QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Monday, May 21, 2018

Đà Nẵng vào những ngày cuối tháng 3 năm 1975

 

 
Xin trí ân anh Nguyễn Kinh Doanh  đã kiên trì giúp tin tức trung thực đến đồng hương, một cống hiến  rất quí cho cộng đồng Việt.
 Anh đã trả lời những câu hỏi một cách rất thẳng thắn và rõ ràng.
Xin chúc mừng anh và hy vọng anh sẽ tiếp tục phục vụ cộng đồng Người Việt Hải Ngoại trong những ngày sắp tới.
Kinh Nghiệm Đối Phó Với Cảnh Sát Khi Bị Phạt Giao Thông






Phan Đức Minh       

(Tặng người thân và bạn bè đã sống và làm việc cùng tôi tại  thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn này)
  
     Đà Nẵng vào những ngày cuối tháng 3 năm 1975 thật là hỗn độn, rối lọan. Quân đội và dân chúng từ các Tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, thành phố Huế đổ xô về, làm cho cái thành phố đã đông dân này càng thêm đông đảo. Cái Radio 4 băng tần tối tân nhất cuả Nhật lúc bấy giờ, lúc nào cũng ở bên cạnh tôi. Theo tin từ các Đài Phát Thanh trong và ngòai nước thật là lộn xộn, không giống nhau… Theo đài phát thanh Quân Đội, Sài Gòn, VOA, BBC cũng như một vài đài khác cuả nước ngòai, tôi vô cùng kinh ngạc là Huế có lệnh rút bỏ mặc dầu chưa đánh nhau chi cả. Sao lạ quá như vậy ? Tôi gọi điện thọai, hỏi mấy Ông bạn thân là Đơn Vị Trưởng trong vùng thì họ cũng trong tình trạng như tôi, không rõ đầu đuôi, tình hình ra sao hết. 

     Thành phố Đà Nẵng đông chật những người là người. Vấn đề an ninh, lộn xộn mỗi lúc một thêm gay gắt. Nhiều binh sĩ tức giận, bắn súng lên trời như những kẻ điên khùng vì không hiểu tại sao lại có lệnh rút lui, bỏ hết các trận tuyến gây nên tình trạng hỗn loạn thê thảm này trong khi chưa chạm địch, chưa đánh đấm chi cả. Xưa nay có bao giờ thế đâu! Tự nhiên không đánh nhau, mà chỉ biết bỏ chạy là làm sao?


     Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Đòan I kiêm Vùng I Chiến Thuật, có lẽ là người duy nhất ở đây biết được chuyện này, do ông được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiêu gọi vô Sài Gòn gấp, họp các Tướng Lãnh, nhưng vào tới nơi thì chỉ có một mình ông gặp Tổng Thống Thiệu và nhận lệnh cuả vị Tổng Tư Lệnh quân đội: “ Rút bỏ Quân Khu I ! “ Tướng Trưởng, một danh Tướng cuả Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, thế giới biết tiếng, biết tên, chết điếng cả người nhưng … chẳng muốn hỏi tại sao vì ông cũng đoán biết: hỏi cũng vô ích, để rồi bỗng dưng khai tử luôn cả một Quân Đoàn ( Army Corps ) hùng mạnh cho nó tan hàng , xập tiệm, và cả Vùng I Chiến thuật bao gồm 5 Tỉnh: Quảng Trị, Thưà Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi và 2 thành phố Huế, Đà Nẵng.


     Bộ Chỉ Huy Quân Trấn Đà Nẵng được lệnh rõ ràng cuả Tướng Trưởng: Bất cứ kẻ nào dùng súng đạn cướp bóc, xâm phạm tính mạng, tài sản của dân chúng trong tỉnh trạng rối lọan hiện nay sẽ bị các lực    lượng an ninh, quân cảnh bắn hạ tại chỗ! Tuy có cấp chức được quyền ở cư xá do quân đội cung cấp, nhưng tôi có giấy phép dậy học ngoài giờ làm việc ( chuyên dậy kèm Pháp và Anh ngữ cho rất đông học sinh Trung Học ) để đời sống vật chất tốt hơn, đối với gia đình đông con, tránh được chuyện dính dáng đến tham nhũng, hối lộ, rồi làm “ dê tế thần ” cho tình trạng chính quyền và xã hội “ lem nhem “ thời đó.


     Vài em học sinh chăm chỉ vẫn còn lui tới: “ Thưa Thầy ! các lớp học ra sao, có học tiếp không hả Thầy? “ Tội nghiệp ! Giờ này mà các em vẫn có thể nghĩ đến chuyện học hành.. Tôi nói “ Thôi, chúng ta tạm nghỉ, khi nào yên tĩnh hãy hay. Các em nên tránh bớt việc đi lại ngòai đường phố trong lúc này, rất nguy hiểm.”  Các em ra về, vẻ mặt buồn thiu…Gia đình tôi ở trong một ngôi nhà nhỏ trong khu xóm đồng bào nghèo, nhưng có 2 cái sân đủ cho học sinh 3 lớp học tối mỗi đêm, thay phiên nhau đậu xe gắn máy và xe đạp. Lúc này, tôi dã đưa gia đình và di chuyển những gì cần thiết lên văn phòng Toà Án cho được an ninh vì có anh em Nghĩa Quân canh gác các cơ quan chính quyền. 
       Các ngân hàng đã đóng cửa, rất nhiều người cũng như tôi, khi nghĩ tới chuyện cần có số tiền phòng thân, đành chịu chết. Thôi, giữ sổ sách rồi vào Sài Gòn hãy hay. Có chi sài nấy vậy. Ai cũng nghĩ như thế để an tâm đối phó với tình hình trước mặt, ngày càng gay go, hỗn độn. Tôi điện thọai vào phi trường quân sự, định hỏi Thiếu Tá Trưởng Phòng An Ninh, không có, xin gặp Đại Úy Quang, cũng không có, chỉ có Trung Úy Bẩy trả lời, “ Thiếu Tá ơi ! Tụi nó pháo kích hỏa tiễn 122 ly của Trung Cộng cầy nát phi đạo rồi, máy bay của mình không đáp xuống được nữa, chỉ sài được trực thăng thôi.  Người đông nghẹt mà trực thăng không thấy đến chi cả ! “ Tôi điện thọai sang Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I, hỏi thăm mấy Sĩ Quan thân thiết thì được hay: Tại Cảng Tiên Sa, tầu không đủ chuyên chở quân đội di tản cùng với gia đình cũng như đồng bào trốn chạy quân cộng sản đang tiến vào thành phố bằng nhiều ngả, bao vây chung quanh Đà Nẵng.


     Lệnh trên: rút bỏ Quân Khu I không đánh đấm chi cả thì tình trạng làm sao khác được ! Địch pháo kích chung quanh Đà Nẵng ầm ầm… Tôi gọi sang Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Quân Khu. Đại Tá Chỉ Huy Trưởng vẫn còn ở đó. Là bạn thân với nhau từ hồi còn nhỏ, lưu lạc giang hồ, mãi sau này mới gặp lại nhau và lần sau cùng là ở Đà Nẵng. Tôi chở tất cả gia đình trên chiếc xe jeep, gồm nhà tôi và 7 đứa con, đứa con gái lớn, đứa con trai kế 16 tuổi, đứa con gái út mới được 6 tháng, vợ tôi phải bồng ẵm trên tay, đến Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Quân Đòan.


