QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Sunday, March 15, 2015

Vị Nội Tướng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa




 

Kiếp sau xin chớ làm người.
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo... (..)


                                                         ĐỒNG  VĂN KHUYÊN 

         Vị Nội Tướng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa    
                                                                                 
  Giao Chỉ-San Jose
                                                                 
                                                        Trung Tướng Đồng Văn Khuyên

      Người nuôi quân
Chiến tranh Việt Nam thực sự khốc liệt nhất trong 10 năm cuối cùng từ 1965 đến 1975. 
Trong suốt thời gian khói lửa trên toàn thể miền Nam, mọi quyết định hành quân quan trọng nằm trong tay các tư lệnh quân đoàn kiêm tư lệnh Vùng theo chỉ thị trực tiếp từ tổng thống.
                   
                                             Sĩ quan thuộc các Phòng - Sở Bộ TTM/QLVNCH
                                                  Ông Khuyên đứng thứ 5 từ bên trái
Chức vụ tổng tham mưu trưởng bộ TTM và tổng trưởng quốc phòng đã bị lu mờ vì những lý do chính trị. Tuy nhiên bộ quốc phòng và bộ tổng tham mưu vẫn nỗ lực làm tròn bổn phận về quản trị hành chánh, tài chánh, huấn luyện, tiếp vận, chiến tranh chính trị và nhân lực. Không có các chức quyền khả năng điều hợp tại hậu phương, tiền tuyến không thể đứng vững.

Suốt 10 năm chinh chiến,  đã có trên 10 vị trung tướng tư lệnh quân đoàn thay nhau chỉ huy các Vùng chiến thuật. Các vị tư lệnh nổi danh một thời, tên tuổi lừng lẫy trên các chiến trường và trên những trang báo Sài Gòn. Nhưng rất ít người biết đến một vị trung tướng, trong suốt 10 năm đóng vài trò hết sức quan trọng trong công tác nuôi đạo quân một triệu lính.

Ông là người giới quân sự Mỹ tin tưởng nhất, tôn trọng nhất và Ngũ giác đài Hoa Kỳ đã có lúc gián tiếp cho rằng không ai thay thế được. Khi thảo luận về các chức vụ tại tổng tham mưu, trung tướng Trần Văn Đôn, vị bộ trưởng quốc phòng cuối cùng cũng nói rằng việc này phải giao cho ông.

Vào những ngày cuối, đại tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng ra đi đã để lại giấy ủy nhiệm chức vụ cho ông. Tướng Nguyễn Cao Kỳ, sáng 29 tháng tư, sau khi bay một vòng trên không phận Sài Gòn, đáp xuống bộ tổng tham mưu ghé vào hỏi thăm, vị trung tướng còn ngồi lại cho biết tình hình tuyệt vọng. Ông Kỳ bỏ ý định bay xuống miền Tây. Trực thăng của ông bay thẳng ra biển Đông.

Vị trung tướng cuối cùng của VNCH mà người Mỹ đợi chờ dục dã  đưa đi nhưng vẫn còn ngồi lại mà trong lòng như lửa đốt. Ông lên xe chạy qua văn phòng tùy viên Mỹ trong Tân sơn Nhất. Rồi ông lại trở về. Hai giờ chiều 29 ông đi một vòng bộ tổng tham mưu rồi lại qua bên Tân sơn nhất. Ông ở đó để được Hoa Kỳ bốc đi vào buổi tối. Người đó là trung tướng Đồng Văn Khuyên, vị Nội Tướng của QLVNCH. Người trách nhiệm nuôi một triệu lính trong 10 năm cuối của miền Nam. Bài này tôi viết cho ông.

Gia đình tiếp vận.                                                                        
Trong gia đình, để ca ngợi người vợ hiền quán xuyến, thiên hạ gọi bà là nội tướng. Khi đề cập đến vị trung tướng tổng tham mưu trưởng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, nếu gọi ông là nội tướng ắt có sự hiểu lầm, sẽ chê bai đây là chức vụ tầm thường trong bếp.

Không. Ủy Ban Pathfinder của chúng tôi gồm các sĩ quan Mỹ Việt chuyên về biên khảo và phân tích đã có 1 thời đồng ý rằng các trung tướng tư lệnh vùng trước sau cả chục ông nhưng con người chỉ huy toàn bộ guồng máy tiếp vận suốt 10 năm chinh chiến chỉ có một trung tướng duy nhất. Trung tướng Đồng văn Khuyên.

Ông Khuyên sinh năm 1925 tại Gò Công.
Đại tá Thịnh từ Was. DC mới điện thoại cho tôi nói là ông xếp 86 tuổi của chúng tôi đã nhập viện. Tinh thần không còn minh mẫn, thể chất đã quá yếu. Chẳng biết ra đi lúc nào. Thuộc cấp gần với ông Khuyên còn lại cũng chả được mấy người. Anh thì 3 chân 4 cẳng, anh thì xe lăn. Anh thì lặn kỹ khắp bốn phương trời. Nào biết chăng còn bao nhiêu hơi sức để về thắp nén hương cho người chỉ huy gốc nông dân miền Hậu Giang.

Tôi với ông sinh ra ở 2 miền đất nước. Người ta là công tử xứ Thăng Long ngàn năm văn vật, quê tôi ở chỗ Nam Định quê mùa. Các bác là anh chị từ Bạc Liêu qua Cần Thơ lên đến Saigon. Ông Khuyên là dân Gò Công tỉnh lẻ nằm ngoài lề con đường cái quan.

Mười năm đầu của trường đời trong quân ngũ, tôi còn lang thang đây đó. Mười năm sau của cuộc binh đao, tôi có duyên gặp ông, làm việc với ông, hiểu rõ cuộc đời, cá tính và hoàn cảnh của ông xếp.

Bài viết cho ông mà giãi bầy cả cuộc đời mình, xin phân trần 1 lần cho cả toàn quân dù nay đã rã ngũ.. Trong suốt 21 năm ở lính, chúng tôi trải qua nhiều giai đoạn, biết  được bao nhiêu là các cấp chỉ huy. Bắt đầu là đại tá sau lên trung tướng Dương Văn Đức. Từ lúc ông hét ra lửa ở Sóc Trăng cho đến lúc thành người điên đứng đái ở đường phố Saigon. Có thời kỳ là xếp đại tá Y, thân phụ của cô ca sĩ đấu tranh Nguyệt Ánh.

Ở miền Tây trong chiến dịch Thoại Ngọc Hầu thì gặp ông Dương Văn Minh. Đã từng rủ đại tá tư lệnh Nguyễn Hữu Có đi ciné xem phim Cầu Sông Kwai. Cùng đi chơi bời với tướng Nguyễn Văn Toàn ở ngã ba Vườn Chuối. Chuyện sai chuyện đúng, chuyện lớn chuyện nhỏ biết được khá nhiều.

Mới đây được anh Chu Xuân Viên nhắc lại khi viết báo Chính Luận cho Từ Chung tôi đã được Thế Uyên rủ rê đi họp nhóm Thái Độ tưởng dùng văn hóa mà nổi dậy làm cách mạng. Khi họp về bị an ninh quân đội bắt làm báo cáo. Tôi cóc báo cáo nhưng cũng thôi đi họp. Những bài báo trên Chính Luận chê trách các niên trưởng lại bị an ninh quân đội yêu cầu muốn tiếp tục viết báo phải làm đơn xin bộ Quốc Phòng. Chả dại gì mà xin, bèn thôi. Tất cả hồ sơ đến tay ông Khuyên đều được phê Xếp.

Những ân tình thông cảm như thế, làm sao quên được!
Khi ngành tiếp vận tổ chức kỷ niệm 10 năm thành lập, xếp Khuyên cầm tay hồ sơ dành cho riêng mình tôi lên cấp đại tá đặc cách. Tướng Vỹ bộ trưởng quốc phòng thấy chưa có bằng chỉ huy tham mưu cao cấp bèn từ chối. Ông Khuyên yêu cầu tướng Vỹ cho nợ. Đeo lon rồi đi học sau.

Mấy năm sau, ông Khuyên được trực thăng Mỹ chở ra biển Đông đêm 29 tháng 4-75. Chiều 2 tháng 5-1975, tàu quân vận của chúng tôi được Mỹ vớt lên thương thuyền. Đại tá Giao Chỉ nhà ta áo trận lon vàng còn cả tùy viên và chiến hữu đứng nghênh ngang không giống ai, bèn bị Marine Mỹ tước súng vất xuống biển. Ngó đi ngó lại thấy đủ 20 ông tướng di tản kể cả ông Kỳ, ông Trưởng và ông Khuyên. Các vị niên trưởng đã thay quần áo dân sự ngồi yên lặng mỗi người một góc, mặt dài như chiều đông. Ông Khuyên gọi tôi ngồi xuống, lấy kéo cắt chỉ gỡ cặp lon đại tá mà ông gắn cho tôi mấy năm trước tại bộ Tổng Tham Mưu.

