QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Wednesday, December 11, 2013

NGUYÊN NHÂN CÁI CHẾT CỦA TT DIỆM



From: sanduyle
Date: Sat, 7 Dec 2013 16:29:23 -0800
Subject: DUYEN LANG HA TIEN NHAT :NGUYÊN NHÂN CÁI CHẾT CỦA TT DIỆM


KHONG VE VIET NAM NEU CON VIET CONG (KVVNNCVC)
MUON CHONG TAU CONG PHAI DIET VIET CONG (MCTCPDVC)
MUON DIET VIET CONG PHAI DIET VIET GIAN (MDVCPDVG)

 

On Saturday, December 7, 2013 4:10 PM, Tran Ho <> wrote:

 

 

 

NGUYÊN NHÂN CÁI CHẾT CỦA TT DIỆM


 

 


(phần 1)

                                                                                     
 Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

 

 

     Vấn đề trên do nhà báo Đinh Từ Thức đặt ra. Nhưng theo thiển ý, cụ Thức giải thích thiếu minh bạch và chính xác. Người viết xin được làm tiếp công việc này.      

 

     Cụ ĐinhTừ Thức là một nhà báo gạo cội, nổi danh trong làng báo Saigon trước năm 1975 với bút hiệu “Sức Mấy,” thời mà chúng tôi chỉ là một tên lính mới tò te, vừa thay bỏ chiếc quần rách đít vì chà lết trên chiếc ghế nhà trường bằng bộ đồ kaki rộng thùng thình, trông chẳng giống con giáp nào. Cụ Thức mới vừa cho ra đời bài viết có nhan đề là “50 năm sau biến cố 1/11/1963: xét lại nguyên nhân và hậu quả.” Bài của cụ Thức tương đối hơi dài với rất, rất nhiều dữ kiện trưng dẫn. Điều đó chứng tỏ tác giả là một học trò ngoan của Cửa Khổng, thuộc và thực hành đúng câu giáo huấn nơi Sân Trình “tố đa, khán đa, thương lượng đa.” Tôi nhớ cụ Thức có gởi bài lên internet, nhưng lại do một nhân vật mà tôi “kỵ” posted nên không mở ra đọc và delete ngay. Mãi gần đây, có người bạn phương xa gọi hỏi tôi: “đã đọc bài của Sức Mấy chưa?” Tôi làm bộ như không biết, hỏi lại: “chưa, mà ở đâu?” Người bạn chắc không nhớ rõ nên trả lời dấm dớ: “thì tìm mà đọc chứ làm sao tôi biết nó ở đâu bây giờ.” Tôi phải khổ công mò mẫm vào mấy trang web thường lui tới mới thấy nó nằm trong “Ba Cây Trúc” của cụ Lê Hùng tận bên Bỉ. Tôi moi ra nghiền ngẫm - vì của cụ Sức Mấy mà - Thật tình, tôi đọc đi đọc lại rất nhiều lần, cố ý tìm cho ra, xem cái “HuyềnThoại Ngô Đình Điệm” của cụ Sức Mấy là gì, nhưng mơ hồ quá.

 

     Đọc chán mà vẫn không tìm ra. Tôi suy nghĩ đắn đo, có nên viết, và phải viết thế nào để giúp cụ Đinh Từ Thức tìm ra được cái nguyên nhân của việc lật đổ TT Ngô Đình Diệm và chính quyền của ông, trả lại hai chữ “HUYỀN THOẠI” về cho nguyên thủy của nó là “SỰ THẬT” mà không gây thêm rối rắm trong dư luận.


 Hiện nay,
bọn bất lương và bè lũ tay sai VGCS tung ra rất nhiều luận điệu hàm hồ nhằm mục đích nhục mạ TT Ngô Đình Diệm và nền Đệ I VNCH, điên cuồng và thậm tệ.


 
Nhiều người vì tinh thần yêu công lý và sự thật đã phải phản ứng lại vì không cầm được bực tức. Dư luận vì thế biến thành bất ổn, và cộng đồng trở nên xáo trộn do việc lời qua tiếng lại giữa đôi bên. Không phải tôi sợ bị chửi, mà sợ tình trạng do đó càng trở nên tồi tệ thêm. Chẳng ích lợi gì. Tôi đắn đo là vì thế. Hơn nữa còn sợ vô lễ với một bậc tôn trưởng.

 

SỰ THẬT hay HUYỀN THOẠI

 

     (Xin lưu ý bạn đọc trước: vì sợ dào dòng, chúng tôi sẽ cố gắng tối đa giới hạn việc trích dẫn và vắn tắt lời lẽ. Do đó, nếu cần tham khảo, xin bạn đọc xem bài của cụ Đinh Từ Thức mà chúng tôi có gởi kèm theo dưới dạng attachment.)

 

     Cụ Đinh Từ Thức trình bầy tư tưởng, nêu lên như một luận đề: Việc Mỹ giết TT Ngô Đình Diệm với mục đích để đổ quân vào VN, và từ đó mọi người xưa nay ca tụng TT Diêm là nhà lãnh đạo đã hy sinh vì Tổ Quốc chỉ là một huyền thoại. Sau đó, cụ đưa ra rất nhiều dẫn chứng để bảo vệ luận đề của mình. Cuối cùng, cụ kết luận bằng một lời khuyên cho những người ôm ấp cái huyền thoại này rằng: “Những gì chưa rõ ràng từ nửa thế kỷ trước ngày nay đã được sáng tỏ. Chỉ với những sự thật được phơi bầy đã đủ chứng tỏ cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, tuy là người cũng có khuyết điểm, nhưng là một nhà lãnh đạo yêu nước, đạo đức và đáng kính. Những người yêu mến ông không cần hun đúc tình cảm của mình dựa trên một huyền thoại, là ông đã hy sinh chỉ vì chống lại chủ tâm của Mỹ đưa quân chiến đấu vào Việt Nam. Chính nghĩa chỉ tồn tại khi dựa trên sự thật. Chính nghĩa dựa trên huyền thoại, cũng chỉ là huyền thoại.”  Cũng may mà cụ Thức còn thừa nhận, cố TT Ngô Đình Diệm là một nhà lãnh đạo yêu nước, đạo đức, và đáng kính.

