QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Wednesday, December 17, 2014

3 ngày đáng nhớ, 4 sự kiện lịch sử, 40 năm xa xứ


3 ngày đáng nhớ, 4 sự kiện lịch sử, 40 năm xa xứ 

  

10 ca khúc tiếng anh về giáng sinh hay nhất 2015



image





Preview by Yahoo



Nhân dịp kỷ niệm 40 năm người Việt bỏ nước ra đi, từ mọi vùng trời tự do chúng ta sẽ hội ngộ ở thủ đô của Hoa Kỳ cho 3 ng ày kh ông th ể nào quên. Xin ghi vào lịch để dành các ngày 18, 19 và 20 tháng 6, 2015 cho nhau và cho quê hương.

Ngày tri ân - Thứ Sáu 19 tháng 6, 2015:
Qua buổi trình diễn ở Kennedy Center chúng ta sẽ cảm ơn đất nước Hoa Kỳ và thế giới tự do, và các cựu chiến binh Hoa Kỳ đã từng tham chiến ở Việt Nam. Chúng ta sẽ vinh danh và tri ân quân cán chính Việt Nam Cộng Hoà đã đổ máu xương để bảo vệ tự do cho dân tộc và độc lập cho tổ quốc.

Ngày cho Việt Nam - Thứ Năm 18 tháng 6, 2015:
Chúng ta sẽ cùng nhau vận động Quốc Hội Hoa Kỳ, Bộ Ngoại Giao và Toà Bạch Ốc để đòi nhân quyền và dân chủ cho Việt Nam.






Ngày cho tương lai cộng đồng - Thứ Bảy 20 tháng 6, 2015
Hội Nghị Toàn Quốc của Lãnh Đạo Mỹ-Việt, lần 2, sẽ vạch hướng phát triển cộng đồng trong cả 3 lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội.  
Buổi chiều cùng ngày sẽ là dạ tiệc đánh dấu các thành quả hoạt động của BPSOS và tiếp tục vinh danh và tri ân đã đóng góp bảo vệ các giá trị tự do và nhân phẩm.

Xin phổ biến tấm bưu thiếp dưới đây đến những người thân, quen.



Hãy góp tay đẩy con thuyền Việt Nam
Ts. Nguyễn Đình Thắng
Ngày 16 tháng 12, 2014

Qua 4 cuộc tổng vận động liên tiếp trong 3 năm, chúng ta hiện ở thế thuận lợi hơn bất kỳ lúc nào trong 40 năm qua để vừa đem ánh sáng dân chủ đến cho Việt Nam vừa đẩy lùi hoạ xâm lăng của Bắc Kinh. Đó là mục tiêu của cuộc tổng vận động ngày 18 tháng 6, 2015, với quy mô lớn chưa từng có, mà Liên Minh cho một Việt Nam Tự Do và Dân Chủ đã bắt đầu chuẩn bị từ giờ. Cuộc tổng vận động này chỉ thành công nếu có sự tham gia thật đông đảo của những người Việt nặng lòng với quê hương đến từ khắp Hoa Kỳ.
Những thuận lợi của chúng ta

Chúng ta đang có 3 yếu thuận lợi:
(1)    Chưa bao giờ có nhiều dân biểu và thượng nghị sĩ Hoa Kỳ quan tâm như hiện nay về tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam, đặc biệt về quyền lao động và tự do tôn giáo. Đây là kết quả trực tiếp của các kỳ tổng vận động nối tiếp nhau trong suốt 3 năm qua. Qua mỗi cuộc vận động chúng ta lại củng cố sự ủng hộ sẵn có và tranh thủ thêm những người mới ủng hộ.
(2)    Chúng ta đã huy động được hậu thuẫn của nhiều thế lực trong dòng chính Hoa Kỳ, gồm các công đoàn và các tổ chức bảo vệ quyền lao động, và ngày càng nhiều các tổ chức tôn giáo và tổ chức bảo vệ tự do tôn giáo của Hoa Kỳ. Đây là kết quả trực tiếp của những nỗ lực kết nối và huy động sự hậu thuẫn từ quần chúng Hoa Kỳ.
(3)    Hiệp Ước Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) vẫn còn lơ lửng. Cách đây 2 tuần, Hành Pháp Obama phải thừa nhận là đến cuối năm 2015 may ra TPP mới có thể hoàn tất. Như vậy chúng ta có thêm cơ hội và thời gian để áp lực chính quyền Việt Nam chấp nhận dân chủ hoá và thực thi những điều đã hứa. Nếu các điều kiện về nhân quyền không được thoả đáng, chúng ta có cơ hội đẩy Việt Nam ra khỏi TPP.

Thế kẹt của chế độ
Chế độ ở trong nước ngày càng bị dồn vào chân tường vì 3 yếu tố:

(1)    Nền kinh tế bấp bênh và ngày càng tiến sát bờ vực thẳm. Để cứu vãn, chính quyền Việt Nam đang cầu cạnh phát triển mậu dịch với thế giới tự do, nhất là Hoa Kỳ. Bởi vậy, TPP là một phương tiện lợi hại của chúng ta để đặt điều kiện nhân quyền với chế độ. Hoặc họ phải nhượng bộ, hoặc chấp nhận rớt xuống vực thẳm.
(2)    Mối đe doạ an ninh từ Bắc Kinh sẽ tiếp tục gia tăng. Trung Cộng, do cảm thấy đang bị phong toả tứ bề bởi thế giới tự do và đồng minh của Hoa Kỳ, bắt buộc phải mở đường “lưỡi bò” lấn vào Biển Đông để thoát vòng vây. Hậu quả là chế độ ở Việt Nam đang đứng trước tình huống khó xử: Tiến gần Trung Cộng thì sẽ gặp sự chống đối mạnh từ dân chúng và quân đội; lùi xa khỏi Trung Cộng thì sẽ mất điểm tựa. Trung Cộng càng lấn Biển Đông thì chế độ ở Việt Nam càng khó thoát thế lưỡng nan.
(3)    Sự thanh trừng nội bộ ngày càng khốc liệt. Càng tiến gần Đại Hội Đảng năm 2016, sự đấu đá nội bộ sẽ càng trầm trọng vừa để tranh giành quyền lực, vừa để đổ lỗi về những thất bại kinh tế và hiểm nguy an ninh. Trong sự đấu đá ấy, sẽ có phe thân Tàu và các phe còn lại sẽ phải tìm một thế lực khác làm điểm tựa; và các phe này sẽ không còn chọn lựa nào khác hơn là tựa vào thế giới tự do dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ.
Nói tóm lại, chế độ ở Việt Nam ngày càng rơi vào thế kẹt và càng ít chọn lựa trong khi chúng ta, công dân của thế giới tự do, càng thêm cơ hội để áp lực về nhân quyền.
Các điều kiện nhân quyền
Chúng tôi không chủ trương loại hẳn Việt Nam ra khỏi TPP mà chỉ ngăn chặn việc tham gia cho đến chừng nào Việt Nam đã chứng tỏ một cách thoả đáng sự cải thiện nhân quyền ở mức căn bản và không thể thoái lui. Các chỉ dấu cho sự cải thiện nhân quyền gồm có:
-          Trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm
-          Xoá bỏ các điều luật và văn bản dưới luật mang tính cách vi phạm nhân quyền, như Nghị Định 92 về kiểm soát sinh hoạt tôn giáo; Nghị Định 72 về sử dụng Internet; các Điều 88, 258, 79 Bộ Luật Hình Sự...
-          Ban hành và thực thi luật bảo vệ nhân quyền gồm có:
o   Luật nghiêm trị mọi hành vi tra tấn và bạo hành bởi công lực
o   Luật Tôn Giáo nhằm định chế hoá sự tôn trọng tự do tôn giáo như một nhân quyền căn bản, không tuỳ thuộc vào sự cho phép của chính quyền
o   Luật Hội Đoàn nhằm tôn trọng quyền tự do thành lập hội, kể cả các nghiệp đoàn, độc lập với hệ thống chính quyền và đảng
Mở rộng mậu dịch với thế giới tự do là điều tốt cho dân, cho nước với điều kiện người dân thực sự có tự do và thực sự nắm quyền làm chủ đất nước. Các điều kiện trên, nếu thoả đáng, sẽ là mở bước ngoặt lịch sử cho tiến trình dân chủ hoá đất nước.
Ngày 18 tháng 6
Chúng tôi chọn ngày 18 tháng 6 vì nhiều lý do.
(1)    Tháng 6 là thời điểm tốt nhất để kiểm chứng mức độ mà chính quyền Việt Nam thoả đáng các điều kiện nhân quyền: Ngay trước đó, vào tháng 5, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ sẽ báo cáo về tình trạng nhân quyền ở Việt Nam và đối thoại nhân quyền với Việt Nam ở Hà Nội. Ngay sau đó, vào tháng 7, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ sẽ báo cáo về tình trạng tự do tôn giáo ở Việt Nam và quyết định có đưa Việt Nam vào danh sách CPC hay không. Cuộc đàm phán TPP cũng sẽ đạt cao điểm vào tháng 7. Tháng 6 chính là thời điểm quyết định để, nếu cần thiết, đưa Việt Nam vào CPC và ra khỏi TPP.