     Lúc đó là chiều ngày 28 tháng 3, tôi gọi cậu tài xế trung thành và can đảm, Binh nhất Túc, mà tôi đã đích thân đến đơn vị hành chánh quản trị địa phương, lựa chọn rồi hỏi han về tình trạng khó khăn khiến hắn can tội đào ngũ. Tôi liên lạc với đơn vị gốc của Túc, nhận cho hắn làm tài xế vì Tòa Án có xe nhưng không đủ quân nhân tài xế. Sau này, tôi thấy Túc tận tâm, chu đáo và trung thành, nên tôi nói với đơn vị đề nghị cho Túc lên Hạ Sĩ, mong ngày nào nào đó không xa, cho hắn lên hạ sĩ nhất  thì đồng lương cũng đỡ khổ cho gia đình.. Tôi bảo: “ Thôi, cậu lo cái xe cho tốt, đầy đủ săng nhớt rồi cho cậu về lo chuyện gia đình, Tôi lái lấy cũng được.. Đây, chìa khóa văn phòng và tất cả những gì của gia đình tôi trong đó, nếu tôi đi khỏi thì tất cả là của cậu. Cậu ở lại lo cho gia đình. Vợ con cậu cũng cần đến cậu trong lúc hỗn lọan này. Đem những thùng, hộp thực phẩm khô, sữa hộp chia cho anh em Nghĩa Quân.. Tôi sẽ cho lệnh họ : khỏi canh gác nữa ! Tòa chỉ còn tôi là Sĩ Quan cuối cùng ở đây, anh em Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ thì ở trại gia binh rồi. 
     Dân chạy loạn được tầu Mỹ  câu lên - 
Cho họ về lo thu xếp , bảo vệ gia đình. ”Tôi bắt tay cậu tài xế, Hạ Sĩ Túc. Cậu tài xế cứ nắm chặt lấy tay tôi, nói trong nghẹn ngào“  Em không nỡ để Thiếu Tá và Cô đi một mình với các em như thế này. Cứ để em đi theo, thầy trò mình sống chết có nhau, gia đình em đông người, nhiều bà con, dân địa phương, em là binh sĩ nên không có gì khó khăn nhiều như Thiếu Tá. Thiếu Tá đi được rồi, em trở lại với gia đình cũng được, không sao cả! “ Tự nhiên tôi thấy mắt mình nhòa đi trước tấm lòng của cậu tài xế trung thành và can đảm, luôn luôn nghĩ đến tôi, và gia đình vì chúng tôi: một Sĩ Quan cấp Tá , Phó Ủy Viên Chính Phủ Toà Án Quân Sự Mặt Trận Quân khu I và một binh sĩ luôn sống với nhau như người trong một gia đình ruột thịt đã nhiều năm, nhiều tháng.


     Tôi bảo: “ Túc ! Cậu phải nghe tôi, về trông coi, bảo vệ lấy gia đình trong lúc này ! Tôi tới Bộ Chỉ Huy Pháo Binh bây giờ. Ông Đại Tá Chỉ Huy Trưởng còn ở đó! “ Hạ Sĩ Túc, cậu tài xế rời nắm tay tôi rồi đứng nghiêm, giơ tay chào nghiêm chỉnh: Kính chúc Thiếu Tá, Cô, cùng các em ra đi bình an ! Tôi thấy rõ cậu tài xế can đảm và trung thành bật khóc. Chắc chắn là hắn khóc cho gia đình tôi trong cơn nguy biến, mà tôi bắt hắn phải ở lại… Trên đường, một chiếc xe Jeep chạy ngược chiều với tôi, trên có 4 Sĩ Quan Thủy Quân Lục Chiến, tuổi còn trẻ nhưng đều đeo lon Cấp Tá, rất quen thuộc, tôi chạy chậm lại, giơ tay vẫy chào, và hỏi to, “ Có chi lạ không ? “ Mấy Ông bạn cũng giơ tay vẫy. Một anh bạn người Nam la lớn:   “ Đù má nó ! Anh coi chiến tranh kiểu chi lạ! Tụi này có bao giờ bỏ chạy như thế này đâu! Lại mấy thằng mất dậy…đem con bỏ chợ, âm mưu buôn bán xương máu tụi mình đây thôi !…” 

      Gia đình Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh đã vào Sài Gòn ít hôm trước, Ông còn ở lại vì Tướng Trưởng và Bộ Tư Lệnh Quân Đòan vẫn còn ở Đà Nẵng. Đang ăn cơm tối với nhau thì điện thọai reo . Sĩ Quan trực chạy vào báo cáo: Thưa Đại Tá! Có lệnh của Trung Tướng mời Đại Tá sang ngay Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn! Ông Đại Tá bắt tay tôi và mấy Sĩ Quan thuộc quyền của Ông đã tụ tập về đó: “ Chúc Anh Chị, quý vị các cháu và tất cả bình an. “ Ông còn dặn tôi trong lúc vội vã quay đi “ Anh cho Chị và các cháu ngủ tạm trong hầm của tôi, rất tốt! Nếu thiếu chỗ thì giường của tôi trong phòng kia… “ Sau này, toi biết là Ông cùng Bộ̣ Tư Lệ̣nh Quân Đoàn sang sân bay trực thăng Non Nước để̉ ra tàu Hải Quân cuả Mỹ chờ ngoài biển. 

     Tôi mặc nguyên quân phục tác chiến, với khẩu súng Colt - 12 bên mình, chỉ bỏ cái mũ sắt 2 lớp ra, rồi ngả lưng xuống giường thiu thiu ngủ chập chờn… Điện thọai reo, Sĩ Quan trực chạy sang: Thưa Thiếu Tá, Bộ Tổng Tham Mưu tại Sài Gòn cho hay: 5 chiếc Tầu Hải Quân đã được lệnh lên đường, ra Biển Mỹ Khê, Đà Nẵng chuyên chở quân đội, gia đình và dân chúng. Tầu sẽ tới nơi vào khuya đêm nay hay sáng sớm mai… 

Tôi đang mơ mơ màng màng trong giấc ngủ nặng nề thì có người đánh thức tôi dậy và nói trong sự vội vàng,  ”Thiếu Tá ! Thiếu Tá ! Mình phải đi ngay, rời khỏi nơi này vì tin tức cho hay quân cộng sản Bắc Việt đã tới rất gần thành phố, không gặp sự kháng cự nào cả…“  Tôi đánh thức gia đình, vợ con rồi tất cả lại lên chiếc xe Jeep với ít đồ đạc gọn nhẹ tùy thân, nhắm hướng Bãi Biển Mỹ Khê phóng đi, sau khi bắt tay vội vàng vài Ông bạn Sĩ Quan Pháo Binh.


     Xe chạy được một quãng khá xa, chừng dăm cây số, bỗng đưá con gái lớn cuả chúng tôi kêu thất thanh: “Cái va-li da cuả Mợ đâu rồi ? “ Trong số đồ đạc mang theo thì cái va-li da đó có chút ít tài sản còn lại đáng giá hơn mấy cái va-li đã nằm trong xe Jeep để sống, do bà nhà tôi và đưá con gái lớn, vốn tính cẩn thận, trông coi cho chắc ăn. Mọi người trên xe nhận ra là trong lúc vội vàng di chuyển, chính cái va-li đó đã bị gia đình tôi bỏ lại ở trại Pháo Binh vưà rồi. Chết thật! Tôi lái xe quay lại ngay lập tức, nhưng khó khăn vì người di chuyển quá đông.


     Chạy trở về trại Pháo binh, vẫn còn 2 cậu lính gác, tôi đậu xe ngay cưả phòng vưà rời ban nẫy, chạy như bay vào trong. May quá ! ( cái may đầu tiên ) Chiếc va-li đã được lôi từ trong căn hầm gia đình tôi ṭam trú lúc trước, nhưng chưa đem lên xe, vẫn còn nằm trơ một mình sau cánh cưả lối lên phòng tôi nằm. May mà còn lính gác, nếu không thì dân chúng quanh đó và bọn cướp phá cơ quan, công sở đã tràn vào vơ vét tất cả những gì còn ḷại, và cái va-li “quan trọng nhất cuả gia đình tôi “ cũng mất tiêu rồi. Nếu nó bị mất thì không biết sau này gia đình tôi cầm cự ra sao với cuộc sống đổi đời với trăm ngàn khổ cực. Trời Đất đã cứu gia đình tôi.. Đưá con gái lớn lần này tay lúc nào cũng để lên cái va-li vưà tìm lại được.Tôi lái xe ra cổng, anh em binh sĩ vẫn còn canh gác. Tôi nó : “ Anh em về đi, lo chuyện gia đình, doanh trại không còn ai nữa! “ 

     Trời đất ! Đường xá ban đêm mà lúc này đông nghẹt những người là người, di chuyển bằng đủ mọi cách. Tất cả đều hướng về phía Cảng Tiên Sa và bãi biển Mỹ Khê. Tôi lái xe, khẩu Colt-12 đeo trước ngực, ̣ kiẻu Sĩ Quan Đức, đã lên đạn, khoá chốt an toàn, khẩu M-16 đã lên đạn sẵn, cũng khóa chốt, để ngay bên cạnh. Đứa con trai lớn nhất 16 tuổi, có mặt trong xe cũng đã được tôi chỉ dẫn để sử dụng khẩu tiểu liên hạng nhẹ Carbin M-2 để đề phòng trường hợp bị bọn bất lương, tấn công, cướp bóc trong khi hỗn lọan. Trông cảnh người xe xuôi ngược thật là kinh hoàng, trong khi đó quân cộng sản vẫn pháo kích vào thành phố Đà Nẵng nổ ùynh ! ùynh ! … rải rác đó đây. 
      
