản và bọn Mỹ chó đẻ. Chúng nó chỉ vờ vịt “chống cộng” để lừa bịp đồng bào. Chúng nó chính là đảng cướp Hoàng Cơ Minh tái sinh. Chúng nó “vinh danh” VNCH một phần thì đồng thời đâm vào sau lưng chúng ta hàng ngàn nhát dao ác hiểm! 
  
Xin đồng bào hãy tẩy chay bọn việt gian, tay sai của việt gian cộng sản và bọn Mỹ chó đẻ. Xin đồng bào hãy nhớ: -một xu một cắc tuyệt đối cũng không bao giờ đem cho bọn chúng nó. Chẳng thà đem tiền cho chó hoặc cho những người Mỹ homeless mà còn có lợi ích thiết thực. Còn nếu đồng bào muốn cho thì hãy cho bọn chúng cà chua, trứng thối và nhét băng vệ sinh phụ nữ vào miệng bọn chúng! 
  
Trần Thanh
Ngày 9 tháng 9 năm 2010


  • PHẦN PHỤ LỤC:
 
Đây, chân dung của Chú Tư Cầu, một trong hàng chục ngàn tên việt cộng đã đi chặt đầu, mổ bụng đồng bào miền Nam; đã giật mìn xe lửa, phá sập cầu, đốt trụi hết xóm làng của nông dân, chôn sống hàng ngàn đồng bào vô tội, quăng lựu đạn vào rạp hát, bắn hỏa tiễn 122 ly vào Sài Gòn, pháo kích vào trường tiểu học cộng đồng Cai Lậy làm chết hàng chục em bé vô tội ..v..v.. 
  
Ấy, vậy mà tên việt cộng này đã được trung tâm băng nhạc Asia, thông qua hai tên việt cộng Quang Minh và Hồng Đào vinh danh là người nông dân “vô tội” bị Mỹ ngụy giết chết! Bọn chúng kêu gọi đồng bào hãy nhỏ nước mắt xót thương cho tên việt cộng này!!!




Những Cố Gắng Canh Tân Tại Việt Nam Trước Thời Pháp Thuộc

Những Cố Gắng Canh Tân Tại Việt Nam Trước Thời Pháp Thuộc

2013 0CT 16 CROP 300 LOGO COQUILLAGE
Việt Nam Tiếp Cận Tây Phương
Sau thời gian dài chịu ảnh hưởng Khổng giáo và Phật giáo của phương Đông, cuộc Nam tiến và phân tranh Trịnh-Nguyễn có thể coi như khởi đầu cho giai đoạn Việt Nam chịu ảnh hưởng của nửa phía Tây còn lại của thế giới.

Ngày nay các công trình sử học Việt và quốc tế nghiên cứu các tài liệu của Pháp, Bồ Đào Nha, Vatican, các thư tín của các giáo sĩ Ki tô giáo gửi về nước từ Đàng Ngoài (miền bắc sông Gianh) và Đàng Trong (miền Nam sông Gianh), và sử của triều đình Nguyễn, đã làm sáng tỏ nhiều chi tiết vềgiai đoạn Việt Nam tiếp cận Tây phương trước Pháp thuộc.

Theo YoshinaruTsuboï, nhà sử học Nhật bản có nhiều nghiên cứu về Việt Nam, ngay từ thế kỷ 16 Tây phương đã tìm cách tiếp cận Việt Nam. Sử liệu Pháp cho thấy năm 1516 đã có một nhà hàng hải Bồ Đào Nha tên là Fernao Perez de Andrade đến bờ biển Việt Nam xin buôn bán. Sử triều nhà Nguyễn ghi nhận năm 1533 có người Tây phương đầu tiên đến Nam Định truyền đạo Ki tô giáo. Những tiếp xúc đầu tiên này mới chỉ tập trung vào thương mại và truyền giáo. Phải đến khi tranh chấp Nguyễn Ánh-Tây Sơn, và nhất là sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước, Tây phương mới thật sự ảnh hưởng vào chính trị của Việt Nam. Vua Gia Long khi lên ngôi đã trọng dụng một số sĩ quan Pháp, cho họ làm quan trong triều, đặt tên Việt cho họ, như Chaigneau (Nguyễn văn Thắng), Vannnier (Nguyễn văn Chấn)… để trả công họ đã giúp nhà vua trong cuộc chiến với Tây Sơn. Tuy nhiên, quan hệ Việt-Pháp, mở đầu cho quan hệ chính trị Việt-Âu Mỹ sau này, chưa chính thức hình thành thì đã rạn nứt.