(2)    Đầu hè cũng là thời gian nhiều dự luật quan trọng bắt đầu được biểu quyết ở những cấp khác nhau trong Quốc Hội. Chúng ta có thể nương vào đó để vận động Hoa Kỳ có thái độ mạnh mẽ hơn nữa, nhằm đẩy lùi chính sách bá quyền của Trung Quốc ở Biển Đông, như chúng ta đã thực hiện thành công vào tháng 7 năm nay.

(3)    Quan trọng không kém, chúng tôi chọn ngày Thứ Năm 18 tháng 6 để thuận tiện cho những quý vị nào sẽ đi dự chương trình Vinh Danh và Tri Ân Quân Cán Chính VNCH vào ngày hôm sau, Thứ Sáu 19 tháng 6.

Ngày 18 tháng 6 sang năm là cơ hội cho chúng ta dùng thế công dân Hoa Kỳ và công dân của thế giới tự do để đẩy con thuyền đất nước sang một hướng khác, hướng dân chủ hoá và thoát hoạ Bắc thuộc.
Để ghi danh tham gia, xin vào đây: http://www.cfdvn.org/?page_id=84
Lưu ý: Chúng tôi đã thiết lập trang ghi danh ở trên để thuận tiện cho mọi đồng hương, kể cả người dùng hay không dùng Anh ngữ. Tất cả những ai đã ghi danh trước đây không cần ghi danh lại.


DB Hoa Kỳ đòi tự do cho MS Dương Kim Khải

Mạch Sống, ngày 12 tháng 12, 2014 

http://machsong.org

Dân Biểu Ted Poe (Cộng Hoà, TX) vừa lên tiếng kêu gọi đồng viện ở Hạ Viện Hoa Kỳ ủng hộ cho việc đưa Việt Nam vào lại danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt (CPC) vì lý do đàn áp tôn giáo một cách trầm trọng. 

Phát biểu trước Hạ Viện ngày 8 tháng 12, DB Poe yêu cầu Việt Nam trả tự do tức khắc và vô điều kiện cho Mục Sư Dương Kim Khải, tù nhân lương tâm mà DB Poe đã nhận “đỡ đầu”: 

“Cuộc xử án MS Dương Kim Khải là trò nguỵ tạo và việc bỏ tù ông ta là không thể chấp nhận. Tự do thờ phượng là một nhân quyền, và chính quyền Việt Nam phải trả tự do cho ông ta ngay. Hơn nữa, tôi kêu gọi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cuối cùng hãy công nhận Việt Nam là quốc gia cần quan tâm đặc biệt.” 

Đọc nguyên văn lời phát biểu: https://democraticvoicevn.files.wordpress.com/2013/11/12-9-14-ted-poe-statement-re-pastor-duong-kim-khai.pdf

MS Dương Kim Khải là một trong số 13 tù nhân lương tâm được dân biểu Hoa Kỳ nhận “đỡ đầu” trong chiến dịch do BPSOS khởi xướng vào tháng 7 năm ngoái. Các phái đoàn đến từ khắp Hoa Kỳ để tham gia Ngày Vận Động Cho Việt Nam vào tháng 3 năm nay đã chia nhau kêu gọi dân biểu của mình “đỡ đầu” tù nhân lương tâm. Phái đoàn Houston đã vận động thành công DB Ted Poe đỡ đầu MS Dương Kim Khải, nữ DB Sheila Jackson-Lee đỡ đầu blogger Tạ Phong Tần và DB Michael McCaul đỡ đầu nhạc sĩ Việt Khang. 


Trong số 13 tù nhân lương tâm được đỡ đầu, 3 người đã được trả tự do trước thời hạn: TS Cù Huy Hà Vũ (David Price), Đỗ Thị Minh Hạnh (Chris Van Hollen), Nguyễn Tiến Trung (Alan Lowenthal). 

Theo Ts. Nguyễn Đình Thắng, Giám Đốc BPSOS, điều này cho thấy hiệu quả của việc vận động, nhưng còn cần đồng hương tham gia đông đảo hơn nữa: 
“Mỗi chúng ta góp tiếng nói với chính dân biểu và thượng nghị sĩ của mình, tổng hợp lại thì ảnh hưởng sẽ rất lớn lao.” 

Ông kêu gọi đồng hương ghi danh tham gia ngày tổng vận động Quốc Hội 18 tháng 6 sang năm. “Trọng tâm của cuộc vận động lần này sẽ là tự do tôn giáo và mục tiêu sẽ là đưa Việt Nam vào danh sách CPC,” Ts. Thắng giải thích. “Sự lên tiếng của DB Ted Poe do đó rất phù hợp và đúng lúc.” 

Nếu bị chỉ định là CPC thì triển vọng để Việt Nam tham gia Hiệp Ước Mậu Dịch Xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ giảm hẳn đi vì theo luật Hoa Kỳ, một trong những biện pháp chế tài đối với các quốc gia trong danh sách CPC là không được phát triển mậu dịch với Hoa Kỳ. 

“Chính quyền Việt Nam đang tự đưa mình vào danh sách CPC khi leo thang vi phạm tự do tôn giáo như đang xảy đến với Hội Thánh Tin Lành Mennonite ở Bình Dương”, Ts. Thắng nhận định. 

