QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Thursday, August 22, 2019

Nếu không nhìn lại, mình sẽ mất quá khứ và tương lai.

 


----- Forwarded Message -----
From: THUC LE 
Subject: Nếu không nhìn lại, mình sẽ mất quá khứ và tương lai.

Nếu không nhìn lại, mình sẽ mất quá khứ và tương lai.



Châu Hiển Lý
Đã hơn 3 thập kỷ trôi qua, làm ăn cực
Đã hơn 3 thập kỷ trôi qua, làm ăn cực nhọc là thế, thành tựu không thể nói là nhỏ, thế mà khoảng cách phát triển của VN so với thế giới sao vẫn xa vời! Không định thần nhìn nhận lại tất cả, không khéo chúng ta sẽ ngày càng đi sâu vào con đường đi làm thuê, đất nước có nguy cơ trở thành đất nước cho thuê với triển vọng là bãi thải công nghiệp của các quốc gia khác! Giữa lúc thế giới đang bước vào thời kỳ kinh tế trí thức!
150 năm đã trôi qua, nhưng bài học này còn nguyên vẹn. Đó là 80 năm nô lệ, 40 năm với 4 cuộc chiến tranh lớn (Pháp, Mỹ, Cam Bốt, Tàu) – trong đó 3 thế hệ liên tiếp gánh chịu những hy sinh khốc liệt, 37 năm xây dựng trong hòa bình với biết bao nhiêu lận đận, và hôm nay VN vẫn còn là một nước chậm tiến.
Thảm kịch của đảng cộng sản thực ra đã bắt đầu ngay từ ngày 30-4-1975. Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. “Tính hơn hẳn” của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.
Nhìn lại sau hơn nửa thế kỷ dưới chế độ CS, hàng loạt các câu hỏi được đặt ra :
_ Năm 1954 sau khi thắng Pháp, tại sao hơn 1 triệu người Bắc phải bỏ lại nhà cửa ruộng vườn di cư vào miền Nam ?
https://i1.wp.com/farm2.static.flickr.com/1253/5125214822_bf6152ff3c_o.jpg
_ Sau năm 1975 , tại sao dân miền Nam không ồ ạt di cư ra Bắc sinh sống để được hưởng những thành quả của CNXH mà chỉ thấy hàng triệu người Bắc lũ lượt kéo nhau  vào Nam lập nghiệp ?
_ Tại sao sau khi được “giải phóng” khỏi gông cùm của Mỹ-Ngụy, hàng triệu người phải vượt biên tìm tự do trong cái chết gần kề, ngoài biển cả mênh mông ?
REPORT THIS AD
_ Tại sao nhân viên trong các phái đoàn CS đi công tác thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị ?
Tất cả những thành phần nêu trên, họ muốn trốn chạy cái gì?
_ Tại sao đàn ông? của các nước tư bản Châu á có thể đến VN để chọn vợ như người ta đi mua một món hàng?
_ Tại sao Liên Xô và các nước Đông âu bị sụp đổ?
_ Tại sao lại có sự cách biệt một trời một vực giữa Đông Đức và Tây Đức, giữa Nam Hàn và Bắc Hàn?
_ Tại sao nước ta ngày nay phải quay trở lại với kinh tế thị trường, phải đi làm công cho các nước tư bản?
_ Tại sao các lãnh tụ CS lại gởi con đi du học tại các nước tư bản thù nghịch?
Hỏi tức là trả lời, người VN đã bỏ phiếu bằng chân từ bỏ một xã hội phi nhân tính. Mọi lý luận phản biện và tuyên truyền của nhà nước cộng sản đều trở thành vô nghĩa.
Sự thực đã quá hiển nhiên nhưng đảng cộng sản không thể công khai nhìn nhận. Họ không thể nhìn nhận là đã hy sinh bốn triệu sinh mệnh trong một cuộc chiến cho một  sai lầm. Nếu thế thì họ không còn tư cách gì để nắm chính quyền, ngay cả để hiện diện trong sinh hoạt quốc gia một cách bình thường.
Nhìn nhận một sai lầm kinh khủng như vậy đòi hỏi một lòng yêu nước, một tinh thần trách nhiệm và một sự lương thiện ở mức độ quá cao đối với những người lãnh đạo cộng sản. Hơn nữa họ đã được đào tạo để chỉ biết có bài bản cộng sản, bỏ chủ nghĩa này họ chỉ là những con số không về kiến thức. Cũng phải nói là trong bản chất con người ít ai chịu từ bỏ quyền lực khi đã nắm được.
Thế là sau cuộc cách mạng long trời lở đất với hơn ba chục năm khói lửa, máu chảy thành sông, xương cao hơn núi, Cộng Sản Hà Nội lại phải đi theo những gì trước đây họ từng hô hào phá bỏ tiêu diệt. Từ ba dòng thác cách mạng chuyên chính vô sản, hy sinh hơn bốn triệu mạng người, đi lòng dòng gần nửa thế kỷ, Cộng Sản Hà Nội lại phải rập khuôn theo mô hình tư bản để tồn tại .
Hiện tượng “Mửa ra rồi nuốt lại” này là một cái tát vào mặt các nhà tuyên giáo trung ương.image

Cách mạng cộng sản đã đưa ra những lí tưởng tuyệt vời nhất, cao cả nhất, đã thực hiện những hành động anh hùng vô song, đồng thời cũng gieo vào lòng người những ảo tưởng bền vững nhất.
REPORT THIS AD
Nhưng thực tế chuyên chính vô sản đã diễn ra vô cùng bạo liệt, tàn khốc, chà đạp man rợ lên đạo lý, văn hóa và quyền con người ở tất cả các nước cộng sản nắm chính quyền. Sự dã man quỷ quyệt mánh lới và sự bất nhân khéo che đậy của Cộng sản chưa hề thấy trong lịch sử loài người.
Con người có thể sống trong nghèo nàn, thiếu thốn. Nhưng người ta không thể sống mà không nghĩ, không nói lên ý nghĩ của mình. Không có gì đau khổ hơn là buộc phải im lăng, không có sự đàn áp nào dã man hơn việc bắt người ta phải từ bỏ các tư tưởng của mình và “nhai lại” suy nghĩ của kẻ khác.
Nền chuyên chính vô sản này làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của một dân tộc, làm tê liệt sự hoạt động tinh thần của nhiều thế hệ, làm nhiều thế hệ con người trở thành những con rối, những kẻ mù chỉ biết nhai như vẹt các nguyên lý bảo thủ giáo điều…
Công dân của nhà nước cộng sản luôn luôn sợ hãi, luôn luôn lo lắng không biết mình có làm gì sai để khỏi phải chứng minh rằng mình không phải là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội.
https://gdb.voanews.com/4E0F73A3-F994-49D9-AB13-008965A54994_mw1024_s_n.jpg
Cơ chế quyền lực cộng sản tạo ra những hình thức đàn áp tinh vi nhất và bóc lột dã man nhất. Vì vậy công dân trong các hệ thống cộng sản hiểu ngay điều gì được phép làm, còn điều gì thì không. Không phải là luật pháp mà là quan hệ bất thành văn giữa chính quyền và thần dân của nó đã trở thành “phương hướng hành động” chung cho tất cả mọi người.
Cơ chế hiện nay đang tạo kẽ hở cho tham nhũng, vơ vét tiền của của Nhà nước. Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của, dù số tiền đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ. Cái lớn nhất bị mất, đó là suy đồi đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống…
REPORT THIS AD
Bác và đảng đã gần hoàn thành việc vô sản hóa và lưu manh hóa con người VN (vô sản lưu manh là lời của Lê Nin). Vô sản chuyên chính (đảng viên) thì chuyển sang làm tư bản đỏ, còn vô sản bình thường (người dân) trở thành lưu manh do thất nghiệp, nghèo đói.
Nền kinh tế Việt Nam bây giờ chủ yếu là dựa trên việc vơ vét tài nguyên quốc gia , bán rẻ sức lao động của công nhân và nông dân cho các tập đoàn kinh tế ngoại bang, vay nước ngoài do nhà nước CS làm trung gian.
Huyền thoại giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp do cộng sản Việt Nam dày công dàn dựng đã tan thành mây khói khi giai cấp “vô sản” âm thầm lột xác trở thành các nhà Tư bản đỏ đầy quyền lực và đô la.
Do vậy, lý thuyết CS dần dần mất đi tính quyến rũ hoang dại. Nó trở nên trần trụi và lai căng. Tất cả điều đó đã làm cho các ĐCS trên toàn thế giới dần dần chết đi. Dù GDP có tăng lên, nhiều công trình lớn được khánh thành do vay mượn quỹ tiền tệ Quốc Tế nhưng đạo đức xã hội cạn dần. Thực tế cho thấy rằng sức mạnh không nằm ở cơ bắp. Vũ khí, cảnh sát và hơi cay chỉ là muỗi mòng giữa bầu trời rộng lớn nếu như lòng dân đã hết niềm tin vào chính quyền.
Học thuyết về xây dựng một xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa chỉ là một loại lý tưởng hóa, nó là chiếc bánh vẽ để lừa gạt dân, không hơn không kém; đảng nói một đằng, làm một nẻo.
Chẳng hạn đảng nói “xây dựng xã hội không có bóc lột” thì chính những đảng viên lại là những người trực tiếp tham nhũng bóc lột người ; đảng nói ” một xã hội có nền dân chủ gấp triệu lần xã hội tư bản” thì chính xã hội ta đang mất dân chủ trầm trọng; đảng nói “đảng bao gồm những người tiên phong nhất, tiên tiến nhất” nhưng thực tế thì đảng đầy rẫy những người xấu xa nhất, đó là những kẻ đục khoét tiền bạc của nhân dân.
Sở dĩ ĐCSVN còn cố giương cao ngọn cờ XHCN đã bị thiêu rụi ở tất cả các nước sản sinh ra nó vì chúng đang còn nhờ vào miếng võ độc “vô sản chuyên chính” là… còng số 8, nhà tù và họng súng để tồn tại !
Nhân dân đang hy vọng rằng Đảng sớm tự ý thức về tội lỗi tầy trời của mình. Đảng sẽ phải thẳng thắn sám hối từ trong sâu thẳm chứ không chỉ thay đổi bề ngoài rồi lại tiếp tục ngụy biện, chắp vá một cách trơ trẻn.
Người dân chẳng còn một tí ti lòng tin vào bất cứ trò ma giáo nào mà chính phủ bé, chính phủ lớn, chính phủ gần, chính phủ xa đưa ra nữa. Họ nhìn vào ngôi nhà to tướng của ông chủ tịch xã, chú công an khu vực, bà thẩm phán, ông chánh án, bác hải quan, chị quản lý thị trường, kể cả các vị “đại biểu của dân” ở các cơ quan lập pháp “vừa đá bóng vừa thổi còi” mà kết luận: “Tất cả đều là lừa bịp!”
Do đó XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN. Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ… đồ đểu ! vết nhơ muôn đời của nhân loại.
Một thời kỳ mà tâm trạng của người dân được thi sĩ cách mạng Bùi Minh Quốc tóm tắt qua 2 vần thơ :

