QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Saturday, September 28, 2019

ĐỌC ĐỂ NHỚ LẠI NHỮNG THÁNG NGÀY TRONG TRẠI KHỔ SAI CỦA CỌNG SẢN.


---------- Forwarded message ---------
From: Cuong Nguyen <
Date: Wed, Sep 25, 2019 at 11:08 AM
Subject: 💔 ĐỌC ĐỂ NHỚ LẠI NHỮNG THÁNG NGÀY TRONG TRẠI KHỔ SAI CỦA CỌNG SẢN

💔 ĐỌC ĐỂ NHỚ LẠI NHỮNG THÁNG NGÀY TRONG TRẠI KHỔ SAI CỦA CỌNG SẢN.

Anh cũng như bao nhiêu người sĩ quan khác Min Nam. Sau 75, đu b tp trung ci to. Nhng tháng đu anh được v gi cho mt hai ln đ ăn, sau đó thì bit tăm. Anh được phép viết thư v cho gia đình nhiu ln. Nhưng không thy v tr li. Như thế k như anh b v b. Sng trong tri ci to mà không có người thăm nuôi, không được tiếp tế đ ăn, người đó k như chết. Anh biết mình nm trong s người bt hnh đó. Nên anh phi t lc cánh sinh. Nói chơi cho vui vy ch t lc gì ni. Có được thăm nuôi hay không, người tù nào cũng co cúm li. Thc ăn dành dm tng chút. Ra ngoài lao đng, con mt ca h dáo dác tìm bt c th gì có th b vào bng cho đ đói. Cho nên người có quà thăm nuôi cũng như dân m côi, khi ra ngoài lao đng cũng xc xo tìm kiếm đào bi như nhau. Ai tìm được ny ăn.

Chuyn ra ngoài Bc anh li càng tơi t hơn. Không quen vi cái lnh thu xương, bng thì đói meo. Trông anh như mt ông c già hom hem. Công vic nng nhc làm cho anh còm lưng. Ngày tr v thì không thy hy vng. Anh c nghĩ mình kéo dài tình trng đói khát, nng nhc ny mãi, thì thế nào cũng b xương ti cái x đèo heo hút gió ny. Trn tri thì không can đm. Mà cũng chng biết trn đi đâu, gia núi rng trùng trùng đip đip. Đành phi bó tay chu trn.

Bng nhiên mt hôm anh nhn được gói đ ăn gi bng đường bưu đin. Anh nghĩ chc v anh gi cho. Nhưng khi cm gói quà trên tay nhìn tên người gi l hoc, anh phân vân, đn đo. Chc chn đây là mt s nhm ln. Tuy nhiên vì đói quá anh không có can đm hoàn tr li cho cán b, khi mà s thèm khát đã lên ti tt đnh. Mà chc gì gói quà được tr v cho kh ch ca nó! Cán b tri đi sng cũng chng hơn tù bao nhiêu, thế nào h cũng chia nhau. Trong lúc mình đang cn, anh an i mình như vy. Anh v tri. Bn bè ti chúc mng anh. Như vy, k t nay anh thuc thành phn có thăm nuôi. Không còn m côi như trước. Gói quà đã được m ra kim soát, ct li sơ sài trước khi giao cho anh nhn lãnh.

Ai nhn quà v đến ch nm ca mình, đu bóc ngay ra. Còn anh thì không dám đng đến. Lúc đu cái đói, cái thèm khát lâu ngày làm cho anh bn lon. Anh nghĩ nhn quà v bóc ra ngay ăn mt ba cho đã. Nhưng khi cm gói quà trên tay, không phi tên v mình gi, anh đâm ra đn đo. Anh nm gác tay lên trán nghĩ ngi v tên người gi. Anh đào bi hết trí nh, vn không tìm ra tên người đàn bà ny, được viết trên góc ca gói quà. Bn bè tù cùng phòng vi anh thì nghĩ khác. H cho rng lâu quá không được nhn quà, không nghe tin tc v, nên anh mun kéo dài cm giác sung sướng. Không bóc vi gói quà. Thế nhưng ri cũng đến lúc gói quà được m. Sau khi ăn cơm chiu xong, anh leo lên ch nm, ngi quay mt vào vách. Anh trnh trng m gói quà. Quan trng vi anh bây gi không phi là trong gói quà có nhng gì đ ăn. Gia lúc ny, s thèm khát bng nhiên trn mt. Mà là lá thư trong gói quà nói gì.

" Anh yêu quý,

Anh đã mt tích t lâu, tưởng rng anh đã chết. Em và các con lp bàn th my năm nay. Không ng, cách đây my hôm, vô tình đến thăm mt người bn, có người anh được th ra t tri ci to Min Bc. Em hi thăm là có bao gi anh nghe tên người nào là Nguyn Hu trong tri ca anh không? Anh đó tr li là có mt người cùng đi sn xut vi anh mang tên y, trước là đi úy thuc Sư Đoàn 2, người Bc Kỳ. T bao nhiêu năm nay không được ai thăm nuôi. Em nghe xong mun qu xung, đúng là anh ri. Thế là t nay em phi h bàn th xung. Các con có b ch không còn m côi cha na. Em mng quá, mang tên anh, tên đi, tên tri đến y Ban Quân Qun Thành Ph đ xin giy phép gi quà thăm nuôi. Lý do vì lon lc, di chuyn nhiu ln, đa ch không còn ch cũ, nên không nhn được giy gi quà thăm nuôi.

Anh đng đ vi phm ni quy, ráng hc tp tt, s được nhà nước khoan hng đ sm v đoàn t vi gia đình. Có dp được tri cho phép viết thư, anh viết thư v cho em biết sc khe ca anh. Anh cn nhng gì ln sau có gip phép em s gi ra cho anh. Em và các con bao gi cũng mong ch anh v.

Thư ny không viết dài được, em ngưng đây. Chúc anh luôn luôn khe mnh.

V anh

Lê Th Hng"

Anh không dám đc li ln th hai. Mt s trùng hp l ky, anh và ông Hu kia cùng thuc Sư Đoàn 2, cùng là người Bc. Ch khác nhau là ông ta mt tích trong chiến tranh, còn anh thì trình din đi ci to. Người đàn bà ny vì quá thương chng không điu tra cn k, ch trong mt sư đoàn, chuyn trùng tên, trùng h là chuyn bình thường. Mà cán b kim duyt thư t cũng lơ đnh, không thy ch mt tích t đu lá thư. Anh nhìn gói đ ăn mà lòng trĩu nng. Mt bên v người ta, chng mt tích bao năm mà vn ch đi. Còn mình sng s s v chng thèm ngó ngàng ti.

