QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Thursday, September 12, 2019

TRẢ LẠI TÊN CHO NHỮNG CHIẾN BINH NHẢY DÙ - tìm người thân


  ( Xin phổ biến rộng , để :
  1  -  Cảm ơn những  đồng ngũ ,đã vì tình " huynh đệ chi binh "
          không ngại công sức , đi tìm bạn cũ .
  2  -  vinh danh 4 chiến binh  đã yêu nước đến giọt máu cuối cùng . 
  3  -  nhất là , để hy vọng tin tức tới tay thân nhân của các anh hùng tử sĩ . )

----- Forwarded Message -----
From: Thập Ngv <josthap@gmail.com>
Sent: Wednesday, September 11, 2019, 08:43:34 PM CDT
Subject: TRẢ LẠI TÊN CHO NHỮNG CHIẾN BINH NHẢY DÙ - tìm người thân

TRẢ LẠI TÊN CHO NHỮNG CHIẾN BINH NHẢY DÙ   - tìm người thân




TRẢ LẠI TÊN CHO NHỮNG CHIẾN BINH NHẢY DÙ TRUNG LIỆT SAU 36 NĂM LẠNH LẼO, VÔ DANH

Những ai đã từng sống tại Thị Xã BàRịa_Vũng Tàu, hoặc có dịp đi qua con đừơng này, đối diện Nghĩa Trang Liệt Sĩ Bà Rịa_Vũng tàu, có 04 ngôi mộ không có bia trong vườn nhà ông Hai Lì, đã có mặt từ ngày 01-05-1975 cho đến nay…
Từ nguồn tin của người dân ở Thị Xã Bà Rịa-Vũng Tàu nói về sự linh ứng của 04 ngôi mộ này, theo họ cho biết đó là những Ông Lính bận đồ rằn ri, chiến đấu cho đến trưa ngày 01-05-1975 rồi cùng nhau tự sát… cũng vì thế để tìm hiểu thực hư, sau gợi ý của Hùng Bảy Lổ (Canada) với sự bàn thảo của Anh Lâm Viên 20, chúng tôi với sự dẫn dắt, giới thiệu của MĐ Vẽ 91 lên đường đến tận nơi 04 ngôi mộ, chúng tôi gồm có MĐ Đẹp 83(TPB cụt môt chân), MĐ Thành 31, MĐ 93 và MĐ 90.
Kìa… vườn nhà ông Hai Lì nơi có 04 ngôi mộ, theo lời MĐ Vẽ nói về ông Hai Lì rất dữ dằn, khó chịu (Dân Cách Mạng) nên chúng tôi hơi chùn lòng, sợ bị làm khó dễ. Điều linh ứng đầu tiên mà chúng tôi cảm nhận được là sau lời vái của MĐ Đẹp;”Xin vái với Các ANH sống khôn, thác thiêng hãy tạo thuận lợi cho chúng tôi là những đồng đội cũ, tìm đến để đưa Các Anh về chùa nhang khói, hy vọng những thân nhân của Các Anh sẽ sớm nhận được tin này”.
Khi bước vào vườn nhà, tức thì ông Hai Lì xuất hiện với nụ cười trên môi, niềm nở tiếp đón anh em chúng tôi(không hề có sự khó khăn nào) và hình như ông ấy đã biết rỏ ý định của chúng tôi là xin bốc 04 ngôi mộ (vì lúc đó MĐ Đẹp bận quần trận Hoa Rừng) ông Hai Lì nói: “Tôi đã chôn cất mấy Ông này từ ngày 01-05-75, hơn 36 năm, tôi chờ đợi thân nhân mấy Ông này nhưng không thấy, hằng năm tôi vẫn thừơng nhang khói, đắp mộ cho mấy Ông này, nay các anh là đồng đội tìm đến, tôi rất vui và tôi hứa sẽ tạo mọi điều kiện cho các anh bốc mộ, đừng ngại gì cả”.
Được lời như mở tấm lòng, chúng tôi xin ông vui lòng kể lại sự việc, vì sao có 04 ngôi mộ này. Theo lời Ông Hai Lì : “Tôi là dân Gia Đình Cách Mạng, mấy Ông Rằn Ri này gan lì lắm, mấy Ổng chống đến cùng dù có lệnh đầu hành của Tổng Thống Dương Văn Minh 30-04-1975, mấy Ổng chiến đấu cho đến trưa 01-05-1975 rồi cùng nhau tự sát và chính tôi là người chôn cất mấy Ổng, giấy tờ từng Ông tôi bỏ vào một cái hộp chôn theo các Ông”.
Ngừng một lát, ông Hai Lì kể tiếp với giọng nói pha chút thán phục: “Mấy Ổng linh lắm, nhiều năm trước thỉnh thoảng có những người đến mộ cầu xin, đều được linh ứng nên mọi người quanh đây rất kiêng nể. Có những kẻ “vô ý thức” khi đi ngang qua đây, chỉ trỏ, bi bô với giọng điệu chế nhạo “mả mấy thằng lính Ngụy’’ đều bị báo ứng như té xe, tông cột đèn, trầy tay, trẹo chân…vì thế, ngày nay có mấy anh đến thăm và di dời mấy Ổng về chùa, tôi sẽ đứng ra chịu trách nhiệm cho các anh, các anh cứ làm, đừng ngại gì cả, tôi sẽ giúp với tất cả tấm lòng.