 

     Bài viết của cụ Đinh Từ Thức đưọc chia ra làm 2 phần và đăng trên internet làm hai kỳ trước sau. Phần một, cụ ghi lại một số thông tin và nhận định của vài giới trí thức, học giả, và của một số người VN làm việc gần kề TT Diệm. Phần hai, cụ trình bầy những ý kiến xung đột trong chính quyền Kennedy về các vấn đề nên hay không nên lật đổ TT Diệm và đem quân tác chiến Mỹ vào VN.

 

     Ở phần một, cụ liệt kê tên tuổi của một số tác giả đã ấp ủ và nuôi dưỡng cái mà cụ gọi là “huyền thoại Ngô Đình Diệm.” Cụ viết lan man, không tập trung vào một chủ điểm nhất định. Có thể tóm tắt ý tưởng của cụ Thức trong một trích đoạn do chính cụ viết sau đây: “Trong suốt 50 năm qua, đã có rất nhiều người, nhiều đến nỗi không thể liệt kê hết ở đây, gồm cả những “bình luận gia”, “học giả” hay “sử gia”, hầu như ai cũng nói giống nhau, như một sự thật hiển nhiên, không cần dẫn chứng, là Mỹ đảo chánh để có thể mang quân vào trực tiếp tham chiến ở Việt Nam, vì ông Diệm chống lại việc này. Theo “huyền thoại” này, Mỹ phải lật ông Diệm như loại bỏ một chướng ngại vật, để có thể đổ quân vào VN. Đặc biệt là khẳng định này thông dụng trong dư luận người Việt, nhưng hầu như không được nhắc tới trong tài liệu và sách báo của Mỹ.”

 

     Những vị thức giả và những nhân vật mà cụ Thức nêu tên như, phía ngoại quốc: bà Ellen T. Hammer, một sử gia, bà Monique Demery, người cầm bút hình như chỉ là nghề tay trái. Phía Vietnam có: BS Trần Kim Tuyến, Lm Cao Văn Luận, ĐT Nguyễn Hữu Duệ. Những người VN được nêu danh tánh tin tưởng rằng TT Ngô Đình Diệm chống việc đem quân đội chiến đấu Mỹ vào VN nên bị Mỹ lật đổ và giết chết. Nhưng theo cụ Đinh Từ Thức, lời họ nói không có căn cứ nên không đáng tin. Phía những người Mỹ còn tệ hơn, như bà Hammer chẳng hạn, chỉ thuật lại những gì nghe được từ những người VN kia nói ra. Nghĩa là chẳng có gì đáng tin cậy hơn. Cụ Thức chê người Mỹ: “Tôi chỉ được biết vài ba cuốn sách của Mỹ nói tới điều này, nhưng lại căn cứ từ sách báo Việt ngữ.” Ngoài ra cụ còn nhắc đến tên một số tác giả và nhân vật ngoại quốc nữa để làm chứng rằng, chính quyền Kennedy không chủ trương đem quân tham chiến tại VN. Những nhân vật này là: Arthur Schlesinger Jr. sử gia, Rufus Phillips, nhân viên CIA dưới quyền TT Lansdale, Robert Dallek, sử gia, Charles Barlet, nhà báo, Seymour Hersh, nhà báo, và một Linh mục Mỹ dòng Tên nhưng không có tên.

 

     Có một điều xác thực đáng lưu ý. TT Ngô Đình Diệm có xin Hoa Kỳ thêm quân viện để ông tăng quân số và vũ khí cho địa phương quân, nghĩa quân, cảnh sát, và yêu cầu gởi thêm nhân viên huấn luyện cho QLVNCH. Chuyện này khác hẳn với việc gởi quân tác chiến Mỹ. Sự việc có các tướng Taylor và Rostow làm chứng.

 

     Chuyện đáng thắc mắc là, tại sao cụ Đinh Từ Thức lại không tin tưởng ở những nhân chứng và các sách vở dù là của Mỹ. Muốn hiểu chuyện này thì tiên quyết phải biết cái nguyên tắc mà cụ tự đặt ra cho mình để đi tìm chân lý. Cụ viết: “Về phía Hoa Kỳ, ngay từ thời lập quốc, những lời nói việc làm quan trọng liên hệ tới chính quyền thường được ghi chép và lưu trữ. Nếu quả thật chính quyền Mỹ đã có ý định, hay chính thức đòi lập căn cứ quân sự, hay đưa quân vào trực tiếp chiến đấu ở Việt Nam, điều này chắc chắn phải được ghi lại trong những tài liệu công khai hay bí mật. Trong nửa thế kỷ qua, về mối liên hệ giữa Mỹ và Việt Nam, những người trong cuộc đã viết hồi ký, hoặc trả lời phỏng vấn về vai trò của mình, cũng như những tài liệu mật hay tối mật, phần lớn đã được giải mật, không thấy tài liệu nào nói tới ý định hay đòi hỏi của Mỹ muốn lập căn cứ quân sự thường trực tại Việt Nam.” Thì ra cụ Thức cho rằng chỉ có những sự kiện nằm trong các văn thư, tài liệu công khai hay bí mật của chính quyên phổ biến thì mới là sự thật, đáng tin cậy. Ngoại giả đều thiếu căn cứ và không đáng tin.