 Ân tình của cậu bé Nam Định đối với ông nhà quê Gò Công biết đời nào tôi quên!

Người yêu nước ở miền Nam.                                                 
Thời kỳ hơp tác với Mỹ chỉ huy Ủy ban Pathfinder tôi có dịp xem bản sao hồ sơ các tướng lãnh miền Nam do Mỹ lưu trữ. Ông nào ông ấy đều có chuyện nhỏ to. Hồ sơ ông Khuyên sạch boong với những ghi chú hết sức đặc biệt.   
"Cốt cách nông dân, hết sức thanh liêm, cá nhân và gia đình không có nhu cầu. Nhà trong cư xá, không có nhà riêng, không có xe riêng. Thậm chí không có chương mục ngân hàng. Không lấy lính làm gia nhân. Lợi tức bổ túc. Nuôi gà.
Ghi chú: Trung tướng không biết lái xe, không biết khiêu vũ, không uống rượu, không hút thuốc, không có bạn gái. Không liên hệ với cộng sản như tin đồn. Không có bạn bè thân thiết ăn nhậu...                  
Khuyết điểm: Quá say mê làm việc. Hay nổi nóng bất ngờ. Đôi khi quá tình cảm bao che cho thuộc cấp. Khi thảo luận về nhu cầu quân viện hay đòi hỏi vô lý. Nhân vật chính trong vụ chuẩn bị quỹ tiết kiệm nuôi quân tự túc ngoài chương trình viện trợ. Tuy nhiên, sau cùng đây là người yêu nước miền Nam, không có tinh thần kỳ thị".       
                                                        
Bản ghi chú về ông Khuyên đề ngày 13 Nov. 1972 với chữ ký của tướng Jos M. Heiser, Jr. xếp về logistics tại Ngũ giác đài. Bàn văn này ông đại tá Sheriff cố vấn đối nhiệm của tôi tại Pattfinder II cho xem trước khi về nước.

Nhà quản trị thanh liêm.                                                           
Từ ngày ra trường, ngoài thời gian ông làm phụ tá cho tướng Thanh chỉ huy địa phương quân miền Tây, từ đó về sau tướng Khuyên chuyên về quản trị và tiếp vận. Ông là 1 sĩ quan vô địch về chuyên cần, ông say mê làm việc, có óc sáng tạo, có khả năng điều hành quân sự và hết lòng lo cho quân đội. Người thanh niên đất Gò Công với tấm lòng yêu nước bao la và tuyệt đối không màng đến quyền lợi riêng tư. Cấp bậc và chức vụ đuổi theo ông chứ ông không chạy theo chức vụ và cấp bậc. Suốt cuộc đời ngày đêm toàn chuyện quân đội, chuyện ngoài đời ông là tay khờ khạo. Không có bạn bè thân thiết trong tình đồng khóa, trong hàng tướng lãnh hay thuộc cấp. Tất cả đều là công việc và do đó khi thiên hạ đồn ông là cộng sản nằm vùng, lặn sâu trong hàng ngũ quân đội cũng dễ dàng cho đám nhẹ dạ tin theo.

Điều quan trọng là từ khi lên cấp tướng làm tổng cục trưởng tổng cục tiếp vận, ông được sự tin tưởng tuyệt đối của phái bộ viện trợ Hoa Kỳ. Báo chí Mỹ đôi khi có thể ca tụng các sĩ quan Việt Nam xuất sắc tại tiền tuyến nhưng báo cáo mật của Mỹ luôn luôn ghi lại những phê phán xuất sắc về tướng Đồng Văn Khuyên. Có thể nói thật sự ngay như ông Thiệu, ông Viên muốn thay thế ông Khuyên cũng không có người nào được Mỹ chấp thuận. Lòng yêu nước, sự tận tụy với công vụ và sự trong sạch vô địch của ông Khuyên đã giữ ông ở chức vụ có thể nói là không thể thay thế.

Thiếu tá Quý viết bài báo về ông xếp, ghi lại là vừa đi làm về thấy vợ báo cáo là chuồng gà bị hư, xếp cởi áo 3 sao vắt trên ghế, quần xà lỏn với áo thung rách, xếp lấy kìm búa sửa chuồng gà. Anh tài xế trố mắt đứng nhìn không tin là ông tướng thực. Không những thế gia đình ông lại sạch sẽ cả vợ lẫn chồng. Bà Khuyên từ lúc lấy chồng cho đến khi chồng lên trung tướng, dường như vẫn mãi mãi là người vợ lính chân quê.

Tướng Khuyên tác người nhỏ bé nhưng học hành xuất sắc. Khóa 1 Thủ Đức ra trường đậu thứ nhì. Phải mà ông to con, cao hơn một tấc chắc phải lãnh chức Thủ khoa. Toàn quân suốt 4 vùng chiến thuật, nếu không ở gần không ai hiểu rõ tướng Đồng Văn Khuyên. Tin tức đồn thổi láo lếu đã quả quyết ông Khuyên là cộng sản nằm vùng bà con với tướng cộng sản Đồng văn Cống. Sự thực hoàn toàn không hề liên hệ. 

Đã 40 năm qua, đêm nay tôi ngồi nhớ lại hành trình trên con tàu buôn chạy từ biển Đông mà đến đảo Guam. Mấy chục ông tướng hải lục không quân bây giờ sao chẳng còn ai. Bên không quân còn nhớ có ông Kỳ, ông Trần Văn Minh, ông Phan phụng Tiên. Bên Hải quân thấy có ông Hoàng cơ Minh. 

Các tư lệnh vùng có tướng Toàn, tướng Trưởng và còn rất nhiều niên trưởng tao ngộ trên cùng chuyến tầu. Ngày nay chẳng còn được mấy người. Phân trần cũng chẳng còn ai lắng nghe. Khi anh em ngồi trên tàu quân vận trên sông Saigon, thấy lửa cháy bên kho đạn Thành tuy Hạ.

 Tàu của bộ binh chúng tôi trôi trên sông Saigon theo tàu hải quân ra đi lần cuối.. Chúng tôi nghe tướng Vĩnh Lộc nói rằng sao đã chạy như chuột. Nhưng rồi ông cũng vội xuống tàu đi sau tàu của anh em. 21 năm binh nghiệp của chúng tôi trôi như lục bình. Nhưng mà còn đỡ. Hùng xùi anh em khóa Tư kẹt lại sau này đã nói rằng. Chúng mày chạy được là may. Bọn tao ở lại nhục lắm.

Họp mặt trại Trần Hưng Đạo.
Năm 2005 tôi tổ chức họp mặt trại Trần Hưng Đạo trên thủ đô Hoa Kỳ. Niên trưởng Cao văn Viên đau yếu không đến được. Xếp Khuyên đi chào bàn các chiến hữu gặp Vũ thế Quang, Nguyễn hữu Luyện, anh em cùng khóa của tôi. Các bạn ở tù hơi lâu. Luyện nhẩy Bắc năm 66 bị tù 21 năm trong đó có hơn 1 nửa thời gian cùm biệt giam.

Ông Khuyên nước mắt long lanh nói lời gan ruột. Ông nói: Kể ra mình chạy được cũng là hèn.

Đây là lần thứ ba tôi trông thấy ông khóc. Lần thứ nhất họp tại tổng tham mưu nói về Phước Long thất thủ. Lần thứ hai là ông cùng tướng Mỹ chạy lên Hóc Môn xem cảnh máy bay C5 chở cô nhi bị rớt. Và 30 năm sau họp mặt trại Trần Hưng Đạo năm 2005.

Thời kỳ mới qua Mỹ, vợ ông tướng bán chiếc nhẫn cưới trong trại để lấy tiền gọi điện thoại cho chồng còn ở đảo Guam. Qua Hoa Kỳ, tướng Mỹ bảo trợ cho tướng Việt Nam. Ông lớn nhà binh Mỹ ấm ớ hội tề không biết tiền xã hội Cali sẵn sàng giúp cho tỵ nạn học nghề làm lại cuộc đời.  Ông giới thiệu cho xếp tôi đi làm xếp bồi cho nhà hàng. Bà Khuyên được chồng nuôi cho đi học lại. Cả 2 vợ chồng đều không biết lái xe.