Để chuẩn bị cho cuộc tổng vận động quy mô sắp đến, một số nhân sự trong ban tổ chức đã bắt đầu tiếp xúc với các văn phòng dân biểu và thượng nghị sĩ để cập nhật thông tin và sắp xếp chương trình nghị sự cho ngày 18 tháng 6. 

“Vì tầm vóc quy mô hơn mọi khi, chúng tôi kêu gọi đồng hương ghi danh sớm”, Ts. Thắng nói.



Việt Nam Cộng Hoà trong mắt tôi
Ts. Nguyễn Đình Thắng
Ngày 11 tháng 12, 2014

Trong cách tôi nhìn, 21 năm từ 1954 đến 1975 là khoảng thời gian phần nửa nước ở miền Nam cầm cự để mua thời gian cho dân tộc tìm lối thoát -- phải thoát khi mà giặc Tàu đã chiếm nửa miền Bắc và quyết tâm nuốt trọn nước ta. 
Trong cách nhìn đó thì Việt Nam Cộng Hoà thể hiện truyền thống bảo vệ tổ quốc đã trải dài hơn 2 nghìn năm trước hoạ bắc thuộc; và những người lính Việt Nam Cộng Hoà đã nối tiếp tinh thần của hai Bà Trưng, của Bà Triệu, của Trần Hưng Đạo, của Lê Lợi, của Quang Trung…

Kháng chiến chống xâm lăng
Thuở nhỏ ở miền Nam tôi nghe người lớn tranh luận về ý nghĩa của cuộc chiến. Có người gọi đó là cuộc nội chiến tương tàn của anh em một nhà, nồi da xáo thịt. Có người xem đó là chiến tranh ý thức hệ giữa những người theo lý tưởng quốc gia ở trong Nam và những người ôm chủ thuyết cộng sản ở ngoài Bắc. Lại có người cho rằng đó là chiến tranh uỷ nhiệm do các quốc gia đại cường bày ra để tranh giành ảnh hưởng. Chế độ ở miền Bắc thì gọi đó là cuộc chiến đánh đuổi đế quốc Mỹ để giải phóng miền Nam. Tôi nghĩ rằng tất cả những quan điểm này đều phiến diện hoặc nguỵ tạo.

Thực chất đó là cuộc chiến của giặc Tàu xâm lăng nước ta và của ta chống lại giặc Tàu để gìn giữ quê hương. Miền Nam là thành trì kháng chiến cuối cùng của dân tộc Việt.

Sau đệ nhị thế chiến, Nga và Tàu đã dùng chủ thuyết quốc tế vô sản để thực hiện và biện minh cho chính sách bá quyền. Nga xâm chiếm 19 quốc gia Châu Á, Đông Âu và Bắc Âu. Tàu thì sáp nhập Tây Tạng và xâm chiếm lãnh thổ của 19 quốc gia khác, chưa kể dự tính chiếm cả bán đảo Triều Tiên nhưng thất bại. Họ quỷ quyệt dùng tập đoàn cộng sản đàn em ở bản địa để xâm chiếm lãnh thổ và khống chế các dân tộc bị trị. Bản chất đế quốc của họ càng lộ rõ khi gần đây Nga sáp nhập bán đảo Crimea và xâm chiếm Đông Ukraine, và Tàu vẽ đường lưỡi bò để lấn chiếm gần hết Biển Đông.

Luận điệu giải phóng miền Nam là luận điệu hoàn toàn nguỵ tạo. Miền Nam là vùng đất tự do. Hoa Kỳ không hề có ý định xâm lăng để phải giải phóng. Sau Đệ Nhị Thế Chiến, dù nắm cơ hội trong tay Hoa Kỳ không hề vi phạm chủ quyền lãnh thổ và nền độc lập của các quốc gia chiến bại là Đức, Ý, và Nhật. Ngược lại, Hoa Kỳ giúp tái thiết và phát triển các quốc gia này để trở thành các cường quốc dân chủ. Năm 1946 Hoa Kỳ tự nguyện trả độc lập cho Phi Luật Tân.

Hoa Kỳ đồng minh với Việt Nam Cộng Hoà vì muốn chặn không để làn sóng đỏ lan xuống toàn vùng Đông Nam Á. Khi các quốc gia Đông Nam Á đủ vững, nhu cầu ngăn chặn không còn nữa; Hoa Kỳ rút lui. Việt Nam Cộng Hoà tiếp tục chiến đấu đến giây phút cuối cùng, để bảo vệ tổ quốc.

“Chống Mỹ cứu nước” là luận điệu nguỵ tạo nhằm che đậy cho cuộc chiến xâm lăng Việt Nam. Mỹ từ “thống nhất đất nước” thực chất mang ý nghĩa toàn bộ đất nước bị thôn tính bởi giặc Tàu.

Tân Bách Việt
Cuộc kháng chiến cầm cự 21 năm là tuyệt đối cần thiết. Thời gian 21 năm ấy hun đúc cho một đại khối người dân miền Nam tinh thần quật cường, tình tự dân tộc, và lòng yêu chuộng tự do, dân chủ. Khi những người lính cuối cùng buông súng thì ngõ thoát cho dân tộc vừa kịp mở ra: triệu cánh chim Lạc tung đi khắp bốn phương trời.

Thuở xưa, khi giặc tràn xuống, đánh tan và đồng hoá Bách Việt, một bộ tộc trong trăm bộ tộc Việt đã vượt núi xuống phương Nam để sinh tồn và xây dựng nên giải gấm vóc lấy tên là Việt Nam -- Việt nghĩa là vượt, vượt xuống phương Nam.

Bốn mươi năm trước, khi giặc chiếm toàn cõi đất nước Việt Nam, triệu người Việt vượt đại dương để tìm tự do cho bản thân, và gìn giữ giòng sinh mệnh và niềm hy vọng cho cả dân tộc. Trong chớp mắt của lịch sử, giòng giống Việt đã vượt xa khỏi mảnh đất cong hình chữ S và lan ra khắp địa cầu, bám rễ và nẩy chồi ở các quốc gia văn minh nhất, tự do và phú cường nhất hành tinh.

Đất lành chim đậu. Hơn bốn triệu con dân Việt nay đã là công dân của thế giới tự do, với sức mạnh và thế đứng ngày càng vững chãi. Đó là căn bản để từ mỗi quốc gia tự do chúng ta xây dựng lại thế và sức mạnh liên đới của trăm tộc Việt như thuở nào. Một tân Bách Việt ngày nay, trải rộng khắp năm châu, sẽ mạnh gấp nghìn lần Bách Việt thời cổ đại. Đó sẽ là hậu cứ vững chắc để yểm trợ đại khối dân tộc trong nước khôi phục giang sơn, phát triển đất nước và vĩnh viễn đẩy lùi hoạ bắc xâm.

Trả lại sự thật cho lịch sử
Trong cách nhìn từ bối cảnh giòng sử Việt gần 5 nghìn năm, 21 năm Việt Nam Cộng Hoà là cuộc kháng chiến mở đường máu cho cuộc di dân vượt thoát vĩ đại của dân tộc Việt trước hiểm hoạ diệt vong, vĩ đại đến nỗi tổ tiên của chúng ta dù có mơ chắc cũng không thể nghĩ đến.