 

     Thế nhưng, điều lạ lùng là tác giả Đinh Từ Thức lại tỏ ra tin tưởng vào tiết lộ của thiếu tướng Lansdale, mặc dầu tiết lộ này cũng chỉ là chuyện “hearsay.” Cụ Thức kể rằng, vào tháng 10, 1961, TT Kennedy gửi cố vấn quân sự là Tướng Maxwell Taylor tới Sài Gòn để trực tiếp lượng định tình hình. Phái đoàn rời Washington ngày 17, ngoài Tướng Taylor còn cố vấn an ninh Walt Rostow, Tướng Lansdale và một số chuyên viên khác. Lansdale, chỉ được coi là chuyên viên trong phái đoàn, không được dự trù có mặt trong thành phần họp với ông Diệm.

 

     Nhưng khi phái đoàn vừa tới Sài Gòn, Lansdale đã được mời đi thẳng từ phi trường tới Dinh độc Lập họp riêng với anh em ông Diệm. Lansdale được ông Diệm cho biết ông vừa ban bố tình trạng khẩn trương để đối phó với trận lụt lớn ở miền Tây, và tình hình an ninh chung. Ông Diệm cũng hỏi thẳng Lansdale liệu ông có thể tin tưởng vào chính quyền Kennedy được không? Trong cuốn Edward Lansdale, the Unquiet American xuất bản năm 1988, tác giả Cecil B. Currey đã kể lại cuộc gặp gỡ giữa anh em Tổng Thống Diệm và Tướng Edward Lansdale tại Dinh Độc Lập ngày 18 tháng 10, 1961 (nguyên văn): “Nhiều năm sau, Lansdale tiết lộ: “Tôi chưa bao giờ nói với ai điều này. Diệm xác nhận rằng ông đã yêu cầu chính quyền Hoa Kỳ gửi quân chiến đấu Mỹ tới Việt Nam. Lansdale buồn rầu nhìn bạn mình. “Phải chăng ông đã đạt tới tình trạng khiến ông sẽ phải cần đến họ để sống còn?” Ông Nhu có mặt, và giống như chuyến trước của Lansdale, bắt đầu trả lời thay cho anh mình. Lansdale chặn ông ta. “Tôi hỏi anh ông những câu đó, không hỏi ông!” Cả hai người Việt ngồi yên lặng một lúc. Rồi ông Diệm trả lời. “Ông muốn nói rằng tôi không nên yêu cầu gửi quân? Lansdale hỏi một câu khác. “Ông có cần họ không?” Ông Diệm không trả lời ngay và cuối cùng nói “Thật ra, không cần”. Lansdale dịu giọng góp ý “Nên giữ như thế”. Sau này ông nói, “Tôi chống lại việc mang quân chiến đấu tới. Tôi đã nhìn thấy người Pháp làm và phác họa rằng chứng ta cũng sẽ làm như họ thôi - ngay cả với ý hướng tốt.” (tr. 238)

 

     Lansdale đã từng một thời là cố vấn của TT Ngô Đình Diệm lúc còn là một đại tá. Và theo cụ Thức, Lansdale rất thân với TT Diệm và được ông Diệm tin cẩn. Không biết Lansdale nói thế nào, nhưng nhà báo Currey khẳng định: “Diệm xác nhận rằng ông đã yêu cầu chính quyền Hoa Kỳ gửi quân chiến đấu Mỹ tới Việt Nam.” Cũng nên biết, Lansdale là người chống đem quân tác chiến Mỹ vào VN, nên khi nghe TT Diệm gợi ý việc Mỹ đem quân sang bảo vệ VN, Lansdale tỏ ra bất mãn. Thế nhưng ký giả Currey lại tự mâu thuẫn. Tức thì ngay sau câu “Diệm xác nhận rằng ông đã yêu cầu chính quyền Hoa Kỳ gởi quân chiến đấu Mỹ tới VN,” Ông lại viết: “Lansdale hỏi một câu khác: Ông có cần họ không? Ông Diệm không trả lời ngay và cuối cùng nói: Thật ra, không cần.” Như vậy thì TT Diệm tiền hậu bất nhất, hay nhà báo Currey viết câu sau chửi câu trước?

 

     Tóm tắt phần một, cụ Đinh Từ Thức khẳng đinh không có chuyện Mỹ đòi đem quân tác chiến vào VN, bởi vì không có tài liệu chính thức nào nói đến chuyện này cả. Và cụ còn nhấn mạnh thêm: tuy nhiên, có chứng cớ từ năm 1961 là, đã có nhiều đề nghị - từ cả giới quân sự và chính trị - đem quân Mỹ vào tham chiến ở Việt Nam. Nhưng điều quan trọng là, tất cả những đề nghị này, đều đã bị Tổng Thống John Kennedy bác bỏ.  

 

     Trong phần hai, cụ Đinh Từ Thức trình bầy sự bất đồng trong chính quyền Hoa Kỳ và cũng phân chia các ý kiến ra làm hai phe, tạm gọi là phe dân sự và phe quân đội. Phe dân sự phần lớn nằm trong Bộ Ngoại Giao, chủ trương phải loại trừ TT Ngô Đình Diệm và người em của ông là ông cố vấn Ngô Đình Nhu ra khỏi chính quyền bằng một cuộc đảo chánh. Phe quân sự đa số là tướng lãnh thuộc Bộ Quốc Phòng chủ trương ngược lại là chống đảo chánh, và vẫn duy trì TT Diệm. Phe dân sự gồm các nhân vật chủ chốt là: Averell Harriman, George Ball, Roger Hilsman, và Mike Forrestal. Averell Harriman là Thứ Trưởng Ngoại Giao đặc trách Đông Nam Á, George Ball, Thứ Trưởng Ngoại Giao, Roger Hilsman, Phụ Tá Ngoại Trưởng đặc trách Đông Nam Á, và Michael Forrestal, nhân viên Hội Đồng An Ninh Quốc Gia tại Bạch Ốc. Trong số này, Harriman là đầu não của nhóm. Còn Forrestal chỉ là thứ thiên lôi chỉ đâu đánh đó theo chỉ đạo của Harriman. Những nhân vât chủ trương chống đảo chánh TT Ngô Đình Diệm nằm trong Bộ Quốc Phòng là Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara, Tướng Marxwell Taylor, và Tướng Paul Harkins. Robert Kennedy, Bộ Trưởng Tư Pháp, cũng nằm trong số này.