Chúng tôi cùng lặng người khi nghe kể về Các Anh, kính phục các Anh đã TẬN TRUNG BẢO QUỐC. Những Anh Hùng vì nước quên thân, khí hùng tử Anh Hùng nào tử. Khi sống, chiến đấu hiên ngang cho đến khi khí tàn, sức kiệt chọn cái chết để bảo toàn Danh Dự và khi tử tiết đã hiển linh cho mọi người cùng thấy và chúng tôi nguyện với lòng sẽ đem các Anh về nơi yên bình , sớm hôm nghe Kinh Phật ngõ hầu linh hồn Các Anh được siêu thoát khỏi cõi đời ô trọc này.
Xin nguyện cầu Anh Linh Các Anh dẫn lối đưa đường để những người thân yêu của Các Anh sớm tìm gặp lại Các Anh. Chúng tôi những người Đồng Đội cũ, đến đây với Các Anh với tấm chân tình, huynh đệ chi binh…ngày nay chúng ta đã mất tất cả nhưng không bao giờ mất được Tình Đồng Đội…hơn 36 năm nằm đây, các Anh là những Chiến Sỹ Vô Danh nhưng từ hôm nay các Anh sẽ được Vinh Danh trong Quân Sử, những ANH HÙng trong QLVNCH nói chung và làm rạng danh THIÊN THẦN của Binh Chủng, một tay cũng đánh, một cánh cũng bay…
Gặp Lại…
Nơi các Anh nằm xuống trong vườn nhà của Ông Hai Lì, đối diện là Khu Nhà Đá của Pháp để lại (bây giờ là NTLS tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) cách Trung Tâm Huấn Luyện Vạn Kiếp khoảng vài trăm mét, nay là Phường Long Tâm, TX Bà Rịa -Vũng Tàu có một toán lính Nhẩy Dù đã kháng cự mãnh liệt cho đến tận trưa ngày 01-05-1975 rồi cùng gục ngã bất chấp lời kêu gọi đầu hàng của TT Dương Văn Minh vào trưa 30-04-1975.
Chính sự chiến đấu kiêu hùng đó đã làm cho Ông Hai Lì thán phục, tinh thần Vì Nước Quên Thân và sự hy sinh cao cả của Các Anh đã xóa mờ lằn ranh thù hận và cũng chính Ông là người đã chôn cất 04 mộ phần này trong khu vườn của Ông và giữ gìn cho đến ngày hôm nay, chúng tôi xin chân thành cám ơn Ông đã chăm sóc những Đồng Đội của chúng tôi.
Ông Hai Lì là một người tốt đã tạo điều kiện dễ dàng để chúng tôi tìm gặp Các Anh và thuận lợi thứ hai là khi nói chuyện với Vị Sư Trụ Trì gần đó, sau khi nghe kể rõ mọi sự tình như nói ở trên, Ngài Sư Trụ Trì hứa sẽ chấp nhận cho các Anh vào Chùa mà không đòi hỏi khoản chi phí nào và hứa khi thân nhân các Anh tìm gặp sẽ tạo mọi thuận lợi cho các thân nhân của các Anh tùy nghi đem về hoặc để lại Chùa nhang khói cũng được.
Mọi việc coi như êm xuôi, chỉ còn chờ ngày tốt để đem các Anh vào Chùa.
Cuộc chiến đã trôi qua hơn 36 năm… những đắng cay, tủi nhục mà thân chiến bại từng nếm trải, vòng lao lý, kiếp gian truân, gian nan cực nhọc trên nẽo đường mưu sinh, người sống còn nhọc nhằn như thế huống gì người nằm xuống nơi chân trời, góc bể tưởng như đã bị quên lãng theo thời gian…ngày nay kiếm tìm được Đồng Đội ngã xuống nơi này là cả một công sức của những người có tâm huyết vì Đồng Đội, không một chút tư lợi, không chút lợi danh mà chỉ muốn đưa Các Anh về với gia đình ngừơi thân.
Hơn thế nửa Vinh Danh các Anh những ANH HÙNG trong cuộc chiến bi hùng này.
Người ngoài cuộc còn biết thán phục, biết vị nể, còn có tấm lòng huống chi chúng ta là những người từng đội chung màu Nón Đỏ, lẽ nào làm ngơ!!! Xin hãy chung tay giúp sức cho những Đồng Đội còn ở Quê Nhà có điều kiện thăm hỏi, an ủi nhau lúc ốm đau, bệnh tật, lúc tuổi già bóng xế, những TPB còn lây lắt, mưu sinh giữa dòng đời nghiệt ngã, những người mà máu xương của họ đã tô thắm dãi đất này.
Xin thắp nén nhang, kính cẩn dâng lên các hương hồn những Chiến Sỹ đã hy sinh vì Tổ Quốc. Những Anh Hùng đã âm thầm ngã xuống cho Quê Hương, xin mãi mãi tưởng nhớ và Vinh Danh Các Anh những Chiến Binh can trường , lẫm liệt, lấy cái chết để bảo toàn Danh Dự.
