QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Friday, June 21, 2013

Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù và mặt trận Long Khánh


Date: Thu, 20 Jun 2013 16:59:55 -0500
Subject: [ChinhNghiaViet] Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù và mặt trận Long Khánh

 


Kính Quý Vị, gần đây có số người hiểu lầm cho rằng mặt trận Long Khánh trong đầu tháng Tư, 1975.
Sư Đoàn 18/BB chiến đấu trong cô đơn.  Xin mời đọc bài viết của Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh, nguyên Lữ Đoàn trưởng Lữ Đoàn 1/Nhảy Dù QLVNCH để thấy đâu là sự thật.

Trân trọng.


LỮ ĐOÀN 1 NHẢY DÙ

TRONG NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG

TẠI MIỀN NAM VIỆT NAM

 

                                        MŨ ĐỎ NGUYỄN VĂN ĐỈNH

                  

                                       Xin hãy coi đây như một nến hương lòng để ngậm ngùi

                                      tưởng nhớ những chiến hữu Nhảy Dù/LĐ1/ND+Thiết giáp

                                      tăng phái đã anh dũng chiến đấu, rồi hy sinh tại quê hương

                                      trong những ngày cuối để LĐ1/ND cùng một số Đồng bào

                                      và Đơn vị bạn ra đi an toàn đến bến bờ Tự Do.

                                                                                                                 NVĐ

 

Hơn một phần tư thế kỷ đã trôi qua tính từ ngày Miền Nam Việt Nam,  một số chiến hữu cũ thuộc Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù (LĐ1ND) do tôi chỉ huy trước năm 1975, có dịp gặp lại nhau tại Hoa Kỳ. Ngoài những hàn huyên mừng vui gặp lại, một số anh em vì còn ưu tư với qúa khứ “sống chết có nhau và ngày vội vả rời bỏ Đất Mẹ, mang nặng trong long đầy ấm ức ,tức tưởi”, vẫn còn một số thắc mắc nêu ra như:

 

    Đang tăng cường cho Sư Đoàn 18 Bộ Binh (SĐ18BB) phòng thủ tỉnh Long Khánh(cửa ngõ vào Sài gòn) một cách vững vàng, LĐ1ND đã chiến thắng và tiêu diệt gần 2 Trung đoàn của Công trường 7 Việt cộng (VC), tại sao lại phải rút về Phước Tuy?

    Đã bảo vệ Quốc lộ 15 (đường Sài gòn Vũng Tàu), đến khi Cộng quân chiếm Phước Tuy, với Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù (TĐND) và Chi đoàn (CĐ) Thiết quân vận(TQV) đã tái chiếm toàn bộ tỉnh lỵ, tại sao phải bỏ Phước Tuy để rút về Vũng Tàu?

  

  Vào ngày cuối cùng ở Gò Công (30-4-1975), khi không liên lạc được với Bộ tư lệnh Sư đoàn Nhảy dù.(Sài gòn) để nhận lệnh, tôi với tư cách Lữ đoàn trưởng có liên lạc được với Bộ tư lệnh Quân đoàn 4/Quân Khu IV để ngỏ hầu làm them một “cái gì” cho đất nước không?

 

   Tại sao khi cùng Lữ đoàn lên tàu để ra đi, tôi và Thiếu tá Ngô Tùng Châu, Tiểu đoàn

 trưởng TĐ1ND lại nhảy xuống một chiếc ghe nhỏ bơi vào bờ? Và… vân…vân…

 

   Những thắc mắc đó của các chiến hữu cấp dưới đối với BCH/HQ trên, tương tự như

 những thắc mắc của biết bao người Quốc gia mình tìm hiểu về số phận của từng đơn vị

nhỏ hơặc lớn hơn thuộc QLVNCH vào những ngày Miền Nam, đều rất chính đáng và

 hợp lý.

 

Riêng đối với LĐ1ND, xin các chiến hữu hiểu rằng: Trong thời gian đó, nhiều biến cố

Liên tiếp, dồn dập xảy ra trong những ngày quá ngắn, tôi không có thời giờ giải thích

Cho bất cứ ai, mà chỉ căn cứ vào tình hình hiện hữu rồi ước tính và ra lệnh hoặc phản ứng cấp thời. Xuyên qua bài viết này, các bạn đọc sẽ thấy bang bạc một số ước tính, suy luận đó. Những ước tính, suy luận  này có thể còn thiếu sót, không hoàn chỉnh, vì chỉ do một bộ óc, nhưng rất may, nhờ những lý do ngoại cảnh, đã có những kết quả tốt đẹp (đa số các chiến hữu của tôi đã đi thoát và hiện ở Miền Đất Tự Do). Cũng qua bài này, tôi xin mời các bạn đọc theo dõi những bước chân hành quân cuối cùng của một đơn vị “bế hạt tiêu”…

 

I.- LĐ1ND TẠI MẶT  TRẬN LONG KHÁNH.

 

   Vừa rời mặt trận Thường Đức và đèo Hải Vân (Đà nẳng) cuối tháng 3, 1975 về tới hậu cứ tại Sài gòn được mấy ngày, chưa kịp chỉnh đốn lại đơn vị, LĐ1ND lại nhận được lệnh của Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư lệnh Sư đoàn Nhảy dù, phải di chuyển gấp lên Long khánh và thuộc quyền chỉ huy hành quân của Bộ tư lệnh Quân đoàn3/Quân khu III.

 

Sau hơn 8 tháng quần thảo túi bụi với các Sư đoàn 329B, 320, và 304 CS tại Quân đoàn I/Quân khu I, bây giờ lại hành quân, nhưng đối với an hem Nhảy dù chúng tôi là chuyện rất thường tình. Vì thế đôi khi bà con, bạn bè tò mò có hỏi: - một năm đi hành quân mấy lần? Mấy an hem chúng tôi trả lời gọn lỏn: - Một năm đi hành quân có một lần nhưng kéo dài đến 365 ngày. Câu trả lời này gần đúng 95% sự thật.

 

Kỳ này, LĐ1ND hành quân với 3 Tiểu đoàn Nhảy dù cơ hữu gồm Tiểu đoàn 1 Nhảy dù(TĐT Thếu tá Ngô tùng Châu,Tiểu đoàn 8 Nhảy dù ( TĐT: Trung tá Đào Thiện Tuyển)

và Tiểu đoàn 9 Nhảy dù (TĐT: Trung tá Nguyễn văn Nhỏ) và Đại độí Trinh sát Nhảy dù (ĐĐT: Phạm minh Đăng), được yểm trợ bởi Đại đội 3 Công binh Nhảy dù và ĐĐ1 Quân y Nhảy dù và Tiểu đoàn 3 Pháo binh Nhảy dù (TĐT: Thiếu tá Nguyễn văn Thông).

 

Lệnh hành quân qúa gấp rút. Ngay đêm đầu tháng tư 1975, trong khi dân Sài gòn còn yên giấc, toàn bộ LĐ1ND đã ngồi trên một đoàn Quân xa di chuyển hướng về Long Khánh. Đến nửa đêm hôm đó, các đơn vị đã hoàn tất bố trí quân sâu trong đám rừng cao su hai bên đường, Cách ấp Mẹ Bồng Con (Tỉnh Long Khánh) không bao xa.

 

 

Vào lúc đó, đường từ Long Khánh về Biên Hoà bị kẹt vì Cộng quân đã chiếm ngã ba Dầu Giây, ấp Mẹ Bồng Con và mấy ấp lân cận. Lực lượng bạn, chủ lực là Thiết Đoàn Chiến xa QĐ3 với nhiệm vụ mở đưòng lên Long Khánh, còn cách phía tây ấp Mẹ Bồng Con khoảng 500 thước. Phía đông ngã ba Dầu Giây là phòng tuyến của chiến đoàn 52/SĐ18 Bộ Binh. Quan niệm hành quân của QĐ3/QKIII lúc đó là muốn Lữ Đoàn 1ND vượt qua đơn vị bạn ở phía tây, giải tỏa các ấp bị địch chiếm, tiến vào giao tiếp với Chiến Đoàn 52/SĐ18BB. Sauk hi đến khu rừng cao su, ngay sang hôm sau, tôi xử dụng xe Jeep cùng mấy sĩ quant ham mưu đến vị trí tiền tuyến của đơn vị bạn để hỏi thăm tin tức và thám sát tình hình tại chổ. Xe của chúng tôi đã được địch chào mừng bằng hàng loạt đạn súng cối tới tấp trên đường nhưng rất may bình yên. Trở về trong ngày hôm đó, tôi xin BTL/QĐ3 cấp một chiếc trực thăng cùng các TĐT thuộc quyền bay lên thám sát chiến trường.

 

Mọi thủ tục xong xuôi và sắp sẳn trong đầu kế hoạch hành quân, chỉ còn chờ ngày N. giờ G là khởi sự. Hai ngày đóng quân trong rừng cao su êm ả. Sáng ngày thứ 3, tôi nhận được lệnh về BTL/QĐ3 họp gấp. Sau buổi họp, thi hành kế hoạch mới, ngay ngày hôm đó, toàn bộ LĐ1ND được trực thăng vận vào thẳng Long Khánh, tăng phái cho BTL/SĐ18BB với nhiệm vụ tăng cường phòng thủ tỉnh này.