Đó là lý do, từ lâu rồi, tôi luôn tri ân những người lính và tất cả những người đã góp mồ hôi, xương máu của mình cho Việt Nam Cộng Hoà. Trong sự thiếu thốn và cô đơn, họ sẵn sàng hy sinh thân mạng, sẵn sàng chấp nhận khổ nhục, miễn sao cho dân tộc được trường tồn và giòng sử Việt mãi luân lưu.
Đã đến lúc tất cả chúng ta phải cùng nhau vinh danh và tri ân những người con ưu tú nhất, xứng đáng nhất và hào hùng nhất của Mẹ Việt Nam. Những anh hùng áo vải của dân tộc Việt.


TNS Janet Nguyễn họp báo vận động sĩ quan TPB VNCH sang Mỹ
Sunday, December 14, 2014 6:51:27 PM 



Linh Nguyễn/
WESTMINSTER, California (NV) – Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang Janet Nguyễn cùng cựu Nghị Viên Garden Grove Andrew Đỗ họp báo lúc 1 giờ 30 chiều Chủ Nhật, 14 Tháng Mười Hai, tại hội trường nhật báo Việt Báo, Westminster, để trình bày dự án bảo trợ các sĩ quan thương phế binh QLVNCH sớm được định cư tại Hoa Kỳ, và để lắng nghe ý kiến của cộng đồng.
alt
Luật Sư Andrew Đỗ (trái) lắng nghe ông Hoàng Nguyễn ngồi trên xe lăn tại buổi họp báo. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)
“Là con, cháu, tiếp nối thế hệ cha ông, những người trẻ chúng tôi luôn biết ơn các chiến sĩ QLVNCH, những anh hùng đã hy sinh một phần thân thể của chính mình, cho sự an toàn và tự do của chúng ta hôm nay. Chúng tôi muốn đem lại những kết quả tốt cho cộng đồng và đây là dự án chúng tôi muốn làm, khi lần đầu tiên chúng ta có một thượng nghị sĩ gốc Việt,” ông Andrew Đỗ, cựu Nghị Viên Garden Grove, nói, trước khi giới thiệu ThượngNghị Sĩ Janet Nguyễn, giữa tiếng vỗ tay chào mừng vị dân cử cao cấp nhất của cộng đồng người Việt tại California.

“Đây là lần đầu tôi xuất hiện trước mặt quý đồng hương trong vai trò một thượng nghị sĩ tiểu bang. Kết quả có được là nhờ chúng ta đoàn kết và bảo vệ để cộng đồng chúng ta có được một người đại diện,” vị thượng nghị sĩ Địa Hạt 34 tươi cười nói.
alt
Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn (trái) bắt tay đồng hương. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)
“Chúng ta làm việc này vào lúc này vì trong vài tuần tới Quốc Hội Hoa Kỳ sẽ bắt đầu nhóm họp lại. Tuần tới chúng tôi sẽ ra nghị quyết đầu tiên để xin Thượng Viện California ủng hộ dự án bảo trợ các thương phế binh QLVNCH và sau đó yêu cầu Quốc Hội Hoa Kỳ xem lại chương trình H.O, để trước hết, xin bảo trợ 500 sĩ quan có tên trong danh sách vận động với Dân Biểu Ed Royce, chủ tịch Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện Hoa Kỳ,” bà nói giữa tiếng vỗ tay của mọi người.

Luật Sư Andrew Đỗ sau đó giải thích: “Để việc vận động ban đầu có cơ hội thành công cao, chúng tôi dùng danh sách 500 sĩ quan, do sự hợp tác của nhạc sĩ Trúc Hồ, tổng giám đốc đài truyền hình SBTN, và Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh và Cô Nhi Quả Phụ VNCH cung cấp.”

Cựu Đại Tá Lê Khắc Lý, cố vấn Cộng Đồng Việt Nam Nam California, yêu cầu ban tổ chức minh định chương trình vận động có phải chỉ dành cho sĩ quan hay không.

Luật Sư Andrew Đỗ giải thích: “Dù ý định của chúng ta là vận động cho tất cả thương phế binh VNCH, nhưng chúng ta không nên nói ra trong lúc khởi đầu này, để các vị dân cử không cảm thấy sự vận động gây áp lực tài chánh quá lớn. Nếu chúng ta bao gồm tất cả các thương phế binh ở Việt Nam, số người đông quá, có thể chúng ta bị từ chối ngay. Chính vì thế, chúng tôi dựa vào chương trình định cư H.O được áp dụng từ trước, xin mở rộng cho một số trường hợp liên quan. Sau đó, được thể sẽ làm với số thương phế binh còn lại không kể cấp bậc hay có ở tù Cộng Sản hay không.”

alt
Ông Tống Văn Thái (phải) cung cấp tài liệu của các bạn đồng ngũ. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)
Cựu Đại Tá Lê Bá Khiếu phát biểu đồng ý với phương cách làm việc do Luật Sư Andrew Đỗ trình bày.

“Dự luật do Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn đệ trình để vận động, bên cạnh lá thư do bà và tôi gởi Dân Biểu Ed Royce vận động Quốc Hội, kèm danh sách 500 sĩ quan VNCH, sẽ được các dân biểu đưa ra bàn thảo, mời các cộng đồng người Việt khắp nơi ra điều trần. Thủ tục sẽ kéo dài có khi cả 10 năm trước khi được ban hành. Chúng ta giới thiệu trước rồi sẽ tiến xa hơn,” Luật Sư Andrew Đỗ giải thích thêm về thủ tục.

Ông cho biết: “Chương trình H O dựa vào các cựu quân nhân từng ở trong ngục tù Cộng Sản ít nhất ba năm mới đủ điều kiện để xin định cư. Những quân nhân bị tàn phế, nếu không đủ thời gian ở tù, lại không được cứu xét là H O. Chúng ta sẽ xin mở rộng cho những trường hợp này.”

Trong phần giải đáp thắc mắc, ông Tống Văn Thái, một cựu quân nhân QLVNCH, kể lại những khó khăn khi tìm giấy tờ chứng minh hợp lệ cho thương trình HO của một số chiến hữu của ông trong Sở Khai Thác Địa Hình Tổng Thống Phủ “MAG SOG.”
“Một đồng đội của tôi sau năm 75 phải đi ăn mày ở Thừa Thiên, về đến Đồng Nai, lập gia đình với một phụ nữ cũng ăn mày. Không đủ điều kiện để chứng minh vì hai người ăn mày không có hôn thú,” ông Thái kể.

alt
Lá thư và danh sách 500 sĩ quan gởi Dân Biểu Ed Royce, để vận động cho thương phế binh. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)
Một phụ nữ đem hồ sơ của người em trai là một thương phế binh cụt hai tay đưa cho ban tổ chức và xin giúp đỡ.

Ông Hoàng Nguyễn, 61 tuổi, một cựu quân nhân Tiểu Đoàn 9 Thủy Quân Lục Chiến, mất cả hai chân, ngồi trên chiếc xe lăn ngay lối vào hội trường, tâm sự: “Tôi qua Mỹ năm 90, qua đây sống một mình với một đứa cháu. Nó đang bệnh nặng không biết sống chết thế nào. Giúp anh em thương binh là điều phải làm.”