Những Anh Hùng…
Trời tờ mờ sáng 19-08-2011, chúng tôi rời Saigon trực chỉ BàRịa- Vũng Tàu, đến nơi Các Anh yên nghĩ trong khu vườn nhà của Ông Hai Lì thuộc Thị Xã Bà Rịa-Vũng Tàu, tỉnh BàRịa- Vũng Tàu. Đến nơi, mọi người trong Nhóm Bốc Mộ đã hiện hiện đầy đủ, nghi thức cúng vái, cầu xin mọi việc được suông sẻ do Sư Trụ Trì Chùa đảm trách.
Công việc bốc mộ được tiến hành, tất cả mọi người cùng hồi hộp chờ đợi từ nhát cuốc đầu tiên chạm vào ngôi mộ, sau đó hé lộ dần những hình hài của Các Anh đã chôn vùi nơi đây hơn 36 năm dài đằng đẳng…không Quan Tài, mà cũng chẳng có PONCHO bọc xác, chẳng còn gì với cát bụi thời gian, ngoài những mảnh xương tàn, quần áo đã mục nát …chúng tôi cố tìm những mảnh giấy tờ đã được chôn theo Các Anh sau khi đã lượm lặt từng khúc xương còn xót lại, rồi cho vào từng hủ sành, ghi tên Các Anh, gởi vào Chùa và cầu xin cho Các Anh được siêu thoát khỏi chốn dương trần đầy khổ đau, tủi nhục này và điều mong muốn mãnh liệt nhất là thân nhân Các Anh sớm tìm gặp lại Các Anh sau bao năm dài vẳng bặt tin tức…
Trong lúc bốc mộ cũng có một số người dân đến xem tỏ ý thán phục trước tinh thần quả cảm, chiến đấu anh dũng của Các Anh nên đã tình nguyện phụ giúp lúc bốc mộ và Ông Hai Lì cũng xúc động trước tinh thần Đồng Đội của Nhóm Bốc Mộ chúng tôi, sau bao nhiêu năm vẫn còn giữ được tình cảm này, không bao giờ quên nhau, không ngại đường xá xa xôi, khi nhận được tin đã hết lòng lo cho nhau. Sự chân thành của ông làm chúng tôi cũng hãnh diện phần nào vì Các Anh, những Anh Hùng đã ngã xuống cho Quê Hương…nhưng thế Nước, vận Trời đã làm cho chúng ta ly biệt và mãi đến nay mới có cơ hội được Vinh Danh Các Anh.
Tất cả mọi người cùng ứa lệ mừng vui khi tìm được những tấm thẻ bài, giấy tờ, tên tuổi Các Anh …và đây là những vị Anh Hùng của chúng ta:
-Ngôi mộ thứ nhất: Có Thẻ Bài tên TRƯƠNG VI CỬ SQ: 75/115.815 LM:O Nón Sắt, đầu Bút Nịt.
– Ngôi Mộ thứ hai: có Thẻ Bài tên VÕ QUANG HẰNG SQ: 68/123.320 LM:B Nón Sắt, dây nịt.
– Ngôi Mộ thứ ba: (gồm có 02 người) trong đó Một Vô Danh không Thẻ Bài và có Nón Sắt.
Người thứ hai tên là: có Thẻ Bài tên: TRẦN VĂN HÀ SQ: 67/824.827 LM:O Nón Sắt
Và Một số giấy tờ như: Chứng Chỉ Tốt Nghiệp Nhẩy Dù Khóa 298, mãn khóa ngày 21-04-1973.
02 Quyết Định Thăng Cấp của Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù/Ban 1: do Tr/tá Lê Hồng ký và Th/tá Châu ký.
01 Chứng Chỉ đã học khóa Phòng Hỏa do Trung Tâm Tiếp Vận Vùng 3 ký, cùng một số Hình Ảnh (đã phai mờ theo thời gian)nhưng cũng tạm xem được, có hình đội nón Đỏ, áo Nhẩy Dù.
Những di vật này còn tồn tại là nhờ Ông Hai Lì, đã cẩn thận bọc thêm nhiều lớp bao Nylon và nhét vào một ống nhựa khi chôn, nhờ sự chu đáo của Ông mà hôm nay chúng ta mới đọc được những dòng chử này và chứng tỏ các Anh nằm tại đây là Lính Nhẩy Dù.
Sau khi Bốc mộ xong, chúng tôi đã đem 04 hủ cốt gởi Chùa Báo Ân. Địa chỉ: Khu Công Nhân, Thị Trấn Ngãi Giao, huyện Châu Đức, Bà Rịa-Vũng Tàu.
Còn các Di Vật và giấy tờ liên quan kể trên, chúng tôi nhờ MĐ Đẹp giữ.
Nếu tình cờ Quý Vị nào hoặc ai đọc được tin tức này hoặc cần biết thêm chi tiết cụ thể, xin vui lòng liên lạc theo số Phone, dưới đây:
Nguyễn Văn Thành ĐT: 01645462458
Lê Văn Đẹp ĐT: 01684118839
Kính nhờ Quý Anh và tất cả mọi người phổ biến tin tức này, hy vọng Các Anh sẽ sớm gặp lại người thân. Kính chúc tất cả mọi người luôn An-Mạnh.
Saigon- Bà Rịa-Vũng Tàu
Ngày Bốc Mộ 19-08-2011
-
__._,_.___