Hoàn cảnh ở Việt Nam như thế, hoàn cảnh ở Mỹ như thế. Vậy mà có thằng khốn nạn viết sách, viết báo nói ông Khuyên bán xăng bạc triệu để thành siêu tham nhũng. Nó nói là ông bán xăng ngay trên biển Đông. Bán xăng Mỹ theo kiểu quốc tế. Tàu dầu Hoa Kỳ thay vì đến kho xăng Nhà Bè thì ghé bán cho Singapore để ông Khuyên đưa tiền vào nhà băng Thụy Sĩ.

Tên khốn nạn lại còn viết rằng không quân VN chế ra loại bom xăng thả trực tiếp từng thùng 200 lít xuống mặt trận.  Các đơn vị cộng sản chết cháy cả trung đoàn. Nếu có đủ xăng mà đánh như thế thì phe ta không thua trận 75. Vì xếp Khuyên và cả thằng Lộc bán xăng bên Tân gia Ba nên quân ta không có xăng mà đánh hỏa công. Chúng nó nói thế mà cũng có người tin thì còn trời đất gì nữa!!!

Thưa niên trưởng,
Ngày nay tuy không ở gần nhưng tôi vẫn hiểu ông trước sau như một. Những ngày cuối ông để mọi việc ngoài tai. Ông tìm đường đi vào đạo Phật. Người ông nhẹ tênh. Tôi lên thăm ông xếp. Ông nhìn tôi cười thật tươi.


                                                                  
                                                                           Cựu Trung Tướng Đồng Văn Khuyên

Tôi mời ông ra vườn sau có ánh nắng để chụp bức hình kỷ niệm. Tôi đưa ông cầm bức tượng Tiếc Thương như để thầy trò nhớ lại ngày xưa khi buồn phiền mình lên thăm nghĩa trang quân đội. Toàn quân các binh chủng đều bình đẳng về đất nằm dài dưới ánh mặt trời chói chang cờ vàng. Sao kỳ này chuẩn úy chết quá nhiều. Cũng như mình ngày xưa. Mới ra trường sợ lính cười nên anh sĩ quan trẻ hiên ngang xông ra đằng trước.

                                                
                                          Nghĩa trang QĐ Biên Hòa sau chiến trận Bình Long- An Lộc 1972
Ông xếp là nội trợ của toàn quân. Lính sống, lính chết đều là con cái của mẹ già. Thiên hạ nói là tại sao phe ta không chuẩn bị để tự chiến đấu nếu bị Mỹ bỏ rơi. Thưa quý ngài, chúng tôi cũng có tính đến bài chiến đấu một mình.

Ông Khuyên đã từng tích cực tham dự vào chương trình quỹ tiết kiệm quân đội. Trích lương lính mỗi tháng 100 để xây dựng công binh xưởng. Than ôi, mộng lớn chưa biết có thành không mà Mỹ cùng ba Tàu Chợ Lớn đã xúm lại đánh xập dự án tự túc tự cường. Ông Thiệu, ông Khiêm còn không đỡ nổi.

Bây giờ 40 năm sau, nhân danh tổng thư ký của buổi họp bài trừ tham nhũng tại bộ tổng tham mưu ngày xưa, tôi xin thưa rằng vị chủ tọa hôm đó là trung tướng Đồng Văn Khuyên. Ông  là người sạch nhất trong hàng tướng lãnh. Có anh trung úy tốt nghiệp chiến tranh chính trị đứng lên hỏi rằng có thể trung tướng tham nhũng nhưng giỏi quá, khéo dấu thì sao.

Ông xếp tôi ngồi thừ người rồi nghẹn ngào nói rằng:
- Tôi mà bê bối thì xin ra lăng ông bà Chiểu bẻ cổ gà mà thề.  "Qua mà ăn thì xe mười bánh ăn qua đi."
Ôi ! xếp Khuyên, nghe ông nông dân Gò Công nói như thế, anh em thương ông biết là bao! Bây giờ, viết lại chuyện cũ, còn ai đọc mà hiểu được những tình tiết này. Người biết không nói. Người nói không biết. Biết hay không biết, tất cả đều qua đi.

Ngày mai khi ông ra đi, phải chi tôi còn tìm được can xăng quân đội mà bán để lấy tiền mua vé máy bay lên Was. DC tiễn đưa ông lần cuối... thì phải lẽ biết chừng nào!

Thưa niên trưởng, kiếp sau xin chớ làm người. Làm cây thông đứng giữa trời mà reo...

Giao Chỉ, San Jose.

                                                                                    ~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~







__._,_.___

Posted by: tuong pham 

Appointed Senator of Canada Ngo Thanh Hai ! S-219



From: SUTTON VO
Date: 2015-03-12 18:07 GMT-04:00
Subject: Appointed Senator of Canada Ngo Thanh Hai !  S-219


 

Kính thưa quý đồng hương,

Trước sự phản đối việc ông "Thượng Nghị Sĩ chỉ định" Ngô Thanh Hải đưa ra Dự Luật S-219 của đồng hương khắp nơi ở hải ngoại, tôi mạo muội đưa ra một vài ý kiến như sau.

1/- Ai cho phép ông Ngô Thanh Hải, một "thượng nghị sĩ chỉ định" của Canada đại diện Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản để đưa ra dự luật S-219, lấy ngày 30 tháng 4 năm 1975 để đặt tên "Hành Trình Tìm Tự Do" cho dự luật nầy? 

Thương nghĩ sĩ chỉ định của Canada chẳng đại diện cho ai (kể cả người Canada gốc Việt) đại khái cái chức nầy cũng na ná giống một "công cán uỷ viên" của thời VNCH trước đây. Đã "không đại diện" được cho người dân Canada thì còn có tư cách gì để đại diện cho Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản ở Canada hay ở bất cứ đâu?

2/- Việc đưa ra một dự luật mà bị chíh đồng hương Tỵ Nạn Cộng Sản Hải Ngoại phản đối (không kể sự phản đối "cò mồi" của Việt Cộng) không lẽ ông Ngô Thanh Hải và đồng bọn không có mắt và tai và chút liêm sĩ để lắng nghe và hiểu hay sao? 

Xin được nhân mạnh, người ta phản đối ông Ngô Thanh Hải đã nhập nhằng lấy ngày 30/4/75 là NGÀY QUỐC HẬN để đặt tên cho dự luật S-219 của ông ta nhằm mục đích xóa mất chứng tích tội ác của CSVN.

Tôi cho rằng đây là một hành động có dự mưu, có chủ trương với sách lược rất kiên "xóa bỏ chứng tích tội ác của đảng cướp CSVN" được thực hiện qua bàn tay của công  dân Canada gốc Việt, Thượng nghị sĩ chỉ định Ngô Thanh Hải.. 

Với sự phản đối của đông đảo đồng hương NVTNCS trên khắp nơi trên thế gới như thế, thử hỏi nguyên nhân gì, động lực nào thúc đẩy "cho Người Canada gốc Việt Ngô Thanh Hải" đưa ra dự luật nầy, và đồng bọn ồn ào "thanh minh thanh nga" để nguỵ biện như thế? Ai, tổ chức nào thực sự là kẻ đứng sau lưng Ngô Thanh Hải trong vụ nầy?

Thiển nghĩ, Bà Dân Biểu Elizabeth May, một dân cử, người đại diện chính thức cho dân Canada trong địa phương của Bà đề nghị chọn ngày 27 tháng 7 năm 1979 (thay vì ngày 30/4/1975) để đặt tên cho dự luật S-219 "Hành Trình Tìm Tự Do" có lý do rất xác đáng và có tính thuyết phục cao. 

Vì ngày đó (27/7/1979) chính là ngày Không Quân Hoàng Gia Canada bắt đầu đón nhận "Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản" vào Canada để "tìm tự do" .


Dự luật S-229 lấy ngày 27-7-1979 (thay vì 30/4/75) để đặt tên cho dự luật "Hành Trình Tìm Tự Do" thì quá hợp lý. 

Đằng nầy, Ngô Thanh Hải và đồng bọn lại lấy ngày 30 tháng 4 năm 1975, là NHÀY NGÀY QUỐC HẬN của dân Việt để đặt tên cho dự luật "Hành Trình Tìm Tự Do"(!!!) của chúng!  

Hành động nầy đi ngược lại sự kiện lịch sử "tìm tự do" của người Việt đến Canada là một sự cố ý không thể chối cãi được. 