Năm 1787, Bá Đa Lộc đại diện Nguyễn Ánh ký hiệp ước Versailles với đại diện vua Pháp, theo đó Pháp đồng ý giúp Nguyễn Ánh về quân sự, ngược lại Nguyễn Ánh hứa khi thành công sẽ cho Pháp hưởng nhiều quyền lợi về lãnh thổ và buôn bán. Sau đó triều đình Pháp đã không giúp Nguyễn Ánhnhư đã hứa, và Bá Đa Lộc phải tìm những người tình nguyện sang giúp Nguyễn Ánh. Vì thế, năm 1817, khi vua Pháp yêu cầu vua Gia Long thực hiện hiệp ước này ông đã từ chối, nói rằng trước đây vua Pháp đã không cứu viện quân sự nên hiệp ước này coi như đã bị hủy bỏ.

vua Gia Long
Từ đó vua Gia Long bắt đầu cảnh giác người Pháp. Theo Việt Nam Sử Lược thì nhà vua thường tỏ ý vui mừng vì đã không được triều đình Pháp cứu viện. Nhà vua cũng thường cảnh tỉnh triều thần về sư an nguy của đất nước có thể đến từ giao thương và truyền đạo. Đến đời vua Minh Mạng thì sự nghi kỵ Tây phương và người Ki tô giáo ngày càng tăng, nhất là từ sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi năm 1833 có sự hợp tác của người Ki tô giáo chống lại triều đình. Việc cấm đạo của vua Tự Đức đã thực sự phản ảnh sự thắng thế của đường lối nghi kỵ Pháp nói riêng và Tây phương nói chung.

Nguyên nhân của đường lối nghi kỵ, đối đầu này có nhiều, nhưng theo tôi, nguyên nhân chính nằm ngay trong nội tình Việt Nam, trong nếp tư duy văn hóa chính trị thủ cựu thiên về “tự vệ”, ít có sáng kiến, không dám mạo hiểm, của giới sĩ phu quan lại, đã hình thành suốt triều đại nhà Hậu Lê và thời kỳ phân tranh Trịnh Nguyễn. Đường lối canh tân của Mạc Đăng Dung, Hồ Quý Ly, Nguyễn Huệ không tồn tại lâu dài. Sự phân chia thành hai miền Đàng Trong và Đàng Ngoài cũng dẫn đến sự phân chia thành hai quan điểm văn hóa chính trị. Đàng Ngoài vẫn còn là miền đất cũ nặng ảnh hưởng Nho giáo. Đàng trong tuy có tiếp cận Pháp ngay từ thời Nguyễn Ánh, nhưng khi lên ngôi, vua Gia Long vẫn rập khuôn theo nền chính trị và giáo dục Khổng giáo. Mâu thuẫn trong đường lối chính trị và văn hóa đã bắt đầu trước khi Pháp thuộc, trong bối cảnh ảnh hưởng Âu châu đang tràn tới toàn Á châu và vùng Đông Nam Á. Mâu thuẫn này cũng được phản ảnh ngay trong sự thành công của Nguyễn Ánh.

Triều Đình Nguyễn Suy Yếu
Như YoshinaruTsuboï đã phân tích,Nguyễn Ánh thành công là nhờ sự đóng góp của 3 thành phần: tình nguyện quân Pháp về mặt quân sự, thương gia Hoa Kiều về mặt tài chánh, và văn thân về mặt chính trị. Khi lên ngôi vua Gia Long phải dành cho 3 thành phần này những quyền lợi tương xứng. Hoa kiều nắm kinh tế, những sĩ quan Pháp giúp canh tân quân sự, nhưng chính trị thì do các quan lại Hán học quyết định. 

Tình trạng thiếu thống nhất này làm cho cả triều đình và nhân dân đều không có được sức mạnh toàn diện. Kinh tế do Hoa Kiều chi phối, nhất là ở nam bộ, nên người dân chỉ làm lao động cực nhọc còn thành phần giàu có trong xã hội phần lớn là người Hoa dù họ đã dần dần trở thành người Việt gốc Hoa. 