     Cái xe Jeep của tôi đang chạy bỗng dưng chết máy, nằm ỳ ngay cạnh đường. Thế là làm sao ! Còn đang lúng túng thì hai binh sĩ cầm M-16 từ cống trại lính bên kia đường tiến đến xe tôi dòm ngó, xem có chuyện chi mà lại dừng xe ngang xương trong dòng người đang chẩy xuôi ra hướng bãi biển. Một binh sĩ chào tôi: Thưa Thiếu Tá ! Sao Thiếu Tá lại ở đây vào lúc này ? – Xe tôi chết máy rồi ! Cậu binh sĩ kia cũng chạy lại rồi la to : Đại Úy Sinh ! Ra mau ! Thiếu Tá Phó Ủy Viên Chính Phủ Tòa Án Mặt Trận đây nè! Đại Úy Từ Khánh Sinh, Đại Đội Trưởng nhẩy dù, bị thương tại mặt trận, sau được đưa về đây làm Quản Đốc Quân Lao Đà Nẵng, dưới quyền cuả tôi. Đại Úy Sinh, quân phục tác chiến chỉnh tề, mũ sắt 2 lớp, giơ tay chào tôi nghiêm chỉnh như thường lệ. Chúng tôi bắt tay nhau trong khi tôi nói: “ Hay nhỉ ! Sao cái xe của tôi lại chết máy ngay ở chỗ này ? Nếu nó chết máy ở chỗ khác thì làm sao đây ? “


     Tôi nghĩ thầm trong bụng: Đây là điều may mắn thứ hai cho chúng tôi trong cơn hỗn lọạn kinh hoàng. Anh Sinh kêu mấy binh sĩ ra đẩy cái xe của tôi vào trong sân trại rồi ra lệnh cho một Thượng Sĩ : “ Lấy cái xe dự trữ cuả mình, lo săng nhớt đầy đủ rồi giúp gia đình Thiếu Tá chuyển đồ đạc sang, chớ lúc này mà xe cộ lộn xộn là nguy hiểm lắm. “ Tôi cảm ơn Đại Úy Sinh, bắt tay viên Thượng Sĩ già rồi vào văn phòng, có vài Sĩ Quan trong đó. Sau vài phút hỏi han tình hình, tôi hỏi Đại Úy Sinh ”Anh em bị giam giữ còn bao nhiêu người ? “ – Thưa Thiếu Tá: gần 7 trăm ! – Việc ăn uống của họ tới ngày hôm nay ra sao? – Hôm nay thì vẫn còn, nhưng ngày mai thì chưa biết, gạo mình còn, nhưng liệu nhà thầu cung cấp thức ăn có còn liên lạc nữa không. Suy nghĩ thật nhanh vài giây rồi tôi quyết định : “ Quân cộng sản đang tiến vào Đà Nẵng mà không đánh nhau chi cả. Nhân danh Sĩ Quan cấp chức cao nhất của 2 Tòa: Mặt Trận Vùng I và Tòa Thường Trực Đà Nẵng, hiện có mặt tại đây,  tôi ra lệnh thả hết tất cả quân phạm không phân biệt đại hay tiểu hình, sĩ quan hay binh sĩ……En temps de guerre ! En cas de force majeure ! ( trong lúc chiến tranh ! Trong trường hợp bất khả kháng ) chúng ta có quyền làm bất cứ cách nào để bảo vệ sinh mạng của ngần đó con người, đã từng là quân nhân như chúng ta. Họ cũng có thân nhân gia đình đang đợi chờ họ. Anh Sinh cho thư ký đánh máy biên bản theo lời tôi đọc  “ Lệnh thả hết quân phạm “… Tôi sẽ ký tên với tính cách người ra lệnh, và tất cả Sĩ Quan có mặt cùng ký tên với tính cách nhân chứng, hiểu biết quyết định này. Sau này vào Sài Gòn, chúng ta có giấy tờ trình Nha Quân Pháp và Bộ Quốc Phòng là những cơ quan mà hai Toà Án chúng ta trực thuộc. Sáng sớm mai, chúng ta sẽ thả hết … 
                                                                                            * 
     Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ của Quân Lao hầu như vẫn còn có mặt đông đủ tới giờ phút này. Đại Úy Sinh vốn gốc Sĩ Quan nhẩy dù cho nên làm việc rất đàng hoàng, nghiêm chỉnh. Bộ phận cấp dưỡng, dọn cơm tối lên cho mấy anh em Sĩ Quan chúng tôi, vừa ăn, vừa bàn bạc công việc phải làm sáng mai. Một Hạ Sĩ Quan đi xe gắn máy từ Cảng Tiên Sa trở về, báo cáo: Cảng Tiên Sa rất đông người, tầu bè di chuyển không đủ, rất khó khăn, địch thỉnh thỏang lại nã vài trái hỏa tiễn gây chết chóc và thương tích cho bà con… Đại Úy Sinh bảo anh em lo cơm tối cho gia đình tôi và chỗ nghỉ ngơi qua đêm.. Tình “ Huynh đệ chi binh “ những lúc như thế này mới thấy nó cao quý làm sao ! Tất cả đều coi nhau như ruột thịt một nhà. Thật là phúc đức cho gia đình tôi: trong suốt những ngày rối loạn, di tản, chúng tôi may mắn vẫn có chỗ ăn, chỗ ngủ đàng hoàng, không thì khổ cho đám con trẻ biết mấy, nhất là đưá con gái út mới được ̉6 tháng, nhà tôi còn phải bồng ẵm trên tay và lo những bình sưã và biết bao nhiêu thứ cho một đưá bé như thế.. 

      Hôm sau, trời còn sớm lắm, nhưng tất cả chúng tôi đã thức dậy. Tất cả Sĩ Quan chúng tôi cùng binh sĩ trong trại kéo nhau xuống phía khu vực nhà giam. Tôi ra lệnh tất cả Hạ sĩ quan và binh sĩ súng M-16 lên đạn, khóa chốt an toàn, đứng thành 2 hàng. Các Sĩ Quan đứng sau lưng, tôi cho mở cửa nhà giam, rồi dùng loa phóng thanh cầm tay nói lớn : Nhân danh Sĩ Quan có cấp chức cao nhất của Tòa án quân sự Mặt Trận Vùng I và Tòa án quân sự Thường Trực Đà Nẵng hiện có mặt tại đây, tôi ra lệnh thả tất cả anh em ngay lúc này để trở về lo cho thân nhân gia đình trong tình hình khẩn cấp hiện nay…


     Nhiều anh em quân phạm còn nhìn nhau có vẻ ngơ ngác vì họ không biết rõ tình hình bên ngòai. Tôi nói tiếp: Anh em trật tự ra ngòai theo hướng dẫn của 1 Sĩ Quan, xếp hàng 10 người một, cứ đủ 6 hàng thì ngưng lại, ngồi xuống Khi có lệnh hô của 1 Sĩ Quan thì 2 hàng đứng dậy, theo tiếng hô thứ hai là cả 20 người chạy ra khỏi cổng trại, về nhà. Bất cứ ai gây lộn xộn, làm mất trật tự, hay đang chạy mà quay đầu lại hoặc dừng lại bất cứ vì lý do gì, sẽ bị bắn gục ngay tại chỗ! Nghe rõ chưa ? Tất cả anh em đều reo mừng và thi hành lệnh một cách nghiêm chỉnh… 

     Công việc “ thả tù “ đã xong, tôi thở phào nhẹ nhõm, họ cũng là người, từng là quân nhân dù có phạm tội, họ cũng có thân nhân gia đình đang trông đợi trong hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm này, chỉ sợ có sự rối lọan xẩy ra khi anh em nóng lòng, sốt ruột rồi làm càn, ai cũng muốn thóat ra khỏi nhà tù càng sớm càng tốt. May mắn là việc đó đã không xẩy ra.       
        