“Chúng tôi vẫn thường quyên góp riêng để giúp đỡ bạn bè. Chúng ta nên tìm hiểu tổ quốc cần gì và chúng ta cần phải đồng hành với những nhà tranh đấu trong nước,” ông Tiến Nguyễn, 62 tuổi, đứng bên cạnh chiếc xe lăn, chia sẻ.

Ông Nguyễn Thế Ngọc, một nhân sĩ trong cộng đồng, đề nghị theo phương cách của người Việt bên Úc, vận động với quân đội Úc để giúp các thương phế binh Việt Nam.
Ông Nguyễn Quang Tùng, 73 tuổi, cư dân Westminster, đề nghị nên liên lạc với các thương phế binh ở Việt Nam xem ai muốn đi thì bỏ vào danh sách xin đi, nhưng theo “sự thăm dò riêng thì các thương phế binh chỉ muốn thực tế nhất là được giúp tiền.”

Cựu Đại Tá Lê Khắc Lý đề nghị “văn phòng phát mẫu đơn và ra thông báo cho những ai có thân nhân là thương phế binh điền đơn vì như thế chúng ta sẽ có danh sách chính thức.”
“Hiện nay chúng tôi chưa có văn phòng. Xin cho chúng tôi một, hai tháng để tìm địa điểm, và sẽ thông báo chi tiết sau,” Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn nói.

Cuộc họp báo bị gián đoạn nhiều lần bởi những tràng pháo tay mỗi khi có người bày tỏ lòng biết ơn với các chiến sĩ QLVNCH thân thể không vẹn toàn, hay đã anh dũng hy sinh mà mọi người hiện diện mong có dịp đền đáp.

--
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "Tu Hai".
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến tu-hai+unsubscribe@googlegroups.com.
Để có thêm tùy chọn, hãy truy cập https://groups.google.com/d/optout.



Tuesday, December 16, 2014

Tập hồi ký của Giáo sư Vũ Quốc Thúc


TẠP CHÍ VIỆT NAM

GS Vũ Quốc Thúc: " Phải chọn con đường vì dân tộc"

  •  
  •  
  •  
  • Share

Tập hồi ký của Giáo sư Vũ Quốc Thúc có tựa đề “Thời đại của tôi” ( gồm 2 cuốn “ Nhìn lại 100 năm lịch sử “ ( xuất bản năm 2009 ) và “Đời tôi trải qua các thời biến” ( xuất bản năm 2010) đã được sang tiếng Anh và vừa được xuất bản tại Hoa Kỳ.


Đây là một sự kiện đáng chú ý bởi vì Giáo sư Vũ Quốc Thúc không những có nhiều đóng góp trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam trước năm 1975, mà còn từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa từ thời tổng thống Ngô Đình Diệm : Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục, Thống đốc Ngân hàng Quốc gia, Quốc vụ khanh đặc trách Tái thiết và Phát triển...

Đặc biệt, GS còn là đồng tác giả hai bản phúc trình Stanley-Vũ Quốc Thúc ( 1961 ) và Phúc trình Lilienthal-Vũ Quốc Thúc ( 1968 ) về tái thiết thời hậu chiến. Ấy là chưa kể rất nhiều sách và bài khảo luận về các vấn đề chính trị, kinh tế bằng tiếng Việt và tiếng Pháp.

Sinh năm 1920, tức là năm nay đã 94 tuổi, có thể nói GS Vũ Quốc Thúc là một trong số hiếm hoi các nhân chứng trực tiếp của thời cuộc Việt Nam suốt gần 100 năm qua, từ thời chế độ Pháp thuộc năm 1900 cho đến thời chế độ Cộng sản, cụ thể là đến năm 2000. Toàn bộ 100 năm lịch sử đó đã được Giáo sư tóm gọn trong cuốn đầu của tập hồi ký, qua cái nhìn của người trong cuộc.

Khác với cuốn đầu, gần như thuần túy mang tính biên khảo, cuốn thứ hai mới thật sự là hồi ký Vũ Quốc Thúc, vì trong đó ông trình bày rất nhiều chi tiết về cá nhân, về gia đình, dòng tộc và sự nghiệp chính trị của ông. Nhưng Giáo sư Vũ Quốc Thúc cũng không quên đưa vào hồi ký những suy tư, nhưng trăn trở của ông về thời cuộc Việt Nam trước đây và hiện nay.

Giáo sư Vũ Quốc Thúc 12/12/2014 nghe

Ngày 08/12/2014 vừa qua, chúng tôi đã được Giáo sư Nguyễn Thái Sơn dẫn đến nhà riêng của Giáo sư Vũ Quốc Thúc ở Nanterre, nằm không xa khu La Défense, ngoại ô Paris, để phỏng vấn ông nhân dịp cuốn hồi ký được xuất bản bằng tiếng Anh tại Hoa Kỳ. Tuy năm nay đã 94 tuổi, nhưng bầu nhiệt huyết tuổi thanh xuân, lòng yêu nước thương nòi, nỗi lo cho tiền đồ dân tộc hầu như vẫn nguyên vẹn trong con người Giáo sư Vũ Quốc Thúc. Càng nói giọng của ông càng hùng hồn, lập luận càng khúc chiết, rành mạch, tưởng như Giáo sư vẫn còn đứng trên bục giảng đường đại học năm xưa.

Trích đoạn phỏng vấn :

GS Vũ Quốc Thúc: Thực ra, khi tôi viết cuốn hồi ký kể về nhiều câu chuyện liên quan đến bản thân và gia đình mình, tôi không hề nghĩ đến khả năng cuốn hồi ký đó được phổ biến cho nhiều người ngoài gia đình đọc.

Mục đích của cuốn hồi ký này là để cho cháu chắt tôi hiểu được tại sao ông cụ của mình đã phải rời bỏ quê hương sang định cư bên Pháp, khiến cho chúng mình bây giờ trở thành công dân Pháp, xem Pháp là quê hương chính, còn Việt Nam là quê hương thứ hai, mặc dù chúng ta không bao giờ quên cái quê hương thứ hai đó. Tôi muốn cho cháu chắt tôi biết trong hoàn cảnh nào tôi đã phải bỏ nước ra đi, để thấy tâm tư của một bậc tiền bối, đâu phải là ra đi chỉ mưu cầu những an ninh, lạc thú ở ngoại quốc, mà trái lại luôn luôn hướng về quê cha đất tổ.

Thành ra hồi ký tôi chỉ viết bằng tiếng Việt, xuất bản từ Mỹ vào năm 2010, tức là cách đây đã 4 năm rồi. Nếu tôi có ý đồ vận động dư luận các nước Tây Phương, nhất là ở Âu Châu hay là Mỹ, thì tôi đã viết bằng tiếng Pháp rồi, vì tôi đã được đào tạo ở Pháp trong bao nhiêu năm rồi, viết bằng tiếng Pháp dễ hơn ! Chứ còn biểu tôi viết bằng tiếng Anh thì, thú thật, trình độ Anh ngữ của tôi còn kém lắm ! Vì vậy nên có chuyện dịch ra tiếng Anh này.