Posted by: Hank Music 

Friday, September 6, 2019

Hơn 3.000 thuyền nhân bị giết ở đảo Koh Kra, Thái Lan.

Subject:  Hơn 3.000 thuyn nhân b giết đo Koh Kra, Thái Lan.

Hơn 3.000 thuyền nhân bị giết ở đảo Koh Kra, Thái Lan.




         Nỗi ám ảnh kinh hoàng mà nhiều người không biết là đã có ít nhất 3.000 thuyền nhân bị hải tặc Thái Lan thảm sát ở đảo Koh Kra.
         Trong giai đoạn từ 1977-1982 hải tặc bắt nhiều thuyền nhân đưa vào hoang đảo Koh Kra. Chỉ nội trong năm 1981 thống kê cho thấy có 452 chiếc thuyền tị nạn bị tấn công, và con số thuyền nhân bị hải tặc Thái thảm sát gần 900 người trong cùng năm 1981 – Số thuyền nhân đến được đất Thái mỗi năm khoảng hơn 15.000 người và tổng số thuyền nhân chết ngoài biển do sóng gió, thiếu thức ăn, hải tặc, với thống kê cao nhất là 400.000 người bỏ xác ngoài biển khơi.
alt
Đảo Koh Kra là một hoang đảo, nơi trú ẩn của ngư dân Thailand – Đảo có chiều dài hơn 250 mét và chiều ngang chỗ rộng nhất khoảng 100 mét.
         Liên tục vào những năm 1977-1982 là thời gian cao điểm thuyền nhân tị nạn từ Việt Nam đi qua vịnh Thailand để đến Thái, Indonesia, và Malaysia – hải tặc Thái bắt nhiều thuyền đưa vào Koh Kra để cướp, hảm hiếp phụ nữ, và giết chết ngay sau đó.
         Tờ báo Hồn Việt của Ký giả Nguyễn Hoàng Ðoan trong năm 1978 đã ghi lại câu chuyện của những người tị nạn bị bắt lên đảo Koh Kra vượt thoát ra, và kể lại nhiều câu chuyện rùng rợn xảy ra tại nơi đây. Koh Kra có một bia đá nằm ở hướng Bắc của hòn đảo là nơi có diện tích rộng nhất. Đây là nơi bọn hải tặc Thái thường đưa phụ nữ Việt Nam bắt được ra hảm hiếp tập thể cho tới khi họ ngất đi, thì sẽ bị đẩy xuống biển.
         Một chiếc thuyền tị nạn trôi dạt vào Koh Kra cuối năm 1977 kể lại thuyền của họ có 8 người – 3 phụ nữ, một đứa bé và 4 đàn ông khi bị sóng đánh trôi dạt vào đảo , mọi người mừng rỡ vì nghĩ rằng đã có nơi trú ẩn khi gió lớn – Vào được khu vực bia đá thì họ nhìn thấy hàng chữ bằng tiếng Việt được viết nguệch ngoạc – “Đảo này là đảo Hải Tặc hãy rời đi, vì họ sẽ giết đàn ông và hảm hiếp phụ nữ!”
         Nhanh như chớp, 8 người trở lại chiếc thuyền tìm cách chèo chậm chậm ra khỏi khu vực – vừa rời khỏi đảo Koh Kra chừng hơn 200 mét, thì họ gặp phải một chiếc thuyền lớn hơn của Hải Tặc Thailand từ xa tiến lại gần.
         Các thuyền nhân trên tàu 8 người kể lại: Họ nhìn thấy trên chiếc thuyền Thái có một tay cầm súng carbin, và 7 tên khác cầm dao rựa với ánh mắt đẫm máu dữ tợn, đang đưa thuyền tiến gần hơn chiếc 8 người.
         Trên chiếc thuyền 8 người có 4 thuyền nhân đàn ông, họ là người cùng gia đình – một lính Biệt Cách Dù Việt Nam Cộng Hòa, một Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hòa, và 2 thanh niên trẻ hơn là Bộ Đội vừa trốn khỏi chiến trường Tây Nam.
         Thuyền 8 người tị nạn trang bị một súng AK47 còn 4 viên đạn, một khẩu B40 còn một quả, và một súng máy không có đạn.
         Khi chiếc thuyền hải tặc tới gần thì cây súng máy (không đạn) được người lính Bộ Đội đưa lên để hù, và anh Biệt Cách Dù đưa AK lên bắn một viên bắn sượt ngang mông tên hải tặc đang cầm súng carbin và quả B40 cũng chuẩn bị khai hỏa … Tiếng súng AK đơn độc nổ dòn trong buổi chiều trời gần sẩm tối kéo theo tiếng la hét trên con tàu hải tặc, nhanh chóng rời bỏ vị trí.
         Bỗng chợt từ trên đảo KoKra vọng lên nhiều tiếng phụ nữ khóc thét nghe rợn người. Anh Bộ Đội trẻ bơi rất giỏi vác trên lưng cây AK47 còn 3 viên đạn bơi nhanh về hướng tiếng phụ nữ khóc.
         Hai người lính Việt Nam Cộng Hòa tìm cách chèo thuyền gần đảo hơn để hỗ trợ cho người em trai Bộ Đội – Họ đã đuổi 5 tên Hải Tặc trên đảo và cứu được 2 phụ nữ còn sống cùng một em bé 4 tuổi – Tất cả 42 người khác trên chiếc thuyền trước đó của nạn nhân đã bị hải tặc Thái giết chết sạch…


                                     LAPSON LUU.

 Hi Tc Thái Lan Tht Dã Man Tàn Ác

image1.jpeg

image3.jpegimage4.jpegimage5.jpegimage6.jpegimage7.jpegimage8.jpeg

:

Ảnh cùng dòng


                                                                      Vịnh Thái Lan - Internet.


                   Hết.















__._,_.___

Posted by: van tra

Monday, September 2, 2019

1945 VUA BẢO ĐẠI+ CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM



----- Forwarded Message -----
From: trung do <
To
Sent: Sunday, September 1, 2019, 5:05:04 PM PDT
Subject:  Qn1=: 1945 VUA BẢO ĐẠI+ CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM

- 1945 Việt Minh không cướp Chính Quyền
của Phủ Trần Trọng Kim,
Đất Nước ta đã có hòa Bình, Độc Lập, giầu mạnh như các Nước khác.....