     Ăn sáng qua loa xong, tôi cho lệnh tập họp tất cả Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ cuả Quiân Lao. Quân số gần như đông đủ hoàn toàn. Với giọng nói trộn lẫn sự sót sa trong lòng, dù rằng cuộc đời cuả tôi đã quen với sót sa, đau khổ, chia lià từ khi 15 tuổi, phải bỏ trường  trung học ở Hải Phòng để lăn mình vào cuộc kháng chiến chống Pháp, địch bắt hai lần, rồi 23 năm lính chống cộng sản, từ Binh Nhì, không theo học trường Sĩ Quan nào cả mà lên Thiếu Tá, với chức vụ   Phó Ủy Viên Chính Phủ toà án quân sự mặt trận Quân khu I ( lãnh thổ trách nhiệm: các tỉnh Quảng Trị, Thưà Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Tín và 2 thành phố Huế, Đà Nẵng ), tôi nói “ Vận nước bắt chúng ta phải bỏ cuộc một cách đau lòng. Chúng ta đã làm hết bổn phận cuả những quân nhân.


     Bây giờ, không còn cách nào khác hơm nưã, tôi khuyên anh em nên trở về ngay,  lo cho gia đình trong cơn hỗn loạn. Súng đạn cá nhân, anh em tùy nghi tìm cách thủ tiêu, ai không làm được thì để vào trong kho súng chắc chắn kia, Sĩ Quan tiếp liệu khoá kỹ lại, không để lọt vào tay những kẻ xấu, dùng nó làm hại người dân vô tội  trong lúc hỗn loạn này. Còn các Sĩ Quan, anh em mình tạm chia tay ở đây và mong có ngày gặp lại. Xin chúc tất cả anh em bình an! “ Tôi bắt tay thật chặt từng Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ…Vài binh sĩ bịn rịn không nỡ rời chúng tôi trong khung cảnh đau đớn như thế này. Họ vẫn còn đứng nghiêm, giơ tay chào theo quân cách rồi mới tan hàng, theo nhau từng nhóm một. Mấy đưá con đã lớn cuả tôi đứng đằng xa, cạnh chiếc xe Jeep, trông thấy cảnh đó̀ cũng hiểu được nỗi đau lòng cuả lớp người cha, anh, những quân nhân chúng tôi, cho nên chúng nó cũng nước mắt sụt sùi.


     Khi ṃoi người đã tan hàng, ai lo việc nấy, Đại Úy Sinh, chỉ có một mình ở trại, lên xe cùng gia đình tôi. Anh lái ra phiá bãi biển Mỹ Khê. Có mấy chiếc tầu Haỉ Quân từ trong Nam kéo ra thật, nhưng đậu hơi xa, nước cạn không vào gần được. Trên tầu đông đặc những người là người và khắp ṃoi chỗ nơi bãi biển, người từ khắp nơi dồn về sao mà đông thế. Cả lính lẫn dân, kẻ lội nước, kẻ đi đủ loại ghe thuyền, cố gắng bơi ra ra tới chỗ tâù đậu. Cầu thang lên tầu không đủ để đưa số người đông đặc như kiến leo lên. Người ta phải dùng đến những cái thang dây dùng trong trường hợp khẩn cấp, nhưng người vẫn chen chúc leo lên, hành lý mang theo rơi rớt xuống biển mỗi lúc một nhiều, rồi đến lúc có những người vì chen chúc, xô đẩy, đuối sức cũng rớt xuống biển đều đều. Những tiếng kêu gào thất thanh càng làm cho cảnh tượng thêm rùng rợn. Nhiều người trên bờ biển khóc thét lên làm cho những đưá con nhỏ cuả tôi cũng oà lên khóc theo.


     Tôi bảo Đại Úy Sinh  “ Mình không thể để cho những đưá trẻ thơ như thế này cũng phải cḥiu cảnh thê thảm đó ! “ Anh Sinh bảo tôi “ Bọn mình tránh ra phiá này, tôi có thằng đàn em ở trong xóm đằng kia. Nó có chiếc ghe dìm dưới nước. Nó và bọn mình đi ghe ra phiá ngoài xa, lên chiếc tầu ở tít ngoài kia mới được. “


     Chiếc xe Jeep cài số nhỏ, ì ạch lăn bánh trên cát, chở đông người chúng tôi tới phiá cách xa đó một khoảng, gần một xóm nhỏ lơ thơ mấy nóc nhà tranh, nhà lá. Anh Sinh chạy vut vào trong xóm rồi ra ngay cùng với một cậu nghiã quân. Chiếc ghe được lôi ở dưới nước lên, đủ chở ngần đó con người, tuy có chút nguy hiểm về an toàn.. Đành liều vậy, chớ biết làm sao ! Bà nhà tôi lên tiếng: “ Sống cùng sống, chết cùng chết với nhau! “ Cậu nghiã quân nói: Thiếu Tá và Đại Úy thay quần áo dân sự đi vì em biết tụi du kích và đặc công nằm vùng đang ra công khai hoạt động để kiểm soát tình hình,phiá sau quân đội đánh chiếm thành phố Đà nẵng và vùng chung quanh, ngăn chặn đồng bào di tản, tụi  nó hung hăng lắm!


     Tôi đã từng có kinh nghiệm khi đi kháng chiến, đứng trong hàng ngũ cuả cộng sản gần 7 năm, công tác trong các văn phòng cơ quan lãnh đạo vì có chút chữ nghiã và có người anh ruột đỡ đầu, che chở, cho nên tôi biết rõ Sách - Lược ( Policy & Strategy ) cuả cộng sản là đánh chiếm một vùng hay một xứ sở, quốc gia nào thì bắt buộc: quân tác chiến làm xong nhiệm vụ, lập tức lực lượng bình định ( Pacificatory forces ) phải kiểm soát an ninh, trật tự, đè bẹp, diệt tan mọi sức kháng cự hay nổi lên làm loạn sau này… Chúng tôi chuyển đồ đạc trên xe xuống bãi cát rồi tôi đưa chùm chìa khóa xe cho một người đàn ông ngòai 50 tuổi dáng hiền lành, đứng cạnh đó, không rõ ông ta thuộc lọai người gì. Tôi bảo : Nếu chúng tôi xuống ghe đi được thì Bác lấy chiếc xe này, đem về biến cải đi mà sài ! Chúng tôi chuẩn bị bước xuống chiếc ghe của cậu nghĩa quân, đã được tát sạch nước, nhưng lúng túng vì đông người, có đám con nít, với đồ đạc…


     Từ phiá làng xóm gần đó, bọn du kích và quân chủ lực miền ( regional forces ) cuả Tỉnh Đội Quảng Nam – Đà Nẵng đã chia nhau từng toán nhỏ đi lùng soát, ngăn chặn tại các điạ điểm trọng yếu, mà bãi biển Mỹ  Khê, Sơn Trà, núi Non Nước vv… là những điểm chúng đã chú ý. Mấy tên du kích chiã súng tiểu liên AK- 47 cuả Liên Sô và cả M-16 cuả quân Việt Nam Cộng Hoà bỏ lại, quát om xòm: “ Không có đi đâu hết cả ! Quay về ngay, không thì…bắn hết ! “ Chúng nổ vài loạt súng vào chiếc thuyền nhỏ và bắt chúng tôi quay lại. Thật là buồn lẫn tức giận vì Đại Uý Sinh từng là Đại Đội Trưởng Nhẩy Dù, còn tôi thì đã từng lăn lộn trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Tây bắt 2 lần, rồi 23 năm trong Quân Đội Cộng Hoà từ Lính hạng bét leo lên cấp Tá, từng coi bọn du kích này như bọn … chó chết, nhưng lúc này chúng nó là kẻ thắng trận và đang cầm tiểu liên xung kích trong tay.