image
“Quay mt phía nào cũng phi ghìm cơn ma
C mt thi đu cáng đã lên ngôi!”
  “Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa !
           Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!”
Chẳng lẽ tuổi thanh xuân của bao người con nước Việt dâng hiến cho cách mạng để cuối cùng phải chấp nhận một kết quả thảm thương như thế hay sao ?
Chẳng lẽ máu của bao nhiêu người đổ xuống, vàng bạc tài sản của bao nhiêu kẻ hảo tâm đóng góp để cuối cùng tạo dựng nên một chính thể đê tiện và phi nhân như vậy?
Tương lai nào sẽ dành cho dân tộc và đất nước Việt Nam nếu cái tốt phải nhường chỗ cho cái xấu?
Một xã hội mà cái xấu, cái ác nghênh ngang, công khai dương dương tự đắc trong khi cái tốt, cái thiện phải lẩn tránh, phải rút vào bóng tối thì dân tộc đó không thể có tương lai!
Một kết cục đau buồn và đổ vỡ là điều không tránh khỏi.
Châu Hiển Lý
(Bộ đội tập kết 1954)
__._,_.___

Posted by: Hank Music 

Wednesday, August 21, 2019

MỜI CÁC BẠN ĐỌC MỘT BÀI VIẾT: Nói về những những kỷ niệm đau thương của một người từng sinh ra và lớn lên ở vùng Cộng Sản Liên Khu 5 trong 9 năm khàng chiến chống Pháp!


MI CÁC BN ĐC MT BÀI VIT: Nói v nhng nhng k nim đau thương ca mt người tng sinh ra và ln lên vùng Cng Sn Liên Khu 5 trong 9 năm khàng chiến chng Pháp!




CHÚ  ĐƯỢC !



letamanh
Tôi sinh năm Quí Mùi, 1943, thế mà mãi đến năm sau, ba tôi mới làm giấy khai sanh cho tôi. Đã thế, theo lời kể của má tôi, thì tôi sinh nhằm tháng 11 âm lịch, đúng nửa đêm ngày 30! Nếu nói nửa đêm, có nghĩa là ngày hôm sau rồi, chứ đâu còn là ngày ba mươi. Vậy thì tôi được chào đời, có thể là giờ sửu, mồng một tháng chạp. Chính cái điểm thời gian không chính xác này, nên mấy ông thầy chấm tử vi cho tôi luôn luôn đoán sai thân thế sự nghiệp của tôi. Mỗi ông đoán mỗi khác, ông thì đoán, cuộc đời của tôi rất ư là thành đạt, nhà cửa ruộng vườn ông cha để lại, nằm ngửa ăn cả đời không hết, có ông thì đoán tôi phải tha phương cầu thực, vất vả lắm, về già mới có cơ thanh nhàn...!
Má tôi nhớ giờ sanh ra tôi không chính xác, nên tôi cũng ú ớ khi nhờ ông bạn cùng trại coi giúp xem chừng nào thì được ra khỏi tù. Ông bạn tù này nổi tiếng là tay tướng số chuyên đoán cho các mệnh phụ phu nhân của Tổng thống và Tướng tá miền Nam ngày chưa đứt bóng. Lúc đầu, tôi nói ngày giờ trong tháng chạp. Ông bạn bấm tay theo các cung tử vi và nói:
"... Mầy nói sai rồi, nếu mầy sanh ngày 30 tháng 11, giờ tý thì mầy cao lớn, to con chứ đâu có lùn xủn như vầy! Lại nữa, nếu sanh giờ này thì răng cỏ của mầy bị sâu ăn không còn một cái, nhưng hiện giờ răng của mầy đều tốt. Có lẽ má mầy nhớ sai rồi..." - "Má em nói, lúc em khóc oa oa thì bà mụ tuyên bố đúng giờ tý mà!"
"Ừ! mà cũng không trách mấy bà già này được. Hồi mầy sanh ra là những năm miền Bắc đói khát, tụi Nhật nó khống chế tụi Tây, Đồng minh đánh nhau với Nhật. Tao sanh ra ở miền Bắc, U già nói với tao ngày sanh giờ sanh còn trật nữa là má mầy. Tao coi cho người ta thì trúng mà cho tao thì trật lất vì không biết được giờ sanh giống như mầy...Vả lại, mấy bà mụ vườn nhai trầu, làm sao đoán giờ giấc chính xác, trong thời trước năm 1945, dân ta còn lạc hậu lắm chứ đâu như bây giờ... !"