----- Forwarded Message -----
From: 'trung do' via banvang <>
To
Subject: 1945 VUA BẢO ĐẠI+ CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM

----- Forwarded Message -----
From: "hung vu
To:
Sent: Friday, February 20, 2015 7:26 PM
Subject: [tintucdatviet] Chính Phủ Trần Trọng Kim – Chính Phủ Đ

[Attachment(s) from hung vu included below]
alt

Chính Phủ Trần Trọng Kim – Chính Phủ Đầu Tiên Của Nước Việt Nam Độc Lập

Những Vấn Đề Của Chúng Ta: 60 NĂM GIẢI PHÓNG CÁI GÌ ?



image





Preview by Yahoo



Sau khi vua Bảo Đại công bố Bản TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP ngày 11-3-1945, Phạm Quỳnh cùng toàn thể thượng thư sáu bộ trong triều đình Huế xin từ chức. Vua Bảo Đại triệu tập nhân sĩ khắp nước đến gặp, để thăm dò việc thành lập chính phủ mới..

TRẦN TRỌNG KIM LẬP CHÍNH PHỦ

Lúc đó, người Nhật đưa Trần Trọng Kim từ Singapore về Sài Gòn ngày 30-3-1945, rồi đưa ông ra tới Huế ngày 5-4-1945. Trần Trọng Kim sinh tại Hà Tĩnh năm 1883, học trường Vinh, rồi trường Thông sự Ninh Bình. Năm 1905, ông qua Pháp, học trường Thương mại La Salle tại Lyon, sau chuyển qua trường Thuộc Địa Pháp, rồi trường Sư Phạm Melun.

Tốt nghiệp năm 1911, ông trở về nước dạy tại trường Trung học Bảo Hộ (Lycée du Protectorat) và trường Sĩ Hoạn (Hà Nội), rồi làm Thanh Tra Tiểu học Bắc Kỳ, hưu trí năm 1942. Ông viết nhiều sách nghiên cứu giá trị về văn chương, triết học, nhất là bộ Việt Nam sử lược, xuất bản lần đầu tại Hà Nội năm 1920.

Năm 1943, được tin bị người Pháp nghi ngờ, ông nhờ người Nhật đưa vào Sài Gòn cùng Dương Bá Trạc. Đầu năm 1944, hai ông qua Singapore. Tại đây Dương Bá Trạc từ trần vì bịnh phổi ngày 10-12-1944. Tháng 1-1945, Trần Trọng Kim đi Bangkok. Ông trở về nước sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945.

Là một nhà giáo và là một nhà nghiên cứu nghiêm túc, Trần Trọng Kim cho rằng vua Bảo Đại là vị vua ham ăn chơi, không chăm lo việc nước nên không muốn gặp. Tuy nhiên, theo lời khuyên của Hoàng Xuân Hãn, Trần Trọng Kim đồng ý triều yết vua Bảo Đại ngày 7-4-1945. Gặp xong, ông thay đổi ý kiến.

Hoàng Xuân Hãn kể lại như sau: “Cụ [Trần Trọng Kim] hỏi tôi thì tôi cũng nói với cụ nên gặp ông Bảo Đại, rồi có ý gì thì cụ nói sau, chứ cụ đừng có nói trước. Cụ cứ bảo: “Bảo Đại là một cái anh chỉ biết ăn chơi, không hiểu cái gì cả”. Cụ cứ nói như thế. Sau cụ vào thăm ông Bảo Đại thì cụ ngồi đến 2, 3 giờ đồng hồ cơ. Lúc ra thì trái lại, lại thấy cụ nói: “Nó thông minh lắm chứ không phải như tôi tưởng.” (Hoàng Xuân Hãn trả lời phỏng vấn đài R.F.I (Paris) do Thụy Khê thực hiện, đăng lại trong mục “Những cuộc tiếp xúc khó quên”, sách La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (1908-1996), do Hữu Ngọc – Nguyễn Đức Hiền sưu tập, tập I, Con người và trước tác (phần 1), Hà Nội: Nxb. Giáo Dục, 1998, tr. 481.)

Trong cuộc triều yết nầy (7-4), Trần Trọng Kim đề nghị với vua Bảo Đại nên mời Ngô Đình Diệm lập chính phủ. Nhà vua liền nhờ người Nhật tìm kiếm ông Diệm để mời ông ra chấp chánh. Người Nhật trả lời không kiếm được ông Diệm, mặc dầu ông Diệm đang sinh sống tại Sài Gòn. Theo Trần Trọng Kim, có thể vì ông Diệm thuộc phe cánh Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, mà cuối thế chiến thứ hai, Nhật không chọn Cường Để và chọn vua Bảo Đại, nên Nhật cũng không mời ông Diệm. (Lệ Thần Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Sài Gòn: Nxb. Vĩnh Sơn, 1969, tt. 49-50.)

Vua Bảo Đại đợi ba tuần lễ mà không gặp được Ngô Đình Diệm, nên nhà vua uỷ cho Trần Trọng Kim đứng ra lập nội các. Lúc đầu, Trần Trọng Kim từ chối, thì vua Bảo Đại nói: “Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.” Sau lời thuyết phục của vua Bảo Đại, Trần Trọng Kim “thấy vua Bảo Đại thông minh và am hiểu tình thế, liền tâu rằng: “Nếu vì quyền lợi riêng tôi không dám nhận chức gì cả, song ngài nói vì nghĩa vụ đối với nước, thì dù sao tôi cũng cố hết sức. Vậy xin ngài cho tôi vài ngày để tôi tìm người, hễ có thể được tôi xin tâu lại.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tr. 51.)