 

      Hai điểm chính yếu trong chủ trương của hai phe là việc thay đổi lãnh đạo tại VN, và chuyện Hoa Kỳ có nên đem quân tác chiến vào VN hay không. Hai phe hoàn toàn xung khắc nhau về hai vấn đề này. Tóm tắt như sau:

 

-  Phe dân sự chủ trương loại trừ TT Diệm, nhưng chống đổ quân tác chiến vào VN.

 

-  Ngược lại, phe quân đội chủ trương đem quân vào VN để thắng CS, nhưng chống lại việc lật

   đổ TT Diệm.

 

     TT Kennedy ý kiến ra sao? Theo cụ Thức thì TT John Kennedy đã nhìn nhận trách nhiệm về mình việc đảo chánh sát hại TT Diệm. Tuy nhiên theo cách trình bầy của Kennedy như báo chí sau này mô tả, thì đó chỉ là chuyện ông đứng mũi nên phải chịu sào. Nói cách khác là con dại thì cái phải mang. Thế thôi. Ông quyết định đảo chánh, nhưng rút lại quyết định không kịp nên phải chịu trách nhiệm. Thế nhưng, ông Kennedy tuyệt đối chống chủ trương gửi quân, và đã bác bỏ mọi đề nghị gửi quân sang VN. Như thế nên kể TT Kennedy đứng về phía phe dân sự trong Bộ Ngoại Giao.

 

     Còn TT Ngô Đình Diệm, nạn nhân của chính quyền Mỹ?

 

-  Thứ nhất, căn cứ vào bằng chứng của nhiều nhân vật có thẩm quyền xác nhận (có thể kiểm chứng qua nhiều bài viết trên các website) người ta tin rằng TT Diệm không đồng ý việc đưa quân đội Mỹ vào VN, tức là cùng lập trường với Kennedy và phe dân sự trong Bộ Ngoại Giao.

 

-  Thứ hai, theo tiết lộ của Lansdale, được ký giả currey thuật lại thì TT Diệm có yêu cầu Mỹ đưa quân vào VN. Đây là sự xác nhận duy nhất TT Diệm có yêu cầu đổ quân mà cụ Thức nêu lên. Nếu thế là TT Diệm khác lập trường với Kennedy và Bộ Ngoại Giao Mỹ.

 

     Lịch sử và thực tế cho thấy, chính Kennedy và Bộ Ngoại Giao Mỹ đã ra lệnnh đảo chánh và thuê bọn tướng tá côn đồ giết TT Ngô Đình Diệm, một người đứng trên cùng một lập trường với Kennedy và Bộ Ngoại Giao Mỹ. Như vậy có phải là chuyện vô lý và vô luân không? Cọp dữ không ăn thịt con. Chó không ăn thịt đồng loại. Làm sao người lại sát hại người cùng chí hướng. Điểm phi lý này rất cần được giải thích, nhưng rất tiếc, cụ Đinh Từ Thức đã không giải thích. Còn như bảo rằng Mỹ phải lật đổ TT Diệm vì ông đã yêu cầu Mỹ đem quân vào VN theo như Lansdale tiết lộ cũng không ổn. Bởi vì theo lý luận của cụ Thức, đây không là phải tài liệu chính thức của chính phủ nên không tin được. TT Diệm bị giết vì chống việc đem quân Mỹ vào VN thì quá vô lý. TT Diệm bị giết vì yêu cầu đổ quân là chuyện không đáng tin. Rõ ràng cả hai đều không thể là nguyên nhân đưa đến cái chết cửa TT Diệm. Thế nhưng cụ Đinh Từ Thức kết luận:  “việc Mỹ tham chiến ở Việt Nam không phải là nguyên nhân, mà là hậu quả của cuộc đảo chánh 1-11-1963.” Và như thế thì, chuyện TT Ngô Đình Diệm bị giết vì chống lại việc Mỹ đem quân tác chiến vào VN chỉ là một huyền thoại.

 

     Đến đây thì người đọc nên hỏi tác giả Đinh Từ Thức để xem nguyên nhân đưa đến hai cái chết thê thảm của TT Ngô Đình Diệm và bào đệ là ông cố vấn Ngô Đình Nhu thực sự là gì?

 

(còn tiếp)

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

 

 

NGUYÊN NHÂN CÁI CHẾT CỦA TT DIỆM

                                                        (phần 2 và hết)

                                                                                                                                                           &nbs p;  ;                                                                                        

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Trả SỰ THẬT lại cho LỊCH SỬ

 

     Trong bài viết, cụ Đinh Từ Thức kể lể hơi nhiều, nhưng thực tế chẳng nói lên được bao nhiêu. Ngay với cái gọi là “nguyên nhân của cuộc phản loạn” mà cụ cũng không xác định cho minh bạch được, thế mà cụ lại căn cứ vào cái không xác định đó để “xét lại” cái mà cụ gọi là “huyền thoại.” Chúng tôi không biết lập trường của cụ Đinh Từ Thức về vấn đề TT Ngô Đình Diệm và nền Đệ I VNCH hiện nay ra sao. Nhưng nhận thấy, nhờ vào bài viết của cụ, bọn chống đối TT Diệm và VNCH được hưởng lợi rất nhiều. Lý do là vì, cái chính yếu nơi con người Ngô Đình Diệm là tinh thần yêu nước của ông. Và, từ cái tinh thần đó dẫn đến việc, với cương vị là người lãnh đạo quốc gia, ông đã kiên quyết bảo vệ chủ quyền của đất nước cho đến cùng, dù phải hy sinh tính mạng. Thế nhưng, qua bài biết của cụ Thức, TT Diệm xem ra chẳng còn là cái gì cả. Lòng yêu nước và quyết tâm giữ vững chủ quyền quốc gia của ông không phải là một SỰ THẬT như xưa nay người ta tưởng, mà không hơn không kém, chỉ là một HUYỀN THOẠI. Chả thế mà có nhiều tên tay sai VGCS và bọn bất lưong không bỏ lỡ cơ hội, vồ lấy bài viết của cụ Thức như một cái phao cứu mạng khi phe đảng của chúng phải đuối lý và uy tín bị tiêu ma trước cao trào “Phục hồi tinh thần Ngô Đình Diệm” nổi lên cuồn cuộn như hiện nay. 