     Tôi nói nhỏ với Sinh : thôi quay lại ! Tôi nhìn lũ trẻ mặt mũi lo sợ, kinh hoàng mà lòng đau sót không cách nào nói hết được…. Khi trở lại chiếc xe thì Bác “ nhà quê “ đang ngồi ở ghế tài xề và cho xe nổ máy. Loay loay mà chẳng biết làm sao cho chiếc xe nổ máy.. Tôi nói với Bác ta :   “ Thôi, cảm ơn Bác, chúng tôi không đi được, cần xe chở nhà tôi và các cháu về thành phố kẻo trời chiều đã muộn, ở giưã bãi biển mênh mông thế này, đằng kia người đen như kiến vẫn đang lên tầu và vẫn… đang rơi rụng xuống biển như sung, như lá bay thế kia, coi bộ không được rồi, nhất là các cháu nhỏ như thế này « . Bác ta vui vẻ đưa lại chùm chià khoá cho tôi và bước xuống nhường chỗ cho Đại Uý Sinh và tôi chuyển đồ đạc trở lại trong xe.


     Đây lại thêm  điều may mắn thứ ba cho chúng tôi. Xong việc, tôi bảo anh Sinh lên lái xe, tôi ngồi bên cạnh còn nhà tôi và các cháu ngồi hết ở phiá sau. Đại Uý Sinh ngồi lên cầm tay lái, tôi quay lại nói với người đàn ông hiền lành, gần như không thấy nói năng gì cả: Cảm ơn Bác nghe ! Cầu chúc Bác bình an ! Trong khi Đại Uý Sinh cài số nhỏ, lái xe ì ạch lăn trên bãi cát, tìm lối lên bờ, tôi nói với anh Sinh : May mà tay này hiền lành, thật thà, mở xe mấy lần máy không nổ, nếu nổ máy, liệu anh ta có biết lái nó đi đâu không, và chúng tôi cả bọn đang đứng ở giưã bãi biển mênh mông, với nhiều đe doạ, nguy hiểm, không biết sẽ ra thế nào khi trời đã dần dần ngả bóng về chiều, trong khi anh Sinh chỉ mở máy một cái là xe nổ máy tức khắc, xe tốt, để dự trữ cuả đơn vị anh Sinh kia mà, chớ gặp anh chàng kia là thứ dữ thì thật là khổ sở vất vả cho gia đình tôi với đám con phần nhiều còn nhỏ, đồ đạc lỉnh kỉnh… Xe đã tìm được lối lên đường, quay trở lại lối cũ phải qua Quân Lao Đà Nẵng.


     Trời đất ! Doanh Trại Quân Lao Đà Nẵng cuả Đại Uý Sinh lúc này đông nghẹt bà con, dân chúng ở đâu kéo đến tạm trú, chắc bà con cũng định nhắm hướng bãi biển Mỹ Khê, Tiên Sa, nhưng thấy trời đã sắp tối nên kéo nhau vào đây. Anh Sinh lái xe vào trong, đậu trước hai căn phòng cưả chắc chắn, khoá bằng những chiếc khoá đặc biệt cho nên không có ai vào đây. Mấy anh em binh sĩ cuả anh Sinh, nhà ở liền đó, biết được chúng tôi đã quay trở lại Quân Lao, liền chạy đến, xem có thể giúp đỡ được gì chăng. Đến lúc này mà anh em vẫn còn nghĩ đến chúng tôi, thật là tình “ Huynh Đệ Chi Binh “đúng là bất diệt… Lúc này theo tin tức thì quân cộng sản đã vào kiểm soát thành phố Đà Nẵng.


     Chúng tôi cũng như bao nhiêu Sĩ Quan, quân nhân từ Quảng Trị dồn về vùng đất này hầu hết đã bị dồn vào chỗ chết, nhưng biết làm sao, đành theo vận nước.. Qua một đêm khó khăn, khắc khoải ở Quân Lao Đà Nẵng, đơn vị cũ cuả Đại Uý Sinh, anh Sinh lo cho chúng tôi là một chuyện, lo cho gia đình, nhà tôi và lũ con còn nhỏ, cũng như cho chính anh với tương lai tối tăm trước mặt, thật là kinh khủng. Trời sáng lúc nào không hay. Tôi bảo Đại Úy Sinh chạy vào ngôi chùa của Quân Lao, ( trong khu vực Quân lao có một ngôi Nhà Thờ và một ngôi Chùa nhỏ dành cho quân  phạm sinh hoạt tâm linh theo giờ giấc quy định ) kiếm một lá cờ Phật Giáo vì lúc này Thầy Thích Trí Quang “ Chuyên viên tôn giáo vận “ cuả Cộng Sản Việt Nam từ 1946, từ hồi tôi còn đang trong hàng ngũ kháng chiến với ông, là nhân vật quyền hành lớn lao, người dân miền Nam ai cũng phải biết lúc này vì ông lãnh đạo “ thành phần thứ ba “ ngoài hai lực lượng khác cao hơn: cộng sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, đứng đầu là Chủ Tịch Nguyễn Hữu Thọ, rồi đến Thủ Tướng Huỳnh Tấn Phát, nhưng thực ra tất cả đều đặt dưới sự lãnh đạo cuả Bộ Chính Trị Trung Ương cộng sản Hà Nội. Nhân vật Thích Trí Quang kêu gọi: Các Bác Sĩ trở về bệnh viện cuả mình làm việc vì số Xe tăng cộng sản vào thành phố Đà Nẵng thương vong quân đội, dân chúng quá nhiều, kêu gọi quân nhân cuả nam Việt Nam đem súng đạn đến nạp tại sân chuà trong thành phố, thị trấn, và ra trình diện Uỷ Ban Quân Quản khi có lệnh…


     Bà con nói: Sân Chuà Tỉnh Hội Đà Nẵng ở đường Ông Ích Khiêm là một cái núi chất đầy súng đạn, nhiều nhất là súng M-16 trang bị cho các lực lượng võ trang chính quy cuả Nam Việt Nam, còn vứt rải rác khắp hang cùng, ngõ hẻm thì không kễ. Tất cả chúng tôi lại chất đồ đạc lên xe trở vào thành phố Đà Nẵng, là vùng đất chết lúc này, nhưng biết làm sao khác được ! Xe ra khỏi cổng trại với chiếc lá cờ Phật Giáo to tổ chảng bay phất phới. Xe chạy sắp tới ngã ba rẽ vào thành phố Đà Nẵng và đi Huế thì mấy chú bộ đội chủ lực cuả Tỉnh Đội Quảng Nam ( tôi đoán thế ) mũ tai bèo, súng AK-47 từ bên cạnh đường nhẩy ra chặn xe lại và yêu cầu Anh Sinh và tôi buớc xuống khỏi xe.


     Thấy mấy tên bộ đội non choẹt, nếu trước đó ít lâu thì cứ một chiến binh lính Dù cuả anh Sinh là dư sức “ sơi tái “ một lúc cả 3 tên bộ đội ‘ bé choắt “ này trong 30 giây đồng hồ, tôi chơi nước liếu hét to : “ các anh trông lá cờ trước mũi xe kia! Lệnh cuả Ban Quân Quản Đà Nẵng và Thầy Thích Trí Quang sai chúng tôi liên lạc khẩn cấp với Chuà Tỉnh Hội Đà Nẵng xin xe cộ ra bãi biển Tiên Sa chở bà con, đồng bào bị thương nằm la liệt ngoài đó, chậm không đưa về bệnh viện là chết hết ! “ Mấy chú bộ đội ngơ ngáo nhìn nhau rồi khoát tay : “ Thôi đi mau lên ! “.