Tôi cùng một số sĩ quant tham mưu đi đợt đầu để nhận lệnh, trong khi đó các đơn vị thuộc quyền tùng chuyến rồi tùng chuyến được trực thăng đổ xuống chân đồi Chuối, kế cận chi khu Xuân Lộc. BTL/SĐ18/HQ trú đóng trong một góc rừng Đông Nam kế cận ngã ba chi khu Xuân Lộc với pháo binh 155 ly và bải đáp trực thăng. Tại một căn hầm làm trung tâm hành quân/SĐ tôi được tướng Lê minh Đảo (1), Tư lệnh SĐ18BB đích thân cho tôi biết tình hình Địch và Bạn cũng như Dân chúng trong vùng, trong một tấm bản đồ cầm tay như sau:

Ba sư đoàn Cộng quân (nếu tôi nhớ không lầm) dồn nổ lực tấn công mặt Tây Bắc, Bắc và Đông Bắc tỉnh Long Khánh.

Hầu hết các lực lượng chủ lực của SĐ18BB gồm Trung đoàn Chiến đoàn 52(TrĐT: Đại tá Ngô Kỳ Dũng), Trung đoàn 43 (TrĐT: Đại tá Lê xuân Hiếu) và hai Tiểu đoàn/Trung đoàn 48 trãi dài trên phòng tuyến phía Tây Bắc, Bắc  và Đông Bắc tỉnh Long Khánh. BTL/SĐ18BB +BCH Trung đoàn 48 + 1 TĐ trừ bị, (TrĐT: Trung tá Trần minh Công)tại Xuân Lộc (phía Nam Tiểu khu Long Khánh khoảng 4 cây số). Bộ chỉ huy Long Khánh (Đại tá Phạm văn Phúc, tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Long Khánh) và các lực lượng Địa phương quân và Nghĩa quân vẫn vững vàng trong và quanh tỉnh lỵ. một tiểu đoàn BĐQ thuộc Liên đoàn 77/BĐQ bảo vệ phi trường Long Khánh (sát phía Nam tiểu khu).

 

Dân chúng trong làng tinh thần chống cộng rất cao. Mấy xóm đạo như ấp Bảo Định, ấp Bảo Bình  đều có lực lượng Dân quân Tự vệ được trang bị vũ khí, đạn dược đầy đủ.

 

Thưa Thiếu tướng, tôi hỏi, hoặc Đại tá Phúc có “năm” được dân hai ấp Bảo Định(phiá Đông BTL/HQ 3 cây số) và ấp Bảo Bình (phía Đông Nam BTL/HQ 4 cây số) không? Theo tôi nhận định đây là  hai tiền đồn rất tốt cho mình. Còn vạt rừng chồi giữa mình (BTL/HQ) và phi trường Long Khánh có quân bạn hoặc địch hoạt động gì không?

 

Giữa mình và ấp Bảo định có một chốt VC chưa “bứng” được nên Đại tá Phúc không liên lạc được với dân chúng hai ấp này. Nhưng hai ấp này còn vững vàng vì vẫn treo cờ Quốc Gia. Riêng vạt rừng này chưa có triệu chứng gì lạ. Áp lực địch nhiều ở phiá tỉnh.

 

Xin Thiếu tướng cho biết nhiệm vụ của đơn vị tôi. Em thử đề nghị kế hoạch cho em, xem thế nào? Theo kinh nghiệm của tôi, chổ lắng diệu nhất, không có hoạt động gì là chổ địch “ém”  quân và chờ làm “cú” dứt điểm. Kế hoạch của tôi được Tướng Đảo chấp thuận nhanh chóng và cho thi hành ngay sau khi đổ quân hoàn tất:

 

Tiểu đoàn 9ND trách nhiệm diệt chốt địch trên Quốc lộ 1, sau đó lục soát về phía Đông, tìm cách giao tiếp với ấp Bảo Định rồi đợi lệnh. Chỉ thị đặc biệt: Khi được bắn vào ấp. Nếu dân bắn ra, hãy bắt loa báo cho họ biết mình là quân bạn.

 

Tiểu đoàn 1ND trừ bị cho Lữ đoàn, bố trí phía Tây Liên tỉnh lộ 2.

 

Tiểu đoàn 9Nhảy Dù xuất phát khỏang nửa tiếng sau thì có nhiều tiếng súng nổ ở phiá Đông. Với chiến thuật diệt chốt tinh xảo rút tỉa từ những kinh nghiệm ở các chiến trường Quảng trị  và Thường đức, chỉ hơn nửa tiếng đồng hồ sau, Tr. Tá Nhỏ Tiểu đoàn trưởng báo cáo về BCH/LĐ: ĐĐ93 (ĐĐT Đại Úy Đinh văn Tường, con gà cứng cựa của Cửu Long, biệt danh của Tiểu đoàn 9ND) đã bứng rể chốt địch với 12 tên nằm tại chổ, 1 súng cối 61 ly và 9 vũ khí cá nhân, một số địch chạy về hướng Đông Bắc, Tiểu đoàn đang đến ấp Bảo Định.

 

Tiểu đoàn 8ND xuất phát sau đơn vị trên 1 giờ, vừa rời Quốc lộ 1 khỏang 600 thước về phía Bắc thì chạm súng với một số tiền đồn của địch trong đám rừng chồi. Tôi rất vui mừng báo cáo tin này với Tướng Đảo. Như vậy ước tính không sai. Tôi tiếp tục cho lệnh TĐ8ND: Đại đội nào chạm đíchcứ tiếp tục xấn tới, tiến được bao nhiêu hay bấy nhiêu, hảy xử dụng một Đại Đội khác bọc bên phải, thêm một Đại Đội khác nửa  bọc bên trái. Hai Đại Đội này nếu chạm địch, cũng xân tới như vậy.

 

Kết qủa đúng như ý muốn, theo kiểu điều quân tương tự. Tiểu đoàn 8ND đã phải tung đến Đại Đội tác chiến thứ 4 cũng chạm địch luôn. Trung tá Tuyển nói với tôi:

 

    Tôi không còn trừ bị(2)

Anh đừng lo tôi còn cả thằng 1 (TĐ1ND) bây giờ mình đã nhận diện được đội hình của địch. “Thông Gìa” sẽ làm việc.(3) Thiếu Tá Thông lúc nào cũng sẳn sang hang trăm qủa đạn pháo binh 105 ly đã rớt xuống đội hình của địch. Trung đội này chạm sung thì trung đội khác bọc phải hoặc bọc trái tiến tới. Các đại đội của Tiểu đoàn 8ND dàn hàng ngang để tiến tới, đội hình chung của tiểu đoàn như một hình vòng cung, hai đầu hai bên khép lại từ từ thành thế bao vây địch.

Cánh quân đầu của TĐ9ND khi còn cách ấp Bảo định cách khoảng 500 thước thì dân trong ấp báo động, súng bắt đầu nổ , đạn các loại bay rào rào về phía quân Dù. Vì không có tần số lien lạc được với dân, tiếng sung nổ kể cả sung cối 60 ly từ trong ấp bắn ra, át cả tiếng loa kêu gọi, nên an hem binh sĩ Dù đành núp và chờ đợi. Trung tá Nhỏ TĐT/TĐ9ND và hai binh sĩ bị thương vì miếng đạn sung cối từ trong ấp bắn ra. Ông bị một vết thương nơi bụng khá nặng nên Trung Tá Nhỏ được chuyển về phía sau để tản thương và Thiếu tá Lê Mạnh Đường Tiểu Đoàn Phó được cử xử lý chức vụ TĐT.

Khoảng 15 phút sau, bắn ào ào nhưng thấy địch (Dù) im lặng, không phản ứng gì, dân trong ấp cũng ngưng bắn và quan sát. Nhảy dù tiếp tục bắc loa kêu gọi đừng bắn và ra khỏi chỗ núp từ các gốc cây để họ thấy rỏ quân phục rằn ri. Sauk hi gặp nhau, TĐ9ND về hoạt động bung quân lục soát sâu về phía Tây Chi Khu Xuân Lộc. TĐ1ND lên thay thế, bố trí phía Đông ấp Bảo Định. Trong thời gian TĐ8ND đang hình thành đội hình khép vòng vây địch thì một buổi chiều, địch pháo kích từ hướng Đông Bắc khoảng 30 qủa đạn loại 130 ly vào khu vực Chi Khu Xuân Lộc, chủ yếu là vào BTLSĐ18BB+BCH/Tr48BB và Pháo đội 155 ly. BCH/LĐ1ND nằm trong vòng đai đó cũng đành chịu trận. Nhưng thiệt hại các đơn vị không đáng kể, chỉ cháy mấy khẩu Pháo binh 155 ly.

Ngay buổi tối hôm đó, tôi đề nghị với Tướng Đảo nên rời các cơ sở chỉ huy ngay trong đêm, tránh sang bên, lệch hướng địch pháo kích khoảng 500 thước là đủ, vì các sĩ quan  tham mưu(không phải sĩ quan tác chiến) cần bình tỉnh, không bị địch quấy rầy để làm việc. Sau đó vì nghĩ rằng các đơn vị “chung một chuyến tàu” nên tôi thẳng thắng viết lên một trang giấy học trò. Những công việc nên làm đối với BTL/HQ nếu muốn tử thủ Long Khánh, trong đó tôi còn nhớ vài điểm thăng chốt như sau:

1/- BTL/HQ không nên đóng chung với Pháo Binh.