     Chúng tôi không dám nói tác giả Sức Mấy Đinh Từ Thức là CS hay tay sai CS, nhưng theo ngu ý thì bài viết của cụ quả thực đã đem lại rất nhiều lợi ích cho VGCS. Khó mà chối cãi được. Tâm ý của chúng tôi là đi tìm sự thật. Mục đích duy nhất của chúng tôi là trả sự thật lại cho lịch sử. Cũng giống như cụ Đinh Từ Thức, Chúng tôi không nói: TT Ngô Đình Diệm vì chống việc Mỹ đổ quân vào VN nên mới bị Mỹ lật đổ và sát hại. Nhưng khẳng định rằng: TT Ngô Đình Diệm vì bảo vệ chủ quyền Quốc Gia nên đã bị người Mỹ lật đổ và sát hại.” Đó là sự thật hiển nhiên. Chứng minh sự thật đó không có gì khó khăn cả. 

     Trước hết chúng tôi thừa nhận là có phần thiếu chính xác, việc mà nhiều người nói rằng “TT Ngô Đình Diệm bị giết vì chống lại việc đổ quân Mỹ vào VN.” Nhưng cũng cần minh định là, chỉ thiếu chính xác nhưng không sai. Thiếu chính xác bởi vì, nói như thế không hợp lý và khó thuyết phục. Thứ nhất, TT Kennedy, Bộ Ngoại Giao Mỹ và TT Diệm cùng đứng trên một lập trường không chấp nhận đổ quân. Như thế thì, TTKennedy chỉ không đổ quân là xong chuyện, chứ đâu cần gì phải đảo chánh và giết TT Diệm? Thứ hai, Vào lúc đảo chánh TT Diệm, tình hình chiến sự không cần thiết phải nghĩ đến chuyện đem quân Mỹ vào VN. Sự thể này chính cụ Thức xác nhận: “Bộ Quốc Phòng và các tướng lãnh Mỹ chống lại, hoặc ít nhất không đồng ý đảo chánh, vì vào trước cuộc đảo chánh, tuy tình hình chính trị suy sụp, nhưng tình hình quân sự tương đối còn tốt đẹp. 

     Sự thực là, khi toán thủy quân lục chiến Mỹ đầu tiên đổ bộ lên khu xóm Bắc Ninh, bờ biển Đà Nẵng ngày 8-3-1965, tình hình chiến sự lúc ấy đã thay đổi và trở nên tồi tệ rất nhiều so với thời gian trước đó hơn một năm vào lúc đảo chánh. Ôn lại một chút lịch sử, chúng ta sẽ thấy vấn đề hiện ra rõ ràng hơn.

     Sau Hiệp Định Geneve, TT Ngô Đình Diệm lên cầm quyền. Ông ổn định xong được tình hình rồi lo phát triển đất nước, được toàn dân tích cực hưởng ứng. Với phong trào tố cộng trên khắp nước, và với sự thành công của hệ thống an ninh tình báo lúc bất giờ, nhất là của Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung, các cơ sở VC nằm vùng hầu như hoàn toàn tan rã. Bọn đầu sỏ Hànội thấy rằng không còn trông chờ vào một cuộc nổi dậy của nhân dân miền Nam, năm 1959 chúng cho quân đội xẻ Trường Sơn làm cuộc Nam Tiến với một đơn vị tiền phương cấp trung đoàn gọi là “Đoàn 559.” Hơn một năm sau, ngày 20-12-1960, CS cho ra đời tổ chức Mặt Trận Giải Phóng để uy hiếp TT Diệm cả về mặt chính trị lẫn pháp lý. Tháng 6-1961, cộng quân đã có khả năng tập trung lực lượng cấp trung đoàn quân địa phương để tấn công tỉnh Phước Thành nằm giữa chiến khu D và chiếm được tỉnh lỵ tuy rằng chỉ một đêm. Vì những cuộc tấn công đại qui mô này của CS, Chính Quyền của TT Diệm phải gấp rút triến khai quốc sách Ấp Chiến Lược và tăng cường quân số. Quốc Sách ACL tuy có những lạm dụng nhưng vẫn tỏ ra hữu hiệu để ngăn chặn cộng quân. Trước những khó khăn chồng chất, mà cái khó đáng ngại nhất là áp lực của người Mỹ qua chiêu bài cố hữu của họ là mở rộng dân chủ, TT Diệm tâm sự vói Lm Cao Văn Luận: “Nếu bây giờ chúng ta nhượng bộ một bước thì Mỹ sẽ lại đòi thêm, biết nhượng bộ đến bao giờ cho vừa lòng họ? Tôi muốn võ trang đầy đủ cho Bảo an, Dân vệ, thanh niên chiến đấu. Mỹ không chịu. Tôi muốn tăng cường quân đội, Mỹ từ chối không cấp vũ khí và phương tiện, Mỹ chỉ muốn đưa quân qua Việt Nam mà thôi.” Mưu đồ tước đoạt chủ quyền VN của người Mỹ thực hiện qua các chiêu bài mở rộng dân chủ, tự do tôn giáo là con đường mòn bí mật đưa Mỹ sáp lại gần Hànội để hai bên cùng đi đến một mục tiêu chung là trừ khử TT Ngô Đình Diệm. Thực chất của cái mưu đồ này là gây rối loạn tại miền Nam để đưa đến hậu quả là đất nước càng phải lún sâu vào tình trạng lệ thuộc Mỹ. Chính quyền Ngô Đình Diệm hiểu rõ điều đó, nhưng không đủ sức chống lại. Vì thế bị tiêu diệt.