Ba tôi cũng thuộc vào hạng bất thường, chẳng thế sao khi khai sanh cho tôi theo ngày tháng Dương lịch thì phóng bút nhằm vào ngày 4 tháng 7 năm 1944! Sau này qua định cư ở Hoa Kỳ, tôi bỗng nhiên thành người tốt số. Đúng là cả nước Mỹ ăn mừng sinh nhật của tôi. Hàng năm, bao nhiêu triệu người ngước nhìn lên bầu trời đêm để thưởng thức pháo bông, nghỉ lễ mừng ngày Độc lập và sinh nhật của tôi! Hồi ở Việt Nam, có bao giờ ai nhắc đến sinh nhật của tôi và thậm chí các con tôi sinh ra cũng chẳng bao giờ được nhớ ngày, để "happy birhday" cho chúng! Thế mà sau khi được sang Mỹ, sinh nhật nào của "Ba, Má", mấy đứa con đều có quà và chúng tề tựu đông đủ. Có khi cả nhà kéo nhau đi nhà hàng, người quê tôi hay gọi là dẫn nhau đi "kéo ghế"... Thế là ngày sanh trong khai sinh của tôi coi bộ ăn khách, nên tôi cũng dễ dãi chấp nhận thành ngày sinh nhật của mình.
Vậy là ông thầy bói, lúc tôi còn nhỏ, chấm tử vi sai bét về cái mục tôi sẽ hưởng được của phụ ấm, giàu sang phú quí ở quê nhà. Có lẽ ông ta thấy cơ ngơi nhà cửa ruộng vườn của ông nội tôi bề thế, nên đoán mò cho xong chuyện. Hơn nữa, ông bà nội tôi chỉ sanh ra được có một mụn nối dõi tông đường là ba tôi, nên ai dám vào tranh chấp ngôi vị cháu đích tôn là tôi! Ông thầy bói cũng không thể nào sờ mu rùa linh đến độ đoán biết được rằng, nhà cửa ruộng vườn của ông bà tôi sẽ bị tịch thu trong thời gian Việt Minh "phóng tay phát động quần chúng" ! Trong những năm phát động giai cấp đấu tranh, Cố Bần Trung nông đoàn kết tiêu diệt Địa Chủ. Phú Hào, Ông Nội tôi suýt nữa thì bị đem ra đấu tố. Có ai từng sinh ra và lớn lên, hay sống trong vùng "liên khu 5", thì hẳn sẽ phải kinh qua thời gian chẳng bao giờ có thể quên nầy. Cao điểm của chiến dịch đấu tố mà "đảng và Bác" đưa ra phải được toàn thể nhân dân học tập và thi hành triệt để. Hồi ấy, tôi đã được tám tuổi, năm 1950 đến 1952 là thời gian toàn thể nhân dân đấu tranh với bọn cường hào ác bá, lấy lại của cải vật chất cho dân nghèo vốn bị thiểu số Địa Chủ Phú Hào tước đoạt! Ông thầy bói xem quẻ cho tôi lúc chào đời đã bị sai lạc không thể nào phân giải. Nhưng anh thầy tử vi sau, có lý hơn vì sờ trúng mu rùa, cho nên, theo đó tôi bị tha phương hàng mấy nghìn dặm, cầu thực ở một xứ sở đầy mùi hamburger!
Ông nội tôi là một tay buôn cừ khôi. Ông có chiếc ghe bầu trọng tải trăm tấn, chạy dọc theo ven biển, chở dừa, dây dừa, cá khô, muối ra bán ngoài Bắc. Các hải cảng và cửa sông dọc theo bờ biển ông đều thuộc lòng. Ông tôi, lúc có bạn bè đến thăm, thường kể lại, khi ra bán buôn ngoài Bắc cũng có lúc đi "Cô Đầu, chầu văn". Ông tôi cũng "linh tinh" nhiều khoản lắm. Ví dụ như thời gian cho ghe bầu buôn bán ở Sài gòn Nam Vang thì đèo bòng thêm một phòng nhì. Bà "Nội Nhỏ" người Nam của tôi có lúc vì mê cái mã đẹp trai của ông tôi nên tự nguyện về quê chồng chịu phép với "Bà Lớn". Nghe nói khi tôi sanh ra, Bà Nội Nhỏ của tôi có mua cho một cái nôi thật đep, từ Sải Gòn chở xe lửa ra Tam Quan. Món quà ấy các em tôi sau nầy thay phiên nhau xử dụng... Bà Nội Nhỏ, một thời gian ngắn, chịu không nổi Bà Nội Lớn nên tìm cách chuồn trở lại Sài Gòn. Cũng may Bà đi sớm mấy tháng trước khi "Cách Mạng mùa Thu". Nếu bà không "dứt tình" tháo chạy thì không biết thân phận sẽ ra sao khi cùng chúng tôi sống trong vùng "kháng chiến"! Sau khi Bà Nội Nhỏ về lại Sài Gòn, ông tôi chuẩn bị hàng hóa chuyến thường xuyên Tam Quan - Sài Gòn. Ghe chưa kịp ra cửa biển, thì "Tổng khởi nghĩa mùa Thu" Thế là Ông tôi và Bà Nội Nhỏ đôi ngã chia ly! Sau năm 1954, ông nội tôi lại sắm ghe bầu đi buôn. Vào Sài Gòn, việc đầu tiên là, ông đi tìm bà Nội Nhỏ của tôi. Người thì tìm ra, nhưng đã là của người khác. Bà Nội Nhỏ tôi đã có một ông chồng người Tàu.
Khi tôi biết nhận thức sự việc chung quanh, lúc nào cũng có hai người chơi với tôi, bồng bế, tắm rửa, thậm chí giành tôi đến đánh nhau. Người thứ nhất tôi gọi bằng cô, người thứ hai gọi bằng chú. Cô tôi lớn hơn tôi ba tuổi còn ông chú thì những tám tuổi. Có một điều lạ là chú tôi nói tiếng Bắc, răng đen thui. Cho nên khi nào cô tôi và chú tôi cải nhau, cô tôi thường chọc tức chú một câu: "thằng Bắc Kỳ răng đen" thế là chú nổi cộc rượt đánh cô tôi. Có khi vừa rượt, chú vừa la to: " đồ thứ con lượm nhà thương thí"! Thế là cuộc đọ sức nổ lớn, cô tôi thì bầm mặt còn chú thì bị phạt quì.
Lúc nào Bà Nội tôi cũng bênh cô tôi và xỉa xói chú tôi là ăn hiếp con gái, là thứ trâu nước không biết lễ nghĩa... Ông nội tôi lúc còn thông đường, buôn bán được, ít khi ở nhà, nên không ai che chở cho chú răng đen. Vì những trận cãi nhau như thế cho nên tôi thắc mắc về thân thế của cô tôi và chú tôi khi tôi lớn lên sau này. Thỉnh thoảng, có ông tôi ở nhà, ông tôi luôn bênh vực chú tôi và lúc nào cũng che chở, lúc nào cũng tỏ vẻ ngọt ngào với chú. Ở Tam Quan, ai cũng nói tiếng "nẩu" chỉ trừ một mình chú nói tiếng trọ trẹ Bắc Kỳ! Mà cũng lạ, ai ai ở xứ tôi cũng có hàm răng trắng mướt, chỉ có một mình chú tôi có hàm răng đen bóng một cách lạ kỳ.
Lúc nhỏ, tôi thường nhõng nhẽo đòi chú cõng trên vai lội qua sông, trèo lên tận cồn cát trắng phía Chồm Rừng để hái trái nhãn, trái sim cho tôi. Nhãn rừng và sim rừng, từng chùm nhỏ xíu ăn chát ngắt, nhưng ở cái xứ toàn dừa thì trẻ con như tôi hay thích ăn của lạ...
- Chú Được! gánh nước xong chưa đi chơi với cháu!
- Chú mầy vào xin phép bà Nội đi, không thì chú đâu dám đi chơi ...
- Bà Nội đi ăn giỗ rồi, chú dẫn cháu qua nhà ông Dân Biểu Tr. chơi với con Tranh đi. Hôm qua chơi trò đám cưới vui quá.
- Thôi đi! Vào nhà kiếm Cô Đào, bảo cô dẫn đi chơi, chú bận lắm!
Thế là tôi phải chạy vào nhà năn nỉ cô Đào dẫn tôi qua nhà ông Dân Biểu chơi với Tranh, đứa con gái trạc tuổi tôi, có nước da trắng nõn và hai lúm đồng tiền xinh xinh. Lúc ấy tôi mới có sáu tuổi mà đã xem mòi mê gái. Tôi ít khi thích đi chơi với lũ bạn con trai trong làng. Thỉnh thoảng những trò tắm sông, đá banh hay quây quần vòng tròn chơi bịt mắt bắt dê không làm tôi thích thú bằng ngồi ngắm con Tranh chơi trò bán hàng xén. Tranh bán hàng mà tôi là khách hàng, thỉnh thoảng tôi đòi mua hết không chừa một thứ gì trong cái hàng xén mà phần nhiều đều từ các bông dừa cùng những trái dừa con! Con Tranh nhõng nghẽo khi tôi ngắm nó và đòi chơi trò bác sĩ chữa bệnh.
- Tranh có thích chơi trò đám cưới nữa không hay chơi trò bác sĩ?
- Thôi đi, bữa trước D. làm bác sĩ, chích cây gai nhọn vào mông đau thí bà!
- Thì bữa nay D. chích nhẹ hơn, êm hơn...
- Muốn chơi trò đó thì phải có y viện. D. kiếm thêm mấy đứa nữa làm bệnh nhân, để Tranh làm y tá phụ với D.!
- Không, D. chỉ muốn Tranh làm bệnh nhân thôi hà!
- Thôi đi, D. chích lâu thí mồ, cứ ngồi nhìn không...!
Tôi đỏ mặt vì bất ngờ bị con Tranh biết rõ ý đồ không lấy gì tốt đẹp của tôi. Thật ra mấy hôm trước, tôi cầm cái "sa ranh" tự chế và cây gai nhọn làm kim chích cho bệnh nhân sốt rét rừng tên là Tranh, trong căn nhà làm bằng lá dừa do chú Được tạo dựng ở góc vườn. Tôi bảo Tranh trịch quần xuống, để lòi mông cho tôi thoa " alcool" trước khi chích thuốc. Màu trắng da thịt ấy, không biết sao nó làm tôi thẩn thờ, lâu lắm tôi mới làm bổn phận bác sĩ được khi con Tranh ngó tôi hỏi sao thừ người ra vậy...!