2/-Hạn chế trực thăng chở các phái đoàn Quốc hội và Báo chí (gần như hang ngày) lên xuống gần BTL/HQ, nếu được nên thiết lập 2 hoặc 3 bãi đáp phòng hờ và luân phiên, cách xa BTL/HQ. Kể cả thượng cấp đến thăm HQ, đều được đem xe ra đón tại bãi đáp rồi được đưa vào BTL/HQ. Nếu không làm như vậy, tất cả Qúy vị thăm xong đơn vị rồi về, chúng tôi ở lại vùng hành quân lảnh đủ.

3/- Vị trí BTL/HQ nên tránh xa các đặc điểm địa hình như ngã ba, ngã tư đường, cầu cống. Nhà Thờ, Chùa, v.v… Nếu cần chui vào rừng để địch không biết chính xác ta ở đâu.(4)    

                                          

 

Chân dung người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa


 



Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Hình ảnh người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã được gắn kết với Chính Thể Việt Nam Cộng Hòa và Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, được thành lập vào năm 1955. Kể từ đó, miền Nam tự do đã được thế giới biết đến, là một Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa; và Thủ Đô Sài Gòn là Hòn Ngọc Viễn Đông.

 

   Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên, là người Chiến Sĩ Bảo An, mà người dân thôn quê thường gọi là Chiến Sĩ Cộng Hòa, hoặc Lính Cộng Hòa, sau này, Lực lượng Bảo An Đoàn đã trở thành Địa Phương Quân.

 

   Ngày ấy, người Chiến Sĩ Bảo An, ngoài nghĩa vụ cầm súng để bảo vệ miền Nam tự do, bảo vệ đồng bào, người Chiến Sĩ Bảo An đã từng đi đến những thôn làng xa xôi, để giúp đỡ các địa phương xây dựng hành chánh, để giải thích cho dân chúng biết đến một Chính Thể mới, vừa được khai sinh tại miền Nam: Chính Thể Cộng Hòa.

 

   Đồng thời, người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên ấy, còn súng trên vai, tay đốn tre rừng, để bắc những chiếc cầu tre, trên những con suối ở tận hương thôn, để nối đôi bờ, nối những cánh đồng lúa, những nương dâu, để những  ngày mưa lũ, người dân quê đi làm công việc nông tang, không còn phải lội giữa giòng nước xoáy hiểm nguy; và để cho những nam nữ Thanh Niên Cộng Hòa giữa đôi bờ dễ dàng gặp gỡ, để cùng trao đổi với nhau về Thể Chế Cộng Hòa vừa mới được khai sáng tại miền Nam. Đặc biệt, là những hình ảnh ở hương thôn, giữa cảnh thanh bình - tự do - no ấm bên lũy tre làng, với những đêm về, dưới ánh trăng lành tỏa sáng trên khắp nẻo đường quê, luôn luôn rộn rã những tiếng cười, tiếng sáo trúc và tiếng đàn Mandoline, hòa cùng tiếng hát ngân vang, đón chào đất nước đã được hồi sinh sau bao cơn binh lửa, với bài ca:

 

 Dựng Một Mùa Hoa:

 

Chào bình minh hoa ban mai lả lơi

Nhạc dịu êm vang dư âm ngàn nơi

Bên khóm tre tươi, chim hót hoa cười trong nắng yêu đời

Bầy trẻ thơ yêu quê hương đầy vơi

Đồng ruộng tươi vươn lên bao nguồn mới

Sóng lúa chơi vơi, xanh ngát chân trời, dịu màu đẹp tươi

Đây phương Nam, bao la dịu dàng, say sưa câu hoan ca nhịp nhàng

Duyên xưa còn thắm, chung xây cuộc sống, chan chứa mênh mông

Tình miền Nam, như hoa Lan đầy hương

Tìm tự do, gió chim tung bay ngàn hướng

Đây đó vui ca, trong nắng chan hòa

Dựng Một Mùa Hoa.

 

  Đầu năm 1956, khi sắp sửa đến ngày bầu cử Quốc Hội Lập Hiến, vào ngày 4-3-1956;  sau đó, Bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa, do Quốc Hội Lập Hiến biểu quyết ngày 20-10-1956, đã được ban hành ngày 26-10-1956, với đầy đủ Tam quyền Phân lập: Lập Pháp - Hành Pháp và Tư Pháp, thì người Chiến Sĩ Bảo An lại đến với người dân quê, bằng những câu ca dao, để cho người dân ý thức được cuộc bầu cử sắp tới như sau:

 

“Dù ai buôn bán nơi đâu

Tháng ba, mồng bốn, rủ nhau đi bầu.

Dù ai mua bán trăm bề

Tháng ba, mồng bốn, nhớ về tham gia.

Bầu cử Quốc Hội nước nhà

Cộng Đồng - Nhân Vị - Quốc Gia hùng cường”.

 

   Song nói đến người Chiến Sĩ Bảo An, mà không nhắc đến người Chiến Sĩ Dân Vệ, là một điều vô cùng thiếu sót. Bởi, Lực lượng Dân Vệ, là một Lực lượng vũ trang, trực tiếp đối đầu với “Lực lượng Du Kích” của Việt cộng, mà khởi đầu là “Du Kích Ba Tơ”, và là tiền thân của “Lực lượng vũ trang Liên khu 5” do tướng Việt cộng Nguyễn Chánh cầm đầu. Sau này, “lực lượng du kích” trực tiếp cầm súng đối đầu với dân quân của miền Nam, tại những vùng rừng núi xa xôi.

 

  - Người Chiến Sĩ Dân Vệ, mà sau này đã trở thành Lực Lượng Nghĩa Quân. Ngày ấy, hàng đêm người Chiến Sĩ Dân Vệ luôn luôn tay ghì khẩu súng Mas-36, vai mang những quả lựu đạn chày, đi tuần - canh ở những trạm gác, nơi có những chiếc cổng của bờ rào Ấp Chiến Lược, để bảo vệ sinh mạng và tài sản của đồng bào, vì bọn Du Kích thường tìm cách lẻn xuống các làng thôn để cướp gạo, muối, thực phẩm của đồng bào, đem lên rừng để sống. Đó là những Chiến Sĩ của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, đã góp máu xương trong công cuộc bảo vệ miền Nam tự do, bảo vệ đồng bào ruột thịt, và họ đã chết trong âm thầm, không bia đá. Thế rồi, kể từ sau ngày Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa bị sụp đổ, thì các Chiến Sĩ Bảo An và Chiến Sĩ Dân Vệ, đã bị người ta cố tình đưa vào quên lãng!!!

 

    Thế nhân thường nói: Mất rồi mới biết quý, mới biết tiếc.  Giờ đây, sau khi nước đã mất, nhà đã tan; qua những cảnh đời tang thương, dâu bể, khi ngược dòng thời gian trở về với một thưở thanh bình, mà không bao giờ còn tìm thấy lại, dù chỉ một lần nào nữa, thì chắc đa số những người con dân nước Việt sẽ thấy quý, thấy tiếc Vị Tổng Tư Lệnh đầu tiên của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa: Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã bị giết chết vào ngày 1-11-1963, chỉ vì Người đã kiên quyết bảo vệ chủ quyền của đất nước. Chính ngày này, nước Việt Nam Cộng Hòa đã đứng trên bờ của vực thẳm, để rồi cho đến ngày 30-4-1975, thì cả nền móng của nước Việt Nam Cộng Hòa đã hoàn toàn sụp đổ, rơi ngay xuống tận đáy vực sâu, mà do ngoại nhân với sự tiếp tay của những kẻ vong-nô,vô cùng tàn độc, dã man đã đào sẵn, để vùi chôn một công trình vĩ đại, mà đã được đắp xây bằng cả máu xương của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa!!!

 

 

 Những Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã “biến mất” sau ngày 1-11-1963:

 

    Đó là những Chiến Sĩ đã hy sinh tất cả, khi chấp nhận rời xa mái ấm gia đình tại miền Nam tự do, để đi vào vùng đất địch, không hẹn ước một ngày trở về nơi chốn cũ!!!

 

   Vậy, không có gì bằng, là hãy đọc, để như nghe lại những lời nói của năm nào, vào đêm mồng 6 tháng 8 năm 1960, tại một nơi bí mật; song có mặt của Cố Đại Tá Lê Quang Tung đứng lên hô to khẩu hiệu:

“Trung thành với Tổ Quốc – Xả thân vì lý tưởng Quốc Gia”.

  Sau đó, các Chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hô theo.

 

  Khi những tiếng hô chấm dứt, thì Ông Cố vấn Ngô Đình Nhu đã đọc những lời tiễn đưa các Chiến Sĩ đi vào vùng đất địch như sau:

   “Các bạn ra đi hôm nay, là đã vượt ra khỏi tầm bảo vệ của chính phủ. Ra đi, có thể các bạn không hẹn ngày về. Những người con ưu tú của Dân Tộc, đêm nay giã từ Thủ Đô, để lao vào vùng địch, chiến đấu cho tự do và độc lập của Tổ Quốc, cho hòa bình. Vì hẳn các bạn cũng biết, Việt Nam là tiền đồn của thế giới tự do. Các bạn là những Chiến Sĩ Tiên Phong, đi chiến đấu ngay trong lòng địch; để ngăn chặn làn sóng cộng sản xâm nhập vào Nam, tiến đánh hậu phương chúng ta. Đây là một sứ mạng hết sức to lớn, và rất đáng cảm phục.