     Hơn nữa việc ông cố vấn Ngô Đình Nhu bí mật gặp Phạm Hùng có lẽ càng làm cho vấn đề (quyết tân loại trừ TT Diệm) trở nên bức bách hơn đối với người Mỹ. CIA sao lại không biết. Chuyện kín nhưng mà hở. Sự việc này một đàng làm bỉ mặt Hoa Kỳ, một đàng có nguy cơ làm cho mưu đồ của Mỹ phải xôi hỏng bỏng không nếu nó thành công.

     Do lời tâm tình của TT Ngô Đình Diệm với Lm Cao Văn Luận trên đây, cộng với quyết tâm của Bộ Ngoại Giao Mỹ với Averell Harriman đầu đảng là phải loại trừ TT Diệm bằng mọi giá, ta rút ra được hai nhận định:

-   Thứ nhất, TT Mỹ, nói chung, không phải là người hoạch định ra chính sách. Ông chỉ là người đề ra đường lối để thi hành chính sách. Người hoạch định ra chính sách cho nước Mỹ không ai khác hơn là CFR (counsil on Foreign Relations,) một tổ chức tư nhân gồm những tay tổ, nhất là trong ngành ngân hàng và truyền thông. Harriman là một hội viên cao cấp của tổ chức này. Ông có nhiệm vụ thi hành chính sách về VN do CFR đề ra. Tại sao phải loại trừ TT Diệm, và để làm gì, chuyện này chúng tôi sẽ trình bầy sau.

-  Thứ hai, TT Kennedy vì có ý định rút quân ra khỏi VN, tức là đi ngược lại chính sách, nên cũng phải chịu chung số phận như TT Diệm. Những nhận định trên phù hợp với sự hiểu biết của những người Mỹ giầu kiến thức về cái nền dân chủ được “định hướng” của họ. 

     Vai trò của nhân vật Harriman trong biến cố TT Diệm bị thảm sát ngày nay đã hiện rõ. TT Johnson chỉ đích danh Averell Harriman là một kẻ tòng phạm giết người. William Corson, một nhân viên cao cấp CIA tại Saigon xác nhận: vào năm 1963, Harriman điều khiển (running) Việt Nam chẳng cần bàn hỏi gì với Tổng Thống hay Bộ Trưởng Tư Pháp.

     Sau khi TT Diệm bị lật đổ và sát hại, các ấp chiến lược bị bỏ ngỏ, các cơ quan tình báo chống CS xâm nhập hữu hiệu phải dẹp bỏ vì bị cho là Cần Lao ác ôn, tinh thần quân đội chao đảo. Tình hình trở nên suy sụp toàn diện. Tình trạng này xẩy ra là do các nguyên nhân sau:

1-   Bọn tướng tá võ biền tranh dành quyền hành và đảo chánh nhau như cơm bữa.

2-   Nhóm trí thức bất tài Caravelle đòi chia quyền dưới chiêu bài cải tổ dân chủ của Mỹ.

3-   Một nhóm sư sãi CS Ấn Quang được Mỹ yểm trợ nổi lên quậy phá trong cái vỏ bọc tôn giáo.  

4-  16.000 ấp chiến lược bị bọn tướng đảo chánh phá banh để cộng quân tràn chiếm nông thôn.  

5-  Người dân mất tinh thần và sự tin tưởng, trở nên thờ ơ, lãnh đạm đối với chế độ.

6.  Và cuối cùng là VC có cơ hội và điều kiện để gia tăng hoạt động. 

     Trước tình trạng bi đát đó, cộng thêm sự vô lãnh đạo của các chính quyền sau TT Diệm, người Mỹ  đem quân đội của họ vào Việt Nam. 

     Toàn bài viết của tác giả Đinh Từ Thức xin được giản lược như sau:

-  Để đổ quân (nguyên nhân) ----- Mỹ phải giết TT Diệm (hậu quả) - lý do không thuyết phục.

-  Vì TT Diệm bị giết (nguyên nhân) ------ nên Mỹ phải đổ quân (hậu quả) - do tình hình đòi hỏi.

-  Nhận định: việc đổ quân, từ là nguyên nhân đến trở thành hậu quả.

-  Kết luận: Việc TT Ngô Đình Diệm bị giết vì chống đổ quân như vậy chỉ là một huyền thoại. 