Cái tuổi con nít của tôi và con Tranh quấn quít nhau không được bao lâu thì gia can sự nghiệp của ông Nội tôi bị máy bay Pháp tưởng kho xưởng của Việt Minh, thả xuống mấy trái bom xăng cháy rụi. Mấy năm sau nữa thì hiệp định Genève chia đôi đất nước. Con Tranh phải theo cha mẹ đi tập kết ra Bắc. Sau năm 75, khi tôi ở tù về, hỏi thăm những người tập kết có ai biết con Tranh giờ làm gì, thì được trả lời: Tranh tốt nghiệp Bác Sĩ ở Nga, sau nầy về làm tại bệnh viện Bạch Mai, chưa có chồng, bị bệnh thương hàn chết năm 1966... Một Bác Sĩ thật bị chết vì bệnh thương hàn, còn Bác Sĩ dõm thời để chỏm thì vẫn còn, vẫn nhớ đến làn da trắng của nàng lúc còn con nít...
Một hôm, khi tôi đi học về, thấy cả nhà, kẻ ngồi người đứng trước cái sân lót đá hoa cương, xầm xì to nhỏ trông có vẻ bí mật lắm. Tôi lân la đến gần thì ông nội tôi bảo đem vở sách cất đi rồi ăn cơm. Tôi vừa bước đi vừa lắng tai nghe, tiếng Bà tôi nói nhỏ:
 - Chắc có ai xúi nó cho nên nó mới dám trốn đi, chứ nó có bà con thân thích nào nữa mà tìm...Hồi tôi gặp nó ở chân núi Thần Phù ngoài Thanh Hóa, nó ốm như cây củi khô, gần chết đói, hỏi cha mẹ thì nó nói cha mẹ nó vừa chết hai hôm trước, không còn anh em bà con gì. Họ đều chết đói và trôi giạt nơi nầy nơi nọ. Làng của nó sanh ra hoang vắng không còn ai... Nó lạy xin cứu mạng, tôi thấy gia đình mình chỉ có một mụn con nên đem nó về nhận làm con nuôi. Nó tên Đước, khi tôi nhận nó làm con, tôi đặt lại thành chữ Được, có nghĩa là mình được con. Mà từ đó đến giờ gia đình mình ăn ở với nó đâu có gì để nó oán trách mà trốn đi!
Tiếp theo tiếng kể lể của ông nội tôi, Ba tôi nói:
- Hay là nó với con Đào ngày tối cãi vả không hợp. Mẹ thì hay binh con Đào nên nó buồn nó trốn...
- Mẹ nào có binh vực gì, nhưng con Đào nhỏ tuổi hơn nó. Khi mẹ vào nhà thương khám bệnh bứu dạ con thì cô y tá nói có một bé gái, mẹ nó sinh rồi bỏ trốn. Mẹ thấy nó nằm đỏ hỏn ngậm ngón tay mút mà không khóc... Mẹ xin về làm con. Tuy nó không do mẹ sinh ra nhưng thương như con ruột. Mà thằng Được là con của gia đình ta giống như mầy và con Đào. Cha mẹ đâu có phân biệt gì!
Ông tôi thở dài:
- Chắc là có một cái gì ghê gớm hơn việc nó trốn khỏi nhà mình. Phải cẩn thận tìm hiểu thử coi. Tình hình bây giờ khác trước, Họ đang động viên những gia nhân trong các nhà Địa chủ phú hào đứng ra tố khổ chủ của mình. Có thể thằng Được không ngoài kế hoạch này. Nhưng tại sao sau khi nó đi học tập chính sách của Đảng và Chính phủ gần một tháng, đêm nào về nó cũng ngồi bó gối một góc, ít khi tao thấy nó ngủ. Tao hỏi nó thì nó chỉ khóc và ậm ừ không chịu nói...
Bà Nội tôi tiếp:
-Nó không đem theo cái gì cả ngoài những quần áo chăn mền của nó. Phải biết nó nhất định không muốn ở với mình nữa thì tôi đã cho nó ít tiền...
- Bà nói tức cười, đã trốn đi mà còn để cho bà biết. Thôi cứ để xem nó có trở về không, tôi chắc nó bị ai rù quến. Có thể cái thằng cha X. lãnh canh ruộng của mình ở Trung Lương xúi nó! Thằng cha X là Bí thư Đảng, thường la cà chuyện trò với thằng Được nhiều lần. Không biết nó xúi trốn đi theo nó hay làm gì, chỉ tội là thằng Được khờ quá, dễ tin...
Tôi chạy một mạch vào chỗ giường ngủ của chú Được. Trên giường tre còn trơ chiếc chiếu, tủ quần áo và đồ ngủ trống không. Phía đầu giường, trên tường vôi, chỉ còn trơ lại một tấm ảnh "Hồ Chí Minh" cắt từ tờ báo Nhân Dân, dán không được ngay lắm! Tôi ngồi xuống chiếc giường và ôm mặt khóc. Mới ngày hôm qua, chú Được dẫn tôi qua nhà ông Dân Biểu Tr. chơi với con Tranh. Ông Dân Biểu vừa ở "Trung ương" về. Nghe nói ông phải đi bộ vượt qua núi rừng từ Bình Định ra họp quốc hội trong chiến khu Việt Bắc! Ông dân biểu Tr. rất ân cần thăm hỏi chú Được khi ông thấy chú dắt tôi qua chơi. Hai người dẫn nhau ra đứng ngoài hàng hiên, ông mời chú tôi điếu thuốc lá "Trường Xuân" và bật quẹt, hai người nhỏ to chuyện gì trông có vẻ bí mật lắm...
Khi tôi và con Tranh đang chơi trò nhảy giây thì tôi nghe tiếng chú Được tôi khóc. Tôi ngừng chơi, ngước sang thấy ông dân biểu đang choàng tay qua vai chú tôi. Còn chú thì cúi đầu, hai tay ôm mặt khóc thành tiếng. Ông Dân biểu vẫn bình tỉnh thì thầm bên tai chú và chú thỉnh thoảng lại lắc lắc cái đầu. Trong tất cả cuộc đối thoại ấy, tôi chỉ nghe được tiếng chú tôi:
- Ông ta thương tôi như con ruột, ông đã cứu tôi thoát chết đói, tôi không thể là người phản bội...
------
-...... Tôi đã nhận ông ấy là cha thì làm sao đứng ra tố khổ!
.....
...-Tôi đã được học tập chính sách... Nhưng làm sao tôi có thể tàn nhẫn như thế!
.....
- Thôi được rồi! "Đồng Chí" cho tôi suy nghĩ thêm, ngày mai tôi sẽ trả lời dứt khoát trong cuộc họp Chi Bộ!
....
Chú Được đã ra đi trước khi cuộc họp Chi Bộ Đảng bắt đầu ngày hôm sau. Hồi ấy, tôi còn nhỏ quá để có thể hiểu và thông cảm với chú Được của tôi về hành động bỏ nhà ra đi. Nhưng tôi cũng mơ hồ nhận thức được rằng, chú tôi cố tình trốn chạy một mệnh lệnh được "trên giao" cho chú là phải đứng ra trực tiếp kể tội trạng và tố khổ ông Nội tôi. Tôi có kể lại chuyện nầy cho cả nhà nghe sau khi tôi ngồi hàng giờ trên chiếc giường tre trống không còn mùi mồ hôi của chú. Ông nội tôi và Ba tôi dặn tôi không được nói với ai về những gì tôi nghe thấy ở nhà ông Dân Biểu Tr.! Cả nhà bắt đầu có những hành động cẩn thận trong giao tiếp với mọi người kể cả lúc ăn uống trong nhà.
Thời kỳ đó mọi người dân trong vùng "tự do" đều phải tiết kiệm từng hạt gạo để đem ra nuôi "bộ đội" ở chiến trường. Cho nên phải ăn độn tỷ lệ 1/3. Có nghĩa là ăn độn một phần gạo và ba phần khoai khô, khoai lang hay khoai mì xắc lát phơi khô trộn với gạo! Mỗi đêm có người rình mò nghe ngóng xem trong nhà có hội họp nhau nói xấu Đảng, hay không thi hành chính sách ăn độn... Cho nên tất cả chó đều bị ra lệnh giết ăn thịt hết, không nhà nào được nuôi chó. Lý do duy nhất để giết chó là bảo mật khi Pháp đổ bộ... Nhưng việc chính yếu là dễ bề theo dỏi tư tưởng và hành động của toàn dân.
Chú tôi trốn đi được ba ngày thì ông nội tôi bị bắt đi "cải tạo". Họ nói với gia đình là ông tôi sẽ được về nếu thành thật khai báo của cải vật chất đã bóc lột nhân dân. Ba tôi là con một nên không đi bộ đội, nhưng phải xung vào đoàn dân công gánh gạo ra tiền tuyến nuôi quân. Thế là gia đình tôi lâm vào cơn khủng hoảng về tâm lý rất phẫn uất trong âm thầm. Tôi bắt đầu bị bạn bè cùng lớp kỳ thị vì đã cứng đầu không chịu gia nhập vào hàng ngũ "cháu ngoan" để tố khổ địa chủ.
Ông tôi đã bị đem đi "cải tạo" đến khi gần có hiệp định chia đôi đất nước mới được cho về trong tình trạng bệnh hoạn. Có thể chú Được đã trốn đi, Đảng và chính quyền địa phương bị bể kế hoạch, nên việc đưa ông tôi ra tòa án nhân dân cứ bị đình lại hoài cho đến ngày ông lê cái thân bệnh tật về nhà! Ông tôi bị bắt sau khi Pháp thả bom cháy rụi gia cang. "Đảng và chính quyền" nói rằng: "nát vỏ còn bờ tre" có nghĩa là của nổi bị cháy, nhưng của chìm thì cất giấu ở đâu phải khai ra chứ! Địa chủ phú hào thì ruộng vườn là sản phẩm bóc lột... Ông tôi làm đơn dâng hiến hết cả những ruộng vườn, nhưng nhà nước nói rằng trước khi nhà nước lấy lại ruộng vườn ấy, ông tôi phải đóng thuế nông nghiệp và phải nạp hết của chìm đang còn chôn giấu...