Về mặt quân sự những giáo sĩ Tây phương thời đó, và các nhà sử học sau này, đều ca ngợi những cố gắng hiện đại hóa quân đội của Nguyễn Ánh ngay từ khi còn đánh nhau với Tây Sơn. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long tiếp tục đẩy mạnh việc canh tân quân đội. Đến đời vua Minh Mạng thì quân đội Đại Nam có lẽ là quân đội hùng mạnh nhất trong vùng đã đánh chiếm gần như toàn vẹn Lào và Miên, tới giáp biên giới với Thái Lan.

Tình trạng giáo dục và chính trị thì hoàn toàn khác hẳn. Mọi sắp đặt của vua quan nhà Nguyễn trong hai lãnh vực này chỉ là chấn chỉnh lại tình trạng suy thoái vì chiến tranh, và thống nhất lại cơ chế trên toàn quốc từ bắc đến nam theo mô hình Trung Hoa. Thực ra triều đình có canh cải đôi chút về mặt chính trị, như bỏ chức Tể tướng, lập Nội Các và Cơ Mật Viện, cho soạn bộ luật mới. Nhưng Trung Hoa vẫn là kiểu mẫu, như khi lập ban soạn bộ luật mới, tuy có tham khảo cả luật Hồng Đức và luật của nhà Thanh, nhưng cuối cùng phần lớn vẫn theo luật nhà Thanh.

 Hơn nữa những cố gắng chấn chinh này lại diễn ra trong bối cảnh suy tàn của Khổng giáo trước văn minh Âu châu đang tràn tới. Năm 1840, Trung Hoa bị các nước Âu châu phát động chiến tranh nha phiến để uy hiếp và chiếm đóng đất đai. Tại Việt Nam năm 1858 hải quân Pháp-Tây ba Nha bắn phá cảng Đà Nẵng và sau đó vào chiếm Sài Gòn. Trong khi đó Nhật bản, nhờ hủy bỏ mô hình Trung Hoa, canh tân đất nước toàn diện theomô hình Tây phương nên chỉ sau vài thập niên đã trở nên cường thịnh.

Hiện nay chưa có nguồn sử liệu nào cho thấy trong các thập niên 1860, 1870, triều đình nhà Nguyễn biết rõ về những thay đổi quan trọng tạiNhật bản. Còn về sự yếu kém của hệ thống chinh trị và giáo dục Khổng giáo, dù có nhận ra được, chắc họ cũng không biết phải thay đổi và canh cải như thế nào.Những sáng kiến thời Hồ Quí Ly và Tây sơn như dậy toán, dủng chữ Nôm chỉ mới được áp dụng trong một thời gian quá ngắn ngủi, trong bối cảnh chinh trị không ổn định nên không thể gây được sự tin tưởng nơi các vua quan triều Nguyễn đang cần củng cố việc triều chính.

Trong triều tất cả các quan đại thần đều xuất thân từ Nho học nên thận trọng và bảo thủ. Chỉ có một số vị có dịp đi sứ bên Pháp hay các nước lân cận, như Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ…thấy được những tiến bộ tại các nước này, nên đãdâng sớ đề nghị canh tân đất nước. Trong số này đáng chú ý nhất là những đề nghị canh tân của Nguyễn Trường Tộ.

Chương Trinh Canh Tân của Nguyễn Trường Tộ
Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828 ở Nghệ An, trong một gia đình theo đạo Gia tô, nhưng tinh thông tứ thư ngũ kinh của Nho giáo. Năm 27 tuổi, ông được giám mục Gauthier đưa vào chủng viện để dạy chữ Hán cho giám mục, và được giám mục dạy lại chữ Pháp cũng như kiến thức khoa học châu Âu. Năm 1858, giám mục Gauthier đưa Nguyễn Trường Tộ sang Pháp để học tập, nâng cao kiến thức.Trong hơn 2 năm du học ở Paris, ông hiểu biết nhiều về khoa học – kỹ thuật, có trình độ như một kiến trúc sư, đọc nhiều về đủ mọi lãnh vực như chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, pháp luật. Khi về Việt Nam, trong suốt thập niên 1860, ông liên tục gửi lên nhà vua và triều đình hàng chục bản phúc trình và điều trần, đưa ra các phân tích về tình hình đất nước, thế giới, và các đề nghị canh tân đất nước về mọi mặt.