Đc thư xong, anh b thư li trong gói đ ri ct li như cũ. Anh nm gác tay lên trán suy nghĩ miên man. Các bn chung phòng đến hi thăm tin tc gia đình anh ra sao, anh tr li nhát gng cho qua chuyn. H nghĩ, có l gia đình anh đang gp rc ri gì đó, nên anh bun ít nói.

Sáng hôm sau ra lao đng, anh không mang thêm cái gì đ ra ăn bui trưa. Anh không biết phi làm sao vi gói quà mà anh đã nhn. Anh cm thy mình ging như mt thng ăn trm, oa tr đ gian. Không biết phi gii quyết thế nào cho n tha đây. My năm tri đói khát, thèm ăn. Chp được mt con dế, con cóc thì xem như được mt ba tic ln. Thế mà khi nhn quà có tht chà bông, cá khô, mui s t v.v... anh li s s. Lương tâm ư? Làm gì có th ny đây. Anh không biết phi din t thế nào tâm trng ca anh lúc y. Vì đng vào đó, anh thy mình như b phm ti. Bui trưa, anh ra nhn cơm vi vài cng rau mung, nước mui. Anh li thèm các th mà mình đang gi. S thèm khát li bt đu dn vt, hành h anh. Anh không th nào chng li ni s đòi hi hp lý ny. Thôi thì ti đâu hay ti đó.

Ngày hôm sau anh mang tí ti đ ăn theo, chia cho mt s bn cùng cnh ng vi anh, nghĩa là thuc dng m côi, không có ai thăm viếng hay gi quà. H ăn mt cách ngon lành. Anh ăn cũng ngon ming nhưng khi ăn xong, anh thy nghèn nghn. My ngày đu anh mang tâm trng ny, nhưng dn dn v sau nguôi ngoai. Hình như s phm ti thường xuyên, ít b lương tâm cn rt hơn là phm ti mt đôi ln.

Vài ba tháng sau đó, anh được tri cho phép viết thư v gia đình. Đây là mt điu khó khăn cho anh. Gi thư cho v hay gi cho ch Lê Th Hng? Gi cho v thì bao nhiêu cái vn bit vô âm tín, còn gi cho ch Lê Th Hng, thì biết nói sao cho ch hiu là anh không phi là chng ch ta. Nếu thư không b kim duyt thì chuyn ny d nói. Còn thư tù như anh thì qua biết bao nhiêu ca i. Biết đâu khi cán b kim duyt phát giác chuyn ny s tng c anh vô cùm. Cái ti mo nhn u đ lãnh đ thăm nuôi. Mt ln cũng là mang ti, mà cái ti ny bn bè biết được thì khinh khi lm. Nhưng mi chuyn đã l ri, đành phi theo lao vy. Anh đánh liu viết theo cái kiu người chng viết cho v.

"Hng em,

Cám ơn em rt nhiu v gói quà va ri em gi cho. Em đng lo gì cho anh na, đây anh được nhà nước cách mng lo cho đy đ, ăn ung không thiếu. Em yên tâm đ dành lo cho các con. Em nhà c gng dy d các con nên người, c gng chp hành chính sách và pháp lut ca nhà nước cách mng.

Nh ơn cách mng, nh ánh sáng soi đường, nh chính sách khoan hng ca nhà nước ta. Anh hc tp đã hiu thế nào con đường lm ln ca mình trước đây. Anh đã ăn năn hi ci và mong sao sau khi được khoan hng tr v vi gia đình, anh s làm li cuc đi tt hơn. Đng lm ln đi theo con đường cũ na, phi sng hòa đng vi nhân dân và tuân th pháp lut nhà nước.

Nhc li cho em rõ, đng gi quà cho anh na. đây anh ăn ung rt đy đ, hãy dành dm cho con, lo cho tương lai các con.

Cu chúc em và các con khe mnh.

Chng em

Nguyn Hu"

Anh nhc li hai ln ch "lm ln", đ ch Hng biết đoán ra mi s, không dám viết đi viết li nhiu ln, s cán b tri nghi ng. Hai ngày sau, văn phòng tri gi anh lên làm vic. Anh điếng hn, không biết chuyn gì xy ra. Có l vì my ch lm ln đó sao? Người kim duyt sao thông minh quá vy. Anh va đi, va tìm cách chy ti. Nhưng không nghĩ ra cách nào gii thích, anh đ liu, c chi đi ra sao thì ra. Mi ln gi người nào mt cách bt thn như vy, là người đó có vi phm điu gì. Các bn tù cùng phòng lo lng cho anh.

Anh bước vào phòng cán b qun giáo, đy lo âu và không biết chuyn lành d ra sao. Người công an chp cung ngi trước lá thư ca anh viết cho ch Hng. Anh ta tươi cười mi anh ngi đi din, rút trong túi gói thuc lá mi anh. Mt thái đ thân thin l lùng. Anh rút mt điếu và chm rãi hút. Người cán b nhìn anh nói: "Trong tri ny, ai viết thư v cho gia đình cũng xin cái ny cái n. Riêng anh thì không, li bo ch đng gi gì c. Cũng l tht. Anh tht s không thy cn thiết sao?"

Anh lc đu: "Nhiu năm không được thăm nuôi, quen ri. Hơn na gia đình tôi cũng nghèo. V tôi lo cho các cháu đ mt. Lo thêm cho tôi, kit sc mt. "

"Anh nghĩ vy cũng đúng. Các anh ngày trước sung sướng quen ri, không quen chu cc kh. Mi có vài năm đã thy thèm khát đ th. Chúng tôi my chc năm đánh gic. Ăn ung kham kh. Không h hé răng."

Người cán b nói tiếp: " Chúng tôi có b đói các anh đâu. Nuôi ăn đy đ đy ch. Chúng tôi cũng mun cho các anh v vi gia đình. Nght vì các anh chưa thông sut chính sách cách mng, nên chúng tôi phi tm gi thêm mt thi gian na."

Anh p úng: "Vâng, thưa cán b."

Người cán b nhìn thng vào mt anh, trnh trng nói: " Thay mt Qun Giáo tri, tôi biu dương tinh thn ý thc ca anh. Thư anh gi có giá tr thuyết phc. Anh là tri viên gương mu, s được Ban Qun Giáo Tri đ bt đ anh được v sm vi gia đình."

My thng làm ăng-ten, cũng nghe cái li ha cho v sm. Nên chúng nó ra sc kiếm đim, mà có thy thng nào được v trước đâu. Anh cười thm trong bng vi cái chiêu d ny.