Đó là chưa kể những người Việt đi "tìm tự do" trước ngày 30/4/75 (ngày 29, 29, 27, 26... /4/75 ...) Họ đã bỏ cả của cải, tài sản để ra đi, để khỏi rơi vào bàn tay của đảng cướp CSVN, không lẽ những người đó họ đi chơi, đi du lịch chớ không phải là họ đi "tìm tự do" hay sao?

Nói tóm lại, chủ đích xóa bỏ chứng tích tội ác của đảng cướp CSVN biến NGÀY QUỐC HẬN thành "NGÀY HÀNH TRÌNH TÌM TỰ DO" của Ngô Thanh Hải và đồng bọn đã bị lột trần trước công luận qua ý kiến đề nghị của Bà Dân Biểu Elizabeth May mặc dù Ngô Thanh Hải và đồng bọn có rống họng, ra sức cãi chầy cãi cối để ngụy biện đến đâu đi nữa cũng chẳng che mắt, lừa gạt được ai.

NGÀY QUỐC HẬN là NGÀY QUỐC HẬN!!! 
Nghe rõ chưa lũ bưng bô cho Việt Cộng.

Tội ác của đảng cướp CSVN nhứt định sẽ được ghi vào lịch sử để cho toàn dân ghi nhớ và nguyền rủa ngàn đời với chứng tích NGÀY QUỐC HẬN, 30 tháng 4 năm 1975!

Một Ngô Thanh Hải chớ cả ngàn cả triệu Ngô Thanh Hải đi nữa cũng không thế xóa đi tội ác của bầy quỷ đỏ CSVN đối với dân tộc được! 

Trân trọng kính chào quý đồng hương.
Võ Văn Sĩ, người lính già QLVNCH 

   

Thiệt là ..đau lòng ...
       40 năm, sau 30/4/75, VC vẫn có thể gạt được (dể dàng) một số ông già ở hải ngoại "vô tình" làm tay sai cho chúng, gây nghi ngờ, chia rẻ, đấu đá, thậm chí bắn vào chân nhau..chí choé (!) mục đích là làm nát bét cộng đồng người Việt TNCS đang sinh sống tại hải ngoại ! trong số mấy ông lão này, có người đã từng là cấp tá thời VNCH, có người là Giáo sư, Tiến sĩ ...cho nên...thiệt là đau.... lòng.
       VC đã khá thành công, khi biết khai thác những bộ óc không hề được dùng đến này ! biến bọn họ thành những nhân vật "chống cộng triệt để không làm hại VC", đồng thời là những con cừu non dưới sự khai dụng của VC.
       Môt đứa trẻ cũng có thể hiểu được rằng: Không một ai hay một phương cách nào có thể xóa được ngày Quốc hận ! ( tôi không dám giải thích thêm, vì như thế là tự tiện xem thường sự hiểu biết của quý đọc giả trên diễn đàn, tuy nhiên nếu ông Thiếu Tá công binh hay ông Giáo sư, Tiến sĩ không thể suy nghĩ ra, xin vui lòng cho tôi biết ! )
         Thực tế " Âm mưu xóa bỏ ngày Quốc Hận " chỉ là một cụm từ được VC tung ra, nhằm khích động những cá nhân quá khích
lười suy nghĩ, và qua tay những cá nhân này là những trận bảo táp vào cộng đồng người Việt TNCS .
        Tóm lại, VC vô cùng hài lòng vì cứ cái đà này, dân Việt Nam, đặc biệt là cộng đồng người Việt tại hải ngoại chắc chắn sẽ có dịp tổ chức
ngày Quốc hận 30/4 kỳ thứ 80 !!!!!!!!

   Thiệt là ...đau lòng,

  JMhung Phan
                  




On Wednesday, March 11, 2015 8:33 PM, "NGUYỄN VÂN TÙNG  [thaoluan9]" <> wrote:

 


From: <ntran9
Date: Tue, 10 Mar 2015 01:25:04 -0400
Subject: S-219

 

Kính mời đọc lại thêm 1 lần! Chuyển tiếp cho bạn hữu cùng đọc !

facebook

Nam Việt Nguyễn added 8 new photos.

Nhân đọc “Thư ngỏ gởi Chủ tịch Hạ viện không đồng ý với dự luật S-219”.

Như những bản tin (1, 2) đã đăng ở DCVOnline hôm 6 và 11 tháng12/2014, cuộc vận động để dự luật này có nhiều ý kiến khác nhau khi được đưa ra tranh luận tại Hạ viện Canada đã tiếp tục bằng một trang web yêu cầu người Canada ký tên ủng hộ(3) Dự luật “Ngày Hành trình tìm Tự do” đặt ở trang nhà của dân biểu Jason Kenney (đảng Bảo Thủ, vùng Calgary South West, hiện là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (từ 9 tháng 2) và còn là Bộ trưởng Đa văn hóa, Minister of National Defense and Social Development and Minister for Multiculturalism).

Cùng lúc, một số người Canada gốc Việt cũng đã viết thư cho dân biểu Jason Kenney bày tỏ quan điểm không ủng hộ (Thu Mai) cũng như ủng hộ (Nguyen Duy Vinh) Dự luật “Ngày Hành trình tìm Tự do” như bản tin(4) đã đăng trên DCVOnline ngày 17/1/2015.

Ngày 1 tháng Hai, 2015 trang web của “Canada-Vietnam Association” đã công bố “Lá Thư Ngỏ gửi Ngài Andrew Scheer và các Dân biểu”(5) không đồng ý với dự luật S-219 cùng với 22 chữ ký. Lá thư được viết bằng Anh, Pháp và Việt ngữ.

Nội dung lá thư ngỏ có 3 điểm chính phản đối dự luật S-219, một là “các quy trình làm việc thiếu dân chủ của Thượng Viện”; hai là, “thiếu tính đại diện”; và ba là “nội dung không thích đáng”. Từ 3 điểm chính lá thư ngỏ khai triển thành 9 tiểu đoạn phản đối dự luật này.

Trước khi vào phần phản đối dự luật S-219, “Ngày Hành trình tìm Tự do”, với 22 người dại diện ký tên, tác giả bức thư ngỏ thấy cần thiết phải công bố quá khứ nhân thân của Thượng nghị sĩ (TNS) đỡ đầu dự luật này ở Thượng viện, ngay ở đoạn thứ hai, Họ viết " Người đỡ đầu Dự luật này là Thượng Nghị sĩ Ngô Thanh Hải, một thành viên trước đây của chính quyền Sài Gòn bị sụp đổ vào tháng 4/1975.”

Thay vì chú trọng vào nội dung dự luật, những người chủ trương gởi lá thư ngỏ đã phí thời gian ngụy biện bằng cách bôi bẩn cá nhân, argumentum ad hominem; đây là một loại ngụy biện phổ biến nhất, thấp kém nhất và có lẽ sẽ không có hiệu quả với ông Chủ tịch và dân biểu Hạ viện cũng như với giới tri thức Canada.

Thế ông TNS đã là gì trong chính quyền Sài Gòn? Trước khi tốt nghiệp khoa Khoa học Xã hội và Mỹ thuật ở Paris-Sorbonne (Paris IV) ông làm việc với Trung tâm Văn hóa Pháp (Alliance française), đi dạy tiếng Pháp ở Kuala Lumpur, Malaysia. Sau đó ông tiếp tục dạy Anh và Pháp ngữ tại Hội Việt Mỹ và Trung tâm Văn hóa Pháp ở Sài Gòn. Từ 1971 đến 1973, ông Ngô Thanh Hải là Trưởng phòng Thông tin và Báo chí tại Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa. Hai năm sau đó ông là Tùy viên Báo chí và Trưởng phòng Chính trị tại Tòa Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Bangkok, Thailand. Tôi tin rằng ông TNS không trăn trở chút nào về cái quá khứ “thành viên trước đây của chính quyền Sài Gòn”.

Thực ra nhóm chữ “chính quyền Sài Gòn” trong lá thư ngỏ là tương đối mềm dẻo; theo ngôn từ xã hội chủ nghĩa Việt Nam trước kia thì ông TNS đã phải là “một đối tượng phản động của ngụy quyền Sài Gòn, có nợ máu với nhân dân”, v.v.

Nói đi thì cũng phải nói lại. Nếu nhìn vào danh sách 22 người ký tên dưới lá thư thì có gần 1/3 thuộc một thành phần tương tự như ông Ngô Thanh Hải. Gần 1/3 đó là những sinh viên được chính phủ Việt Nam Cộng hòa (mà trong lá thư ngỏ gọi là “chính quyền Sài Gòn), bằng ngân sách quốc gia đã cho đi du học ở Pháp, Canada, và Mỹ qua Kế hoạch Colombo (Plan Colombo Plan) của Khối Thịnh vượng chung hay chương trình học bổng Leadership (USAID Leadership Sholarship Program) của chính phủ Mỹ mà cộng sản Việt Nam – Việt Cộng – thường gọi là Đế quốc Mỹ. Nợ máu thì chắc là không, nhưng có lẽ vẫn nợ đấy chứ?