Khi được đề nghị cho dịch cuốn hồi ký sang tiếng Anh thì tôi thấy không có gì trở ngại cả, bởi vì trong cuốn hồi ký của tôi, những sự việc xảy ra như thế nào thì tôi viết y như thế, không thêm, không bớt. Tôi tự xem mình như là một nhân chứng được mời ra trước tòa án lịch sử, tòa án dư luận trong nhiều thế hệ. Khi ra trước một tòa án như thế, nhân chứng phải tuyên thệ: " Tôi xin thề nói sự thực, tất cả sự thực và chỉ có sự thật". Tôi đã áp dụng đúng phưong châm dó trong cuốn hồi ký, không thêm mắm thêm muối cốt để tự mình khoa trương mình.

Trong hai cuốn hồi ký được dịch ra thì tôi chú trọng đến quyển hai, vì trong đó tôi kể nhiều chuyện riêng tư, chứ còn trong quyển một, tôi chỉ kể lại lịch sử, như là một thầy giáo giảng bài cho học sinh: Đây là những gì tôi đã được biết, đã được phổ biến, mà tôi còn nhớ để thuật lại, những điều mà tôi tin đó là sự thực.

RFI : Giáo sư có hy vọng là cuốn hồi ký này, khi được dịch sang tiếng Anh và xuất bản tại Hoa Kỳ, sẽ có tác động phần nào đến dư luận Mỹ, để họ hiểu rõ hơn về hoàn cảnh của Việt Nam trước đây và hiện nay?

GS Vũ Quốc Thúc : Tôi không dám ngông cuồng đến độ tin rằng cuốn sách của tôi sẽ làm sáng tỏ hơn nhiều chuyện hãy còn mờ ám trong lịch sử, nhất là trong quan hệ Việt - Mỹ. Nhưng tôi thấy rằng ở Hoa Kỳ, trước khi ra một biện pháp gì đó, hay thay đổi một chính sách nào đó, người ta thường thăm dò dư luận. 

Tôi coi việc phổ biến hồi ký của tôi phần nào như là một cách để họ thăm dò dư luận, không chỉ trong người Mỹ gốc Việt, mà cả những người Mỹ khác và dư luận thế giới.

Tại sao ? Là tại vì trong cuốn hồi ký của tôi, ngoài những chuyện mà tôi kể lại, mà có thể một số người nay mới biết về chi tiết, tôi còn có những suy tư về những chuyện trọng đại, như chính sách chống cộng, chiến tranh lạnh, việc Hoa Kỳ can thiệp...

Tôi hy vọng khi hồi ký được dịch sang Anh ngữ thì sẽ có nhiều người biết hơn, chứ còn nếu chỉ là bản tiếng Việt thì chỉ có một số nhỏ người Việt tha thiết với các vấn đề của dân tộc mới đọc thôi. Tôi cũng hy vọng là khi sách được dịch sang Anh ngữ, được phổ biến trong giới sành Anh ngữ, thì chính đồng bào Việt Nam ở quốc nội sẽ quan tâm hơn đến. Tầng lớp trẻ, nhất là những người du học ở nước ngoài, có khi đọc tiếng Anh còn dễ hơn đọc tiếng Việt và khi họ đọc được bản tiếng Anh, có thể họ sẽ trở lại tìm đọc nguyên bản tiếng Việt

Còn cuốn sách của tôi sẽ có tác động gì đến chính sách của Hoa Kỳ hay không, thì quả thật tôi không dám tin như thế, vì Hoa Kỳ có chính sách của họ, họ cứ làm. Ở đây họ chỉ thăm dò dư luận. Có thể họ sẽ dùng cuốn sách của tôi để biện minh cho một số biện pháp mà họ sẽ thi hành. Đó là hy vọng của tôi thôi.

RFI : Quan hệ Mỹ-Việt là vấn đề nhiều người quan tâm hiện nay, nhất là vì giới lãnh đạo Hà Nội hiện nay có vẻ muốn dựa nhiều hơn vào Hoa Kỳ và Hoa Kỳ thì muốn tăng cường quan hệ với Việt Nam, cụ thể gần đây họ đã bãi bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam. Trong hồi ký, Giáo sư đã nói nhiều đến thái độ của Mỹ trong thời gian chiến tranh Việt Nam, nhất là sau khi đã ký hiệp định Paris để có thể rút quân. Khi miền Bắc tấn công miền Nam, tức là vi phạm hiệp định Paris, Hoa Kỳ đã không có phản ứng gì, khiến miền Nam lọt vào tay Cộng sản. Nhìn lại giai đoạn lịch sử ấy, Giáo sư có nhận định như thế nào?

Giáo sư Vũ Quốc Thúc : Hoa Kỳ, cũng như tất cả các cường quốc khác, phải chú tâm trước hết đến uy tín quốc tế của họ, rồi đến những quyền lợi thực tế của họ. Thành ra, khi Hoa Kỳ can thiệp vào bất cứ nơi nào trên thế giới, mục đính trước tiên của họ là bảo vệ uy tín của đệ nhất siêu cường thế giới hiện nay, rồi nghĩ đến những quyền lợi thực tiễn, như là về dầu hỏa, về xuất cảng...
Chứ còn bảo rằng Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam để tranh đấu cho Việt Nam thì đời nào ! Cái đó về sau thì có thật đấy, tức là khi mà người ta gởi quân lính sang, trợ giúp khí giới, thì tất nhiên là người ta cũng muốn cho mình đạt được một kết quả nào đó. Chứ chính mình thì đời nào chúng ta chấp nhận cho ngoại quốc xen lấn vào, để rồi mình phải thi hành đường lối của ngoại quốc !

Chính quyền nào ở nước ta cũng vậy, Không một chính quyền nào, dù thiên tả hay thiên hữu, lại quên các vấn đề của dân tộc. Dù không công khai nói là bảo vệ quyền lợi dân tộc, nhưng trong thâm tâm, bất cứ chính quyền nào cũng phải nghĩ đến quyền lợi dân tộc.
Đâu phải một khi người ta nắm quyền được chính quyền là người ta quên hẳn quyền lợi dân tộc. Việt Nam mình đâu phải lúc nào cũng nhắm mắt theo các cường quốc ! 

Bao giờ mình cũng ý thức được quyền lợi trường tồn của dân tộc. Tôi tin là như thế. Đã là người Việt thì không thể nào phản bội quyền lợi dân tộc ! Dù muốn dù không, tiềm ẩn trong trái tim người ta vẫn có lòng yêu nước, vẫn nhớ lại những truyền thống oai hùng của dân tộc mình. Không ai dám phản bội Tổ quốc một cách trắng trợn.

RFI : Thưa Giáo sư, trong bối cảnh mà hiểm họa xâm lăng từ Trung Quốc ngày càng rõ nét, việc Hoa Kỳ bãi bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam là một điều tốt ?

Giáo sư Vũ Quốc Thúc : Việc mình trông cậy hoàn toàn vào ngoại bang để bảo vệ quyền lợi dân tộc là chuyện bất đắc dĩ. Trong hoàn cảnh lịch sử mà mình chưa đủ sức để tự bảo vệ, thì mình phải dựa vào một ngoại bang. Nhưng điều trước tiên là mình phải bồi dưỡng nội lực của mình đã, để có thể tự vệ được.
Khi nói bồi dưỡng lực lượng của chính mình, thì không chỉ có lực lượng quân sự mà thôi. Bây giờ ta có thể được Hoa Kỳ bán chịu một số vũ khí hiện đại, nhưng ta đâu có thể hưởng cái đó mãi ? Đến một lúc nào đó chúng ta phải trả nợ.
Mà vũ khí là để làm gì, để giết ai ? Tôi chỉ sợ là Việt Nam mình, nếu không cẩn thận, sẽ lại rơi vào tình trạng như xưa, tức là có hai phe trong nhân dân, một phe thì muốn dựa vào Trung Hoa, phe thì muốn dựa vào Hoa Kỳ. Hai phe đó tất nhiên là xung đột nhau. Hoa Kỳ sẽ dùng hai phe đó để sử dụng các vũ khí sát thương của họ. Chúng ta phải cẩn thận.