Trần Trọng Kim thấy hữu lý nên chấp thuận. Ông đưa ra hai tiêu chuẩn để chọn bộ trưởng vào chính phủ: “Một: phải có đủ học thức và tư tưởng về mặt chính trị, hai: phải có đức hạnh chắc chắn để dân chúng kính phục.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tr. 51.)

(Báo TRUNG BẮC CHỦ NHẬT số ngày 20-5-1945 đưa tin về sự thành lập chính phủ Trần Trọng Kim)

Ngày 17-4-1945, tại điện Thái Hòa (Huế), Trần Trọng Kim trình danh sách chính phủ lên vua Bảo Đại và được chuẩn y. Lúc đó, có cả sự hiện diện của viên đại sứ Nhật tại Huế là Massayuki Yokohama. Nội các Trần Kim gồm đa số là những chuyên gia và trí thức: “Tất cả những vị nầy đều là những vị ái quốc chân thành. Họ không hận thù gì nước Pháp. Trẻ tuổi, can đảm, ý thức được nhiệm vụ ngắn ngủi của mình, họ muốn rằng chủ quyền quốc gia được đánh dấu khởi đầu từ họ.” (Bảo Đại, sđd. tr. 167.)

Sau đây là thành phần chính phủ Trần Trọng Kim tại Huế ngày 17-4-1945:

Nội các Tổng trưởng [thủ tướng]: Trần Trọng Kim, giáo sư
Nội vụ Bộ trưởng: Trần Đình Nam, y sĩ
Ngoại giao Bộ trưởng: Trần Văn Chương, luật sư
Tư pháp Bộ trưởng: Trịnh Đình Thảo, luật sư
Gíáo dục và Mỹ nghệ Bộ trưởng: Hoàng Xuân Hãn, toán học thạc sĩ
Tài chánh Bộ trưởng: Vũ Văn Hiền, luật sư
Thanh niên Bộ trưởng: Phan Anh, luật sư
Công chánh Bộ trưởng: Lưu Văn Lang, kỹ sư [Không nhận]
Y tế Bộ trưởng: Vũ Ngọc Anh, y khoa bác sĩ
Kinh tế Bộ trưởng: Hồ Tá Khanh, y khoa bác sĩ
Tiếp tế Bộ trưởng: Nguyễn Hữu Thí, cựu y sĩ
(Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tt. 52-53.)

CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM KHÔNG CÓ BỘ BINH

Đây là chính phủ đầu tiên của Việt Nam độc lập được tổ chức theo cơ cấu tây phương, gồm nhiều bộ. Đứng đầu mỗi bộ là một vị bộ trưởng phụ trách chuyên ngành. Tất cả những bộ trưởng trong chính phủ đều là những chuyên gia tân học, gồm một giáo sư, hai kỹ sư, bốn bác sĩ, bốn luật sư. Đặc biệt chính phủ nầy không có bộ Binh, hay bộ Quốc phòng, hoặc bộ An ninh.

Trước đây, sau khi vua Bảo Đại từ Pháp về cầm quyền năm 1932, Pháp cải tổ triều đình Huế ngày 2-5-1933, bộ Binh bị bãi bỏ. Nay chính phủ Trần Trọng Kim dưới quyền vua Bảo Đại cũng không có bộ Binh. Không biết lý do nào, một chính phủ được tổ chức theo lối mới, lại không có bộ Binh hay bộ Quốc phòng? Riêng Trần Trọng Kim, trong hồi ký của mình, giải thích như sau:

“Việc binh bị trong nước là việc quan trọng đến vận mạng cả nước, mà lúc ấy quân lính và súng ống không có. Ở kinh đô Huế có tất cả hơn một trăm lính bảo an, tức lính khố xanh cũ, và sáu bảy chục khẩu súng cũ, đạn cũ, bắn mười phát thì năm sáu phát không nổ. Ở các tỉnh cũng vậy, mỗi tỉnh có độ 50 lính bảo an, các phủ huyện thì có độ chừng vài chục người. Việc phòng bị do quân Nhật Bản đảm nhiệm hết. Vì lẽ đó và các lẽ khác nữa mà lúc đầu chúng tôi không đặt bộ Quốc phòng. Một là trong khi quân Nhật đang đóng ở trong nước, nếu mình đặt bộ Quốc phòng thì chỉ có danh không có thực, và người Nhật có thể lợi dụng bắt người mình đi đánh giặc với họ. Hai là trước khi mình có đủ binh lính và binh khí, ta hãy nên gây cái tinh thần binh bị, thì rồi quân đội mình mới có khí thế.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tt. 57-58.)

Tuy Trần Trọng Kim giải thích như thế, nhưng có hai dư luận bàn tán khác nhau về việc nầy: Thứ nhứt, người ta cho rằng chính phủ Trần Trọng Kim gồm toàn khoa bảng chuyên viên, ít hiểu biết về việc quân sự nên không thấy rõ tầm mức quan trọng của bộ Quốc phòng. Thứ hai, có thể người Nhật muốn nắm toàn bộ vấn đề quốc phòng mà không giao cho chính phủ Trần Trọng Kim, vì sợ chính phủ nầy theo Đồng minh, có thể bất ngờ tấn công Nhật. Làm như thế, Nhật còn buộc chính phủ Trần Trọng Kim lệ thuộc vào chính sách quân sự chung của Nhật tại Đông Nam Á.