Người cán b tin anh ra ca và bt tay thân thin. Anh hú hn, thoát được s căng thng. Anh v ch nm. My người bn ti hi thăm tin tc v chuyn ny. Anh tr li vi h là b cán b cnh cáo, vì lá thư viết không đúng tiêu chun. Anh nghĩ thế nào ri câu chuyn ny cũng đ b. Ri cũng s đi cùm vài tháng, vi cái ti mo nhn u đ ly quà gi. Ch Hng thế nào cũng nhn ra nét ch, và ch ký ca anh, không phi ca chng. Không cn my ch "lm ln" kia, ch Hng cũng hiu hết mi s là chng ch đã chết.

Ngày ny qua tháng khác, anh vn lao đng đu đn. Anh vn yên tâm là mình tr li vi v trí m côi muôn thu. Anh không còn hy vng có ai đó ngó ngàng ti đ gi cho chút quà thăm nuôi. Người ta có gia đình gi quà. Người ta có quyn tưởng tượng các món ăn đ v an cho cái d dày. Vì thế nào có ngày cũng được thăm nuôi, món ăn mình ao ước s được người nhà mang đến. Còn anh ch ăn hàm th các món đó thôi. Cũng không sao nghĩ ra, cái đói khát trin miên, đã làm cho anh chai lì mi ao ước. Thn kinh tê lit và suy sp đến tn cùng.

Nhn quà thăm nuôi bng bưu đin li có tên anh. Li thêm mt ln ngc nhiên. Ln trước anh không dám m gói quà, vì biết đó không phi là quà ca mình. Không dám đc thư vì biết thư đó không viết cho mình. Ln ny thì ngược li. V đến ch nm thì anh xáo tung đ tìm lá thư ra đc. Thư viết cũng thm thiết như ln trước, không h đá đng gì s lm ln mà anh đã nhn mnh. Nét ch cng ci th hin người viết có hc thc, thế mà ti sao không biết mi s lm ln đó. Trong thư ny ch Hng li hiu sai vn đ, nghĩ rng vì my năm không nhn quà thăm nuôi, nên anh gin di. Biết làm sao đây, khi mà anh không có kh năng bày t t s. Mc k, c thn nhiên mi chuyn, c ăn cho sướng. Phó mc mi chuyn cho tri đt. Anh đ ra cáu knh và lì lm. Hình như anh mun to ra tình hung ny, đ d dàng nut trôi my miếng thc phm thăm nuôi, mà không thn vi lương tâm.

Mi ln sc nh li chuyn quà cáp, anh vi vàng xua đui ngay. Nh vi lòng mình như vy, nhưng d gì quên được điu đó. Mi đêm, khi cơn đói hành h, các món ăn trong trí tưởng tượng tuôn ra, là hình nh ch Hng li hin lên. Đp hay xu lúc ny đi vi anh chng cn thiết, nhưng tm lòng thương chng ca ch đã làm cho anh cm phc. Thc s, anh thương hi cho hoàn cnh côi cút ca ch và my đa con. Sng gia s khó khăn chung ca xã hi, nuôi my ming ăn cũng thy khó lm ri, đng nghĩ gì xa xôi hơn như chuyn thăm nuôi chng. T hi hơn na, đây không phi là chng ca mình.

Mi chuyn vn bình thường, ngày ny qua ngày khác trong tri ci to. Anh vn sinh hot chung vi các anh em. Bng nhiên mt ngày, sau khi đi lao đng v, anh được loa phóng thanh gi tên ra khu thăm nuôi, có v là Lê Th Hng đến thăm. Ln ny thì anh bi ri tht s. Anh biết s gp nhau ny rt b bàng và ngượng ngp. Mi s tht s làm cho ch Hng đau kh biết my. Vi anh thì không sao, anh đã biết trước mi chuyn, anh đã chun b tinh thn. Dù gì thì anh cũng phi tr li s tht ny. Anh không mun nó c mãi kéo dài, c mãi gây cho anh cm giác phm ti. Anh c gng din t cho ch y biết, anh không phi th la đo đ kiếm miếng ăn. Dù có chết anh cũng chp nhn, ch không th thuc loài vô loi ny. Anh nói nhiu, nhiu hơn na, đ cm ơn, đ ch tha th. Anh s mt vài tháng b cùm, s mt my miếng ăn, mà phi đ li s hiu lm trm trng. Đ ch phi ln li khó nhc, leo đèo vượt sui, t Sài Gòn ra tn nơi đây thăm mt người mà không phi là chng mình.

Người cán b ph trách dn anh ra khu tri thăm nuôi. T xa anh nhìn thy người đàn bà đang ngi nơi bàn ch đi. T nhiên anh hi hp. T nhiên chân anh bước cm thy nng n. Ri anh cũng bước ti ch ch ngi. Tim anh mun vt ra khi lng ngc. Anh e thn như con gái. Thy xu h và hi hn. Ch Hng nhìn anh ri bt khóc. Ch khóc nc n. Mt cúi xung bàn. Tiếng khóc m c như đang gp s bt trc. Anh ngi vào v trí đi din. Nước mt anh cũng chy dài. Anh không nói được vi ch câu gì. Nhng gì anh đã chun b bay đi đâu c. Người cán b ngi đu bàn kim soát thy hai người c khóc mãi.. Có l anh ta nghĩ rng vì v chng lâu ngày xa nhau, thương nh chng cht lâu ngày, đ h khóc cho đã nư. Anh ta cũng chng cn đ ý ti h. Anh ta va đng dy đi ra ca s khc nh, anh chp ngay cơ hi nói vi ch: "Xin li...xin li ch".

Ch ngng mt lên đưa ngón tay gia ming, ng ý cho anh biết đng nói gì thêm. Anh th dài. Tiếng th ca anh nghe rt não nut. Nhưng trong tiếng th y, như hàm cha tt c nhng gì anh đã chun b nói ra vi ch. Ch lau nước mt nhìn anh, ri p úng hi anh nhng câu v sc khe, nhng li khuyên c gng hc tp tt đ v vi gia đình, cho va lòng cán b kim soát. Ch cũng ba ra nhng chuyn là con cái vn đi hc bình thường, cha m khe mnh, tt c gia đình, dòng h, trông anh mau v sm. Anh ch gt đu mà không tht được li nào. Ch khóc chiếm hu hết thi gian thăm nuôi. Hơn ai hết, anh hiu tiếng khóc ca ch. Mi hy vng gp li chng xem như hoàn toàn không còn na. Ch khóc cho s phn hm hiu ca mình, thương cho phn s ngn ngi ca chng.