Về đối ngoại, ông đưa ra kế ly gián Anh và Pháp, đồng thời mở rộng quan hệ ngoại giao với Pháp và các nước phương Tây. Về nội chính, ông đề nghị tinh giản bộ máy hành chánh, xác định rõ trách nhiệm của từng chức vụ, cho phép quan chức được làm giầu chính đáng để tránh tham nhũng. Ông cũng quan tâm tới việc canh cải hệ thống tài chánh và thuế khóa, tăng thuế người giầu, hàng xa xỉ, đánh thuế nặng cờ bạc, rượu chè. Về kinh tế, ông đề nghị khai hoang, tăng cường xuất cảng, khai thác hầm mỏ, lập các cơ xưởng công nghiệp, đào tạo thợ kỹ thuật, mở mang giao thông vận tải, đường thủy, đường bộ. Về giáo dục ông đề nghị bỏ lối học từ chương, dậy các môn khoa học, dậy ngoại ngữ, dùng chữ Nôm cả trong giảng dậy, soạn sách và công văn hành chánh.

Triều Đình Cải Cách Muộn Màng
Nhà vua cũngquan tâm tới các đề nghị của Nguyễn Trường Tộ và yêu cầu Cơ Mật Viện bàn bạc về những đề nghị này. Các quan đa số có quan điểm thủ cựu hẹp hòi nên cuối cùng triều đinh chỉ thực hiện vài canh cải nhỏ. Năm 1864 nhà vua ra lệnh khuyến khích học tiếng Pháp và khen thưởng những người học giỏi. Năm 1866 Nguyễn Trường Tộ được lệnh đi Pháp để mua sách giáo khoa và tuyển dụng giáo sư về mở các trường tân học. Nhưng rồi sau đó triều đình bận rộn với việc chiến tranh với Pháp nên chương trình cải cách giáo dục cũng không thực hiện được. Mãi đến năm 1873 vua Tự Đức mới ra lệnh các quan tuyển chọn những học sinh giỏi ngoai ngữ, cấp học bổng cho đi du học trong 5 năm tại Hồng Kông. 

Năm 1879 một toán học sinh khác được tuyển chọn đưa đi Pháp học tại trường kỹ thuật Toulon. Hai mươi học sinh khác được gửi đi theo một đoàn ngoại giao Ý nhưng bị người Pháp chặn lại tại Sài Gòn. Năm 1881 triều đình lại gửi thêm 12 học sinh nữa đi học tại Hồng Kông.

Nhưng những chương trinh cải cách giáo dục này được thực hiện quá trễ và quá chậm. Trong khi đó vẫn không hề có bất cứ thay đổi nào trong chương trình, phương pháp giáo dục, và hệ thống thi cử.Triều đình Huế ngày căng mất uy tín và không còn làm chủ được tình hình đất nước. Nam kỳ đã mất vào tay người Pháp không thể lấy lại được. Ngoài Bắc giặc giã nổi lên khắp nơi chống cả triều đình và Pháp. Nhiều khuynh hướng văn hóa chính trị khác nhau đã xuất hiện ngoài vòng kiểm soát của triều đình Huế.

Những Chương Trình Canh Tân Đầu Tiên Theo Tây Học
Trước khi toàn thể đất nước mất vào tay người Pháp, tại Nam kỳ và Bắc kỳ đã xuất hiện những hoạt động văn hóa giáo dục nhằm Âu hóa Việt Nam. Tại Nam kỳ, sau khi triều đình nhượng hoàn toàn 6 tỉnh cho Pháp, chinh quyền Pháp đã bãi bò hoàn toàn hệ thống văn hóa, giáo dục và chinh trị Khổng học. Họ áp dụng mô hình Pháp với nhiều điều chỉnh cho thích hợp tình hình thực tế và trình độ phát triển của Nam kỳ. Chữ Pháp và chữ quốc ngữ được sử dụng thay thế chữ Hán. Năm 1864 người Pháp bãi bỏ kỳ thi Hán học. Các trường tân học được mở ra giảng dậy các môn học mới. Đến đầu thế kỷ 20 một tầng lớp trí thức tây học đã xuất hiện tại Nam Kỳ.

 Họ tham gia hoạt động chính trị, thương mại, giáo dục, và cả làm báo. Một xã hội mới bắt đầu ra đời với một nền văn hóa, giáo dục và chính trị theo mô hình Pháp. Chúng ta sẽ trở lại phân tích những đặc điểm cũng như đóng góp của Nam kỳ vào cuộc canh tân Việt Nam trong những bài sau.