1. Thiếu dân chủ

Trở lại vấn đề chính của nội dung lá thư ngỏ phản đối Dự luật Dự luật “Ngày Hành trình tìm Tự do”, ở điểm số một, lá thư ngỏ cho là Thượng viện Canada thiếu dân chủ, “Ủy ban Thường trực về Nhân quyền của Thượng Viện Canada chỉ nghe các nhân chứng ủng hộ Dự luật, bỏ qua các cá nhân và tổ chức chống Dự luật, […]” chỉ vì ông Đại sứ nước CHXHCN Việt Nam không kịp làm nhân chứng điều trần ở Thượng viện để phản đối dự luật S-219. Thực sự thì không phải ủy ban ở Thượng viện Canada thiếu dân chủ mà vì văn kiện phản đối của ông Đại sứ không phải bằng tiếng Pháp và không được dịch kịp thời hạn để được đưa vào hồ sơ như dân biểu Mark Adler (CPC), người cùng đỡ đầu Dự luật S-219 tại Ha viện, đã trả lời dân biểu Anne Minh-Thu Quach (NDP) trong buổi tranh luận(6) về dự luật này ở tại Hạ viện chiều ngày 5 tháng 2, 2015.

Làm ngoại giao tại Canada mà không biết Anh và Pháp ngữ là hai ngôn ngữ chính dùng trong tất cả các cơ quan hành pháp, tư pháp, lập pháp tại đây thì khác gì lấy tuyền thúng bơi ra biển lớn.

Muốn điều trần trước các ủy ban nghiên cứu ở Thượng và Hạ viện Quốc hội Canada như 24.000 người(7) đã là nhân chứng ở các ủy ban tại lưỡng viện Quốc hội trong nhiệm kỳ của Thủ tướng thứ 20 của Canada Jean Chretien (1993-2003) thì tất cả đã cần phải hiểu rõ những nghi thức và làm những thủ tục cần thiết trước khi được nhận vào quốc hội để điều trần (8,9).

Việc phản đối dự luật S-219 bằng lá thư ngỏ hay những tuyên bố với báo chí của giới ngoại giao và người đứng đầu chính phủ Việt Nam hôm nay khiến người ta nhớ lại một phản ứng tương tự của chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, cực lực phản đối chính phủ Canada khi cộng đồng người Việt dựng tượng đài “Thuyền nhân mẹ bồng con” vào ngày 30 tháng 4, 1995 tại thủ đô Ottawa. Tất nhiên phản đối kịch liệt đó cũng không đi đến đâu vì tự do phát biểu là quyền căn bản của mọi người dân Canada. Và lá thư ngỏ phản đối dự luật S-219 hôm nay cũng là một minh chứng rõ rệt khác về quyền tự do bày tỏ ở xứ sở này. Tuy nhiên, cũng có dư luận đặt vấn đề và thắc mắc,

“Tôi không hiểu vấn đề tại sao phải nghe ông Đại sứ CHXHCN Việt Nam. Ông là một đại diện của một nước lạ, tại sao ông ấy lại được phép điều trần về dự luật này? Với tư cách nào? Đây là một vấn đề hoàn toàn thuộc nội bộ của Canada và trong một tiến trình lập pháp của Quốc hội của Canada. Chấm hết.” – V. Attarian.

Có lẽ vì Canada “có thừa dân chủ” nên dễ bị “lợi dụng dân chủ” hay chăng?

2. Thiếu tính đại diện

Đọc lý do trưng dẫn ở điểm thứ hai của lá thư ngỏ để phản đối dự luật S-219, “Dự luật không phản ánh quan điểm chung của toàn thể cộng đồng người Việt tại Canada. Trong cộng đồng không phải ai cũng như nhau, và đa số là người di dân (“người đi bằng máy bay”) chứ không phải là thuyền nhân […]” cùng luận điệu với điểm số 1 trong điện thư(4) của ông Thu Mai gởi dân biểu Jason Kenney tôi có cảm tưởng những lá thư loại này, thứ nhất, muốn phân chia thứ bậc giữa những công dân Canada gốc Việt Nam mà thiểu số là những người đi thuyền đến Canada (boat people, thuyền nhân, người tị nạn cộng sản) và đa số là người đến Canada là người đi máy bay; thứ hai, tác giả lá thư ngỏ không hiểu chút nào về Canada.

Đây là một xã hội khai phóng, nhân bản của những con người cởi mở, đồng cảm, hào hiệp, và những giá trị mà chân giá trị của đất nước này là tự do, dân chủ, pháp trị, nhân quyền. Đó chính là lý do tại sao cơ quan lập pháp của Canada đã quan tâm đến và muốn tưởng nhớ “hành trình tìm tự do” của những người tị nạn cộng sản Việt Nam đã vượt qua bao nghịch cảnh đồng thời cũng để tán dương những công dân Canada, những người hào hiệp đã thông cảm, mở lòng, mở cửa đón nhận thuyền nhân, và sau cùng là ghi nhận những đóng góp với xã hội của những người dân Canada gốc Việt trên mọi phương diện từ y học, kỹ thuật, kinh doanh, khoa học, đến luật pháp, học viện, nghệ thuật, truyền thông, cộng đồng và cả lãnh vực chính trị.

Không còn nghi ngờ gì, dự luật S-219 phản ảnh tinh thần khai phóng, nhân bản, sự trân quý những gía trị cơ bản của toàn dân Canada là tự do, dân chủ, pháp trị, nhân quyền.

Nhân câu chuyện đi thuyền với đi máy bay tôi xin được nhắc lại chuyện của những người tị nạn cộng sản cách đây hơn sáu mươi năm trước ở Việt Nam, sau khi ông Tạ Quang Bửu (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) và ông General Henri Delteil (Pháp) ký kết Hiệp Định Geneva vào ngày 21 tháng 7, 1954. Đó là làn sóng tị nạn chính trị lớn thứ nhì trong lịch sử nước Việt Nam sau thảm trạng thuyền nhân sau ngày 30 tháng Tư, 1975. Tình cờ, lúc đó những người lính Hải quân Mỹ gọi cuộc di tản khổng lồ đó là “Đường đến Tự do” (Passage to Freedom). Tính đến ngày 15 tháng 5, 1955 tổng số người miền bắc bỏ lại làng quê, bỏ lại phố phường, người thân và sản nghiệp vào nam vì không muốn sống với cộng sản (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) là 800.786 người(10); trong số đó 26,7% đi bằng máy bay, 68,2% đi bằng thuyền, và một số nhỏ hơn, 5,2% tự kiếm cách vào nam. Và đồng bào miền nam (Việt Nam Cộng Hòa) đã mở rộng vòng tay đón họ như người cùng một nước, không ai bị phân biệt là người đi máy bay hay đi thuyền, hoặc là người đã chống bè vượt sông Bến Hải cả. Họ đã cùng dân miền Nam đóng góp và xây dựng xã hội suốt 2 thập niên sau đó. Và một số không ít trong những người đi tìm tự do của những năm 1954-55 và con cháu của họ, 20 năm sau đã phải bỏ lại quê hương lần thứ hai, vượt biên, vượt biển đi tìm tự do vì không muốn sống với cộng sản.

Ở Canada năm 2015 cũng vậy, không ai phân biệt những người dân gốc Việt ở đây là người đến bằng thuyền hay đi bằng máy bay, là sinh viên Việt Nam Cộng hòa du học trước 1975, người tị nạn cộng sản sau 30 tháng 4, hay là những người sang Canada đoàn tụ với thân nhân – đi học trước 1975 hoặc là người tị nạn sau 30 tháng 4 – hay là di dân đi lao động, đi làm ăn, hay đi học trong những năm sau đó. Tuy nhiên, mục đích đầu tiên của dự luật S-219 là nhằm dựng một cột mốc trong lịch sử của Canada để tưởng nhớ “hành trình tìm tự do” của những người tị nạn cộng sản Việt Nam.