 

   Thay mặt Tổng Thống, thay mặt chính phủ, tôi trân trọng gởi đến các bạn lời khen ngợi ý chí vô cùng cam đảm của các bạn, lòng yêu nước vô bờ bến của các bạn, khi đơn thương, độc mã dấn thân vào đất địch, để chịu trăm ngàn nguy hiểm, mà không được một sự yểm trợ nào cả. Xin cầu chúc các bạn vượt qua mọi gian lao, nguy hiểm và thành công trong sứ mạng”.

 

    Và cũng tương tự như thế, là những Chiến Sĩ đã được cài lại ở miền Bắc trước ngày 20-7-1954, hoặc có những Chiến Sĩ đã tình nguyện quay trở về miền Bắc ngay sau khi mới di cư vào miền Nam. Những Chiến Sĩ này đã do Ông Phan Quang Đông và Ông Ngô Đình Cẩn sắp xếp, và bí mật lo cho đời sống của họ, khi họ phải sống trong lòng đất địch tại miền Bắc.

 

   Nhưng đau đớn thay, bởi sau khi Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa bị sụp đổ, Ông Phan Quang Đông và Ông Ngô Đình Cẩn bị giết chết. Vì thế, tất cả những Chiến Sĩ này đã bị chặt tay, chặt chân, cắt đứt con đường về; họ phải tự tìm cách để sống trong mỏi mòn, chờ đợi. Cho đến ngày 30-4-1975, khi miền Nam tự do đã rơi vào tay của cộng sản Bắc Việt; thì các Chiến Sĩ này đã hoàn toàn tuyệt vọng; nên có người đã chết trong tức tưởi, trong đau đớn khôn nguôi. Và cho đến tận hôm nay, những người thân của họ, cũng không hề biết nắm xương của những người Chiến Sĩ ấy, đã bị vùi lấp ở một nơi nào trên đất Bắc???!!!

 

  Ôi! Còn gì đau xót và phũ phàng hơn; nếu một mai, Quê Hương ta có tái lập được một nước Việt Nam với thể chế pháp trị hẳn hoi, thì thử hỏi, có còn ai nhắc - nhớ đến những người Chiến Sĩ đã từng dấn thân vào lòng đất địch, sống cùng với những gian nan, nguy hiểm; và chết trong âm thầm, lặng lẽ, lãng quên!!!

 

 

  Hình ảnh tiếp nối của Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa:

 

    Sau ngày Vị Tổng Tư Lệnh đầu tiên của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa: Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã Vị Quốc Vong Thân; để tiếp tục bảo vệ miền Nam tự do, bảo vệ đồng bào, người Chiến Sĩ vẫn tiếp tục lao mình vào nơi chiến trường lửa khói mịt mù, cận kề với cái chết. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã đi vào những trang sử hào hùng của Dân Tộc, với những trận đánh làm khiếp vía quân thù như: Bình Long, An Lộc v…v…

 

  - Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hiên ngang, oai hùng, ngạo nghễ đứng trên Cổ thành Quảng Trị, để cắm lá Cờ Vàng ba Sọc Đỏ thân yêu như bài hát: Cờ bay trên Cổ thành Quảng Trị:

 

“Cờ bay, cờ bay, oai hùng trên thành phố thân yêu

Vừa chiếm lại đêm qua bằng máu

Cờ bay, cờ bay tung Trời, ta về với Quê Hương

Từng ngóng đợi quân ta tiến về ……”

 

- Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã vượt phi đạo, tung cánh “chim bằng”, đi vào cõi chết, để bảo vệ vùng Trời miền Nam tự do.

 

- Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã rời xa đất liền, xa mái ấm gia đình, sống lênh đênh trên mặt trùng dương ngút ngàn khói sóng. Máu xương của người Chiến Sĩ đã hòa quyện và vùi chôn nơi đáy nước trong trận Hải chiến 1974, để bảo vệ Hoàng Sa, hải đảo, bảo vệ hải phận Việt Nam.

 

- Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa tay súng, vai khoác ba lô, tung cánh dù, nhảy xuống vùng đất địch, bất chấp mọi hiểm nguy.

 

- Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa anh dũng đánh đuổi quân thù, tái chiếm Cố đô Huế, Tết Mậu Thân, 1968. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đi tìm đào từng hố, hầm tập thể, để tìm lại xương xác của đồng bào ruột thịt thân yêu.

 

- Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã “quên mình cứu người” băng bó vết thương cho đổng đội.

 

- Người nữ Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã không ngại gian nan, vì “Giặc đến nhà, đàn bà cũng phải đánh”, để góp bàn tay vào công cuộc bảo vệ miền Nam Tự Do.

 

- Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã đem sinh mạng của mình để bảo vệ đồng bào ruột thịt, trên khắp Bốn vùng Chiến thuật, ở những vùng nông thôn, nơi biên phòng, giới tuyến, từ Ấp Bắc, An Lộc, Gio Linh, Khe Sanh, Pleime, A Sao, A Lưới, Trà Bồng, Minh Long, Ba Tơ, An Phước, An Điềm, Khâm Đức, Hậu Đức …v… v…

 

    Song bên cạnh những chiến công lẫy lừng ấy, có mấy ai hình dung được hình ảnh của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã một thời ngày đêm ghì chặt tay súng, trên những vọng gác, ở những nơi tiền đồn heo hút gió; để rồi liên tưởng đến hình ảnh của người Chiến Sĩ đã bị cộng quân bắn tỉa, trong lúc các Anh đang hướng tầm mắt, để quan sát những di chuyển của địch quân. Bởi vậy, các Anh đã trúng đạn của địch, và thân xác của người Chiến Sĩ đã nhuộm đầy máu đỏ, đã thấm đẫm chiến bào, và người Chiến Sĩ đã rơi từ trên chòi cao của vọng gác xuống nền đất lạnh, trên những bụi gai sắc nhọn giữa rừng khuya, thân xác của người Chiến Sĩ lại phải chịu thêm những vết thương khác, do những nhánh gai rừng đã đâm sâu vào châu thân, máu của người Chiến Sĩ đã chan hòa từ vết đạn thù, đã ứa ra từ những mũi gai rừng, trước khi gục chết tức tưởi giữa núi rừng hoang lạnh. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã đem máu xương của mình, để bảo vệ Quê Hương.

 

   Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với những hy sinh vô bờ bến. Đặc biệt, những đơn vị đã từng đối đầu với cộng quân, ở những nơi biên phòng, giới tuyến. Ở những nơi ấy, suốt ngày đêm người Chiến Sĩ phải đối đầu với không biết bao nhiêu những gian nan, nguy hiểm. Người Chiến Sĩ phải mắc võng ngủ trên những cành cây, để tránh thú dữ, nhưng không khỏi phải làm mồi cho muỗi, vắt. Trên những lối hành quân, mỗi khi dừng bước, người Chiến Sĩ đã phải dùng chiếc nón sắt của mình, múc nước từ những giòng suối, đổ vào bao gạo sấy, để ăn cho đỡ đói. Song cũng có những lần, khi những hạt gạo sấy chưa kịp nở thành cơm, thì đơn vị đã lọt vào ổ phục kích của cộng quân. Để rồi sau đó, có những Chiến Sĩ đã phải ôm xác đồng đội của mình, với bao gạo sấy chưa kịp mở ra, mà nhỏ lệ khóc thương đồng đội, đã chết trong khi bụng đang đói!!!

 

   Ngày ấy, một thời chinh chiến, nếu ai đã từng đến các đơn vị biên phòng, giữa tiếng đạn pháo đì đùng, với những đêm nhìn ánh hỏa châu soi sáng các vùng rừng núi hoang vu, và treo lơ lửng trên những vọng gác quanh các tiền đồn, thì chắc chắn đã thấy được toàn cảnh, là những bức tranh, với những nét điểm xuyết thật tuyệt vời. Đồng thời, cũng thấy được những hy sinh vô bờ bến của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đang nằm sương, gối súng ngay giữa đôi bờ sống - chết, hiểm nguy. Sinh mạng của người Chiến Sĩ cũng vô cùng mong manh. Bởi bất cứ lúc nào các Anh cũng có thể bị quân địch tấn công, và có thể sẽ vĩnh viễn bị vùi thây nơi chiến địa!!!

 

  -  Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, là tất cả những gì cao đẹp nhất, hào hùng nhất.  Người dân của miền Nam tự do, đã từng chứng kiến những hình ảnh của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, vai mang súng, tay bế em thơ, tay dìu dắt cụ già giữa vùng lửa đạn.

 


 

- Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, không phải chỉ có những Sĩ quan, mà tất cả những người đã từng cầm súng để bảo vệ từng tấc đất của Quê Hương, hoặc đã  từng kề vai, sát cánh bên người Chiến Sĩ, qua những công tác: Tâm Lý Chiến, Công Dân Vụ, Dân Sự Vụ, Dân Ý Vụ …

 

  Họ có thể là những nông phu, song đã ý thức được bổn phận của một con dân nước Việt trong cơn nguy biến, nên có những người dân, khi bất ngờ gặp được người Chiến Sĩ trong lúc lỡ bị lạc trong rừng, sau một trận giao tranh với quân địch, và họ đã nuôi giấu, để sau đó, người Chiến Sĩ được bình an trở về với đơn vị.

 

   Họ có thể là người Mẹ, người vợ, người anh, người chị, người em; song khi lâm cảnh ngộ, trong những lần tấn công của quân địch, lúc cùng đường, phải tử thủ, họ đã cùng sống-chết bên người Chiến Sĩ, họ đã biết sử dụng những  quả lựu đạn M.26, để tiêu diệt quân thù, để mở đường máu thoát thân. Hết thảy họ đều là Chiến Sĩ.