Cán b báo cho biết gi thăm nuôi chm dt. Ch đưa tay nm ly tay anh. Anh đưa hai bàn tay ra ôm ly tay ch. T nhiên, không biết ti sao anh bt khóc ln. Có l anh thy ti thân. Anh thy lòng thương hi ca ch dành cho anh, đây là ln cui. Làm sao anh đòi hi gì hơn, vi người đàn bà không phi là v mình. Khóc cho mình, mà cũng thương cho ch ln li đường xa tìm chng. Ch li thi tr v vi nim tuyt vng. Ri anh ch chia tay. Anh gánh phn quà ca ch mang ti cho anh, vào tri. Ch đng da vào ct tre nhìn theo. Thnh thong anh quay đu ngó li, ln nào ch cũng đưa tay lên vy chào. Mi người trong tri t xa nhìn thy cnh ny. Ai cũng thông cm cho cnh v chng khng khít, bây gi phi lìa xa.

Anh gánh vào ti phm vi giam gi, thì các bn anh chy ra ph mang đ v phòng. Anh đng li nhìn ra khu thăm nuôi, đưa tay vy chào ch cho đến khi ch ra khi cng tri khut dng. Anh lm lũi v ch nm. Đ đc còn đ lăn lóc dưới đt. Anh chng màng sp xếp. Anh vn chưa kp đnh thn li. Nhng giây phút tht bt ng đến vi anh nhanh quá. Sut trong na gi gp nhau, anh ch nói ra được hai tiếng xin li. Màn kch do ch din ra tht xut sc, xut sc đến ni anh là người trong cuc, vn cm thy rt t nhiên không ngượng ngu. Không sao hiu ni được lòng ch.

Ngi nh li cnh gp g, khi ch ngước mt lên nhìn anh. Khuôn mt ch tht đp, đôi mt tht hin t. Anh nghĩ ch cũng đã biết trong my lá thư gi v, không phi là thư ca chng. Thế nhưng ch vn hy vng, mong manh hy vng. Trong mong manh đó ch đi mt giá cho s phũ phàng, cay đng. Có l khi nhn thư hi âm, sau khi đc, ch thy thương hi cho anh, thông cm ni thng kh ca anh. Ch quyết đnh tiếp tc liên h vi anh, giúp đ anh. Khi ra thăm nuôi, ch vn biết anh không phi là chng, nhưng ch vn đi. Đ xác đnh rõ ràng, khi gp anh tc là chng ch đã chết. Nghit ngã tht. Ch bt khóc, vì thương cho chng thì ít, mà li thương anh nhiu hơn. Sng mt đi tù ti, lao kh, b gia đình b rơi. Dù sao chng nm xung cũng đã lâu, nước mt ca ch đã bao năm khóc cho chng, bây gi đã khô cn. Gp anh trong mt hoàn cnh tht bi thương, sng gia mt tri tù vô cùng cc kh, không tin tc gia đình v con. Anh đang chơi vơi gia tn cùng kh đau, dày xéo trên thân th nhng vết hn ti nhc. Nước mt ca ch trào ra, khi ngước mt trông thy mt con người thân th va tiu ty, va đ đn, đang đng đi din..

Đêm nay anh nm đây, nghĩ li cái cnh ch lm lũi bước lên tàu tr v Sài Gòn. Con tàu chy vùn vt trong đêm ti. Ch còn mt mình ch thc, nhìn ra bên ngoài vi s trng vng. Ch ôm mt ni bun sâu lng. Đt nước đang tri qua mt cơn st kinh khng, đày đa biết bao người lâm vào cnh khn cùng. Ch nghĩ sao v anh? Ch có còn gi liên lc vi anh không?... Dù sau ny thế nào, dù có gi liên lc hay ct đt, ơn ny vi anh sut đi không quên được. Anh ha vi lòng mình, sau khi được tr v, anh s tìm thăm ch. S nói vi ch tht nhiu, cám ơn ch tht nhiu. Thay cho ln gp g trong tri không nói được.

Anh thy trên con tàu tr v kia, ch có mi mt mình ch. Còn tt c đu nht nhòa. Mt mình ch thôi, cha trên đó ni đon trường, bt hnh ca mt đi người. Nhưng tht vô cùng quý báu ca mt tm lòng. Ti nghip ch, con tàu đang ch ch lao vào màn đêm, xé tan bóng ti và lnh lo.

Phan Xuân Sinh


--
TRAN NANG PHUNG
__._,_.___

Posted by: Tran Nang Phung 

Sài Gòn chuyện đời của phố: Tiệm cho thuê sách, dấu tích một thời.


Subject:  Tiệm cho thuê sách.

Sài Gòn chuyện đời của phố: Tiệm cho thuê sách, dấu tích một thời.


                                    Phạm Công Luận.





Image result for Sài Gòn chuyện đời của phố: Tiệm cho thuê sách, dấu tích một thời.



           Ở Sài Gòn, không biết chắc khi nào có các tiệm sách, nhà sách cho thuê nhưng chắc chắn là trước 1954 đã có loại tiệm này rồi.
          


           Các tiệm cho thuê sách tồn tại song song với các nhà bán sách, đáp ứng rất tốt nhu cầu của người mê đọc sách nhưng ngân quỹ eo hẹp. Theo ước tính trên báo Thời Nay ra ngày 7/9/1974, đến thời điểm đó đã có khoảng 2 đến 4 ngàn tiệm cho thuê sách riêng ở Sài Gòn.
          


           Trong một bài viết cũ, một bác kể rằng: Trước phong trào di cư (tức năm 1954), việc cho thuê mướn sách đọc chỉ xuất hiện trước các cổng trường. Thuê bữa nay, ngày mai trả, giá chỉ vài cắc. Đến năm 1954, trên đường Nguyễn Kim có mở một tiệm cho thuê sách là dịch vụ chưa từng có ở vùng này. Tiệm cho thuê sách hiệu Thái Bình, do một phụ nữ người Bắc trạc ngoài 40 làm chủ. Muốn thuê sách phải đặt tiền thế chân, khoảng 10 đồng một cuốn, tiền mướn 5 cắc.


           Một tiệm cho thuê sách được cho là lâu đời có từ giữa thập niên 1950 tại Sài Gòn là tiệm Đức Hưng ở đường Trần Quang Khải, quận Nhứt. Tiệm này đáng nhớ vì có sáng kiến cắt các kỳ truyện kiếm hiệp của Kim Dung, Cổ Long, Từ Khánh Phụng đăng  trên báo, đóng thành từng tập để cho thuê khi các truyện này chưa xuất bản thành sách, nên độc giả rất thích… Lúc đó, chỉ có khoảng 10 tiệm cho thuê sách ở cả Sài Gòn.