Nước ta còn nghèo, còn yếu, nếu mà chỉ nghĩ đến chuyện đánh nhau, thì chẳng qua là chúng ta xuất khẩu xương máu. Trước khi phải sử dụng đến vũ khí hiện đại thì mình phải dùng đến ngoại giao. Trong thế yếu hiện nay của Việt Nam, mình chỉ có thể len lõi giữa những xung đột của các cường quốc, vì quyền lợi của họ có khi là mâu thuẫn nhau, phải tìm cách lái cho họ đi đến chỗ phải bảo vệ chúng ta trên các diễn đàn ngoại giao.

RFI : Tránh một cuộc chiến tranh với Trung Quốc có vẻ cũng là đường lới hiện nay của các nhà lãnh đạo Hà Nội, phải làm hòa với Trung Quốc sau vụ khủng hoảng giàn khoan Hải Dương 981 . Nhưng đồng thời Việt Nam cũng đang cố tranh thủ thêm sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Trong cuốn hồi ký, Giáo sư gọi đó là chính sách đu dây giữa các cường quốc. Nhưng chính sách có nguy cơ sẽ đưa Việt Nam vào thế kẹt ?

Giáo sư Vũ Quốc Thúc : Trong vụ xung đột về giàn khoan, kết quả là Trung Quốc cũng đã rút giàn khoan đi. Cho nên tôi quan niệm thế này : phải luôn phân biệt chiến lược với chiến thuật. Về mặt chiến lược, phải nghĩ đến quyền lợi lâu dài của dân tộc, còn về mặt chiến thuật thì có khi ta phải đi đến một đồng minh này, có khi phải đi với một đồng minh khác.

Chiến lược lâu dài đối với tôi thì không có chuyện lựa chọn giữa Hoa Kỳ hay Trung Quốc, mà chỉ có con đường duy nhất là chọn lựa Việt Nam, tranh đấu cho Việt Nam. Cái gì có lợi cho Việt Nam, thì tôi làm, cái gì ngược lại với quyền lợi trường tồn của Việt Nam, thì tôi chống.

Người ta cứ luôn nói đến chính sách đu dây, nhưng bây giờ tôi nghĩ đến một hình ảnh khác, đó là cái bản lề. Nhìn bản đồ Việt Nam, tôi thấy nó chẳng khác chi bản lề, giúp cho cánh cửa, khi mở, khi đóng, khi quay về tai trái, khi quay về tay mặt. 

Cho tới nay, cái bản lề ấy chỉ đóng vai trò thụ động, thì tại sao ta không tìm cách điều khiển nó? Mình phải làm chủ cái bản lề ấy để mà ngăn chận, không cho bên nào lấn sang bên kia cả.

Nói cách khác, mình phải có một chính sách dân tộc rõ ràng. Phải có một lực lượng, hay một phần lực lượng để tự vệ đã, rồi mới có thể sử dụng cái vị trí bản lế ấy. Các lực lượng quốc tế nào định sử dụng ta như quân cờ thì lúc đó họ sẽ e dè. Lúc đó, chính là ta đã chọn lựa dân tộc.

RFI: Xin cám ơn Giáo sư Vũ Quốc Thúc.

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Sunday, December 14, 2014

Thượng Viện Canada mở lại hồ sơ Hiệp Định Paris 1973



XIN MỜI ĐỌC " MỘT TIN VUI GIỮA GIỜ TUYỆT VỌNG !!! "
 

               
Sujet:
Fw: Fwd: Thượng Viện Canada mở lại hồ sơ Hiệp Định Paris 1973
Date :
Sat, 13 Dec 2014 12:53:01 +0100 

Expéditeur: xuanmai lynh
Date: 11 décembre 2014 22:19:19 UTC+1
<Objet: Rép : Thượng Viện Canada mở lại hồ sơ Hiệp Định Paris 1973                

                 
              

THƯỢNG VIỆN CANADA MỞ HỘI NGHỊ VỀ DÙNG HÒA ƯỚC PARIS 1973 GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG

Vi Anh -- CANADA- 8.12.2014 -Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam Cộng Hoà, sắp qua năm thứ 40 ngày Việt Nam Cộng Hoà bị CS Bắc Viết đánh chiếm, Canada, một trong mười mấy nước kỳ Hoà Ước Paris 1973, Thượng Viện Canada mở hội nghị về một giải pháp dùng Hoà Ước Paris 1973 giải quyết tranh chấp Biển Đông, trả lại công bằng cho VNCH, cho dân VN được quyền tự quyết trong cuộc bầu cử tự do có Liên Hiệp Quốc giám sát, đúng tinh thần pháp chế quốc tế và tinh thần cam kết trong hoà ước.
Sư kiện lịch sử này là do cuộc vận động kiên nhẫn và và điều hợp khéo léo của Thượng Nghị sĩ Ngô thanh Hải, một người Việt tỵ nạn CS ở Canada được công cử làm Thượng Nghị sĩ của Canada. Hội nghị này được Thượng Viện Canada bảo trợ, họp ngay trong toà nhà Thượng Viện của Quốc Hội Lưỡng Viện Canada, khu Parliament Hill, Center Block, Room 160-S, suốt ngày Thứ Năm 5 tháng 12, năm 2014.

Về phía Thượng Viện Canada có TNS Ngô Thanh Hải, TNS Lang, Chủ Tich Uỷ ban Quốc Phòng và An Ninh, TNS White Chủ Tịch UB Nội Qui, Thủ Tục và Năng Quyền Quốc Hội, TNS Andeychuk, Chủ Tịch UB Ngoại vụ và Ngoại Thương, Ngài Tim Uppal, Bộ Trưởng Bộ Đa Văn hoá của chánh quyền liên bang Canada, Ngài Deepak Obhrai, Bộ Trưởng Ngoại Vụ và Nhân quyền, Ngài David W. Kilgour, Cựu Chủ Tich Viện Dân biểu và Bộ Trưởng đặc trách Á châu và Thái bình dương của chánh quyền Canada.

Phía Việt Nam Cộng hoà có phái đoàn quân dân cán chính VNCH đến từ các cộng đồng người Canada gốc Việt trong nước Canada, các miền lớn Montreal, Toronto, Ottawa trên 20 người, trong đó có chủ tich cộng động, nhân sĩ trí thức, chuyên gia sáu bảy luật sư đang hành nghề và luật gia Canada chánh tông và Canada gốc Việt, tiêu biểu như Luật sư Lâm chấn Thọ, Ls Trịnh quốc Toàn, luật gia Benoit Bénéteau, David Lamenti, Tiến sĩ Bá ngọc Đào và Ts Nguyễn thế Bình.