     Nhận thức của tác giả Đinh Từ Thức căn cứ vào thực tế diễn ra có đôi chút lý sự, nhưng xem chừng rất ấu trĩ và thiển cận. Thật sự là một sai lầm tai hại. Tại sao? Bởi vì, trong vấn đề người Mỹ đem quân đội chiến đấu vào VN, mọi người cần phải tìm hiểu và suy nghĩ cho đến nơi đến chốn. Câu hỏi đầu tiên và quan trọng nhất phải đặt ra là, việc này được thực hiện qua Hiệp Ước nào giữa Hoa Kỳ và VNCH, hoặc do sự yêu cầu của giới chức nào trong chính quyền VNCH lúc đó, Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu, Thủ Tướng Phan Huy Quát, hay Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ? Cho đến bây giờ, người ta không hề được thấy một văn kiện chính thức nào nói về vấn đề này. Mà chắc chắc chẳng làm gì có. Có thể có người bắt bẻ rằng, nhưng mà Mỹ là đồng minh, bạn bè của VN. Theo thiển ý thì, cần phải bỏ qua một bên vấn đề bạn-thù, đồng minh hay đối địch, danh dự và quyền lợi của Dân Tộc phải được đặt lên trên hết. Những cái đó không thể bị hy sinh cho bất cứ ai, vì bất cứ lý do gì. Việc Hoa Kỳ đổ quân lên Đà Nẵng ngày 8-3-1965 là một hành động ngang nhiên, đơn phương, và trái phép, bất chấp luật lệ quốc tế, bất chấp chủ quyền về lãnh thổ của VNCH. Nếu TT Diệm không bị giết thì thử hỏi người Mỹ có dám ngang nhiên tự tung tự tác như thế không?  Sau khi Mỹ giết TT Diệm và nắm được chủ quyền của VN rồi thì vấn đề đổ quân hay không đổ quân không còn là chuyện tranh cãi nữa. Vấn đề này đã nằm trong tay của kẻ nắm chủ quyền VN là người Mỹ, chứ không còn là Chính Quyền VNCH. Tác giả Đinh Từ Thức vì coi nhẹ vấn đề chủ quyền của đất nước, nên cụ đã phạm một sai lầm nghiêm trọng là đem chuyện Mỹ đem quân vào VN ra bàn bạc, và biến TT Ngô Đình Diệm, người có công bảo vệ chủ quyền quốc gia thành ra là huyền thoại.

          Vấn đề đặt ra là tại sao người Mỹ lại cố tình giết TT Diệm để làm cho tình hình VN xấu đi? Câu trả lời là, vì Mỹ muốn nắm quyền điều hành chiến tranh theo đường lối của Mỹ, TT Diệm là một cản trở nên phải loại trừ. Tình hình càng xấu đi, VN càng phải dựa vào Mỹ, và Mỹ càng dễ lũng đoạn.  Có thể Kennedy đã không tiên liệu được tình hình, nhưng những tay tổ trong Bộ Ngoại Giao như Harriman, Hilsman v.v biết chứ, và họ phải biết. “on ne fait pas d'omelette sans casser les oeufs (không có món trứng tráng ăn nếu không đập bể trứng.)” Nhất thiết phải như thế. Đó là cái giá phải trả. Cũng có người nêu ra lý do khác khiến Kennedy chạy theo lập trường của nhóm Bộ Ngoại Giao. Theo GS Winters, cũng như nhiều người khác, cho rằng quyết định lật đổ TT Diệm của Kennedy có một cái gì bí ẩn mà họ không hiểu nổi. Đó là: tại sao Kennedy quyết định như vậy một khi ông có ý định rút lui khỏi Việt Nam vào năm 1965, dù rằng có báo cáo nói rằng Ông Diệm, và nhất là bào đệ ông, Ông Ngô Đình Nhu, muốn sự hiện diện của Mỹ bớt đi, và có ngay cả báo cáo nói rằng ông này đang điều đình hòa bình với Hà Nội, nghĩa là tạo điều kiện cho Hoa Kỳ sớm chấm dứt can thiệp của họ vào Việt Nam .... Cho nên Kennedy quyết định lật đổ Ông Ngô Đình Diệm năm 1963 vì nhu cầu cá nhân cải thiện hình ảnh về phía Tả và cả phía Hữu để chắc ăn trong cuộc tuyển cử 1964, và Ông Diệm được coi như là "một mối đe dọa" cho sự tái đắc cử của ông ta. Nhận xét của GS Winter cũng là một ý kiến thực tế rất nên lưu ý. 

     Chủ quyền của đất nước là quyền tối thượng mà TT Ngô Đình Diệm tuyệt đối không bao giờ chịu nhượng bộ. Mỹ đòi, ông không chịu trao ra nên bị giết. Giản dị là như thế.  Có thật sự là Mỹ cướp đoạt chủ quyền của VN không thì cứ nhìn vào Hòa Đàm Paris là thấy liền. Phái đoàn VNCH không có mảy may quyền hành gì để tự định đoạt số phận đất nước của mình. Ngồi đó làm vì, chịu lép vế, và chịu bị người ta cắt cổ (tiếng của bà Nhu.) Rõ ràng là như thế. TT Diệm cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia, điều này hiển nhiên, thiết tưởng chúng tôi khỏi cần phải dài dòng. Chỉ cần nhắc lại một vài mẩu đối thoại nhỏ sau đây là quá đủ để chứng minh:  NS Lê Châu Lộc kể, một lần khi đại sứ Cabot Lodge đề nghị Tổng Thống thay đổi nhân sự trong guồng máy chính quyền, Tổng Thống trả lời không nể mặt: “Xin Ông Đại sứ biết rằng Ông Đại sứ đang đứng trước mặt Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa.”  Chuyện khác, khi đàm đạo liên quan đến vấn đề chủ quyền quốc gia với ông đại sứ Nolthing, TT Diệm thẳng thắn bầy tỏ quan điểm: “Việt Nam không muốn trở thành một xứ bảo hộ (của Mỹ.)” 

     Muốn hiểu tường tận hơn về vấn đề người Mỹ tước đoạt chủ quyền của VN thì cần phải đặt VN vào trong bối cảnh của cuộc chiến tranh lạnh thời đó. Mỹ muốn chiến thắng trong cuộc chiến tranh không tiếng súng với Liên Sô. Để đạt được tham vọng này, điều quan trọng đối với Mỹ là phải lôi kéo cho bằng được Tầu cộng về phe mình. Tầu cộng và Liên Sô là hai đàn anh trong thế giới CS. Một rừng không thể có hai cọp cho nên chú Chệt ngả theo Mỹ là chuyện dễ hiểu. Chú Sam vuốt ve chú Chệt bằng nhiều hành động rất ngoạn mục. Chẳng hạn đá đít ông bạn Tưởng ra khỏi chiếc ghế Ủy Viên Thường Trực Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc cho Mao vô ngồi thế. Cho Tầu mượn đỡ hai nhà khoa học nguyên tử gốc Chệt để giúp Chệt chế tạo“đồ chơi.”Tặng VN cho Chệt để xài làm thuộc địa. Vấn đề này không phải chúng tôi nói ngoa, mà đang từng ngày trở thành hiện thực không ai không nhìn thấy. 