     Chạy vào phiá thành phố rồi, tôi mới bảo Đại Uý Sinh: Moa không hét toáng lên như vậy là chúng nó bắt hai anh em mình xuống ngồi tập trung với đám người ở bãi cỏ rồi, lúc đó nhà tôi và lũ trẻ này sẽ ra sao ! Kinh khủng quá ! Xe chạy vào trung tâm thành phố thì bọn tôi thấy cờ đỏ sao vàng và cờ Mặt Trận Giải Phóng miền Nam đã đầy ngập thành phố, khắp chốn hang cùng ngõ hẻm. Mà thật ! Một nhóm các em học sinh, trong đó có cả học sinh cuả tôi mấy hôm trước, đã bị luà ra đầy đường phố, mỗi nhóm có kèm hai, ba tay súng đặc công chỉ huy, làm công tác tuyên truyền, kêu gọi bà con trở về…thành phố đã được giải phóng !


     Hai em học sinh chạy lại bên tôi nói : Thưa Thầy ! Thầy đưa Cô và các em về nhà, và có cần đi đâu trong thành phố nưã thì Thầy cứ việc đi thoải mái. Xong việc, xin Thầy giao xe lại cho chúng em vì lúc này Thầy cũng biết rồi, thành phố cần quản lý và sử dụng tất cả mọi thứ xe cộ, nhất là cuả quân đội cũ. Tôi bảo một em biết lái xe, nhẩy lên ngồi phiá sau, chật chội, anh Sinh lái đến một gia đình quen biết ở gần đó rồi giao tay lái lại cho tôi. Sau cái bắt tay từ giã sót sa, nhưng  đầy tình “ chiến hữu “, chúng tôi vẫy tay chào nhau khi tôi lái xe thẳng đến Toà Án Quân Sự Mặt Trận Quân Khu I. Tôi rút chià khoá xe, nắm trong tay, rồi nhẩy xuống, chạy ào vào văn phòng cũ cuả tôi. Trời đất ! Một cảnh hoang tàn, hỗn độn diễn ra ngay trước mắt tôi : Bao nhiêu hồ sơ, giấy tờ cuả văn phòng, cộng thêm cái đống sách 501 cuốn cuả tôi sưu tầm, góp nhặt cả 2 chục năm nay nằm lung tung, bưà bãi, ngổn ngang như một đống rác. Đã xót sa cho vận nước, tôi càng thêm xót sa cho cái cảnh này. Chán quá, tôi quay ra xe quên cả lượm lại mấy cuốn Tự Điển Việt , Pháp, Mỹ, Anh dầy cộm…là những thứ cộng sản có thấy tôi giữ, tôi cũng chẳng ngại ngần chì...
   
     Nhẩy lên xe, tôi đưa cả gia đình về nhà cậu tài xế cách đó không xa.. Tôi vưà đậu xe trước cưả nhà cậu tài xế và bước xuống thì cả hai vợ chồng Hạ Sĩ Túc từ trong nhà chạy nhào ra ôm lấy tôi, khóc oà lên mà chẳng nói chi cả. Một lúc sau, vợ chồng hắn mới  buông tôi ra mà hỏi : “ Làm sao bây giờ đây hả Thiếu   Tá ? “ Tôi vỗ vai hai vợ chồng cậu tài xế trung thành, đầy tình nghiã mà nói : “ Rồi sẽ tính ! “, chúc anh chị và các cháu bình an, may mắn, tôi phải đi ngay, cho nhà tôi và các cháu nghỉ ngơi kẻo mệt mỏi quá rồi.


      Tôi lái xe đến nhà người cháu họ ở ngay mặt đường Phan Chu Trinh, Đà Nẵng ở tạm cho được an toàn trong lúc thành phố đang còn hỗn độn như thế này. Tôi chạy sang nhà ông anh họ ở gần đó, hỏi chià khoá vì tôi đoán thế nào đưá cháu  cũng giao chià khoá nhà cho Chú nó là anh họ cuả tôi. trước khi kéo nhau chạy vào Sài Gòn từ sớm vì Mẹ và anh chị em cuả nó đều ở sài Gòn. Gặp anh chị tôi, mọi người nhìn nhau sao mà buồn thảm trong cái cảnh này, không nói ra nhưng ai cũng hiểu : Tôi là Sĩ Quan cấp chức khá cao, đi tù mút muà là cái chắc, còn gia đình anh chị tôi có tiếng là giầu có, buôn bán thành công cả thành phố này ai mà không biết, coi như “ Tư Sản “ hạng nặng rồi . Mở được khoá cưả vào nhà, đưa gia đình, đem đồ đạc vào trong xong, tôi trở ra trao chià khoá xe cho em học sinh đã lớn, hình như đã học lớp 12, chừng 18 tuổi, rành chuyện lái xe và nói: đây chià khoá xe, Thầy giao lại cho em đem về cho cơ quan có trách nhiệm!


     Em nhìn tôi rồi hơi cúi đầu: chào Thầy, em đi ! Chúc Thầy Cô và các em mọi điều may mắn… Tôi quay vào trong nhà, ngồi xuống cái Sô-pha nghỉ ngơi cho bớt căng thẳng đầu óc và cho lại sức, sẵn sàng chờ đón một tương lai đen tối mà tôi đã biết trước, trong khi ngoài đường phố, xe bắc loa thông tin, xe chở công an, bộ đội đi lại phô trương lực lượng chiến thắng, ngả ba, ngã tư đường phố chỗ nào cũng có vài chú bộ đội, ngơ ngáo, mũ tai bèo xách AK-47 đi lại, còn bọn cộng sản nặm vùng, đặc công, cùng bọn “ cách mạng giải phóng theo đuôi mới được 2 ngày “ buộc mảnh vải đỏ ở cánh tay chạy loăng quăng khắp chốn, cứ như ngày hội, trong khi các cưả nhà hai bên đường phố, bà con đóng kín mít, thỉnh thoảng có người hé mở nhìn ra ngoài coi xem “ cách mạng “ đang “ giải phóng “ làm ăn như thế nào…tương lai rồi đi về đâu. Có điều chắc chắn là sẽ tối tăm, mù mịt cũng như nhiều vụ bắt bớ, tịch thu tài sản, cướp bóc vơ vét trắng trợn và nhiều hình thức chết chóc sẽ xẩy ra…
                                                                                                                    
San Diego- California        







__._,_.___

Posted by: NGUYEN DOANH 

Tuesday, May 15, 2018

Khánh thành bia tưởng niệm Dr. Rupert Neudeck (Cap Anamur)




Khánh thành bia tưởng niệm Dr. Rupert Neudeck (Cap Anamur)
Thực Hiện
Bureau CTM Media - Âu Châu
-14/05/2018



Minh Hoài |

Neudeck tại thành phố Troisdorf
TROISDORF – ĐỨC QUỐC (CTM Media) – Thời tiết hôm nay 12.5.2018 rất ấm áp. Trong khuôn viên lâu đài Wissem tại thành phố Troisdorf đông đảo người Việt Nam và quan khách Đức về tham dự buổi lễ khánh thành bia tưởng niệm Dr. Rupert Neudeck. Mặc dầu cảnh sát hiện diện khá đông để bảo vệ những chính khách tối cao của chính quyền, buổi lễ vẫn diễn ra trong bầu không khí vui tươi và trang trọng qua sự điều hợp duyên dáng của hai người trẻ thuộc thế hệ thứ hai, đó là Tường Vân và Trúc Anh của nhóm Văn Vũ Điểm Sáng.
Anh John Meister

Trong bài diễn văn đầu tiên anh John Meister, một người tỵ nạn Việt Nam thế hệ thứ hai, lớn lên ở Đức, đã kể lại một số kỷ niệm rất thân mật và gần gũi với gia đình tiến sĩ Neudeck. Khi còn bé cha mẹ anh có lần dẫn anh đến nhà thăm ông bà Neudeck, và kể cho anh nghe rằng, TS Neudeck là người đã cứu sống gia đình. Lúc ấy cậu bé John mới lên bốn tuổi đáp lại rằng:“Nhưng ông đâu có cứu con!“. Sau này khi lớn lên và nhất là khi có gia đình anh John Meister càng ý thức một cách thấm thía, thế nào là ơn nghĩa được cứu sống để ngày hôm nay anh và cha mẹ quây quần bên các cháu, còn anh John tốt nghiệp chính trị học trong cơ quan chính phủ tại Hamburg.
TS Wolfgang Schäuble, chủ tịch quốc hội Đức