Tại miền Bắc, trong khi triều đình vẫn duy trì chế độ giáo dục Nho học, các giáo sĩ Cơ đốc giáo đãchủ động mở các trường học mới vừa để dậy giáo lý vừa để đào tạo thế hệ trẻ theo tân học. Tại các trường này trẻ em được học chữ La tinh, chữ Pháp, quốc ngữ, địa lý, toán và vài môn hiểu biết thường thức. Chương trình giảng dậy nàytheonhư giáo sĩ Wibaux “là phương tiện tốt nhất cho công cuộc thực dân và cho việc truyền bá tôn giáo”. Giám mục Paul-François Puginier kêu gọi chính phủ Pháp ủng hộ chương trinh này vì tin rằng “có hai điều đặc biệt làm công cụ tối hảo để thay đổi cả một dân tộc: đó là đức tin tôn giáo và ngôn ngữ.Nếu chính phủ Pháp hiểu biết lợi ích thực sự của mình, thì hãy ủng hộ việc rao giảng. Tin mừng và dạy bảo ngôn ngữ của chúng ta,tôi xin khẳng định là trước thời gian 20 năm, chẳng cần phải cưỡng bức ai , xứ sở này sẽ được Kito hóa và Pháp hóa.” (theo Yoshinaru Tsuboï)

Tất nhiên lúc đó các nước Âu châu đều gắn liền 3 việc trong kế hoạch phát triển ảnh hưởng của họ sang châu Phi và châu Á: phát triển thương mại, truyền đạo Ki tô giáo, và chiếm đóng thuộc địa nhằm khai thác tài nguyên. Các hoạt động giáo dục và truyền đạo của các giáo sĩ Âu Châu tại Việt Nam cũng không thể nằm ngoài kế hoạch chung đó. Nó cũng đem lại những kết quả vừa tiêu cực vừa tích cực như chính phong trao thực dân thuộc địa.

Về mặt tiêu cực, việc truyền đạo trong các giai đoạn đầu đã gây ra những va chạm đáng tiếc đối với tín ngưỡng và phong tục truyền thống của Việt Nam như đạo Phật và tục thờ cúng tổ tiên. Qua thời gian, cùng với sự tiến bộ chung của thời đại và thế giới, với những canh cải trong đường lối của Tòa thánh La Mã, và nhất là vì nhu cầu ổn định xã hội và chung sống hòa bình của người dân, những hậu quả tiêu cực này ngày càng giảm bớt. Đồng thời những đóng góp tích cực và lâu dài của các giáo sĩ Thiên chúa giáo vào công cuộc canh tân Việt Namcũng được công nhận, trong đó phải kể đến việc sáng tạo ra chữ quốc ngữ. Nếu không có chữ quốc ngữ thì không biết ngày nay người Việt phải dùng ngôn ngữ nào, chữ Pháp, chữ Anh hay chữ Nga, vì chữ Nôm khó học và khó sử dụng.
Sau hơn 300 năm tồn tại và phát triển tại Việt Nam, Thiên chúa giáo đã trở thành một bộ phận đương nhiên trong nền văn hóa đa nguyên, phong phú của dân tộc Việt trong thời đại toàn cầu. Nếu vào thế kỷ thứ 10 người Việt đã tiếp nhận và hòa hợp được tam giáo Đông phương Phật Lão Khổng, để xây dựng một nước Việt hùng mạnh, vững bền, thì từ thế kỷ 20 trở đi người dân Việt cũng phải dung hòa được Thiên chúa giáo của Tây phương vào nền văn hóa Việt mới, để tạo được sức mạnh tổng hợp Đông-Tây nhằm xây dưng một nước Việt phú cường trong thời đại toàn cầu Âu-Á. Đây là một nhu cầu thực tế mà cũng là một thách đố văn hóa chính trị cho mọi người Việt quan tâm đến tiền đồ dân tộc. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong phần cuối của loạt bài về tư tưởng chính trị Việt Nam thời kỳ cận hiện đại.

Đoàn Viết Hoạt
Tài Liệu Tham Khảo:


Featured Post

Tên các Quốc gia mà người Sài Gòn hay gọi trước năm 1975

https://www.facebook.com/groups/miennamvietnam/posts/1953798441526381/ https://www.facebook.com/buianhhuy095096/posts/t%C3%AAn-c%C3%A...

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List