 

   Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, không phải chỉ có Lục Quân, mà còn có các Lực lượng như: Quân Cảnh, Cảnh Sát, Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn … Riêng về Lực Lượng Nhân Dân Tự Vệ, khi thành lập sau Tết Mậu Thân, 1968, có lẽ mọi  người đã nhìn thấy hình ảnh của những Nữ đoàn viên Nhân Dân Tự Vệ, vai mang khẩu súng Carbine M-1, M-2, trông chẳng khác biệt những Thanh Nữ Cộng Hòa của một thưở nào là mấy. Lực lượng này, đã trực tiếp đối đầu với Du kích Việt cộng ở những vùng thôn quê, hẻo lánh.

 

   Một hình ảnh, mà chắc chắn mọi người đều đã biết. Đó là hình ảnh của những Chiến Sĩ Nhân Dân Tự Vệ tại Hố Nai. Họ đã không rời tay súng, cho đến giờ phút cuối cùng của cuộc chiến. Song tiếc rằng, khi họ đã bị tử thương bởi những viên đạn của quân thù, thì chẳng có ai nhắc đến!!!

 

 

Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa và ngày mất nước: 30-4-1975

 

   Vào một thời oanh liệt, với những chiến công lừng lẫy, làm quân thù phải bạt vía, kinh hồn. Lúc ấy, người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa làm sao có thể nghĩ đến một ngày, họ phải buông súng trong uất hận, đau thương!!!

 

   Thế nhưng, sự thật đã xảy ra. Trước ngày mất nước, người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã phải chịu những cảnh bi thương nhất, khi bắt buộc phải buông súng, thì có các vị đã “chết theo thành”, một số may mắn được ra hải ngoại; còn đa số, thì đã phải vào các nhà tù “cải tạo”của Cộng sản Hà Nội, đã phải chịu cảnh hành hạ, đọa đày, cùm kẹp, đói khát, lạnh lẽo, hoặc trở thành người tàn phế, hay đã bỏ mình trong các  nhà tù. Song chưa đủ, bởi còn gì đau thương hơn, còn ngôn từ nào để viết, và còn có dòng nước mắt nào, để khóc cho vừa với hình ảnh của những người Chiến Sĩ đã chết, trong khi đôi chân vẫn còn bị siết chặt, vẫn còn rỉ máu trong hai chiếc cùm, treo trên những chiếc thanh sắt, thân thể  quắt queo trên nền gạch lạnh lẽo của phòng biệt giam tăm tối; để rồi sau đó, nắm xương tàn của người Chiến Sĩ đã bị vùi chôn bên cạnh những bờ rào kẽm gai oan nghiệt của trại tù “cải tạo”, trên khắp vùng núi rừng từ Nam chí Bắc!!!

 

  Nhưng hôm nay, và mãi mãi cho đến ngàn sau, dẫu thế nhân có viết đến cả hàng nghìn trang sách, cũng không làm sao diễn đạt một cách trọn vẹn những gì mà người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã phải gánh chịu khi bị sa cơ, thất thế, ở trong các nhà tù “cải tạo”. Bởi, chỉ có chính các vị đã từng qua các nhà tù của cộng sản Hà Nội, thì mới thấu hết được những nỗi đau đớn kinh hoàng ấy; vì “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”.

 

   Chẳng những thế, mà ngày đi vào nhà tù “cải tạo”, thì đã có không ít những Chiến Sĩ đã bị mất cả nhà cửa, vợ con!!!

 

   Tuy nhiên, ngoài những cảnh đời bi thảm ấy, đã có rất nhiều Chiến Sĩ được gia đình hết lòng lo lắng. Những người Mẹ, người vợ, người con, người anh, người chị, người em của người Chiến Sĩ, đã băng rừng, vượt suối, đi đến tận những nơi rừng thiêng nước độc, để mang đến cho người thân của họ những món quà; song đặc biệt và cao quý nhất, vẫn là những món quà tinh thần. Vì đó, chính là “món ăn” đã nuôi sống người tù “cải tạo” để người Chiến Sĩ có đủ niềm tin và hy vọng, chờ đợi một ngày trở về, sum họp với gia đình.

 

   Và giờ đây, người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã một thời tung hoành trên khắp chiến trường xưa, đang sống nơi hải ngoại; dù mái tóc đã bạc mầu, đôi mắt không còn tinh tường nữa; song ý chí quang phục Quê Hương vẫn không hề thay đổi. Vì thế, đa số đã và đang dấn thân vào con đường tranh đấu cho một nước Việt Nam Tự Do-Dân Chủ thực sự.

 

   - Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, sống đời lưu vong, nhưng  ngày đêm vẫn vọng tưởng Cố Hương, vẫn nhớ tiếc về những năm tháng của một thuở đã xa, mà lòng rưng rưng, mà tim quặn thắt; bởi chỉ còn biết tìm lại qua những câu hát, lời thơ của một thời đã mất:

 

Đẹp thay Chính Thể Cộng Hòa

Vui thay tiếng hát, câu ca Thanh Bình

Cộng Hòa như ánh Bình Minh

Như giòng nước mát, như tình lúa xanh.

 

15-6-2011

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Phúc ấm con ban !!!


From: Tai Huynh <
To:
Sent: Wednesday, June 19, 2013 8:50 PM

 

 

(TH)

image


 

Phúc ấm con ban !!!
Đọc để cảm thông cho một bạn đồng ngũ sau những tháng năm ở tù cải tạo nay sang sống những ngày cuối đời ở Mỹ với muôn vàn bất hạnh, đớn đau..!
 