Phái đoàn quân dân, cán chính Việt Nam Cộng Hoà đến từ Mỹ có 8 người Giáo sư Nguyễn ngoc Bích, Ts Binh thế Nguyễn đến từ Miển Đông Mỹ, nhà báo Vi Anh, Cựu dân biểu VNCH, Nhạc sĩ Hồ văn Sinh, thường vụ của VNCF Foundation dến từ Miền Tây Mỹ.
Chương trình làm việc, sau phần nghi thức, giới thiệu bắt đầu hội nghi với phát biểu của TNS Ngô thanh Hải của Thương Viện Canada. Hình thức làm việc có tính liên họp giữa điều trần và chất vấn. Phái đoàn VNCH Người Việt hải ngoại điều trần, đề nghị quí vị nghị sĩ và viên chức chất vấn và giải thích liên quan đến viêc dùng Hoà Ước Paris để đem lại công bằng, chân lý cho VNCH bị TC đánh lấy đảo năm 1974 và CS Bắc Việt dành lấy VNCH ở Miển Nam và giải quyết những tranh chấp biển đảo đang xảy ra ở Á châu Thái bình dương. Trường hợp này đã có tiền lệ, thành viên Hoà Ước Paris 1973 đã triệu tập lại lên án CS Bắc Việt đã đánh chiếm Campuchia, bị các nước ký hiệp ươc này trừng phạt cấm vận và buộc phải rút quân về VN.

Những diễn giả chánh có Gs Nguyễn ngọc Bích, Ls Lâm chấn Thọ, Nữ Ts Bình thế Nguyễn đọc bức thư của Ô Lê trọng Quát, Cựu Bộ Trưởng VNCH, Cưu Chủ Tich Uỷ ban Nội vụ và Quốc Phòng Hạ Viện, VNCH. Trong điều trần, chất vấn và hội luận có hai vấn đề chánh bàn luận rất gay go, sâu sắc nhưng đa số quí vị thượng nghi sĩ chuyên trách về ngoại giao Canada, qui vị luật gia và luật sư gốc Việt có mặt có chung nhận định đều về những điểm cốt lõi sau. Chiếu hiến chương Liên hiệp Quốc, VNCH còn tồn tại trên phương diện pháp lý. Hiệp ước Paris 1973 vẫn còn giá trị, chưa có nước nào chánh thức rút ra. Các nước đã ký hãy còn trách nhiệm vói8 chánh quyền và nhân dân VNCH. TC và CS Bắc Việt tiền thân của chế dộ CSVN bây giờ đã vi phạm thô bạo hiễp ước Hoà Bình Paris 1973: TC đánh chiếm Hoàng sa của VNCH năm 1974, CS Bắc Việt đánh chiếm VNCH năm 1975.

Nhà báo Vi Anh, Cựu Dân biểu VNCH đúc kết, nói suốt gần hai một buổi thảo luận nhưng vị có thẫm quyền của Canada và những viên chức VNCH và đại diện cộng đồng, đoàn thế dân chính, chánh đảng và nhân sĩ, trí thức có mặt đã trình bày: rõ ràng TC, CS Bắc Việt đã vi phạm Hiệp ước và Đinh Ước Hoà Đàm 1973, dùng lực lương võ trang đánh chiếm lấy Hoàng sa của VNCH, chiếm lãnh thổ VNCH một cách thô bạo. Canada là một nước có ký trong hiệp ước. Vì tinh thần thượng tôn quốc tế công pháp, vì trách nhiệm và nghĩa vụ cam kết ngoại giao, vì công lý cho nhân dân VN, vì chủ quyền chánh đáng của quốc gia dân tộc VN, xin chủ toạ đoàn cho biểu quyết. Để có một văn kiện quan trọng, và long trọng trên phương diện luật pháp và thực tế để tạo một tiến trình. Hầu chánh quyển Canada có chứng cớ đặt vấn đề với các nước đã ký trong hiệp ước năm 1973. Và để người Việt hải ngoại chứng lý tiếp tục vận động các nước khác đã ký trong Hiệp ước.

TNS Hải chủ toạ cho ngưng thảo luận và biểu quyết đồng ý hay không đồng ý trên nguyên tắc dự thảo Nghị Quyết do Ls Thọ và một số luật gia của Canada đúc kết nguyện vọng của hội nghi đã trình bày. Cả trăm vị trong chánh quyền Canada, VNCH, và quí vị có mặt trong hội nghị đồng ý chấp thuận dự thảo trên nguyên tắc, với đa số tuyệt tuyệt đối. Chủ Toạ TNS Hải còn thận trọng cho biểu quyết ngược lại, ai không đồng ý xin giơ tay: không ai giơ tay cả. Coi như tuyệt đối đồng thuận thông qua dự thảo Nghị Quyết.

Càng thận trong hơn, TNS Hải đề nghị hội trường cử ra 5 vị nhuận sách bản văn dự thảo. Hội nghi đề cử TNS Hải, Gs Bích, Ls Thọ, DB Vi Anh, Nữ Ts Bình nhuận sắc dư thảo Nghị Quyết của hội nghị để TNS Hải với tư cách là một người Việt hải ngoại và thương nghị sĩ của Canada trình bày với Thương Viện, chuyển trình Hạ Viên và những chức trách liên quan trong chánh quyền Canada- càng sớm càng tốt.

Sau đây là dự thảo đã dược 100% hội nghị biểu quyết thông qua, bản gốc bằng tiếng Anh, xin tạm dịch ra tiếng Việt như sau: “Nên những thành phần tham dự yêu cầu và kêu gọi chánh quyền Canada, thông qua Bộ Trưởng Ngoại Giao, tham khảo với các nước đã ký Định ước của Hoà Ước Paris để tìm một giải pháp để nhân dân Việt Nam Cộng hoà ở Miền Nam VN có thể thực hiện quyền tự quyết qua bầu cử tự do dưới sự giám sát của Liên hiệp Quốc; hay một giải pháp khác mà chánh quyền các nước đã ký xem là cần thiết, để triệu tập một hội nghị quốc tế về VN trong đó có mặt của các đại diện của các nước đã ký Đinh Ước, thể theo Điều VII (b) của Định Ước, để giải quyết nhưng tranh chấp Biển Nam Trung Hoa, bằng cách mời thêm một số nước có liên quan tham dư 
hội nghị này.”

Ngày làm việc được chấm dứt bằng một cuộc viếng thăm Quốc Hội lưỡng viện của Canada, do các phu tá và công cán uỷ viên của văn phòng TNS Ngô thanh Hải hướng dẫn. Và khoảng 8 giờ tất cả tế tựu dến Việt Nam Restaurant của Ottawa dự bữa cơm thân mật do TNS Hải khoản đãi. Còn bữa ăn trưa làm việc khi hôi nghị do Thượng Viện mời. Và đêm trước phái đoàn VN từ các công đồng Việt ở Canada và Mỹ đến thì Tiến sĩ Lê duy Cấn của Cộng đồng Ottawa khoản đãi và một số văn nghệ sĩ giúp vui chào mừng VNCH và đồng bào các nơi đến lo việc nước, chuyện dân VNCH.


Vi Anh - Việt Báo .



__._,_.___

Posted by: <vneagle_


Popular Posts

Popular Posts

My Blog List