Sự mất tích nhiều ý nghĩa của chú Được làm cho cả nhà chúng tôi cũng bị điều tra một thời gian. Có lẽ họ nghi là ông nội tôi đem gởi chú tôi ở đâu đó. Nhưng sự vắng mặt của chú Được cũng là một niềm hãnh diện riêng của chú. Chú không được học chữ nghĩa, nhưng hành động rất nhân nghĩa...!
Sau nầy, (sau 30 tháng tư năm 1975) trong đoàn quân "chiến thắng" trở về, có một người cháu phía bà nội tôi, là Thượng Tá Đức đến thăm ông bà tôi. Gia đình ông bà ba má tôi lúc sau này dời vào Sài Gòn, lánh xa vùng lửa đạn Tam Quan, chẳng còn lưu luyến ruộng vườn như xưa. Người Thượng Tá gọi Bà nội tôi bằng cô, đã gia nhập "giải phóng quân" từ khi "Cách mạng mùa Thu". Ông ta cho biết là năm 1954, tình cờ ông có gặp chú Được, hồi đó đang là Tiểu Đoàn Trưởng trong chiến trường Điện Biên Phủ. Chú tôi được "báo cáo" sau đó là đã bị thương cụt hai tay, máu ra nhiều quá mà không có phương tiện chữa trị nên đã chết sau một giờ tại ngay chiến hào! Thế là Ông Tiểu Đoàn Trưởng Lê Văn Được, con nuôi của ông nội tôi đã anh dũng hy sinh trên chiến trường. Chú tôi đã trốn tránh làm "bổn phận" đứng ra đấu tố cha nuôi của mình, để rồi gánh vác một "bổn phận khác"!
Chú tôi là người không biết một chữ i tờ, thế mà đã làm đến chức Tiểu Đoàn Trưởng một Tiểu Đoàn ngoài mặt trận chỉ trong vòng mấy năm trốn khỏi nhà! Nếu chú tôi không chết, có thể ông sẽ trở thành Tướng chỉ huy cuộc xâm nhập vào Nam. Cũng có thể, nếu là như thế, biết đâu chú cháu đã bắn nhau trên chiến trường... Mà chú Được sẽ chẳng bao giờ biết rằng, vì sao chú cháu mình bắn nhau!
letamanh