          Tôi đến Mỹ rất trễ, đến từ một quốc gia thứ ba, nên ba mươi năm sau ngày mất nước tôi mới đặt chân lên xứ cờ hoa. Văn hóa và hệ thống xã hội nơi đây có những khác biệt so với nơi tôi đã sống, và điều dễ thấy nhất là nếp sống của xã hội Mỹ như vội vàng, cạnh tranh, và tấp nập hơn, so vơi nơi tôi đã sống, êm đềm và lặng lẽ.
          Người Việt ở đó ít hơn, nếp sống và sinh hoạt của gia đình còn mang nhiều nét truyền thống của nơi chôn nhau cắt rún. Người ta rất thân tình và chân tình khi bắt gặp nhau nơi công cộng, giáo đường hay chùa chiền. Và nhất là những lúc được thông báo có người Việt từ nước khác tới định cư, là những người già, những người có phương tiện, tình nguyện đưa đón, hướng dẫn các thủ tục nhập cư, những giấy tờ cần thiết cho một đời sống mới.
          Có lẽ đất Mỹ, nơi tôi đang sống, có cái khung cảnh xa lạ hơn, vì những núi đồi trùng trùng điệp điệp, đôi lúc cho tôi cái cám giác như đang đi trên đèo Ngoạn Mục, quảng đường từ Phan Rang lên Đà Lạt một thủa nào. Cảm giác êm ái đó làm tôi liên tưởng tới khu đồi mà dòng Donbosco tọa lạc, nơi có hoa Anh đào nở rộ mỗi bận Xuân về, màu hoa rực rỡ giữa núi đồi hùng vĩ đầy thơ mộng của cao nguyên.
          Cũng đã mấy chục năm bỏ lại quê hương, bỏ cả những chiều lộng gió của núi rừng Đà Lạt và Di Linh, không hiểu những nơi chốn ấy bây giờ đã thay đổi ra sao, màu chè xanh của Bảo Lộc còn xanh như màu xanh ngày cũ, khu chợ Hoa Đà Lạt, hay bờ Hồ Xuân Huơng còn dương liễu rũ xuống ven bờ, mà những hồn thơ ngày đó đã ví von như mái tóc thề của mấy cô sơn nữ cao nguyên. Bao nhiêu đã mất, bao nhiêu còn giữ, bao nhiêu còn nhớ được trong tâm trí của trang lứa chúng tôi.
          Cái mất mát hẳn nhiên đã làm chúng tôi đau đớn xót xa, nhưng chưa chắc đã bằng những chua chát, bẽ bàng, mà trang lứa chúng tôi phải gánh chịu trong cuộc sống tuổi già trên đất nước xứ người.
          Tôi đến Mỹ như đã nói là rất muộn màng so với nhiều đồng đội, và những người bạn thân tình thủa nào cũng đã tản lạc mỗi đứa một nơi, và ở đây , trong vòng 50 dặm vuông hay vài trăm dặm dài, tôi cô đơn không bè bạn. Mỗi ngày, ngoài việc nhổ cỏ vườn sau, nhặt lá vườn trước, đưa đón bốn cô cháu đi học, tôi chỉ còn biết đi bộ, nhìn đồi núi nối tiếp nhau trên thành phố này để mơ mộng về núi rừng quê tôi, nơi mà hàng chục năm tôi và đồng đội chung sống, có khi gian nan, mà cũng có lúc thật thơ mộng. Và rồi trong một trường hợp ngẩu nhiên, tôi đã gặp được bác Thụy, một người Việt Nam cô độc, cũng lạc lỏng đến nơi này như tôi.
          Cũng là một thói quen như nơi tôi đã từng sống, hễ gặp được người nào mà tôi đoán là dân nước tôi, thì tôi không ngại ngùng đến làm quen, và câu hỏi đầu tiên của tôi thường là " Ông nói được tiếng Việt nam không? " Nếu người đó trả lời họ là người Việt thì tôi nhất định rất vui mà hỏi chuyện. Tôi quen bác Thụy cũng trong trường hợp tương tự.
          Từ lần gặp đó, tôi hay tìm tới bác vào mỗi cuối tuần hoặc là những khi bác gọi tôi đến , và lúc nào bác cũng mở đầu bằng câu " chúng nó đi cả rồi ",ý của bác là các con đã đi làm hết . Tình thân của chúng tôi từ đó ngày càng thân thiết hơn, bác kể cho tôi 12 năm trong quân đội, phục vụ cho một đơn vị Quân báo, hoạt động trên lảnh thổ Quân Đoàn I, bị thương nhiều lần, nhưng lần nào cũng may mắn qua khỏi. Bác đến Mỹ không thuộc diện HO, vì thời gian bác được thả, Phòng công tác nước ngoài thuộc công an Thành phố Hồ Chí Minh ở 161 Nguyễn Du, Quận I, còn đóng cửa, nên bác vượt biên, bị bắt cho đến khi chương trình HO được thực hiện, bác vẫn còn ở trong tù, do vậy bác đến Mỹ theo chương trình Đoàn Tụ, con gái bảo lảnh hai vợ chồng nên không được hưởng một trợ cấp nào của Chính phủ Mỹ như diện HO, tất cả đều do thân nhân bao bọc.
          Thời gian ở lại Việt Nam, bác đi dạy học, cũng như trước khi động viên bác là một Giáo sư dạy Vật Lý tên tuổi tại Sài Gòn, lương giáo viên tuy không khá, nhưng cũng đủ cho hai vợ chồng bác sống tạm qua ngày, nhất là bác được các trung tâm chuyên Lý mời cộng tác, nên dạy cả sáng, chiều và tối , Vã lại mỗi năm, các con bác gởi cho một vài trăm đô la vào dịp Tết, hai vợ chồng lại dành dụm mua một chỉ hay 5 phân vàng hầu dùng cho việc ma chay sau này, cho đến năm 2003, con gái bác viết thư báo tin cho biết là đã làm hồ sơ bảo lảnh cho ba má , bác cũng chẳng hy vọng gì, vì thời gian đợi chờ dường như đã quá mòn mỏi, vã chăng tuổi đã cao, đi đâu cũng chỉ kiếm hai bữa cơm mà thôi, nên gần như vợ chồng bác không nghĩ tới chuyện ra đi, cho đến năm 2006, bác được gọi bổ túc hồ sơ, rồi cuối năm đó, bác được phỏng vấn, theo bác kể thì có lẽ vì lợi tức của con gái bác cao, nên họ cho đi nhanh và rồi đầu tháng 4 năm 2007 bác được sang Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình, nhưng tính cho đến nay, bác vẫn chưa hội đủ điều kiện thi nhập Quốc tịch Hoa Kỳ .
          Thời gian đầu sống với con cái vui vẻ lắm, vì còn mới, tình cảm còn mới, mọi thứ còn mới và còn mới là còn vui vẻ, rồi từ từ bác được một người quen giới thiệu đi làm assembler cho một hảng điện tử, lương $10/ giờ, hai vợ chồng già thật là hạnh phúc, cứ cuối tuần là hai ông bà rủ nhau đi WaltMart hay Target mua áo quần và đồ chơi cho các cháu, nhưng rồi kinh tế ngày càng suy thoái, sau gần hai năm làm assembler, bác mất việc làm, không có cách nào xin được việc khác, vã chăng, những người trẻ còn chưa xin ra việc làm thì ông già 63 tuổi như bác dễ gì tìm được việc, nên bác đành xin tiền thất nghiệp, và được hưởng thất nghiệp hai năm, khoảng thời gian này bác cho biết rất là buồn, suốt ngày vợ chồngcứ mong cho hai đứa cháu đi học về để chơi với cháu cho đỡ buồn, rồi thì cứ vườn sau sân trước, vợ chồng thi nhau nhặt cỏ, tưới cây, hay lên đồi lượm những viên đá hình dáng đẹp đem về lót quanh mấy bụi hồng cho hết thời gian.
          Bác cũng năng nổ đi tham gia sinh hoạt các hội đoàn, như hội người già, Hội SQ/TBTD, nhưng rồi tiền trợ cấp thất nghiệp hết, và khó khăn đến với bác bây giờ là tiền đổ xăng, bác không biết xin ai hai chục bạc để mua xăng, bác nói, một đôi khi bổng dưng nghe thèm một tô phở, nhưng cũng không cách nào có được, "Ông ạ, có đêm tôi không ngủ được chỉ vì nghĩ tới mùi ngò gai và rau quế bỏ vào tô phở mà chảy nước miếng hoài không ngủ nổi, thèm như là thèm được ăn đường lúc ở trong trại tù ".
          Tình cảm con người hình như rất mỏng manh, không phải bền chắc, và rất dễ gãy đổ, từ tình vợ chồng, cha con hay anh em, và nghèo đói là mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với tình cảm. Cổ nhân cũng đã từng nói "phú quí sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc", cái gì người ta bảo "tiền tài như phấn thổ, nghĩa trọng như thiên kim" có chăng, chỉ là trong đạo đức kinh hay sách vở của Thánh hiền mà thôi. Không có tiền, nguyên lý nào cũng bị bỏ quên, đạo đức nào cũng dư thừa, và tình cảm nào cũng mai một. Đặc biệt là ở một xã hội mà mọi nền tảng đều lấy lợi nhuận làm chuẩn.
          Con cái ở nhà cha mẹ thì hạnh phúc, cha mẹ ở nhà con cái thì nhẫn nhục và hy sinh. Con cái ở chung với cha mẹ là tự nhiên, nhưng cha mẹ ở chung với con cái lại ưu phiền, vì lúc nào cũng phải nhìn mặt mủi con cái, phải xem chừng nó vui buồn bất chợt ra sao. Muốn mở cái TV cũng phải lựa lúc nó vui vẻ, muốn mở cái CD nghe nhạc cũng tùy thời cơ nó buồn hay giận, lại còn phải coi sóc con cái cho chúng, nhỏ thì cho đi tiêu đi tiểu, rửa đít, cho ăn, tắm giặt. Lớn thì đưa đón tới trường, có khi còn bị chưởi mắng, đành chỉ biết cúi mặt dấu nước mắt đi. Họa hiếm lắm, chúng cho vài ba trăm bạc vào dịp lễ nào đó thì lại coi như phúc ấm chúng ban cho .
          Con cái ở nhà cha mẹ thì hạnh phúc, cha mẹ ở nhà con cái thì nhẫn nhục, chính là chổ này.
          Một buổi sáng bác gọi tôi tới nhà, chỉ cho tôi một tờ giấy con gái bác viết để lại trên bàn cho bác, tôi cầm lên đọc :