           Tuy nhiên, tiệm cho thuê sách lớn nhất Sài Gòn có lẽ là tiệm Cảnh Hưng, ở đầu đường Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu), có tới năm tầng lầu chứa sách. Chủ tiệm sách là ông Huỳnh Công Đáng, một người Việt gốc Hoa rất am hiểu về sách. Đến năm 1971, số sách ông cho thuê đã lên tới 20 ngàn cuốn, đủ các thể loại.


           Ở Phú Nhuận trước đây có hai tiệm sách trên đường Nguyễn Minh Chiếu (Nguyễn Trọng Tuyển ngày nay) ngay khu chợ Lò Đúc. Tiệm Tân Dân cũ kỹ từ các dãy tủ kệ đến diện mạo từng cuốn sách giấy đen ngòm vì mồ hôi tay bao độc giả thấm qua sau bao lần đọc. Chủ tiệm là một phụ nữ lớn tuổi không lập gia đình gốc miền Bắc, luôn nở nụ cười có nét móm duyên như Đức Mẹ. Tiệm Toàn Hiệp có chủ nhân là hai vợ chồng già là dân có học cùng ba người con, ai cũng hiểu biết về sách.


           Anh Hai của tôi khoảng năm 1961 đang học Trường Sư phạm, mỗi buổi chiều đều phải ra sạp báo gần trường học Chánh Tâm cũ của người Tàu góc đường Trương Tấn Bửu – Nguyễn Minh Chiếu (Trần Huy Liệu – Nguyễn Trọng Tuyển) để mua báo có đăng  truyện chưởng Kim Dung cho ba tôi. Sau đó anh vọt xe ra mướn sách ở hai tiệm trên. Rõ là nếu không thuê sách để đọc thì cả nhà tôi không thể xem được nhiều sách như vậy. Sách về mỗi ngày, từ các cuốn trong bộ Z.28 của Người Thứ Tám, truyện chưởng Kim Dung cho hai ông anh. Tiểu thuyết của Bà Tùng Long, Nghiêm Lệ Quân, Bà Lan Phương cho má tôi đọc khi ngồi sạp ở chợ. Tiểu thuyết Quỳnh Dao như Xóm vắng, Bên bờ quạnh hiu, Hải Âu phi xứ, Dòng sông ly biệt cho bà chị đang học Luật. Phần tôi thì đọc truyện tranh Lucky Luke, Xì trum, Lữ Hân Phi Lục và truyện trong tủ sách Hoa Đỏ, Hoa Xanh… Với tốc độ đọc như vậy thì mua sách là điều nan giải. Chỉ có đi thuê như mọi người.


           Sau này, khi biết nhà ai có tủ sách lớn từ trước 1975, tôi biết họ thuộc gia đình trung lưu trở lên mới kham nổi. Sài Gòn tuy được nơi khác xem là thành phố mải mê “làm ăn”, “ăn chơi” thâu đêm suốt sáng nhưng nhu cầu đọc sách báo thì ai cũng biết là rất lớn, và đặc biệt là giới bình dân thích xem sách xem báo không thua ai.



                                                                                                                        Loại sách nào được ưa thích nhất ?


           Đó là truyện chưởng Kim Dung. Các bộ truyện của ông không có Tác giả nào của VN so nổi về số lượng độc giả hâm mộ. Theo Tác giả An Phong tường thuật trên báo Thời Nay, riêng bộ bảy tập tiểu thuyết kiếm hiệp Cô gái Đồ Long (sau này dịch tên chính xác là Ỷ thiên đồ long ký) của Kim Dung, tiệm Cảnh Hưng đã mua tới 100 bộ để cho thuê. Riêng các truyện khác như Tiếu ngạo giang hồ, Lục mạch thần kiếm, mỗi tựa mua trên 10 bộ. Xếp sau truyện chưởng là loạt tiểu thuyết gián điệp Z.28 của Người Thứ Tám. Xếp sau sách gián điệp, có lẽ khó phân loại cho chính xác. Tuy nhiên, căn cứ vào số lần mướn nhiều thì Nhà văn Việt được đọc nhiều nhất là Duyên Anh, rồi đến sách của nhóm Tự Lực Văn Đoàn.


           Tuy nhiên, có khi hạnh phúc của người này là nỗi đau của người kia. Giới Nhà văn cho là mình đang bị xâm hại quyền lợi. Một Nhà văn gọi đích danh nghề cho thuê sách, hay cho mướn sách tùy theo người gọi là “hút máu Văn sĩ”. Một Nhà văn khác in thẳng lên trang sách đầu tiên của mình, cuốn Giờ ra chơi, hàng chữ “Cấm cho thuê”.


           Đến năm 1971, ước tính tiệm Cảnh Hưng thu được mỗi tháng khoảng 150 ngàn đồng thời ấy, một số tiền lớn. Các tiệm cho thuê sách tồn tại đến năm 1975 thì chấm dứt. Lúc đó, ngành làm ăn này đã phát triển tới hồi thịnh nhất. Đến chiến dịch thu gom “Văn hóa phẩm chế độ cũ” khoảng tháng 6/1975, các nhà bán lẻ sách và tiệm cho thuê sách của tư nhân ngưng hoạt động, sách bị thu gom.


           Trên báo Tiền Phong ra ngày 24/6/1975, Tác giả Kim Nguyên cho biết: Tiệm Cảnh Hưng đã nộp cho Đội công tác Sinh viên, học sinh Trường Trí Đức 36 ngàn cuốn sách các loại. Hai tiệm sách ở chợ Lò Đúc gần nhà tôi cũng bị dẹp. Lúc đó, người dân mới biết tiệm Tân Dân lâu nay chính là cơ sở hoạt động bí mật của chế độ mới.


           Khoảng đầu thập niên 1990, loại hình kinh doanh cho thuê sách hoạt động trở lại, và tồn tại cho đến ngày nay. nhưng không còn trở lại thời hoàng kim như trước kia nữa.
                    


                                Phạm Công Luận. 



* Trên đường Trần Quang Khải, Tân Định có tiệm cho thuê sách Đức Hưng, năm giữa hai tiệm HớtTóc Hải Vân và Hàn Gío Đá Sáu An. Tât cà không còn (tdp). 

Image result for Sài Gòn chuyện đời của phố: Tiệm cho thuê sách, dấu tích một thời.


                                                                                                                                    Hết.



__._,_.___

Posted by: van tran 

Friday, September 27, 2019

TIỀN GIẤY PHÁT HÀNH THỜI ĐỆ NHẤT VIỆT NAM CỘNG HÒA.


Le mer. 25 sept. 2019 à 18:49, van tran > a écrit :
 

Subject: TIỀN GIẤY PHÁT HÀNH THỜI ĐỆ NHẤT VIỆT NAM CỘNG HÒA.