3. Không thích đáng, khiếm khuyết

Đọc lời phản đối trong lá thư ngỏ ở điểm số 3, “Dự luật lại cố ý chuyển sang đề cập đến vấn đề mâu thuẫn của thời chiến tranh Việt Nam và các chỉ trích tiêu cực về Chính phủ Việt Nam […]” tôi có cảm tưởng tác giả đã viết lá thư ngỏ trong ảo giác, đang chạy trốn sự kiện lịch sử về người tị nạn cộng sản nhưng lại mâu thuẫn khi chính họ nhiều lần lập lại những nhóm chữ “chính quyền Sài Gòn”, “Mỹ hậu thuẫn”, “sự can thiệp của Mỹ”. Thực ra, ở đây tác giả chỉ lập lại lối ngụy biện rơm trong tập hợp Ignoratio Elenchi như những phản đối ở điểm (2) nêu trên.

Cả dự luật S-219, bản Anh ngữ, có 460 từ và trong đó có 50 chữ đề cập đến những dữ kiện lịch sử Việt Nam chung quanh ngày 30 tháng 4, năm 1975. Lịch sử chỉ ghi lại dữ kiện và không đánh giá tiêu cực hay tích cực. Lịch sử sẽ mãi mãi còn đó; Ở phần khai triển, đoạn (c), tác giả lá thư cho là dự luật S-219 “xuyên tạc thông tin xuyên tạc thông tin về sự ra đi của thuyền nhân”. Thực ra, đây là một luận cứ cũ rích và không vững.

“Thuyền nhân chỉ là những phần tử bất mãn của chế độ cũ, những kẻ có nợ máu với nhân dân, những thành phần đĩ điếm, trốn tránh lao động.” – Nguyễn Cơ Thạch [Quốc Vụ khanh Bộ Ngoại giao CHXHCN Việt Nam, tại Hội nghị LHQ về thuyền nhân, Geneva, 20-21/7/1979](12)

Trước cổng vào Hội nghị do LHQ triệu tập 69 quốc gia, kể cả nước CHXHCN Việt Nam, đến Geneva ngày 20-21 tháng 7, 1979 để giải quyết thảm trạng thuyền nhân – vấn đề của cả thế giới, hai thuyền nhân Việt Nam đã giơ cao biểu ngữ “TOUT LE PEUPLE VIETNAMIEN CONTRE LA CLIQUE DE HANOI” [Tất cả người Việt Nam chống bè lũ Hà Nội”](13)

Sự thật lịch sử

Những hành trình tìm tự do của người tị nạn chính trị và tị nạn cộng sản là những sự kiện lịch sử. Sau đây là một vài ví dụ tiêu biểu những đợt sóng người tị nạn trong lịch sử Canada(11).

Thế kỷ 18 | Năm 1789, Huân tước Dorchester, toàn quyền của Thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ (British North America tiền thân của Canada) đã công nhận những người tị nạn chính trị, bị đàn áp trong cuộc Cách mạng ở Hoa Kỳ từ New York sang định cư ở Quebec và Nova Scotia là “Những người trung thành dầu tiên” [“First Loyalists”]. Năm 1793, Upper Canada (Ontario ngày nay) là tỉnh bang đầu tiên của Đế quốc Anh xóa bỏ chế độ nô lệ.

Thế kỷ 19 | Đến thế kỷ 19, hàng ngàn người nô lệ da đen trốn khỏi Hoa Kỳ sang Canada tự do xây dựng cuộc đời mới.1891, 170.000 ngàn người Ukraine chạy trốn sự đàn áp của chính quyền Austria-Hungary. 1920-1939, làn sóng người Ukraine tị nạn vì nội chiến, vì cuộc xâm lăng của Nga và vì trốn chạy cộng sản đã đến Canada. 1945-1952, lần thứ ba người Ukraine đã phải bỏ xứ ra đi vì họ không muốn sống với cộng sản.

Thế kỷ 20 | 1947-1952, 250.000 nạn nhân của Nazis, cộng sản và cuộc xâm lăng của Liên Xô, từ Trung Âu và Đông Âu đã phải bỏ nước sang Canada tìm tự do. 1960, người tị nạn Trung Hoa bỏ nước ra đi để thoát khỏi bạo lực cộng sản của cuộc Cách mạng Văn hóa thời Mao Trạch Đông. 1968-1969, 11000 người Tiệp đã bỏ trốn sang Canada đất nước của họ khi bị quân Liên Xô và khối cộng sản Warsaw xâm lăng.

Trong thế kỷ 20, sau dân tị nạn cộng sản Việt Nam, Canada còn đón nhận người Khmer tị nạn cộng sản trong những năm 1980; Thập niên sau cùng của thế kỷ trước, Canada đã nhận 5000 người Hồi giáo Bosnia, đưa 5000 người tị nạn Kosovar đến chốn bình yên.

Thế kỷ 21 | Đến năm 2010, Canada đã đón nhận người tị nạn từ hơn 140 quốc gia trên thế giới.

Tiếp tục phản đối, ở đoạn (b), lá thư ngỏ viết, “Dự luật này khiếm khuyết nghiêm trọng khi nó cố ý chọn ngày 30 tháng 4 làm ngày kỷ niệm sự ra đi của những người tị nạn Việt Nam” là sai và trích dẫn nhật báo Ottawa Citizen ngày 27 tháng 7, 1979 cho rằng “Đúng ra, ngày để kỷ niệm nên là ngày mà Canada đón nhận người tị nạn Việt Nam, và ngày đó xảy ra vào tháng 7/1979”. Tôi đề nghị tác giả lá thư ngỏ và 22 người ký tên đại diện không nên sợ sự thật và đừng bóp méo lịch sử. Trong phần phát biểu ngày 25 tháng 2 ở Hạ Viện, bà dân biểu Anne Minh-Thu Quách nói,

“Hôm nay, chúng ta không phải sợ hãi khi nói sự thật. Mỗi con người có quyền được sống, quyền tự do và có cơ hội bình đẳng.”

Đúng thế nếu đọc tài liệu của Nội các Chính phủ Canada ngày 26 tháng 6, 1975 về tuyên bố của Bộ trưởng bộ Nhân lực và Di Trú Bob Andras về người tị nạn(14) hay đọc báo Ottawa Journal(15) ngày cuối tháng 5, trong một bản tin của ký giả Bob Bull ở trang 25, "
Trong ba tuần nay, các chuyến xe buýt của hãng hàng không đã đưa người tị nạn Việt Nam xuống vỉa hè trước Khách sạn Queen’s [16] phía nam của nhà ga xe lửa chính của Canadian Pacific Railway. Một số được bạn hoặc người thân đến đón đi. Cộng đồng người Việt tại địa phương đã có mặt giúp khiêng hành lý và hướng dẫn họ làm thủ tục nhập cảnh.” – Trích The Ottawa Journal, May 30, 1975 | Page 25

Mọi người đều thấy sự thật là Canada đã quyết định và đón nhận người tị nạn Việt Nam từ ngay sau ngày 30 tháng 4, 1975.

Một nét chính của nội dung bức thư ngỏ (cũng như điện thư của ông Thu Mai) hiện rõ qua những đoạn (d), (e), (f), và (g) là luận cứ biện hộ cho chính quyền cộng sản Việt Nam. Tôi tin rằng không ai bận tâm đến quan điểm phù cộng của tác giả lá thư ngỏ và những người đại diện, nhưng ở đây là họ lạc đề vì đã đánh tráo tiền đề. Mục đích chính của dự luật “Ngày Hành trình tìm Tự do” không phải là để tố cộng hay bàn về thời sự Việt Nam mà là để công nhận và tôn trọng một sự thật lịch sử, đó là “hành trình tìm tự do” của người Việt Nam đến Canada sau ngày 30 tháng 4, 1975.

Canada chưa hề lên tiếng phản đối việc Việt Nam hàng năm tổ chức kỷ niệm “Đại thắng mùa Xuân” hay “Giải phóng miền Nam” hà cớ gì tác giả lá thư lại bất bình với một ngày Canada chọn ghi vào lịch sử quốc gia này?

Không như lá thư ngỏ viết người tị nạn đến Canada là bỏ đi quá khứ, “những người di dân chăm chỉ làm việc, chăm lo cho gia đình, và cố để quá khứ lại sau lưng”. Nếu ở Ottawa có tượng thuyền nhân mẹ bồng con đi tị nạn cộng sản thì năm 2001 ở công viên ven sông tại Windsor người ta đã dựng “Tháp Tự do” (Freedom Tower) để tưởng nhớ hành trình tìm tự do (1840-1860) của những người nô lệ trước cuộc nội chiến ở Hoa Kỳ, và cộng đồng di dân Armenian cũng có tượng đài tưởng nhớ nạn nhân trong cuộc diệt chủng thời thế chiến thứ nhất do thành phố Montreal dựng ở công viên Marcelin Wilson.