          "Theo luật bên nầy, chủ nhà có quyền gọi cảnh sát đến bắt buộc người thuê phải ra đi, nếu người chủ đã thông báo cho người thuê hai lần bằng thư. Ba không trả tiền nhà, nhưng con cũng coi ba như người thuê nhà, đây là lần thứ hai con yêu cầu ba dọn ra, ba đừng ép con phải gọi cảnh sát".
Tôi đọc đến đây, bổng nhiên nước mắt tôi trào ra, bác nhìn tôi và nấc lên thành tiếng, bác cũng bật khóc. Tôi ôm hai vai bác và nói "Hãy yên tâm, không có luật như vậy đâu, nếu cô ấy gọi cảnh sát, bác có thể nói cô ấy ngược đãi người già, con bác chỉ hù bác thôi". Và rồi bác bắt đầu kể cho tôi nghe hết tự sự.
          Thoạt đầu là gạo, chúng nó than phiền, "nhà người ta một năm chỉ tốn hai bao gạo thôi, sao nhà mình mỗi tháng một bao", Tôi mở cassette ngồi ngoài garage nghe nhạc, ngoài garage thì nóng, tôi mở cửa bên hong ra cho bớt nóng, nó đóng lại, và bảo mở cửa chuột chạy vào nhà. Tôi hiểu ý là nó sợ tốn điện, tôi tắt cassette vào nhà.
          Ông cũng biết, ở bên này, người già chỉ lấy cái TV làm bạn, nhưng nó mắng vào mặt tôi và bảo không biết xài thì đừng xài, TV cứ mở hoài chịu sao nổi, thế nào cũng có ngày TV bị cháy.
          Mỗi ngày, chúng nó đi làm về trễ, có khi 7:30 hay 8:00 tối mới về đến nhà , và tôi đều cố gắng ăn trước để không chạm mặt chúng nó trong bữa ăn, ăn trước thì thú thật chỉ ăn sơ sài cho no bụng thôi, thức ăn của chúng tôi không dám đụng vào, vợ tôi thì chờ cho chúng ăn hết đã, cái gì còn lại bà ấy mới ăn, chúng tôi chỉ dám ăn những thức ăn thừa thải mà thôi. Công việc lặt vặt trong nhà như lau dọn, rửa chén bát, đưa đón các cháu, chúng tôi đều làm hết, nhưng nó bảo với tôi là tội nghiệp thằng chồng nó phải còng lưng gánh hai ông bà già. Những ngày nghỉ, hay cuối tuần, vợ chồng con cái chúng đi ăn tiệm, những năm đầu khi cháu út chưa thể gởi đến trường, thì chúng còn gọi vợ tôi đi ăn với chúng, những ngày lễ Tết cũng tặng quà cho vợ tôi, nhưng từ khi cháu út lớn rồi, chúng cũng lơ là với vợ tôi luôn, cho đến sau này, chúng lạnh lùng đến như bỏ mặc, vợ tôi buồn quá đành đi tìm chổ giữ trẻ ở một tiểu bang khác, nên ông tới nhà không thấy vợ tôi là vậy.
          Bác lấy dưới gối ra một lá thư khác đưa cho tôi, bác bảo lá thư không có một chút tình người, thú thật tôi không dám đọc hết, nhưng trong trí tôi như vẫn in sâu những dòng này "ba người ta chết thì con cái khóc lóc tiếc thương, nhưng nếu ba chết con sẽ thở ra một cách nhẹ nhỏm. Con thật không muốn bảo lảnh ba sang Mỹ đâu, chỉ vì bắt buộc mà thôi, Ba hãy dọn ra đi để còn một chút gì gọi là tự trọng".
          Tôi cũng tự hỏi mình, bác đi đâu bây giờ? Một đồng bạc cũng không có, bà con, bạn bè cũng không luôn, bác dọn đi đâu? trong khi bác lại chưa phải là công dân Hoa Kỳ, làm cách nào để có thể xin trợ cấp, tôi đành an ủi bác, thôi bác cứ yên tâm, điều quan trọng bây giờ là hãy nhịn, nhẫn nhục đó mà, cứ coi như ngày nào bác bị bắt tại mặt trận, Việt cộng hành hạ bác kiểu gì, nhục mạ bác ra sao, bác cũng ngậm bồ hòn, thì nay, với con gái, bác ngậm lại bồ hòn một lần nữa đi rồi từ từ hãy tính.
          Một ông già tóc đã bạc hết rồi, nước da đã ngã màu đồi mồi, tay chân đã lọng cọng, dễ gì xin được một việc làm trên một đất nước đầy dẫy nhân lực và cạnh tranh.
          Tôi biết có rất nhiều cơ quan, tổ chức thiện nguyện, sẵn lòng tiếp những người khó khăn, nhưng với hoàn cảnh của bác, thật không có tổ chức nào có thể giúp đỡ, vì có tổ chức nào có nhà cửa, cơm áo, để cung cấp cho bác trong lúc này, nhất là trong thời kỳ kinh tế suy thoái, ngân sách các cơ quan, giáo dục, y tế hay xã hội ... đều bị cắt giảm. Và tôi chỉ còn một con đường để đi, đó là dẫn bác tới Sở Xã hội, để xin cấp thẻ EBT ( Electronic Benifits Transfer), tức là mỗi tháng, Sở Xã Hội bỏ vào trong thẻ EBT $200 USD cho bác mua thực phẩm, gạo rau cá thịt, nước uống, trái cây...
          Nhận được thẻ EBT bác liền hỏi nhân viên Xã Hội là có thể mua ngay thức ăn được không? và thực phẩm là những thứ gì? Người người Cán Sự Xã Hội nhìn tôi, tôi dịch lại lời bác và nói thêm rằng, bác không có gì ăn từ hôm qua cho đến nay. Người Broker xin phép đi ra một lúc, rồi quay trở lại đem theo phần ăn trưa của cô để tặng bác. Quả thật tôi cũng xúc động rơm rớm nước mắt khi nói câu đó với người broker. Đúng là một miếng khi đói, bằng một gói khi no, bác cúi đầu cám ơn người Cán Sự Xã Hôi mà như muốn khóc.
          Tôi đem bác đi mua thực phẩm để hướng dẫn bác cách dùng thẻ EBT. Lần mua thử nghiệm đầu tiên của bác là 2 ổ bánh mì và 2 hộp cá Sardines rồi bác và tôi ra Parking chui vào xe ngồi ăn bánh mì cá hộp.
          Tôi thật không hiểu rõ những tư tưởng nào đã đến với bác, nhưng mà nỗi xúc động của bác thì tôi biết là rất mãnh liệt, vì nước mắt bác đã chảy đến nỗi dùng hết một hộp khăn giấy của tôi để trong xe, tôi ngồi yên để bác khóc và suy nghĩ về mình, không hiểu có một lúc nào đó tôi lại như bác hôm nay. Trên đất nước tạm dung này, những người già đã trở thành gánh nặng cho con cái, những người già đã bị lãng quên hay bị xua đuổi của gia đình, mà xã hội dù có nhân đạo tới đâu cũng khó kham nỗi với số người cao niên ngày càng nhiều.
          Một lần tôi đưa bác đi tái khám bệnh phổi, tôi ngồi chờ bác ở phòng đợi thật lâu, và khi bác trở ra cùng với một vị bác sĩ người Việt còn trẻ, vị bác sĩ này lấy ví ra 3 tờ bạc 20 đồng và nói "cháu chỉ còn bao nhiêu tiền mặt, nhưng cháu có một căn phòng trống trong Building này, có Microwave, khi nào bác cần thì gọi cho cháu, bác hãy nhớ là bác còn chúng cháu ở đây. Ông quay sang nhìn tôi và dặn chú làm ơn để ý tới bác này với, người già nào cũng có một nỗi khổ khi sang đây."
          Suốt quãng đường về tôi cứ mãi suy nghĩ về người bác sĩ đầy lòng nhân ái ấy. Y thuật và y đạo, điều nào được người ta coi trọng hơn trên đất nước này. Tôi hỏi bác Thụy về vị bác sĩ ấy, được biết ông ta tên là DR. Albert H. Lee, chuyên khoa về phổi, là bác sĩ đang làm việc tại hai bệnh viện lớn ở thành phố này, và rất được bệnh nhân quý trọng cả về chuyên môn lẫn đạo đức.
          Bác Thụy cho biết, thường ngày bác dậy rất sớm vì không ngủ được, có đêm bác chỉ ngủ 3 tiếng đồng hồ, rồi cứ suy nghĩ lung tung về chuyện đời, chuyện gia đình, về thời gian đi tù cải tạo, thời gian đi dạy dưới chế độ cộng sản.
          Bác kể sau khi được thả ra tù, vì tốt nghiệp đại học trước 1975, nên bác không bị đuổi đi Kinh Tế Mới, mà được kêu đi dạy. Là một giáo sư dạy Lý Hóa nhiều năm, kinh nghiệm đặc biệt về phương pháp dạy Luyện thi, nên các Trung Tâm Luyện thi dạy ngoài giờ đều mời bác cộng tác, bác dạy cả sáng, chiều và tối, nhờ đó mà gia đình bác có được cuộc sống tương đối so với những anh em khác đi học tập về, và các con bác cũng từ đó mà học đến nơi đến chốn trước khi ra nước ngoài.
          Trước ngày sang Mỹ, bác bán đi căn nhà, thu gom tài sản lại, cũng đựoc vài ba chục ngàn đô la, đều đem cho con hết, bây giờ nếu quay về, không còn nhà để ở, và biết lấy gì làm kế sinh nhai, vì tuổi đã cao rồi, làm sao xin được việc làm, đó là chưa nói tới những phiền toái khác từ xã hội, thật là tiến thoái lưỡng nan, bác tâm sự.
          Có một buổi trưa tôi tìm tới bác, chứng kiến bữa cơm trưa gọn gàng của bác mà mủi lòng, một tách uống cà phê đong đầy Oat Meal, đổ vào một tô lớn, rót nước nóng từ bình thủy ra, khuấy đều chừng 2 phút, chờ nguội và ăn, không cần nước mắm hay xì dầu, hoặc một loại gia vị nào khác. Bác bảo từ khi có thẻ EBT, tôi không còn lo thiếu xì dầu nữa, nhưng nhịn được cái gì hay cái đó, với lại bác sĩ bảo ăn mặn cũng không tốt .
          - Bác ăn như thế này mỗi ngày sao ?