Vị đại khách của buổi lễ khánh thành là TS Wolfgang Schäuble, chủ tịch quốc hội Đức Quốc. Đây là một vinh dự rất lớn cho người tỵ nạn Việt Nam. „Sống hết lòng bắt đầu từ nhận thức rằng bạn có thể thay đổi cuộc sống.“, TS Wolfgang Schäuble trích lời của TS Rupert Neudeck. Đối với ông thì TS Neudeck là một người quyết tâm, quật cường và quên mình. Cùng với nhà văn Heinrich Böll TS Neudeck đã làm những việc có giá trị lên trên cả tình đồng loại. Vào thời điểm đó chính phủ Đức không muốn nhận người tỵ nạn Việt Nam, nhưng đối với TS Neudeck thảm trạng người Việt chết trên biển đã trở thành một „Lệnh truyền luân lý“. Không riêng gì tại Á Châu mà còn tại Phi Châu TS Neudeck đều ra tay giúp đỡ hết mình và quên mình. Vì thế, nếu còn sống chắc hẳn TS Neudeck sẽ không đồng ý xây bia tưởng nhớ ông, vì ông không coi trọng hình thức bề ngoài, ông chủ tịch quốc hội nhận định như vậy và kết thúc bằng câu: „TS Neudeck sống mãi trong lòng những người đã được ông cứu sống, cũng như trong tim những ai đã đáp ứng lời ông kêu gọi mà rộng tay đóng góp.“
Kế đến là phần phát biểu của phó đô trưởng, ông Rudolf Eich. Ông dí dỏm nói rằng:“Troisdorf không phải là thành phố đẹp nhất nhưng là thành phố nhiệt tâm nhất. Troisdorf có một người anh hùng đi giúp người khắp nơi trên thế giới, và vì thế chúng tôi đã chọn TS Neudeck làm gương cho thế hệ trẻ. Chúng tôi đã đặt tên cho một trường học tại Troisdorf là Rupert-Neudeck-Schule, một trường học không bài ngoại và can đảm dấn thân.“
Dr. Norbert Röttgen, chủ tịch Ủy Ban đối ngoại của Quốc hội Đức.

Một trong những người gần gũi gia đình TS Neudeck là Dr. Norbert Röttgen, cựu bộ trưởng bộ môi sinh. Hiện nay ông là chủ tịch Ủy Ban đối ngoại của Quốc Hội. Ông nhận thấy rằng TS Neudeck là một người có Ơn gọi; một người suy nghĩ sâu sắc, dám nói và dám làm; một người viết luận án tiến sĩ về Jean-Paul Sartre (triết lý hiện sinh) và Albert Camus, như là hai vị đại diện cho chủ trương „dầu gì đi nữa thì vẫn phải tranh đấu tới cùng vì nhân phẩm của từng cá nhân ở khắp mọi nơi“. Ông Dr. Röttgen đặt biệt cảm ơn người Việt Nam đã cho ông món quà là buổi lễ khánh thành ngày hôm nay, „qua cách thức quý vị tổ chức buổi lễ, qua những gì quý vị nói và cách nói của quý vị làm tôi rất cảm kích.“
Ông Ruprecht Polenz

Người sinh viên cùng thời và cùng tổ chức Sinh Viên Công Giáo với TS Neudeck là ông Ruprecht Polenz, (hiện là khâm sứ đặc nhiệm của Bộ Ngoại Giao) kể rằng, „khi còn là thành viên hội đồng thành phố Münster chúng tôi đã ủng hộ chiến dịch cứu thuyền nhân Việt Nam và đã nhận 100 người Việt nhiều hơn con số do chính phủ quy định.“ Ông Ruprecht Polenz cho rằng, nếu TS Neudeck còn sống thì ưu tư của ông hiện nay sẽ là kêu gọi Đối Thoại với các giáo hữu Hồi Giáo để cùng nhau tác tạo hòa bình… Và cái bia tưởng niệm giá trị nhất cho TS Neudeck chính là những kỷ niệm về TS Neudeck mà chúng ta mang trong trái tim mình.“
Ca Đoàn Công Giáo Việt Nam từ Hamburg

Trước khi người con trai của TS Neudeck là anh Marcel Neudeck lên tiếng là phần hợp ca của Ca Đoàn Công Giáo Việt Nam từ Hamburg với nhạc phẩm „Cap Anamur“ được một nhạc sĩ Đức tại Bayern sáng tác vào năm 1980. Kế đến Tường Vân và Trúc Anh đã giới thiệu giảng sư trường đại học nghệ thuật Aachen ông Jost Mayer, là người trách nhiệm thực hiện bia tưởng niệm TS Neudeck.
Marcel Neudeck

Anh Marcel Neudeck đã có một cử chỉ gây xúc động và để lại một ấn tượng rất đặt biệt trong mọi người, nhất là người Việt Nam. Anh xin lỗi quý quan khách cho anh phá lệ không chào theo thứ tự thông thường và trịnh trọng, nhất là khi có sự hiện diện của vị chủ tịch Quốc Hội Đức Quốc Dr. Wolfgang Schäuble (nhân vật thứ hai sau Tổng Thống Liên Bang Dr. Frank-Walter Steinmeier). Trong chiếc áo sơ-mi đơn giản như người cha của anh, Marcel Neudeck đã chào mọi người  „Liebe Schwestern und Brüder, liebe Tanten und Onkel, und liebe Mama!“, trong tiếng vỗ tay tán thành rộn ràng… „Tôi xin thay mẹ nói lời cảm ơn chân thành đến các bạn. Tôi đã lắng nghe rất kỹ những lời chia xẻ của các bạn. Giây phút này đối với tôi rất đặc biệt. Vui lẫn buồn. Tôi nghĩ, bố tôi Rupert đang hiện hữu với chúng ta ở đây, có thể trên cây này… Như Dr. Wolfgang Schäuble đã nói, bia tưởng niệm cho Rupert Neudeck tự nó là một mâu thuẫn. Rupert coi nặng tha nhân hơn mình… Tôi xin gửi đến các bạn một hình ảnh trắng đen chụp Rupert trên thuyền Cap Anamur, khi ông nhận một bức hình chân dung do một người Việt Nam vẽ tặng. Tôi nghĩ rằng Rupert thích một bức hình về mình như thế này…“
Bà Christel Neudeck

Kế lời người con trai, bà Christel Neudeck đã trích hai văn thư chào mừng của nữ thủ tướng Dr. Angela Merkel và nữ bộ trưởng quốc phòng Dr. Ursula von der Leyen. Ngoài ra, bà Neudeck còn nêu tên hai nhân vật quan trọng, mà nếu không có họ thì chiến dịch Cap Anamur đã không thành, đó là nhà văn Heinrich Böll và nhà báo Franz Alt. Bà quả quyết rằng, ai đến Đức và chấp nhận hiến pháp của Đức thì người đó cơ hội hội nhập thành công. Trước khi dứt lời và chấm dứt buổi lễ khánh thành bà mời mọi người ghé sang phòng hội để gặp gỡ Franz Alt cũng như chiếu cố quầy thông tin của tổ chức Grünhelme do cô Yvonne Neudeck (con gái của ông bà Neudeck) đảm trách. Đây là cơ hội để những người Việt Nam mang ơn có cơ hội trả ơn qua nỗ lực đóng góp tài chánh dài hạn cho chương trình nhân đạo của tổ chức Mũ Xanh của vị đại ân nhân TS Rupert Neudeck.
Photo: Minh Hoài & Minh Thông

https://s13393.pcdn.co/wp-content/uploads/2018/05/troisdorf_5.jpghttps://s13393.pcdn.co/wp-content/uploads/2018/05/troisdorf_2.jpghttps://s13393.pcdn.co/wp-content/uploads/2018/05/troisdorf_3.jpghttps://s13393.pcdn.co/wp-content/uploads/2018/05/troisdorf_1.jpghttps://s13393.pcdn.co/wp-content/uploads/2018/05/troisdorf_6.jpghttps://s13393.pcdn.co/wp-content/uploads/2018/05/troisdorf_8.jpghttps://s13393.pcdn.co/wp-content/uploads/2018/05/troisdorf_9.jpghttps://s13393.pcdn.co/wp-content/uploads/2018/05/troisdorf_sch%C3%A4uble-2.jpghttps://s13393.pcdn.co/wp-content/uploads/2018/05/troisdorf_13.jpghttps://s13393.pcdn.co/wp-content/uploads/2018/05/troisdorf_10.jpghttps://s13393.pcdn.co/wp-content/uploads/2018/05/troisdorf_11.jpghttps://s13393.pcdn.co/wp-content/uploads/2018/05/troisdorf_12.jpghttps://s13393.pcdn.co/wp-content/uploads/2018/05/troisdorf_5.jpg