Dầu sao, việc quốc phòng chỉ dựa trên quân Nhật là điều sẽ rất tai hại về sau, vì khi quân Nhật rút lui hay đầu hàng Đồng minh, thì chính phủ Trần Trọng Kim không có lực lượng quân sự để tự bảo vệ mình, bảo vệ an ninh lãnh thổ, và sẽ dễ dàng bị sụp đổ. Không tổ chức bộ Quốc phòng, chính phủ Trần Trọng Kim mở trường huấn luyện thanh niên, chú trọng đến việc phát triển phong trào thanh niên.

Về phần vua Bảo Đại, ngày 8-5-1945, nhà vua đưa ra chủ trương xây dựng một hiến pháp theo khẩu hiệu “Dân vi quý” của Mạnh Tử, và ngày 30-6-1945, nhà vua ban hành sắc dụ thành lập Hội đồng soạn thảo hiến pháp. Hội đồng mới bắt đầu làm việc, thì tình hình thay đổi nhanh chóng.

QUỐC HIỆU, QUỐC KỲ VÀ QUỐC CA

Bắt tay vào làm việc, trước hết vào ngày 4-5-1945, chính phủ quyết định quốc hiệu mới là Đế Quốc Việt Nam, chứ không dùng các danh xưng An Nam, Đại Nam hay Đại Việt.

Kinh đô Huế được đổi thành Thuận Hóa. Ngày 2-6-1945, chính phủ chọn quốc kỳ Việt Nam nền vàng, ba sọc đỏ theo hình quẻ ly. Quốc ca là bài “Đăng đàn cung”.

Quẻ ly là một trong tám quẻ đơn của bát quái trong kinh Dịch, gồm ba hào (vạch ngang): hào dương dưới cùng (một vạch ngang), hào âm ở giữa (một vạch ngang đứt ở giữa), và hào dương trên cùng (một vạch ngang). Ly vi hỏa là lửa, sáng màu đỏ. Theo quan niệm của Hậu thiên bát quái, ly đóng ở phương nam.

Như vậy, màu vàng của nền cờ quẻ ly vừa là màu cờ long tinh của hoàng gia (truyền thống), vừa tượng trưng cho “thổ”, thích hợp với quẻ ly để chỉ vị trí nước ta (phương nam), và cả về màu sắc (hỏa, màu đỏ, sinh thổ, màu vàng, theo ngũ hành tương sinh), đồng thời với ý nghĩa người Việt Nam máu đỏ da vàng. Sau đây là lời giải thích của Trần Trọng Kim về lá cờ do ông đưa ra:

“Lá cờ vàng là từ xưa nước ta vẫn dùng. Trong sách Quốc sử diễn ca nói khi bà Triệu Ẩu nổi lên đánh quân Tàu, đã dùng lá cờ ấy khởi nghĩa, nên có câu rằng: “Đầu voi phất ngọn cờ vàng”. Vậy lấy sắc cờ vàng là hợp với cái ý cách mệnh của tổ quốc, lấy dấu hiệu quẻ ly là vì trong lối chơi chữ tối cổ của ta có tám chữ viết bằng vạch liền (dương) và những vạch đứt (âm) để chỉ tám quẻ, chỉ bốn phương chính và bốn phương bàng, nói ở kinh Dịch, mà quẻ ly chủ phương nam. Chữ ly còn có nghĩa là lửa, là văn minh, là ánh sáng phóng ra bốn phương.

Lấy sắc vàng là hợp với lịch sử, lấy quẻ ly là hợp với vị trí nước nhà lại có nghĩa chỉ một nước văn hiến như ta thường tự xưng. Như thế là lá cờ vàng quẻ ly có đủ các ý nghĩa.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd, tt. 60-61.)

Khi Trần Trọng Kim chọn cờ quẻ ly, ông cũng biết rằng “có người nói: cờ quẻ lý là một điềm xấu cho nên thất bại vì ly là lìa. Ly là lìa là một nghĩa khác chứ không phải nghĩa chữ ly là quẻ. Và việc làm của một chính phủ là cốt ở nghĩa lý, chứ không phải là sự tin nhảm vô ý thức.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tr. 61.)

Trong khi đó, theo các nhà Nho học, bài thiệu về các quẻ trong bát quái có câu “càn tam mãn, ly trung hư”, tức quẻ càn gồm có ba vạch ngang đầy đủ, trong khi quẻ ly có vạch giữa bị đứt đoạn, nên các ông cũng cho đây là điềm không tốt.

Lời bài quốc ca “Đăng đàng cung” như sau:

“Kìa núi vàng bể bạc
Có sách trời… sách trời định phần!
Một dòng ta – gầy non sông vững chắc.
Đã ba ngàn mấy trăm năm!
Bắc Nam cùng một nhà con Hồng cháu Lạc.
Văn minh đào tạo
Màu gấm hoa càng đượm
Rạng vẻ dòng giống Tiên Long.
Ấy công gầy dựng
Từ xưa đà khó nhọc
Nhớ ơn dày nặng
Lòng trung quân đã sẵn
Cố thương nhau … thương nhau một niềm.
Nguyện nhà Việt muôn đời thạnh trị.”
(Lê Văn Lân, “Quốc kỳ và quốc ca Việt Nam thời quân chủ trong thế kỷ 20 qua”, Tuyển tập Nhớ Huế số 12, không đề năm, California, tr. 27.)