          - Vâng, chỉ vậy thôi, tôi đâu có cần gì thêm, chỉ cần một căn phòng nhỏ, đủ đặt một cái giường là được rồi, thế nhưng đời tôi quả là cùng khổ, mà thực ra tôi đâu có cầu sống lâu, sống thọ, sống không có gì vui, thì chết đâu có gì buồn, sỡ dĩ tôi vẫn đi bác sĩ là vì tôi sợ đau đớn, cũng như tôi không đủ can đảm để tự tử, còn chết ư, tôi nghĩ tới rất thanh thản, trên đời tôi không còn gì mê luyến thì chết đi tôi đâu có gì tiếc nuối, chỉ cầu sao cho được chết thật nhanh, không đau đớn, đó là nguyện vọng duy nhất còn lại của tôi.
     Thường thường bác hay kể cho tôi về những bữa cơm dã chiến của bác, như bữa ăn của những người lính ngoài mặt trận. Bác mua một cái bếp gas nhỏ bỏ trong túi vải mang theo bên mình mỗi khi đi bộ, một bình thủy nước sôi, một tách cà phê Oat meal, một cái tô và muổng. Buổi trưa ngồi vào một góc nào đó trong Park, nơi người ta cho phép nướng BBQ, bác mở hộp cá ra, hâm nóng bằng bếp gas chừng 2 phút, rồi đổ nước sôi trong bình thủy vào tô và khuấy Oak meal lên ăn, bác chỉ về nhà vào xế chiều, làm thức ăn tối và nấu nước sôi đổ vào bình thủy, chuẩn bị thức ăn cho ngày hôm sau, và những việc này luôn luôn làm xong trước khi con gái bác về nhà, ăn chiều xong, bác lại chui vào căn phòng nhỏ dấu mình trong đó, để không phải gặp mặt con gái nghe nó nói nặng nói nhẹ và đuổi nhà.
     Bác tâm sự rằng, đôi lúc muốn ôm mấy đứa cháu một chút, nhưng thật rất khó, vì chúng nó sợ má la, lâu lâu con cháu lớn lén vào phòng ông, đưa ngón tay lên môi làm dấu với ý bảo ông im lặng, ngồi chơi với ông một lúc rồi chạy ra. Có những khi chúng nó vào phòng ông, má nó biết được là la mắng chúng liền. Ông cháu gặp nhau như đi thăm tù cải tao, thật là một hoàn cảnh đặc biệt hiếm hoi.
Nghe bác kể lại, tôi đành tìm cách an ủi bác, kể cho bác nghe về những đứa cháu phá phách của tôi, mọi thứ trong phòng tôi mỗi ngày được xếp theo một kiểu, computer của tôi được load đầy các games "comp của ông ngoại dễ xài hơn, con thích games trong comp của ông ngoại hơn" thế là cái computer của tôi bận dài dài, chỉ trừ khi chúng đi học. Cho nên chơi với cháu chưa hẳn là hạnh phúc đâu bác ạ .
     Bác kể cho tôi những bữa cơm chấm xì dầu thật cảm động. Mới đầu bác hỏi tôi :" Ông có bao giờ mút xì dầu chưa "? Tôi trả lời là tôi không hiểu ý bác.
     Bác kể lại vào những tháng bác chưa có thẻ EBT, bác ăn cơm với xì dầu hiệu đậu nành, nhưng không dám chan vào chén cơm, chỉ hai miếng cơm mới nhúng đầu đủa vào chén xì dầu một lần và mút lấy đầu đũa, vì nếu chan vào chén cơm hay mút nhiều lần thì sẽ hết mất, không có tiền mua nữa. Những ngày tháng ấy, anh Hồng, ngày xưa ở Biệt Động Quân, và một thời làm Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Rừng Lá, trước ngày mất nước anh về Phủ Thủ Tướng, mỗi lần ghé thăm, anh thường mua xì dầu, rau muống, Broccoli cho tôi, tôi còn nhớ mãi, bây giờ anh move đi xa rồi, cách đây cũng vài ba tiếng lái xe nên anh không thường tới nữa, mà cũng tội nghiệp, anh ấy cũng chỉ sống với mấy trăm đồng tiền già mà thôi, nhưng khi nào tới cũng đưa tôi đi ăn phở, hay có khi anh mua sẵn 2 tô phở mang đến đây hai anh em cùng ăn. Nghĩ lại, chỉ có những người lính mới thương nhau và đùm bọc nhau trên đất nước tạm dung này.
     Ông biết không, vào những ngày tháng đó, có khi tôi rất thèm bánh tráng có vừng đen, hay cơm trắng và xì dầu, mà phải là xì dầu đậu nành, đủ cho tôi ăn không sợ hết. Những đêm nằm không ngủ được, tôi lại ao ước có được một ổ bánh mì của chợ Vons để ăn, tôi thèm mùi thơm của bánh mì chưa kịp nguội, hoặc giã đã nguội đi, tôi lại thèm vị ngọt của bánh khi nhai còn thấm trên đầu lưỡi của mình, thèm đến chảy nước miếng.
     Nghe bác kể, tôi thực sự không cầm được lòng mình, lại nghĩ tới thời gian đi tù cải tạo, tôi cũng đã từng thèm được ăn một bữa khoai mì cho thật no, và chỉ mơ ước ngày được thả về, tôi sẽ bảo vợ mua khoai mì cho tôi ăn một bữa cho đã thèm.
     Khi thiếu thốn, con người sẽ thèm đủ thứ, cho nên nghe bác kể, tôi thực sự hiểu được cảnh ngộ ấy, và hiểu được sâu xa nỗi lòng của bác, chỉ có một điều mà không ai ngờ được, đó là sống trong một siêu cường bậc nhất, mà người dân chỉ thèm một ổ bánh mì khong cũng không có để ăn, cái ước mơ nhỏ nhoi ấy đã ở dưới mức tầm thường rồi, vì kể cả những người vô gai cư trên thành phố này, cũng không ai có một ước mơ như bác Thụy. Có ai quanh đây đang lâm vào tình cảnh của bác hay không tôi không rõ, cũng có thể có người bị gia đình hắt hủi, con cái bỏ rơi và xua đuổi, nhưng đến một đồng xu dính túi cũng không có thì tôi không tin.
     Rồi một ngày bác nhờ tôi chở đi xin việc, bác đọc được một mẫu rao vặt đăng tin cần một người đứng tuổi, có sức khỏe, để săn sóc một ông già 83 tuổi, bị bệnh mất trí, bao ăn ở, tiền lương sẽ thương lượng.
     Tôi chở bác tới địa chỉ tìm gặp chủ nhà, cô chủ nhà tiếp chúng tôi và hỏi :
          - Chú xin hay chú này xin?
          - Tôi, bác nhanh nhẩu trả lời.
     Chủ nhà dẫn chúng tôi đến phòng ông cụ, cô cho biết ông cụ đã quên hết mọi thứ, cần giúp ông cụ ăn uống, đi tiêu, đi tiểu, thay quần áo, và tắm cho ông cụ. Mọi sinh hoạt của ông cụ đều cần được giúp đỡ, nhất là về đêm, ông cụ hay thức dậy đi quanh quẩn trong nhà một mình, những lúc như thế cần có người bên cạnh, đề phòng khi ông cụ bị té. Nhiều khi ông cụ đi tiêu, đi tiểu trong quần mà không biết. Và cô hỏi:
          - Chú có thể giúp ba tôi được không ? Hay chú làm thử vài ngay , vì có người nhận làm nhưng một hay hai ngày sau lại bỏ vì không chịu được tính tình của ông cụ.
          - Không đâu, tôi làm được, tôi rất thích người già và trẻ con, cô cứ để tôi làm.
          - Vâng, vậy chú có bằng lái xe không cho cháu xem thử?
     Bác lấy bằng lái xe đưa cho cô chủ, cô ta xem xong rồi trả lại bác, cô nói, ba cháu nặng 65 ký Không hiểu chú có thể đỡ nổi không, chú làm thử một vài ngày đi, nếu không được, cháu vẫn tính lương cho chú.
     Lương tháng là $800, bao ăn ở, mỗi tuần nghỉ một ngày, tốt nhất là thứ 7, cái giường phía trong là của ba cháu, chú nằm giường ngoài. Thức ăn hàng ngày cháu nấu sẵn để trong tủ lạnh hay trên bếp, chú muốn ăn thứ gì cứ ăn tự nhiên.
     Mỗi ngày ba cháu uống 12 loại thuốc, ăn cơm trưa, chiều, sáng. Ba cháu uống cà phê, khi chú pha cà phê, nên để nguội rồi mới đưa cho ba cháu, vì ba cháu thích khuấy cà phê bằng ngón tay rồi mút. Thuốc thì cháu sẽ viết tên, liều lượng, giờ uống để trên bàn, chú cho ba cháu uống đúng giờ là được rồi.
     Sau khi chủ nhà và bác bàn bạc công việc xong, tôi chở bác ra về, hẹn thứ 2 tuần tới là bắt đầu đi làm. Thoạt đầu bác có vẻ rất vui vì tìm được công việc, nhưng một lúc sau, tôi thấy bác khóc, bác như bị hụt hơi cứ nấc lên từng tiếng, tôi lo sợ nên tìm cách đưa bác vào một shop bên đường, đậu xe lại và hỏi bác :
          - Sao bác lại buồn?
          - Con người ta thì thuê người săn sóc cho cha, còn tôi thì bị đuổi ra khỏi nhà đi chùi đít cho thiên hạ, ông nghĩ xem có tủi không?
     Nói xong câu này bác lại khóc lên thành tiếng. Tôi ngồi im để bác khóc cho hết cơn xúc đông rồi mới bảo bác, mỗi người có một số phận, một đoạn trường, và một nỗi niềm phải gánh, không ai có thể có hạnh phúc hoàn toàn, chỉ có ông cụ 83 tuổi ấy mới thực sự hạnh phúc, vì ông đã quên hết mọi sự, đã không còn biết mọi sự.
     Làm cha mẹ, được con cái yêu thương, gia đình hòa thuận dĩ nhiền là điều tốt, . Nỗi đau khổ bị con cái bỏ rơi hay xua đuổi chưa hẳn đã lớn hơn nỗi đau đớn khi phải nhìn thấy con mình dửng dưng với cha mẹ , Không hiểu bác có nghĩ như tôi không?
     Bây giờ ở là mùa Hè, rải rác đó đây, trên những đồi hoang quanh nhà tôi đã trổ lên vài chùm hoa dại, màu vàng như hoa Cúc, càng làm tôi nhớ đến quê hương mình, như ngày Thu trên rừng núi cao nguyên, những khóm Quỳ hoang cũng nở vàng như vậy trên những triền đồi, và càng nhớ đến người sĩ quan thám báo bây giờ không phải đang nhật tu trận liệt, hay chăm sóc một đồng đội kém may mắn, mà là đang chăm sóc một cụ già mất trí...
 
 
Du Tử Nguyễn Định

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List