Một vài ví dụ đó đủ xác minh rằng người Canada trân trọng chứ không chạy trốn hay bóp méo sự thật lịch sử. Người Canada cũng dựng tượng đầi ghi nhận những sai lầm và bất công trong lịch sử. Thí dụ, cộng đồng người Canada gốc Ukraine đã dựng trên 20 bia và tượng đánh dấu thời gian bị chính phủ Canada quản thúc ở những trại giam trong thời đệ nhất thế chiến. Đến năm 2005, Thủ tướng Canada Paul Marin công nhận đó là một việc “không thể chấp nhận, không thể biện hộ” và là “nỗi khổ đau sâu thẳm” của dân Canada gốc Ukraine và vì thế đã thông qua đạo luật “Internment of Persons of Ukrainian Origin Recognition Act” công nhận sự kiện lịch sử này đồng thời chi dùng 2,5 triệu đô-la để tổ chức các cuộc triển lãm sự thật lịch sử. Đến năm 2008, Thủ tướng Stephen Harper thiết lập Quỹ giáo dục để quần chúng biết đến và tưởng nhớ những người góc Ukraine đã bị giam cầm oan ức trong thời thế chiến thứ nhất. Tương tự, những sai lầm khác trong lịch Canada như việc bắt giữ người gốc Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai, việc đánh thuế đầu người và phân biệt đối xử với di dân Trung Hoa, cũng như chính sách buộc trẻ em bản xứ vào hệ thống trường nội trú, đã được chính phủ Canada giải quyết bằng những lời xin lỗi chính thức và bằng sự tài trợ để phần nào đề bù cho nhữ mất mát trong quá khứ(18).

Nhiều người muốn quên ngày 30 tháng 4, 1975, ngày bắt đầu của thảm họa thuyền nhân, của người tị nạn cộng sản; họ cũng muốn quên nạn nhân cuộc Cải cách ruộng đất 1953-65, muốn quên cuộc di cư 1954-55, muốn quên hàng ngàn người bị thảm sát ở Huế vào dịp Tết Mậu Thân, 1968, v.v. Nhưng, một điều chắc chắn là lịch sử sẽ không quên.

5. Gây hận thù, bất lợi cho quan hệ hai nước

Hai điểm sau cùng của lá thư ngỏ cho rằng Dự luật “Ngày hành trình tìm tự do” là “sản phẩm của một nhóm nhỏ người Canada, chủ yếu là gốc Việt, vẫn còn nuôi lòng thù oán đối với Việt Nam” sẽ “gây hận thù”, “gây chia rẽ lớn hơn” trong cộng đồng người Canada gốc Việt và “không đóng góp gì cho sự hợp tác chiến lược Canada – Việt Nam”.

Thứ nhất, tôi tin rằng dự luật S-219 hôm nay hay khi thành một Đạo luật của Canada sẽ chẳng mảy may ảnh hưởng gì đến cái gọi là “sự hợp tác chiến lược” của Việt Nam với quốc gia này trừ khi chính phủ nước CHXHCN Việt Nam lập tức triệu hồi Đại sứ và vĩnh viễn đóng của Sứ quán ở Ottawa. Và đây là điều khó có thể xảy ra. Quan hệ hai nước sẽ tiếp tục như đã và đang có.

Thứ hai, cụm từ “nhóm nhỏ người Canada, chủ yếu là gốc Việt, vẫn còn nuôi lòng thù oán đối với Việt Nam” là một thí dụ khác của lối ngụy biện thấp kém, chỉ trích cá nhân, đồng thời cũng là một sự đánh tráo khái niệm không lương thiện. Câu văn trên cùng loại như những câu “yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa” hay “Yêu nước ở Hồ Chí Minh là gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, gắn liền chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản”(17); nếu dùng chữ thời thượng mà nói thì chúng “không có cửa”. Có đi khắp cùng thế giới không ai có thể tìm được một người “nuôi lòng thù oán Việt Nam”. Người ta có thể thù oán một người, một nhóm người, một chế độ, một chính phủ – tất cả những thực thể đó chỉ hiện hữu nhất thời trong khi đất nước Việt Nam là một thực tế muôn đời.

Đánh tráo “đất nước” với “chế độ” là thái độ rất không lương thiện.

6. Một vài điểm về hình thức của lá thư ngỏ

Tác giả và nhóm chủ trương đã cố gắng trưng bày tính đại diện cho người Canada và người Canada gốc Việt bằng 22 chữ ký; trong đó, gần 1/3 là di dân gốc Việt trước 1975, 2/3 còn lại là một nhỏ số dân Canada, thuyền nhân và di dân sau 1975.
Bản tiếng Việt của lá thư đăng trên mạng gõ bằng Unicode tổ hợp do đó có vấn đề khi hiển thị ở các duyệt trình phổ thông hiện nay (Chrome, Firefox, IE,… trừ Safari trên iOS)
Lá thư ngỏ được công bố ở trang nhà của “Vietnam-Canada Association” có địa chỉ ở 1351 Dufferin Street, Toronto, M6H 4C7, Canada. Thực ra đây cũng là địa chỉ của “Canada-Vietnam Trade Council”(19) với ba thành viên Hội đồng Quản trị mà hai người đã ký vào lá thư ngỏ. Bà Nguyễn Đài Trang của “Hội đồng Thương mại Canada-Việt Nam”, trong một bức thư gửi cho Ủy ban nhân quyền của Thượng viện đã viết, “Dự luật này …. có tác động tiêu cực mạnh mẽ hơn nữa là gây chia rẽ thêm một cộng đồng đã bị khủng bố và rạn nứt”(2). Tuy nhiên, bà không cho biết kẻ khủng bố cộng đồng người Canada gốc Việt là ai.
Thực ra bà Nguyễn Đài Trang hay Julie Nguyen hoặc Nguyễn Hoàng Đài Trang còn là tác giả(20) hai cuốn “Ho Chi Minh – The soul and talent of a great patriot” và “Hồ Chí Minh – Tâm và tài của một nhà yêu nước”, xuất bản để kỷ niệm ngày sinh thứ 120 của Hồ Chí Minh, 19/5/2010. Người hiệu đính bản tiếng Anh, Elizabeth McIninch(21), là thành viên HĐQT thứ hai của “Canada-Vietnam Trade Council” cũng là chữ ký số 12 trong lá thư ngỏ. Cuốn sách thứ ba cùng tác giả, “Hồ Chí Minh: Nhân văn và phát triển” ra mắt này 27 tháng 9, 2013 tại Toronto(22).

Địa chỉ 1351 Dufferin Street, Toronto, M6H 4C7 Canada trước đây là trụ sở của “Hội Doanh Nghiệp Việt Nam-Canada” (Vietnam-Canada Chamber Of Commerce) tiền thân của “Canada-Vietnam Trade Council” và cũng là cơ sở “Canada Education Support” (CES,Trung Tâm Hỗ Trợ Du Học Canada) mà giám đốc là bà Nguyễn Đài Trang.
Thông tin không thống nhất và thiếu chính xác về 22 chữ ký trong 3 bản Anh, Pháp và Việt ngữ.
Số 7, Bà Lê Thị Hoa được ghi là người “giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học Montréal” trong bản tiếng Việt nhưng ở bản Anh và Pháp ngữ thì bà Hoa lại là “a professor and researcher at the Université de Montréal since 2010” và “un professeur et chercheur à cette dernière depuis 2010”. Thực ra thì tính đến mùa Thu 2014 thì bà Hoa đã là giảng viên (lecturer/chargée de cours) trong 5 khóa cho sinh viên khoa Sư phạm tại đại học Montreal từ mùa Thu 2011(23). Hiện nay trong sổ nhân sự của đại học Montreal thì bà Hoa là giảng viên/chargée de cours của faculté de l’éducation permanente – dạy tiếng Pháp như sinh ngữ thứ hai cho người không biết tiếng Pháp.Tuy nhiên trang chính thức của phân khoa l’éducation permanente(24) không liệt kê tên và trưng ảnh của bà Hoa với những giảng viên khác. Từ giảng viên/lecturer/chargé de cours đến giáo sư/professor/professeur là một quãng đường làm nghiên cứu khá dài.