TIỀN GIẤY PHÁT HÀNH THỜI ĐỆ NHẤT VIỆT NAM CỘNG HÒA.


Hình ảnh và chú thích về những mệnh giá tiền thời Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa.


Giấy bạc 1 đồng.
Tên thường gọi: Đập lúa.
Năm phát hành: 1955.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).



Giấy bạc 2 đồng.
Tên thường gọi trong giới sưu tầm: Chiếc buồm.
Năm phát hành: 1955.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).



Giấy bạc 5 đồng.
Tên thường gọi: Cày ruộng.
Năm phát hành: 1955.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).



Giấy bạc 10 đồng.
Tên thường gọi: Đỏ Lăng Ông.
Năm phát hành: 1962.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).



Giấy bạc 20 đồng.
Tên thường gọi: Nâu.
Năm phát hành: 1962.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).



Giấy bạc 50 đồng.
Tên thường gọi: Tím chăn trâu.
Năm phát hành: 1956.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).



Giấy bạc 200 đồng.
Tên thường gọi trong giới sưu tầm: Lính bồng súng.
Năm phát hành: 1955.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).



Giấy bạc 100 đồng.
Tên thường gọi trong giới sưu tầm: Máy cày.
Năm phát hành: 1955.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).



Giấy bạc 500 đồng.
Tên thường gọi trong giới sưu tầm: Thiên Mụ.
Năm phát hành: 1955.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).



Giấy bạc 200 đồng.
Tên thường gọi: Bụi trúc tím.
Năm phát hành: 1958.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).



Giấy bạc 500 đồng.
Tên thường gọi trong giới sưu tầm: Dinh Độc Lập.
Năm phát hành: 1962.
Nhà in: Thomas De La Rue (Anh Quốc).







Giấy bạc 1 đồng.
Tên thường gọi: Sở thú.
Năm phát hành: 1955.
Nhà in: Bradbury Wilkinson (Anh Quốc).



Giấy bạc 5 đồng.
Tên thường gọi: Con Phụng.
Năm phát hành: 1955.
Nhà in: Thomas De La Rue (Anh Quốc).



Giấy bạc 10 đồng.
Tên thường gọi trong giới sưu tầm: Cá hóa long.
Năm phát hành: 1955.
Nhà in: Thomas De La Rue (Anh Quốc).
Theo MadeinSaiGon.   ./.


--

 

 





__._,_.___

Posted by: Nguyen Hang Thuong 

Monday, September 23, 2019

“Ông Năm” Yersin.


Subject: “Ông Năm” Yersin.

                                                                “Ông Năm” Yersin.



         Vào thế kỷ thứ 19, người Việt ở Nha Trang gọi Bác sĩ Alexandre Émile Jean Yersin (1863-1943) là “Ông Năm”. Theo cấp bậc nhà binh, ông là Đại tá Quân y trong Lực lượng viễn chinh của quân đội Pháp tại Đông Dương với lon mang 5 vạch, tức “Quan năm”.

         Ông Năm lại còn được người bản xứ gọi thân mật là “Ông Tư” vì theo cách gọi của người Miền Nam, ông là người con út thứ ba trong gia đình của một Giáo sư người Pháp và sinh sống tại Thụy Sĩ. Yersin mồ côi cha khi mới ra đời được ba tuần tuổi do bố ông bị xuất huyết não.  

         Yersin nhận văn bằng Tiến sĩ Y khoa khi mới 25 tuổi, sau đó ông qua Berlin (Đức) để kịp ghi danh theo học lớp Vi trùng học do Bác sĩ Heinrich Hermann Robert Koch (1843-1910) giảng dạy. Giáo sư Koch là một Bác sĩ và nhà Sinh học nổi tiếng với việc tìm ra trực khuẩn bệnh than (1877), trực khuẩn lao (1882), và vi khuẩn bệnh tả (1883).

         Tuy nhiên, nhà Khoa học trẻ đầy triển vọng này không chịu hài lòng với môi trường học thuật “đỉnh cao” ở Paris. Năm 1890, Yersin quyết định rời nước Pháp để đến Đông Dương. Đó cũng là lần đầu trong đời ông thấy biển. 

         Trải nghiệm này khơi nguồn khát vọng được đi và khám phá, sẵn lòng từ bỏ tương lai xán lạn trong nghiên cứu khoa học ở Paris như là một môn đệ của Louis Pasteur (1822-1895). Trong một bức thư gửi mẹ, Yersin viết từ Đông Dương:  

         “Con sẽ không buồn nếu phải rời Paris vì con thấy chán ngấy kịch nghệ, đám Thượng lưu làm con kinh tởm, và đời mà không đi khám phá thì còn gì là đời nữa!”.

         Chính Pasteur viết thư đề cử Yersin làm Bác sĩ chăm sóc sức khỏe cho hành khách và thủy thủ của hãng tàu Messageries Maritimes. Ông phục vụ trên tàu Volga, một con tàu cũ kỹ chạy bằng buồm và hơi nước trên tuyến hàng hải Sài Gòn – Manila, chuyên chở 67 hành khách cùng vài tấn hàng hóa.

         Trong thời gian qua lại giữa hai thành phố Sài Gòn và Manila, Yersin tổ chức những chuyến thám hiểm ở Philippines và Nam Kỳ. Từ đó, ông tích lũy kiến thức cùng kinh nghiệm cho ước mơ khám phá những vùng đất mới tại xứ An Nam. 

         Cũng trong thời gian này, Bác sĩ Albert Calmette (1863-1933), một môn đệ khác của Pasteur, đến Sài Gòn tìm gặp Yersin. Calmette đề nghị hợp tác trong việc thành lập chi nhánh Viện Pasteur ở Sài Gòn năm 1891, đây là Viện Pasteur đầu tiên ngoài nước Pháp của Viện Pasteur Paris.

         Cả chuyến đi cũng như chuyến về, tàu Volga đều dừng lại ở Nha Trang, một vịnh nước yên tĩnh, đầy nắng ấm và cát trắng. Yersin đã bị mê hoặc bởi vùng đất hoang dã với mảng thực vật trên đất liền đẹp rực rỡ, bên trên là những đỉnh núi mây mù chưa từng ai đặt chân đến, và cũng chưa hề được vẽ bản đồ.




Alexandre Émile Jean Yersin (1863-1943).