Posted by: dung le 

Sunday, August 18, 2019

Là người Sài Gòn, người ta nhớ gì nhất ở Sài Gòn ?


Subject: Là người Sài Gòn, người ta nhớ gì nhứt ở Sài Gòn ? 


                   Là người Sài Gòn, người ta nhớ gì nhất ở Sài Gòn ?

·                           Trang Nguyên
·      •  Trithucvn.net.
·       
            Là người Sài Gòn, người ta thường nhớ gì ở Sài Gòn nhất? Một khoảng lặng trôi qua. Có lẽ sự hồi tưởng đang trở lại trong đầu những người bạn nay tóc ngả hai màu. Có người nhớ tiếng rao trên đường phố, nhớ tiếng ồn ào trong khu xóm lao động, nhớ cảnh nhộn nhịp Sài Gòn dịp Tết những ngày còn thơ, nhớ những cuộc tình lang thang dưới vòm me xanh lá trên con đường Duy Tân đầy bóng mát, nhớ nhiều thứ lắm… Nỗi nhớ ùa về như cơn gió thoảng rồi qua. Nhưng với tôi những con đường góc phố Sài Gòn vẫn còn đọng lại mãi mãi.



Là người Sài Gòn thì nhớ gì nhất ở Sài Gòn
            Ðầu tiên tôi nhớ góc bùng binh Quách Thị Trang, nơi lần đầu tuổi nhỏ được ba tôi dẫn đi ngao du thành phố Sài Gòn. Quách Thị Trang là ai, biết để làm gì. Cái chợ Bến Thành treo đầy biển quảng cáo hình kem đánh răng anh Bảy Chà Hynos và Perlon kín chợ chẳng có gì đẹp. Chợ cũng chẳng làm tôi nhớ, bởi đi chơi Sài Gòn, nhưng ba tôi chẳng ghé vào ăn. Ði chơi khơi khơi, mỏi chân ngồi nghỉ trên băng ghế xi măng giữa công viên thưa thớt cây xanh và chung quanh trang trí vài bồn hoa sặc sỡ. Ngồi đây nhìn ngắm phố phường Sài Gòn bốn phương tám hướng. Nhìn dòng xe xuôi ngược, những dòng người tay xách nách mang hành lý băng qua cầu thang sắt ngang đường đến ga xe lửa về quê, những người buôn thúng bán bưng ngồi chật phía ngoài cửa chợ cất cao tiếng rao mời khách, những đứa trẻ đành giày, bán báo dạo lăng xăng đánh bóng mấy đôi giày “botte de sault” của mấy anh lính Mỹ.
Là người Sài Gòn thì nhớ gì nhất ở Sài Gòn
            Tôi may mắn hơn mấy đứa trẻ cùng trang lứa đó. Và tôi cố tìm trong những đứa đánh giày xách thùng đi trong công viên trước chợ một hình dáng thân quen. Tự nhiên lúc đó tôi nhớ thằng Hên, người bạn nhỏ nhà xóm bên mới học lớp ba đành bỏ học đi bụi đời. Chừng tuổi ấy ra đời có thể làm gì kiếm sống? Hoàn cảnh gia đình nó không đến nỗi tan hoang khi tự dưng ba nó bỏ nhà theo vợ bé, má nó cũng không vừa bỏ mặc đám con sống chết tự lo đi buôn chuyến xe hàng dài ngày, cả tháng mới về nhà năm ba bữa. Rồi tôi nghe hàng xóm nói thằng Hên bỏ nhà ra đi, mới tí tuổi đầu mà lá gan to bằng người lớn. Thỉnh thoảng tôi ghé ngang dò la tin tức nhưng lúc nào cửa nhà cũng đóng im lìm.
            Thế là tôi mất một thằng bạn nhỏ chơi bắn bi, nó sống ở đầu đường xó chợ khiến lòng tôi ngậm ngùi, chợt nhớ đến bài hát “” văng vẳng đâu đây. “Thằng bé âm thầm đi vào ngõ nhỏ. Tuổi ấu thơ đã mang nhiều âu lo. Ngày nó sống kiếp lang thang. Ngẩn ngơ như chim xa đàn, Nghĩ mình tủi thân muôn vàn”...
            Hồi nhỏ tôi không thích bài hát này, nghe như nỗi đau quất vào da thịt một đứa nhỏ, nhưng sau này hiểu ra chút ít. Thời buổi đó, trẻ con mồ côi mất cha mất mẹ vì chiến tranh bom đạn, vô gia đình vì muôn vàn lý do đều có thể đẩy đứa trẻ ra ngoài đường phố. Lòng cảm thương cho thân phận nhỏ bé lặn hụp trong cuộc đời mà ông Nhạc sĩ Anh Bằng viết nên lời nhạc buồn đó chăng. Xem ra thằng có cái tên Hên mà chẳng may chút nào.
Là người Sài Gòn thì nhớ gì nhất ở Sài Gòn
            Lớn lên chút xíu, tôi biết la cà trên đường phố sau những buổi tan học cuốc bộ về nhà. Trường tôi nằm ở quận 3, nên con đường Bà Huyện Thanh Quan bán đầy bò bía, chè đậu xanh đậu đỏ, là một địa điểm hấp dẫn giới học trò chúng tôi. Nhưng với tôi, con đường Trương Ðịnh cắt ngang gần đấy rất đỗi nên thơ, nhất là đoạn giữa gần trường Nguyễn Thị Minh Khai (Gia Long ngày trước) ra Công viên Tao Ðàn. Một con phố bình yên và rất lặng lẽ với những hàng dầu hàng sao rợp bóng.
Là người Sài Gòn thì nhớ gì nhất ở Sài Gòn
            Những hàng cây cao bóng mát này lại là ký ức đẹp, tôi mang hình ảnh đó vào bài tạp văn “Những hàng cây thị xã” trong một lần về thị xã Trà Vinh.
            Mỗi khi có dịp đi qua tỉnh nào đó, tôi hay hỏi người bản xứ về cảnh đẹp địa phương. Hôm đến Trà Vinh, người đầu tiên tôi hỏi là chị chủ nhân khách sạn chỗ tôi trọ. Ðã gần nửa thế kỷ sống ở đất Trà Vinh, chị bảo trong thị xã không có cảnh gì đẹp ngoại trừ những ngôi chùa Tàu, chùa Việt, và đặc biệt là chùa Khmer cổ kính.
            Hôm sau, trên đường đến Trường Ðại học Trà Vinh, tôi hỏi một cô gái tuổi mười chín, đôi mươi. Sau vài phút do dự, cô cho tôi một câu trả lời thật bất ngờ: Những con đường rợp bóng cây xanh ở thị xã…
            Ðúng vậy đó. Chiều dần buông, đứng ngoài ban công khách sạn nhìn về góc xanh thị xã thấy rõ những vạt nắng vàng vương trên tàn me làm những vòm lá trông thật mơ màng. Hình ảnh ấy đã quyến rũ tôi rời khách sạn thả bộ về hướng đó. Từ con đường Hàng Ðiệp bông trổ lấm tấm vàng, qua Hàng Sao cao vút đứng lặng thinh, bước lại Hàng Dầu um tùm lá chen lẫn màu hoa dầu hồng non ưng ửng. Dầu là loại cây rừng cho gỗ, thân có nhựa dùng để trét ghe rất tốt nên người ta cũng gọi là dầu rái, có người gọi là dầu dù. Trái dầu có hai cánh lá, nhưng nói là cánh hoa đúng hơn. Lúc còn non, chúng có màu hồng pha màu cà phê sữa, hạt lộ ở cuống hoa. Hạt non màu xanh có khía giống như hạt xí muội. Ðến cuối tháng Bảy thì trái dầu già khô lại. Trái cùng hai cánh hoa ngả sang màu nâu đất sét. Chỉ cần một chiều lộng gió, những cánh hoa già rơi khỏi cành mẹ bung ra như cơn mưa dù, xoay tít bay bay trong không trung mang theo chiếc hạt, nhẹ nhàng đáp xuống mặt đất. Hình ảnh đó trông thật thích mắt và luôn để lại cảm nghỉ cho nhiều người. Chẳng thế, hình ảnh cánh hoa dầu bay trong gió đã vào thơ vào nhạc:
Cánh hoa dầu xoay tít bay bay
Nhớ chiều nào, bên em từng giờ…
Là người Sài Gòn thì nhớ gì nhất ở Sài Gòn
            Dù chưa có được cái cảm giác hạnh phúc bên em như Nhạc sĩ Giáp Văn Thạch, nhưng những “cánh hoa dầu xoay tít bay bay” ấy bay mãi trong ký ức tuổi học trò của tôi. Tôi biết được điều này là nhờ có lần được ba tôi dẫn đi Chợ Cũ Sài Gòn ăn phở. Từ nhà, hai cha con đi bằng xe ngựa, rồi lội bộ dọc theo đường Hồng Thập Tự vào vườn Tao Ðàn. Vườn Tao Ðàn ngày ấy rất vắng người, chỉ toàn cây dầu cao tít và tàn lá che mát cả một vùng rộng lớn. Ba đi trước, tôi theo sau, giẫm chân lên những chiếc lá khô xào xạc giống như những nhà Thám hiểm trong một cánh rừng già. Bỗng ba tôi cúi xuống nhặt những trái có hai cọng lá khô, hỏi tôi có biết trái gì không, rồi ba tôi bảo quăng chúng lên trời. Kể từ sau đó, những trái dầu dù theo tôi đến lớp cùng chúng bạn thả từ lầu ba xuống chào đón ngày khai giảng năm học mới, khi những cánh phượng hồng đã rời xa mùa hạ. Những cánh hoa dầu bay bay không mất tiền mua của lũ nam sinh chúng tôi đã làm bọn con gái học trò thích mê…
            Tất nhiên nỗi nhớ nơi mảnh đất mình sinh ra và lớn lên của mỗi người đều rất nhiều và mỗi người có quyền lựa chọn những hình ảnh ký ức đẹp đẽ nhất. Cái đẹp làm tâm hồn lắng đọng cho ta khoảnh khắc bình yên giữa nhịp sống hối hả xôn xao của chốn thị thành. Có người chẳng thèm nhớ con hẻm nhỏ ngày xưa nơi sinh ra và lớn lên như anh bạn của tôi. Anh bảo ghét lắm cái xóm lao động đã nghèo mà còn hay sanh sự, đánh lộn nhau hà rầm. Người bên ngoài nghe đi vào xóm Miếu Nổi là sợ bọn lưu manh. Anh thích những con hẻm ngoài phố trung tâm bên hông đường Hàm Nghi, hay các con hẻm của người Tàu Chợ Lớn trên đường Trần Hưng Ðạo, Ðồng Khánh. Những con hẻm đó bình dị và hiền lành khác xa hẻm lao động xô bồ xô bộn.
Là người Sài Gòn thì nhớ gì nhất ở Sài Gòn
            Thế nhưng khi nghe tôi hỏi chuyện xóm nhỏ Miếu Nổi ngày xưa thì anh kể ngàn chuyện lẻ một không hết. Anh nhớ từ góc phố con hẻm xưa với một tâm hồn trẻ trung và rộng lượng. Dường như anh yêu mảnh đất mình “ghét bỏ” hơn bao giờ. Bởi vì khi cái gì mất đi hay xa rồi mới làm lòng ta hồi tưởng và càng yêu mến hơn. Chẳng thế mà nhà thơ Chế Lan Viên từng viết: Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn”.

Trang Nguyên.
Đăng lại từ Báo Trẻ Online (BaoTreOnline.com).   ./.








__._,_.___

Posted by: van tran 

Sunday, July 14, 2019

Bác Sĩ Phạm Gia Cổn và Nha Y Sĩ Lý Văn Quý, hai người lính đặc biệt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.



Subject: Bác Sĩ Phạm Gia Cổn và Nha Y Sĩ Lý Văn Quý, hai người lính đặc biệt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Bác Sĩ Phạm Gia Cổn và Nha Y Sĩ Lý Văn Quý, hai người lính đặc biệt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Uyên Vũ/Người Việt.July 10, 2019
        Bác Sĩ Phạm Gia Cổn chơi kèn trumpet. (Hình: Phạm Gia Cổn cung cấp).