Só 9 và số 17 – Tên họ của hai chữ ký này trong bản tiếng Anh và Pháp là “Mr. Thu Viet Mai/M. Thu Viet Mai” và “Mr. Tinh Van Quach/M. Tinh Van Quach” nhưng ở bản tiếng Việt thì lại là “9. ThS. Mai Thu Việt” và “17. ThS. Quách Văn Tĩnh”. Chỉ có một cách giải thích hợp lý cho sự bất nhất này là hai ông ThS. họ Mai và họ Quách đã nhờ người khác “ký” hộ mình nên đã ghi sai tên thật so với giấy khai sinh; giả thiết khác cho là hai ông muốn làm ngọa hổ tàng long để phản đối dự luật S-219 hoàn toàn không khả tín.

Số 20 của bà Thái Thị Thanh Mai bản tiếng pháp ghi “professeure-associée” là không đúng chức vụ hiện tại; vì không quen thuộc với từ ngữ dùng cho giới hàn lâm tiếng Pháp nên người dịch đã dịch từ nhóm chữ “Asociate professor” trong tiếng anh. Bà Mai hiện là một professeure agrégée (Phó giáo sư) tại trường HEC Montreal.
Kết luận

Lá thư ngỏ phản đối, không đồng ý với dự luật S-219 cho một số người đọc có cảm tưởng đây là tác phẩm của một người cộng sản
(“This letter was written by a communist” – J. Iwanic.)

Tóm lại lá thư ngỏ phản đối Dự luật “Ngày Hành trình tìm Tự do” đầy những ngụy biện cấp thấp, thay đổi tiền đề, bôi bẩn cá nhân, đánh tráo khái niệm, quy nạp sai vì những luận cứ loanh quanh bao biện cho chính phủ và chế độ hiện nay ở Việt Nam. Cả hai, chính phủ và chế độ hiện tại của nước CHXHCN Việt Nam không phải là mục tiêu của Dự luật S-219.

Mặt khác để tưởng niệm hơn 100 triệu nạn nhân cộng sản trên khắp thế giới, chính phủ Canada đã góp phần với tổ chức “Tribute for Liberty” xây dựng một tượng đài uy nghi tại thủ đô Ottawa, ngay cạnh Tối cao Pháp viện.

Ở thế kỷ 21, thời đại của thông tin, tại những xã hội tự do, dân chủ người ta không hề sợ sự thật mà còn rất trân trong lịch sử.

Về phần mình, tôi luôn trân quý những kỷ niệm với người đi tìm tự do vì đã may mắn được góp tay trong những ngày đầu đi tiếp đón, hướng dẫn người tị nạn cộng sản ở Queen’s hotel (Montreal), ở High School of Commerce, ở hội trường đại học, ở văn phòng tìm việc, ở lớp dạy tiếng Anh (Ottawa), đến những ngày công tác với Ủy ban Cứu Người Vượt Biển (Montreal) và giai đoạn làm việc với Tổ chức SOS Việt Phi (Toronto) để giúp đưa người tị nạncuối cùng ở Phi Luật Tân đến bến bờ tự do tại Canada trong quãng thời gian từ 1975 đến 2005.

30 tháng 4 rồi sẽ là một mốc lịch sử của Canada đánh dấu ngày người tị nạn Việt Nam đi tìm tự do, được Canada nồng hậu đón nhận, để rồi đã trờ thành và gầy dựng những nhân tố tích cực góp phần xây dựng một đất nước Canada mến yêu, khai phóng, nhân bản – ngày càng cường thịnh vì những gía trị muôn đời là tự do, dân chủ, pháp trị, nhân quyền.

Viết cho người tị nạn cộng sản và để tưởng nhớ hàng trăm ngàn linh hồn người Việt Nam đã bỏ mình trên đường tìm đến Tự do (1975-1996)

Montréal, 14 tháng 2, 2015

Trần Giao Thủy.

http://dcvonline.net/2015/02/15/ve-du-luat-ngay-hanh-trinh-tim-tu-do-tai-canada/

(1) DCVOnline, “Một dư luật ở Thượng viện Canada làm căng thẳng ngoại giao với Việt Nam”, Dec. 6, 2014.
(2) DCVOnline, Thượng viện Canada đã thông qua Dự luật “Hành trình tìm Tự do”, Dec. 11, 2014
(3)Jason Kenney, MP, “Petition: the Journey to Freedom Day Act (Bill S-219)/ Pétition : Le projet de Loi sur la Journée du Parcours vers la liberté (projet de loi S-219)”, December 9, 2014
(4) DCVOnline, “Chung quanh Dự luật “Hành trình tìm Tự do” tại Canada”, Jan. 17, 2015
(5) Canada-Vietnam Association, “Open Letter to Speaker Andrew Scheer and all Mps”, Feb. 1, 2015. [Phần tiếng Việt gõ bằng unicode tổ hợp (gây vấn đề hiển thị với những duyệt trình phổ thông như Chrome, Firefox và IE)]
(6) 41st PARLIAMENT, 2nd SESSION, EDITED HANSARD • NUMBER 170. Thursday, February 5, 2015, House of Commons Debates, Private Members’ Business, Journey to Freedom Day Act.
(7) David McInnes, “Testifying Before Parliamentary Committees”. Canadian Parliamentary Review, 2015-01-29
(8) Parliament of Canada, “Fact sheet: Participating in a Senate Committee study giving oral and/or written evidence”. 2012
(9) Parliament of Canada , “Guide for Witness Appearing Before House of Commons Committees”. Hay xem bản PDF tại đây.
(10) Data for Weeka, June 3, 1955, Folder 14, “Reports – Weeka, 1955 (Administratively Controled), Ronald B. Frankum, Jr.,“Operation Passage to Freedom, The United Staes Navy in Vietnam, 1954-1955”, Texas Tech University Press, 2007 dẫn lại ở trang 205.
Tham khảo thêm “The Pentagon Papers”, Gravel Edition, Vol. I, Boston: Beacon Press, 1971; Trần Thị Liên, Vấn đề Công giáo miền bắc Việt Nam qua tư liệu lưu trữ Ba Lan (1954-1956), Groupe d’Etude sur le Vietnam Contemporain – IEP Paris; Ðặng Phương-Nghi, “Về số người công giáo di cư từ Bắc vào Nam sau hiệp định Genève”, Sites de Vietnamologie. Truy cập tháng Mười 2008.
(11) Governement of Canada, Canada: A History of Refuge.
(12) Huy Đức, “Bên Thắng Cuộc – Giải phóng”, OSINBOOK 2012, Chương Vi: Vượt Biên.
(13) Lloyd Dương, “Boat People: Imprints on History”, Optimal World Publisher, 2000, p.13
(14) Marcus, Dara. “The Hai Hong incident: One boat’s effect on Canada’s policy towards Indochinese refugees.” Đã đăng trên Tạp chí ‘Bout de papier’ (Vol. 28-1, Professional Association of Foreign Service Officers (Hiệp hội chuyên nghiệp của Cán bộ ngoại giao) xuất bản tháng 5 năm 2014.
(15) Bob Bull, “Some refugees are not wanted”, Journal Quebec, Bureau Montreal. The Ottawa Journal, May 30, 1975 | Page 25
(16) Trên đường Peel giữa St. Jacques West và St. Antoine West, đã bị phá hủy từ 1988.
(17) TS. Nguyễn Quốc Phẩm, “Từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống đến Tư tưởng Hồ Chí Minh”. Học viện Chính trị Quốc gia (Tạp chí Khoa học chính trị, số 5/2001)
(18) Dawn Walton, “Controversy dogs exhibit on First World War internment”, The Globe and Mail, Jun. 10 2013.
(19) Canada-Vietnam Trade Council, Contact Us
(20) Trà Mi, “Chào mừng ngày ông Hồ chết” và “Nguyễn Hoàng Đài Trang và sách vinh danh HCM”, DCVOnline, 2-3 Tháng 9, 2010. Trang Phi Vũ đăng lại ở đây
(21) Mộc Lan DCVOnline, “Làm người lớn cần nói thật”, DCVOnline, 2012 Trang Chuyện nước non đăng lại ở đây.
(22) Trí Đức, “Ra mắt cuốn sách thứ hai viết về Bác Hồ tại Canada”. Đại đòan kết, Cơ quan Trung ương của Mạt trận Tổ quốc Việt Nam.
(23) Université de Montréal, “Liste de pointage pour affichage – DIDACTIQUE(L0200U)”, page 77, 2014/10/16
(24) Université de Montreal, Faculté de l’éducation permanente – La faculté d’évoluer, Chargés De Cours – Leur savoir-faire rayonne.
15 February at 03:47 · Public

---------- Forwarded message ----------
From: Co
Date: Mon, Mar 9, 2015 at 12:53 PM
Subject: S-219
To: Lính Biển
Cc: Tien Dang Nghiem
FYI 





__._,_.___

Posted by: =?UTF-8?B

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List