         Với tâm nguyện phục vụ dân nghèo bên cạnh việc nghiên cứu khoa học, Ông Năm đã quyết định chọn Nha Trang làm quê hương thứ hai. Đầu tiên, ông dựng tại Xóm Cồn một căn nhà gỗ đơn sơ để chữa bệnh cho dân nghèo. Yersin khám bệnh miễn phí, ông viết cho mẹ:

         “Mẹ hỏi con có thích ngành Y không. Có và không. Con rất vui được chữa trị cho những người đến nhờ con khám, nhưng con không muốn biến Y học thành một cái nghề, nghĩa là con sẽ không bao giờ có thể đòi một người bệnh trả tiền vì đã chữa bệnh cho người đó. Con coi Y học là thiên chức, là mục vụ. Đòi tiền để chữa trị cho bệnh nhân thì chẳng khác nào nói với người đó rằng: tiền hay mạng sống ?."

         Yersin nói tiếng Việt một cách “lõm bõm”. Thứ tiếng Việt “trọ trẹ”, chẳng hạn từ ngữ “người ta” ông dùng để chỉ cả người lẫn vật, số ít cũng như số nhiều. Ông Năm yêu trẻ, ông thường chiếu phim cho trẻ em Xóm Cồn xem. Một hôm, chúng đánh vỡ chậu hoa, ông bảo người giúp việc: "Đừng rầy đánh, người ta sợ !."

         Thời bấy giờ, ngư dân tránh được tai họa do bão cũng là nhờ Ông Năm quan sát thiên văn để báo trước cho họ. Ngư dân lại có thói quen hay uống rượu say, cãi lộn, gây gổ, chửi nhau, thậm chí ẩu đả. Ông lặng lẽ lấy máy quay phim, ghi lại những chuyện không hay ấy.

         Sau đó, mời dân Xóm Cồn đến xem phim. Ông hỏi họ như vậy có hay không, đẹp không? Ai nấy đều xấu hổ. Nhờ đó mà Xóm Cồn thời ấy gần như hết nạn say rượu, đánh chửi nhau.




Nhà riêng của Yersin tại Nha Trang (nay là Nhà nghỉ Bộ Công An).



         Cuộc đời của Ông Năm không chỉ gắn bó với dân chài Xóm Cồn, Nha Trang. Tháng 6/1893, được sự ủy thác của Toàn quyền Đông Dương Jean-Marie de Lanessan, Yersin tổ chức một đoàn thám hiểm theo đường bộ từ Đồng Nai lên Di Linh. Cuối cùng, ông khám phá Cao nguyên Lâm Viên.

         Trong nhật ký, Yersin ghi nhận có vài làng của người sắc tộc D'Lat nằm rải rác trong vùng. Ông viết:

         “Từ trong rừng thông bước ra, tôi sững sờ khi đối diện một bình nguyên hoang vu, giống như mặt biển, tràn đầy những làn sóng màu xanh lá cây. Sự hùng vĩ của rặng Langbiang hòa lẫn vào đường chân trời Tây bắc tạo nên bối cảnh tráng lệ, gia tăng vẻ đẹp của vùng đất này."

         Đến năm 1899, tại vùng đất được Yersin khám phá, Toàn quyền Paul Doumer cho thiết lập một khu nghỉ dưỡng dành cho người Âu châu, sau này đó chính là thành phố nghỉ mát Đà Lạt.

         Cuối năm đó, với một lực lượng hùng hậu - ngoài 54 người tùy tùng còn có một toán lính tập mang súng theo hộ tống - Yersin khởi hành cũng từ Đồng Nai, lên Đà Lạt, rồi đi tiếp đến cao nguyên Đắc Lắc, vào Attopeu ở Nam Lào, rồi lại theo hướng Đông ra biển, để đến Đà Nẵng vào ngày 17/5/1894.

         Cuộc khảo sát lần này thăm dò một vùng đất rộng lớn trải rộng từ vĩ tuyến 11 ở phía Nam đến vĩ tuyến 16 ở phía Bắc. Ông ghi lại trong nhật ký:

         “Đường đi thật là khủng khiếp. Trong 4 ngày liên tiếp, chúng tôi phải vượt qua một vùng núi hiểm trở, trèo xuống, leo lên, cứ đơn điệu như thế làm cho chúng tôi rất mệt mỏi... Cây cối chen chúc. Không có đường mòn. Chúng tôi phải khòm lưng chui qua các bụi tre. Vì trời mưa nên rừng có nhiều vắt không thể tả được. Những người Việt Nam đi cùng với chúng tôi bị sốt rét, mặc dầu đã uống thuốc ngừa rồi…”.




Lộ trình các chuyến thám hiểm của Yersin.




         Trong khi Yersin đang chuẩn bị cho cuộc thám hiểm kế tiếp thì bệnh dịch hạch đã bộc phát ở miền Nam Trung Hoa, và lan truyền xuống Đông Dương, gây tử vong cao, và trở thành mối đe dọa cho tất cả cảng biển có giao dịch thương mại với Trung Hoa. Nhà cầm quyền thuộc địa Pháp bèn cử Yersin đến Hồng Kông để nghiên cứu bệnh dịch hạch.

         Yersin là người đầu tiên chứng minh rằng: Trực khuẩn dịch hạch hiện diện ở chuột bệnh và người bệnh chỉ là một, nhờ đó ông đã giải thích được phương thức truyền bệnh. Cũng trong năm ấy, khám phá này được cộng tác viên Émile Duclaux gửi đến Viện Hàn lâm Khoa học Pháp, trong một bài báo nhan đề “La Peste Bubonique de Hong-Kong” (Bệnh dịch hạch ở Hồng Kông).

         Năm 1895 ông trở lại Viện Pasteur ở Paris và cùng với Émile Roux, Albert Calmette và Armand Borrel đã điều chế ra huyết thanh chống bệnh dịch hạch đầu tiên. Cùng năm đó, ông trở về Đông Dương và lập một phòng thí nghiệm nhỏ tại Nha Trang để sản xuất huyết thanh. Năm 1896, ông thành lập trại chăn nuôi Suối Dầu, nuôi ngựa để sản xuất huyết thanh.

         Cũng vào năm 1896, Yersin đến Quảng Châu, ông được phép công khai tiêm huyết thanh điều chế tại Nha Trang cho một bệnh nhân tại đây, và nghiễm nhiên trở thành người thầy thuốc đầu tiên cứu sống một bệnh nhân dịch hạch.





Yersin và lán tre, nơi ông tìm ra trực khuẩn gây bệnh dịch hạch Hồng Kông năm 1894.




         Năm 1898, Ông Năm trở lại Nha Trang và với sự hỗ trợ từ Toàn quyền Doumer, ông xây dựng Viện Pasteur Nha Trang. Ông mua một khu đất rộng 500 héc-ta ở Suối Giao (nay là Suối Dầu) để làm nơi nghiên cứu nông nghiệp và chăn nuôi.