        WESTMINSTER, California (NV) – Bốn mươi bốn năm sau cuộc chiến Quốc-Cộng khốc liệt, những người Chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa năm xưa hầu hết đã nghỉ ngơi, chấm dứt quãng thời gian đầy biến động để vui hưởng cảnh an nhàn. Thế nhưng vẫn có nhiều người “chưa chịu về hưu.”
        Điều lạ là nghề nghiệp của họ vốn đòi hỏi những nỗ lực không mệt mỏi, sự chính xác, tận tâm, và tinh thần trách nhiệm cao. Đó là những Y sĩ từng phục vụ trong quân đội hay ngắn gọn hơn là những Y sĩ Quân y.
        Chúng tôi có dịp tiếp xúc với Giáo Sư, Bác Sĩ Phạm Gia Cổn, một người khá quen thuộc đối với cộng đồng người Việt tại vùng Nam California, và Nha Y Sĩ Lý Văn Quý, cũng là một người được nhiều đồng hương biết đến.
                        Phạm Gia Cổn làm Bác sĩ ở Mỹ vì “tự ái dân tộc”:
        Tầm 7 giờ sáng, trong khi nhiều người chưa ra khỏi giường ngủ, thì Bác Sĩ Phạm Gia Cổn đã mở cửa lớp Thể dục Khí Công Hoàng Hạc tại trung tâm Lạc Hồng, thuộc thành phố Westminster.
        Suốt 13 năm, từ lúc sáng lập đến nay, cuộc sống và niềm vui của ông có lẽ gắn liền với môn Khí công này. Tại đây ông tận tụy chỉ dẫn miễn phí cho mọi đồng hương phương cách để giữ gìn sức khỏe, tái lập, và củng cố sự quân bình âm dương trong cơ thể, mang lại cho người tập một trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, khiến gia tăng niềm an lạc, hoàn chỉnh nhân cách và một đời sống tốt đẹp hơn.
        Bác Sĩ Cổn ít muốn nói về cá nhân cũng như những năm tháng hào hùng, phục vụ trong Quân Lực với tư cách Bác sĩ Quân y thuộc Binh chủng Nhảy Dù. Với ông, mọi thứ đã qua.
        Có may mắn là đến Mỹ ngay từ năm 1975, nhưng tại Hoa Kỳ lúc đó chưa có một cộng đồng người Việt mạnh mẽ như ngày nay, Bác Sĩ Cổn phải bắt đầu lại từ đầu, vừa lo sinh kế, vừa trau dồi Anh ngữ, giữa một xã hội hoàn toàn khác biệt với Việt Nam về mọi lãnh vực. Ông được một Bác sĩ Mỹ đón qua Florida, nhưng chỉ ở được vài tuần, rồi vì bực mình do bị kỳ thị, ông quyết định tách ra, làm Y công từ 11 giờ đêm đến 7 giờ sáng cho một bệnh viện được vài tháng.
        Sau đó ông tham gia vào khóa học của Hiệp Hội Bác Sĩ Hoa Kỳ AMA (American Medical Association) tại Miami, Florida, để đi tiếp con đường học hành, ông phải thi lấy bằng ECFMG (The Educational Commission for Foreign Medical Graduates) cho người “ngoại quốc” tạm gọi là để “tương đương với Bác sĩ Hoa Kỳ.”
        Học xong, ông rời Florida đến một thành phố nhỏ tại Georgia. Chưa biết bắt đầu nghề nghiệp cách nào, ông xin vào một nhà hàng của người Tàu làm phụ bếp. Sau khi biết đã vượt qua kỳ thi ông qua Houston, Texas, để có thể lấy bằng tiếng Anh dễ dàng hơn. Thời gian này ông kiếm được việc cao hơn một chút, là làm Technician về lọc thận. Sau khi có bằng tiếng Anh, ông chuyển đến Chicago, vào nhà thương làm Bác sĩ nội trú một năm, rồi tiếp tục làm Bác sĩ thường trú.
                             Giáo Sư, Bác Sĩ Phạm Gia Cổn. (Hình: Phạm Gia Cổn cung cấp).


        Qua lại Florida, ông quyết tâm phải lấy bằng Bác sĩ chuyên khoa với mức tối đa, và đã đạt được kết quả là trở thành một Bác sĩ chuyên khoa gây mê. Bác Sĩ Phạm Gia Cổn kể, sở dĩ ông quyết tâm như vậy chính là để người Mỹ khỏi coi thường và kỳ thị người Việt.
        Với những thành tích sáng giá đó, nhiều Đại học của Mỹ muốn mời ông về làm việc, giảng dạy. Ông chọn làm Giáo sư tại Đại Học UCLA vì là nơi gần gũi và nhiều cơ hội sống chung với cộng đồng Việt Nam. Ông đã mang sở học của mình để giảng dạy suốt 28 năm từ năm 1982 đến năm 2010. Ông cũng từng là Chủ tịch Hội Y Sĩ Việt Nam, Nam California. Không mở phòng mạch khám bệnh, ông còn được xem như một Bác sĩ nghèo nhất vùng Little Saigon.
        Nghe ông kể một cách sơ lược, tưởng chừng như mọi thứ đến với ông một cách dễ dàng. Nhưng chắc chắn đó là một nỗ lực lớn lao hiếm có người đạt được, ngay cả với người bản xứ. Hỏi thêm về nỗ lực đó, Bác Sĩ Cổn chỉ cười: “Phương châm của Nhảy Dù là Cố Gắng mà !”. Thật bất ngờ! Ngoài lòng “tự ái dân tộc,” phương châm đơn giản của người lính Mũ đỏ lại là động lực chính để vị Y sĩ Quân y Việt Nam Cộng Hòa trở thành một Giáo sư Đại học Hoa Kỳ.
        Nhớ về một thời chiến tranh, Bác Sĩ Cổn tâm sự, giữa chiến trường cận kề với bom đạn và cái chết, ông cũng sợ vì không trực tiếp chiến đấu, nhưng quên cả sợ khi làm nhiệm vụ, và hết mình với trách nhiệm của một Bác sĩ Quân y, để kịp thời cứu chữa cho những người lính bị thương tích khi xung trận. Ngoài ra, nhiệm vụ của một Quân Y Sĩ trong Sư Đoàn Nhảy Dù còn hành quân cùng các Tiểu Đoàn tác chiến, là săn sóc thương bệnh binh, làm Dân Sự Vụ khám bệnh cho thuốc dân chúng trong vùng sau khi đánh đuổi quân địch quân và kiểm soát an ninh, tại hậu cứ thì khám bệnh cho gia đình binh sĩ trại gia binh.
        Về Khí Công Hoàng Hạc, nhờ nhiều năm tháng tìm hiểu về môn khí công, từng là chưởng môn võ Thiếu Lâm, Võ sư Ðệ Cửu Ðẳng Huyền Ðai Hiệp Khí Ðạo; có sở trường về âm nhạc, ông chơi kèn saxophone, sáng tác nhiều ca khúc phổ từ thơ, và cũng là người sáng lập ra Ban nhạc Star Band. Ông phối hợp cả y, võ, nhạc vào làm một để những đồng hương cao niên có một phương pháp giữ gìn sức khỏe và mọi lứa tuổi có thể luyện tập thể dục một cách nhẹ nhàng, hiệu quả. Đồng thời đó còn là một sự cống hiến lớn lao cho xã hội.
        Năm nay 76 tuổi, Bác Sĩ Phạm Gia Cổn vẫn nhanh nhẹn hoạt bát, với phong thái rất trẻ và đầy ắp niềm lạc quan về cuộc sống.
                Lý Văn Quý thành danh vẫn không quên “cái nôi” Quân Y:
        Nha Y Sĩ Lý Văn Quý tiếp chúng tôi tại tư gia. Chiếm trọn một phòng lớn trong nhà ông là một sân khấu mini với đủ thứ loa, máy móc, nhạc cụ như dành cho một Ban nhạc thứ thiệt, còn ở một góc phòng khách là hệ thống máy điện toán với bốn màn hình sát nhau. Nha Y Sĩ Quý năm nay 68 tuổi, sắp bước vào tuổi thất thập nhưng trông ông “trẻ hơn tuổi” khá nhiều.
        Vốn là một Sinh viên Cán bộ phụ trách Quân nha của Trường Quân Y Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sau khi ra trường phục vụ hơn bốn năm với tư cách Nha Y Sĩ Nha khoa trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Nha Y Sĩ Lý Văn Quý cũng như nhiều người khác phải đi Tù cải tạo ngay sau Tháng Tư, 1975. Ông qua Mỹ theo diện H.O. từ Tháng Ba, 1991.
                                      Nha Sĩ Lý Văn Quý. (Hình: Lý Văn Quý cung cấp).