Như thế, vua Bảo Đại và Trần Trọng Kim đã hợp nhất hai nền hành chánh bảo hộ Pháp và địa phương Việt, nên ban đầu còn nhiều khó khăn trong buổi giao thời. Chính phủ nầy không tồn tại được lâu dài, nhưng cũng đặt định được một số nền tảng căn bản như chúng ta sẽ thấy trong hoạt động của chính phủ Trần Trọng Kim. (Trích: Bảo Đại (1913-1997),
Toronto: Nxb. Non Nước, 2014.)
--
Đây là diễn đàn cuả moị lủ́a tuỗi,mọi giỏ́i tính, vỏ́i mục đích và chủ trủỏng nhủ sau:
-cố gắng đem thoãi mái đến moị ngủỏ̀i
-chấp nhận đăng tãi mọi đề taì: tôn giáo xả hội,thể thao,du lịch,âm nhạc,chính trị,tuy nhiên không đủọ̉c đề cao cs.
-
-tuyệt đối không nhận mails nude,sex
-không đủọ̉c đã kích,bài bác tôn giáo,mạ lỵ cá nhân.
vì vậy xin sir,madam vui lòng:
-tôn trọng ý kiến thành viên khác
-không thích thì delete tuyệt đối không tranh luận mất hoà khí diễn đàn
-thành viên nào cố tình phạm lỗi sau ba lần sẽ bị ngủng tủ cách thành viên
Xin quý vị chấp hành...đễ diễn đàn thăng tiến...kính báo.
---
You received this message because you are subscribed to the Google Groups "banvang" group.
To unsubscribe from this group and stop receiving emails from it, send an email to banvang+unsubscribe@googlegroups.com.
To post to this group, send email to banvang@googlegroups.com.
To view this discussion on the web visit https://groups.google.com/d/msgid/banvang/992176962.628880.1534892073312%40mail.yahoo.com.
For more options, visit https://groups.google.com/d/optout.
__._,_.___

Posted by: trung do 

Sunday, September 1, 2019

Sách TÔI đã in xong. Muốn có sách, xin liên lạc


Sách TÔI đã in xong. Muốn có sách, xin liên lạc envirovn@gmail.com cho biết địa chỉ và gửi ngân phiếu $30:00. 

Xin trích đoạn dưới đây:

Nói với những người Cộng sản Bắc Việt đang cầm quyền ở Việt Nam
Xin nói ngay là những dòng chữ sau đây không phải là lời nhắn gửi hay trao đổi với họ mà chính là một vài suy nghĩ về họ trong cung cách quản lý toàn thể đất nước hơn 43 năm qua.

Nhớ lại, trong những buổi hoàng hôn trước ngày 30/4/1975, tâm trạng một thanh niên trẻ,  mang bầu nhiệt quyết hầu mong đóng góp một chút gì cho quê hương, đang bị dằn co bởi ý tưởng ĐI hay . Sau cùng quyết định ở lại đã chiến thắng, xóa đi nỗi khắc khoải của nội tâm vì một suy nghĩ rất “lãng mạn” rằng:”Cho dù CS Bắc Việt có chiếm miền Nam đi nữa, mình cũng có thể đối thoại được với họ, vì cùng chung chủng tộc và cùng một ngôn ngữ”. Nhưng tôi đã lầm, cũng như nhiều người đã lầm, vì họ và tôi không nói cùng một tiếng nói mặc dù cùng phát âm tiếng Việt. Trước bế tắc của cuộc sống và tương lai con cái, phải đành liều chết vượt biên mà thôi. Không còn một giải pháp nào khác.
Trong suốt hơn 30 năm thực sự dấn thân vào con đường tranh đấu dù dưới danh nghĩa cá nhân hay thành viên của Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam (VAST) hay dưới danh nghĩa Đại Việt, hay Nhóm Chống Tàu Diệt Việt Cộng, hay Hội Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam, qua trên 20 cuốn sách viết riêng hay viết chung với các bạn như GS Trần Minh Xuân, TS Phan Văn Song, tôi đã trang trải trong đó, nỗi lòng của người con Việt, nói lên những vấn nạn môi trường do sự phát triển không ứng hợp với chiều hướng toàn cầu hóa và bảo vệ môi trường cùng những chính sách y tế, giáo dục hoàn toàn đi ngược lại trào lưu tiến bộ của văn minh thế giới.
Từ đó, đưa đến tệ trạng là Đất và Nước ngày hôm nay đang đứng bên bờ vực thẳm về phát triển, chưa nói đến vấn nạn làm “nô lệ” cho Trung cộng qua các thỏa hiệp ngầm giữa hai đảng cộng sản Việt và Trung. Hiện nay, trên thực tế và dưới sự quản lý của đảng cộng sản Bắc Việt, Việt Nam vô hình chung đã là một tỉnh phía Nam của Trung Cộng từ lâu rồi!
Ngày hôm nay, nhân danh cá nhân của một người con Việt, nếu còn lại một chút nhứt điểm lương tâm, những người CS Bắc Việt hãy trở về với dân tộc đúng nghĩa thật sự.
Tài sản và quyền lực chỉ là phù du!
Hãy can đảm vứt bỏ VÔ MINH trong tâm khảm để trở về với dân tộc đúng nghĩa.
Một khi nhắm mắt và ngừng hơi thở, tất cả sẽ trở về cát bụi mà thôi!

 

________________________________________

Mai Thanh Truyết



"We carry our Motherland within us;
which enables us to FLY"



Featured Post

Tên các Quốc gia mà người Sài Gòn hay gọi trước năm 1975

https://www.facebook.com/groups/miennamvietnam/posts/1953798441526381/ https://www.facebook.com/buianhhuy095096/posts/t%C3%AAn-c%C3%A...

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List