         Ông cho trồng cây cà phê Liberia, các loại cây thuốc, cây coca để sản xuất cô-ca-in sử dụng trong ngành Dược, tuyển chọn nhiều loại thực vật và động vật từ khắp nơi trên thế giới để nuôi trồng tại đây, biến nó thành một cộng đồng nông nghiệp và khoa học.

         Là người đầu tiên nhập giống cây cao su về trồng tại Việt Nam, Yersin trở thành chủ một đồn điền cao su, lúc đầu rộng khoảng 100 hec-ta, kiếm tiền đủ để trang trải chi phí điều hành Viện Pasteur Nha Trang. 

         Trong thời gian này, sản xuất huyết thanh chống dịch cho bò đã trở thành nguồn thu nhập chính của Yersin, giúp ông có sức mở rộng việc nghiên cứu. Trung tâm thí nghiệm này về sau trở thành Viện thú y đầu tiên ở Đông Dương.

         Yersin còn ra công nghiên cứu thêm về các loại chim, nghề làm vườn, và sưu tầm các loại hoa. Ông cũng mở một chiến dịch trồng rừng, đồng thời khuyên dân làng bỏ tập tục “chặt đốt cây rừng”. Ông còn trồng thử nghiệm cây “canh-ki-na” để sản xuất thuốc Ký ninh chữa bệnh sốt rét tại Dran và Di Linh.

         Yersin là một con người “đa năng, đa hiệu”. Ông là Chuyên gia về Nông học nhiệt đới, nhà Vi trùng học, nhà Dân tộc học, Nhiếp ảnh gia, kể cả việc nghiên cứu khí tượng. Ông làm một con diều thật lớn, thả lên độ cao một ngàn mét, để quan sát khí quyển và dự đoán giông bão.

         Ông giúp những người dân chài thường khi bị mất tích trên biển mỗi lúc có lốc xoáy vụt đến. Yersin thuyết phục Fichot, một Kỹ sư Thủy văn phục vụ trong Hải quân, và rất say mê Thiên văn học, đến sống với ông trong ngôi nhà lớn ở Xóm Cồn với kính Thiên văn được lắp đặt trên sân thượng, để cùng nhau nghiên cứu khí tượng.

         Trong những ngày cuối đời, Yersin lại gắn bó với niềm đam mê mới: Văn chương. Ở tuổi tám mươi, ông lại học tiếng Latin, tiếng Hy Lạp, và biên dịch những tác phẩm kinh điển của Phèdre, Virgile, Horace, Salluste, Cicéron, Platon, và Démosthène.




Tượng Yersin tại Nha Trang.



         Năm 1902, Toàn quyền Paul Doumer, trước khi rời Đông Dương, mời Yersin từ Nha Trang ra Hà Nội để mở một trường đào tạo Y khoa, một bệnh viện và một Trung tâm vệ sinh. Theo Yersin, Trường Y Đông Dương  "ước tính việc xây dựng sẽ tốn một triệu rưỡi franc!". Đây là một số tiền lớn, nhưng ông cho rằng vẫn rẻ hơn nhiều, lại hữu ích hơn nếu so với cái nhà hát ở Sài Gòn.

         Yersin được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Y Đông Dương, tiền thân của Đại học Y Hà Nội. Ông thiết lập giáo trình theo hình mẫu Đại học Pháp – sáng khám bệnh ở bệnh viện, chiều dành cho lý thuyết – đích thân ông giảng dạy trong các giờ vật lý, hóa học, và giải phẫu.




Đại học Y Hà Nội (năm 1930).




         Ngày 1/3/1943, Ông Nam từ trần tại nhà riêng ở Nha Trang, thọ 80 tuổi. Ông để lại di chúc với những lời lẽ như sau:

         “Tôi muốn được chôn ở Suối Dầu. Yêu cầu ông Bùi Quang Phương giữ tôi lại tại Nha Trang, đừng cho ai đem tôi đi nơi khác. Mọi tài sản còn lại xin tặng hết cho Viện Pasteur Nha Trang, và những người cộng sự lâu năm. Đám táng sẽ làm giản dị, không huy hoàng, không điếu văn.”

         Dù vậy, rất đông người tìm đến để đưa tiễn ông về nơi an nghỉ cuối cùng. Nhiều người dân Xóm Cồn và Nha Trang than khóc và để tang cho ông. Đoàn người đưa tang dài đến hơn ba cây số. Dân chúng coi ông là “Công dân Nha Trang” vì ông đã sống ở đây tròn 50 năm.

         Di sản của Yersin quá lớn! Toàn dân Việt Nam, hơn mọi dân tộc khác, phải ghi ơn ông mãi mãi. Vua Bảo Đại đã truy tặng ông Bội tinh Kim khánh. Dân nghèo nhớ ông vì lòng nhân hậu. Bệnh nhân không quên công trình Y khoa của ông. 

         Năm 2014 Việt Nam truy tặng ông là “Công dân Danh dự” và cho ra mắt bộ sưu tập tem bưu chính mang hình ảnh ông.

Tem phát hành chung Việt Nam – Pháp:
Kỷ niệm 150 năm sinh Yersin (1863-1943)



         Người Việt đã quá quen thuộc với những cái tên như: Pasteur, Calmette, và Yersin, vì họ đã từng sinh sống và làm việc tại xứ An Nam, tên gọi của Việt Nam hồi thế kỷ thứ 19. Tên của những Bác sĩ này, cho đến ngày nay, đã trở thành những tên đường, tên trường học và tên Viện nghiên cứu tại nhiều thành phố trên khắp Việt Nam.

         Lycée Yersin (nay là Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt) là một ngôi trường được khởi công xây dựng năm 1927 và khai giảng năm 1935 là một kiến trúc đẹp và độc đáo của Đà Lạt. Tại thành phố này, cũng mang tên ông còn có Công viên Yersin và một ngôi trường thành lập năm 2004, Đại học Yersin.

         Đó là sự tri ân “không biên giới” của người Việt đối với những người ngoại quốc đã cống hiến cả đời cho đất nước Việt Nam. Dù họ không mang quốc tịch Việt Nam, nhưng người Việt vẫn coi như… đồng bào!




Mộ “Ông Năm” Yersin tại Suối Dầu, Nha Trang.




Nguyễn Ngọc Chính.   ./.




__._,_.___

Posted by: van tran 

Featured Post

Tên các Quốc gia mà người Sài Gòn hay gọi trước năm 1975

https://www.facebook.com/groups/miennamvietnam/posts/1953798441526381/ https://www.facebook.com/buianhhuy095096/posts/t%C3%AAn-c%C3%A...

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List