        Đặt chân đến Mỹ, ông không nghĩ mình có thể tiếp tục hành nghề như một Nha Y Sĩ tại đất nước Hoa Kỳ. Lúc đó ông đã sẵn sàng làm một người thợ lao động chân tay cho các hãng xưởng, hoặc chạy bàn cho một tiệm McDonald’s nào đó miễn là có thể sinh sống và lo cho tương lai con cái. Nhưng những bạn bè Quân y qua Mỹ trước đó, báo cho ông là tại Mỹ ông có thể thi lại để lấy bằng hành nghề.
        Theo ông, nhờ các Giảng sư, nhất là Giáo Sư Nguyễn Văn Thơ – cựu Khoa trưởng Nha Khoa, cựu Bộ trưởng Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa – đã vận động với Hiệp Hội Nha Sĩ Hoa Kỳ ADA (American Dental Association) để họ công nhận bằng Nha sĩ của Việt Nam Cộng Hòa. Sở dĩ được như vậy, là vì thời của Nha Y Sĩ Quý học tại Sài Gòn, tất cả Sinh viên đã được đào tạo theo tiêu chuẩn và giáo trình của Hoa Kỳ, có Giáo sư Mỹ qua Sài Gòn giảng dạy. Vào trường, ông còn gặp lại các vị Thầy cũ đó tại các trường UCLA, USC, UT (The University of Texas)…
        ADA cho phép các Nha Y Sĩ Việt Nam mới qua được thi lại để lấy bằng hành nghề, tất nhiên việc thi lại này cũng giống hệt như cuộc thi của các Nha Y Sĩ Mỹ. Cũng khởi đi từ “Dental National Board,” Part 1, rồi đến Part 2, sau đó mới thi “State Licence” (bằng hành nghề của Tiểu bang). Ngoài ra, đối với người “ngoại quốc” như người Việt, còn phải thi thêm Part 3 trên mẫu, như thế còn khó hơn một Sinh viên học tại Mỹ. Có nhiều người đành vào trường để “học lại cho khỏe,” hoặc sẽ học hai năm theo chương trình “Foreign National Program” rồi thi lấy “License.”
        Theo ông, nếu muốn đổi đời thì phải cố gắng học để thi đậu. Ông cho biết ông có may mắn là sau ba tháng đến Mỹ ông đã thi đậu Part 1, sáu tháng sau ông đậu tiếp Part 2 và chỉ khoảng một năm ông đã vượt qua cả bốn kỳ thi. Ông cũng may mắn có khoảng thời gian hành nghề lại tại Sài Gòn sau khi ra khỏi trại tù nên tay nghề không bị thui chột. Theo ông, ngoài việc nhờ các thầy cũ vận động, bạn cũ giúp đỡ, còn phải ghi nhận rằng do xã hội Mỹ cởi mở và tạo cơ hội ngang nhau cho tất cả mọi người. Nếu có đủ trình độ thì đều có thể hành nghề như nhau.
        Với vấn đề trở ngại về ngôn ngữ, Nha Y Sĩ Quý lại cho rằng do mình may mắn đã được cha ông – một Trung tá Nhảy Dù – cho đi học trường Pháp, nên khi đến Mỹ ông không khó khăn lắm khi “chuyển hệ.” Một cách học tiếng Mỹ hiệu quả theo ông là chịu khó coi ti vi, xem thật nhiều phim Mỹ để tập nghe, và đến siêu thị bắt chuyện với người Mỹ để luyện diễn đạt và mau chóng hội nhập. Đối với ông, việc hòa nhập không mấy khó khăn.
        Một phần quan trọng, theo ông là do từ khi thi tuyển vào Trường Y vốn đã rất khó, sau đó thi tiếp vào Trường Quân y lại là một tầng khác của cuộc tuyển lựa tài năng. Như thế, mỗi một Y sĩ Quân y đã phải trải qua nhiều lần gạn lọc về khả năng, thêm nữa ở trong môi trường quân đội phải trải qua những kỳ huấn nhục, trải qua những kỷ luật để rèn luyện ý chí, tinh thần. Đó cũng là lý do hầu hết các Y sĩ Quân y khi qua đến Hoa Kỳ hầu hết đều có thể hành nghề trở lại, và coi như đều thành công tại đây.
          Nha Y Sĩ Lý Văn Quý trong lễ mãn khóa Trường Quân Y Sài Gòn. (Hình: Lý Văn Quý cung cấp).


        Từ năm 1992, Nha Y Sĩ Quý đã trở lại với nghề, vài năm sau ông đã tự mở phòng mạch riêng, và theo ông nhờ có đông đảo đồng hương hỗ trợ, nhất là thời gian các gia đình H.O. qua Mỹ, họ đã đến với ông để được khám chữa. Ông hay nói nhờ may mắn, nhưng rõ ràng nếu không có ý chí vươn lên thì khó có thể gặt hái được kết quả. Từng lấy bằng MBA về thị trường chứng khoán, từng học và kiếm thêm tiền nhờ thiết kế website, đối với ông, sự thành công trước hết là do cố gắng, nỗ lực của bản thân, nhưng quan trọng vẫn do Thượng Đế phù trợ, ông khiêm tốn và thật tâm nghĩ vậy.
        Hiện tại, phòng mạch của ông vẫn hoạt động toàn thời gian, nhưng riêng ông chỉ còn làm bán thời gian. Thời giờ của ông hiện nay còn dành phần lớn cho trang Diễn Đàn Cựu Sinh Viên Quân Y Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mà ông là người điều hành như một Chủ bút suốt gần sáu năm nay.
        Cứ mỗi hai tháng một lần, Diễn đàn online đó lại ra một số để thành một nhịp cầu nối những người đã một thời từng là Sinh Viên Quân Y, hệ thống máy điện toán đồ sộ ở nhà ông là để phục vụ cho tờ báo online này. Ông cũng viết những bài về chuyên môn Nha khoa, hoặc đăng tải các bài về Y tế thường thức để hướng dẫn, giúp đỡ đồng hương. Diễn đàn online đó còn cập nhật mục Quân Y Nha Dược Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Hy Sinh Trong Cuộc Chiến với nhiều chi tiết về nhân thân, góp phần soi rọi lại các gương hy sinh của người Chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa.
        Ý thức dân tộc của một Trí thức, cũng khiến ông góp một phần trong các hoạt động hỗ trợ phong trào dân chủ, nhân quyền trong nước. Được biết ông cùng với Dược Sĩ Quân Y Nguyễn Hiền (ở Hòa Lan) là đồng Dịch giả tác phẩm “Cưỡi Ngọn Sấm” (Ride the Thunder) của Richard Botkin. Ông còn là Đồng sản xuất cho cuốn phim cùng tên, kể về cuộc chiến khốc liệt tại Việt Nam, tái hiện thảm cảnh trong các trại tù cải tạo ngày xưa.
        Cũng đam mê âm nhạc, Nha Y Sĩ Lý Văn Quý còn là một tay đàn guitar, một giọng ca bán chuyên nghiệp cho nhóm nhạc…
        Có lẽ cũng giống như Bác Sĩ Phạm Gia Cổn, âm nhạc vừa là môn nghệ thuật không biên giới, vừa là nhịp cầu khiến con người dễ gần gũi với nhau, mang những tâm hồn lại gần bên nhau. Họ đang sống đẹp như những bông hoa đang tỏa hương lặng lẽ.
        Như trong một bài báo của Nhà báo Thanh Thương Hoàng: “Theo sự nhận xét của tôi với sự quen biết lâu năm trong giới Y sĩ, tôi thấy các Bác sĩ Việt Nam hầu như ông nào cũng có ‘máu’ văn nghệ trong người. Ông thì sáng tác nhạc và ca hát, ông thì viết văn làm thơ hay họa. Có lẽ do nghề nghiệp với tấm lòng cứu nhân độ thế, tình cảm chan chứa với đời, với người, nên ngoài những giờ phút hành nghề, các vị trải lòng mình lên trang giấy hay qua tiếng đàn ca hát góp thêm nguồn vui sống cho đời.” (Uyên Vũ).  ./.


__._,_.___

Posted by: van tran 

Featured Post

Tên các Quốc gia mà người Sài Gòn hay gọi trước năm 1975

https://www.facebook.com/groups/miennamvietnam/posts/1953798441526381/ https://www.facebook.com/buianhhuy095096/posts/t%C3%AAn-c%C3%A...

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List