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh <

Monday, May 7, 2018

HƯỚNG-DẪN LỐI ĐI ĐẾN MỘ-PHẦN CỐ TT. NGÔ ĐÌNH DIỆM


                     HƯỚNG-DẪN LỐI ĐI ĐẾN MỘ-PHẦN CỐ TT. NGÔ ĐÌNH DIỆM
Hôm nay Thứ tư 06-04-2011 nhằm ngày 04-03 Tân-Mão. Chúng tôi bắt đầu khởi-hành chuyến đi từ Nam ra Bắc. Trước là tảo-mộ tổ-tiên, ông bà. Song song đó là kính-viếng các chiến-hữu cũng như anh hùng chiến-sĩ vô danh đã vị quốc vong thân.
Như thường-lệ của những năm qua, chúng tôi đều khởi đầu bằng lễ viếng mộ Cố Tổng-thống Ngô-Đình-Diệm, Cụ bà Thân sinh, hai bào đệ Ngô-Đình-Nhu và Ngô-Đình-Cẩn của Người.
Nhân đây chúng tôi xin gửi đến https://baovecovang2012.wordpress.com/ một vài hình-ảnh, có thêm ghi-chú và hướng-dẫn lối đi cho những vị nào có dịp về nước. Hầu giúp ích quý vị, nếu quý vị có lòng đến viếng mộ-phần của Cố Tổng-thống Ngô-Đình-Diệm.
Nếu chúng ta phát xuất từ Saigon, chúng ta có nhiều đường để tới nơi. Nhưng chúng tôi dẫn cử 2 lối như sau là thuận-tiện nhất :
1- Đi bằng QL. IK – QL này trước khi Tổng-thống Ngô-Đình-Diệm thiết-lập xa-lộ Saigon – Biên-hòa, nó là đường xuyên Việt, tức Quốc lộ I.
Ngày xưa, người ta đi từ Saigon đến Biên-hòa thường phải qua chiếc cầu đầu tiên là cầu Sắt (Dakao), cầu này sàn bằng gỗ, mỗi lần xe đi qua kêu xập-xình, xập-xình rất vui tai. Rồi đi tới cầu Bình-lợi ở giữa có đường rầy xe lửa xuyên Việt, để tới Thủ-đức và qua núi Châu-thới tức là gần vào trung-tâm Biên-hòa.
vantoan_thammo1
Cầu Bình-lợi nằm trên trục đường Quốc-lộ I nằm trên sông Saigon, thời Pháp-thuộc đến trước khi Xa lộ Saigon – Biên-hòa khánh-thành. Ảnh : Sưu-tầm
Nay con đường này gọi là QL. 1K. Đến ngã tư có bảng chỉ-dẫn như dưới đây, chúng ta quẹo trái. Phải mất đúng 9 cây số mới tới nơi.
vantoan_thammo2
vantoan_thammo3
2- Nếu chúng ta đi bằng QL 13, đường đi Saigon – Lái-thiêu (Bình-dương). Chúng ta sẽ đến ngã tư thuộc ấp Đông Ba – Xã Bình-hòa – H. Thuận-an – Tỉnh Bình-dương. Chúng ta quẹo phải.
vantoan_thammo4
vantoan_thammo5
Từ ngã tư này chúng ta quẹo phải sẽ gặp trạm thu phí BOT và cứ đi thẳng thêm …
vantoan_thammo6
vantoan_thammo7
… Sau khi quẹo phải đi thêm 200m tới cổng chính như hình dưới đây :
vantoan_thammo9
NGHĨA TRANG NHÂN DÂN SỐ 6 - ẤP ĐÔNG AN – XÃ AN BÌNH – HUYỆN DĨ AN.
NGHĨA TRANG NHÂN DÂN SỐ 6 – ẤP ĐÔNG AN – XÃ AN BÌNH – HUYỆN DĨ AN.
Nhưng chúng ta đừng vào, tiếp tục đi thẳng thêm 100 thước nữa ta sẽ gặp một đường vào nữa (ngay tại ngã ba đầu đường chúng ta thấy có mộ phần của một số thủy-thủ người Nga bị lâm nạn – như hai hình dưới đây. (Họ bị tử nạn tại đâu chúng tôi không hỏi thăm nên không rõ)
Nhưng chúng ta cũng đừng vào.. Đi tiếp thêm 30 thước nữa …
vantoan_thammo11
vantoan_thammo12
Chúng ta sẽ thấy một lối nhỏ (hình dưới) cũng không vào …….
vantoan_thammo13
Nghĩa-trang này sát với đường lộ cái, nên kiếm mộ phần của Cụ rất dễ-dàng (hình dưới) …
vantoan_thammo14
Ba ngôi mộ của Người. Chúng tôi có đánh dấu bằng 3 ô vuông mầu vàng (hình dưới). Từ lề đường, ta phóng tầm mắt tới lưng 3 ngôi mộ này không quá 10 thước
vantoan_thammo15
Từ đây chúng ta thêm vài bước nữa thì đến ngay lối nhỏ vào mộ phận của Cụ. Hình dưới chúng tôi có đánh dấu lối vào bằng hình chữ nhật màu vàng sát với chân cột điện.
vantoan_thammo16
Ngay tại ngõ nhỏ này, chúng ta đã có thể thấy 3 ngôi mộ gia-đình Cụ rất dễ-dàng (chúng tôi có đánh dấu bằng màu vàng)
vantoan_thammo17
PHẦN II
HÌNH ẢNH CÁC MỘ PHẦN
Mộ-phần của  Cố Tổng-thống Ngô-Đình-Diệm
Mộ-phần của Cố Tổng-thống Ngô-Đình-Diệm
Mộ-phần của  bào-đệ Ngô-Đình-Nhu
Mộ-phần của bào-đệ Ngô-Đình-Nhu
Thật ấm lòng xiết bao, khi đến nơi, chúng tôi đã thấy có người đến trước. Hoa một số còn tươi thắm. Một số đã đã héo (được đặt tại mấy tấm bia). Hương gần tàn.
vantoan_thammo20
Chúng tôi bèn bỏ bớt những đóa hoa đã héo úa, chỉ để lại những hoa còn tươi. Dưới đây là ảnh trực diện. Mộ phần Ông Ngô-Đình-Nhu bên trái – ở giữa là của Cụ bà thân-sinh và ngoài cùng ( bên phải ) cố Chí-sĩ Ngô-Đình-Diệm.
vantoan_thammo20b
vantoan_thammo20c
Nhiều người vẫn không quên ông Ngô-Đình-Cẩn. Họ vẫn dâng hương và hoa để tưởng nhớ đến ông. Đối với bọn thân cộng và cộng-sản rất sợ ông nên gọi ông là : Hung-thần miền Trung.
vantoan_thammo21
Quả thật, dưới thời ông, cộng-sản và bọn tay-sai rất khổ-sở, các hoạt-động phá-hoại của chúng khó đạt được kết-quả như trung-ương đòi hỏi.
Bởi thế chúng ta không nên lấy làm lạ về cái gọi là “pháp nạn” lại được khởi xướng từ Huế.
vantoan_thammo22
vantoan_thammo23
Một điều rất đáng chú-ý : Ngôi mộ của ông Cẩn không cận-kề với gia-đình. Vì cớ mộ phần của ông được cải-táng không cùng ngày, và khi lập mộ cũng do những người thợ khác.
Nên chúng ta thấy mộ của ông không cùng kiểu-mẫu với gia-đình.
__._,_.___

Posted by: VIETLONG NGUYEN 

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List