     VGCS miền Bắc trước đây nửa thế kỷ chỉ là một tên lỏi tì lưu manh, phải đu giây giữa hai thằng đàn anh để mà sống. Nghề đu giây không khéo tuột tay là tan xương nát thịt. Mỹ bắt thóp được điểm này, bèn lên kế hoạch sử dụng VC như một cái mồi câu thằng Tầu Cộng để  thắng chiến tranh lạnh. Chiến thuật diệt VC của Mỹ là vừa đánh cầm chừng vừa nuôi VC. Nhiều người không hiểu nổi tại sao, trong cuộc chiến VN, người Mỹ đã đánh VC theo một phương thức tác chiến rất ư là quái gở, hoàn toàn ngoài binh thư, binh pháp. Mới đổ quân vào mặt trận, mấy ông lớn tư lệnh đã tuyên bố ầm ĩ:“cuộc chiến VN sẽ không có kẻ thắng người thua.”Tức là huề. Có thứ chiến tranh nào đánh mà không cầu thắng, ngoài Mỹ? Các phi công Mỹ bỏ bom miền Bắc phải chừa ra nhiều mục tiêu không được bắn phá ẩu, trong đó là các dinh thự cơ quan đầu não của CS, hệ thống đê điều miền Bắc, những nhà máy sản xuất quan trọng như khu gang thép Thái Nguyên, nhà máy dệt Nam Định v.v. Khu Khâm Thiên, Hànội, nằm trong kế hoạch giải tỏa để chỉnh trang thành phố của nhà nước VC, bỗng dung Mỹ đem bom đến san bằng. Thế có “may” không? Họ cũng không được phép xâm phạm biên giới Tầu nếu máy bay của VC khiêu khích rồi chạy trốn qua biên giới Tầu. Tầu cộng cấm máy bay Liên Sô chở tiếp tế cho VC bay qua không phận Tầu. Tầu đưa 3 trăm ngàn quân qua giúp bảo vệ lãnh thổ để cho miền Bắc xua quân chiếm miền Nam. Mỹ biết nhưng ngậm tăm. Trong khi đó, quân Lực VNCH chỉ được trang bị bằng các loại võ khí dưới cơ của quân đội miền Bắc. Họ không được phép vượt sông Bến Hải để tấn công miền Bắc theo binh pháp “tấn công là phương pháp phòng thủ hữu hiệu nhất.”Vân vân và vân vân. 

     Cuối cùng, chiến tranh VN đưọc kết thúc đúng với chiến pháp của người Mỹ đặt ra: Cuộc chiến không có kẻ thắng người thua. Đối với Mỹ đúng là như thế.  Tuy về hình thức phải nói là Mỹ thua. Nhưng họ lấy về gấp triệu lần cái mà họ mất đi là bỏ VNCH. Họ đạt được mục đích to lớn vô cùng là thắng cuộc chiến tranh lạnh với Liên Sô. Còn về bên thắng cuộc tức VGCS, tuy nói là thắng, nhưng thắng được rồi, chúng phải quay mặt về phương Bắc, khấu đầu xưng THẦN với chú Chệt. Chú Chệt bất chiến tự nhiên thành, dĩ nhiên hẩu lớ, hẩu lớ. VN tủi nhục trở thành thuộc địa của Chệt. Dân Tộc VN lại một lần nữa, rơi vào vòng nô lệ giặc Tầu, không biết mấy trăm năm hay mấy ngàn năm nữa!? 

Kết luận

     Ở trong nước, đảng VGCS chỉ còn là một cái thây ma thối rữa. Phải dựa vào cái huyền thoại Hồ Chí Minh để sống còn, chúng tô vẽ tượng thần rồi hô hoán lên: Hồ là người yêu nước. Hồ đuổi Pháp, thắng Mỹ. Hồ có công thống nhất Tổ Quốc v.v. Nếu người Việt Quốc Gia cũng lại dựa vào những huyền thoại để tiêu diệt CS thì mơ ước này sẽ mãi mãi là hão huyền. Chỉ có Sự Thật - chứ không phải huyền thoại - mới tiêu diệt được chế độ VGCS. Bè lũ bán nước VGCS ngày nay hiểu rất rõ Hồ Chí Minh chỉ là một huyền thoại, và chúng cũng cầu mong sao cho mọi người tin rằng Ngô Đình Diệm cũng chỉ là huyền thoại như Hồ để hai bên huề vốn.

     Tất yếu của một người lãnh đạo yêu nước thực sự là trung thành với tổ quốc, ra công giữ gìn từng tấc đất giang sơn của tổ tiên để lại, và bảo vệ chủ quyền của quốc gia. Cụ Đinh Từ Thức thừa nhận, cố TT Ngô Đình Diệm là một nhà lãnh đạo yêu nước, đạo đức, và đáng kính. Như thế nơi con người Ngô Đình Diệm ắt phải hội đủ những tất yếu đó. Thế nhưng cụ lại đánh giá TT Diệm chỉ là huyền thoại căn cứ trên một sự kiện xẩy ra ngoài những tất yếu của tinh thần Ngô Đình Diệm. Đó là một mâu thuẫn, một sai lầm tai hại. Sự sai lầm này được những tay sai VGCS lợi dụng và khai thác. Tai hại ở chỗ đó. Hãy trả sự thật lại cho lịch sử để chống cộng, kẻo rồi tên tuổi “Sức Mấy” ngày nào bỗng dưng cũng biến thành huyền thoại thì uổng lắm. (HẾT)

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

 

Ai là người đầu tiên đã gọi Hồ Chí Minh là tên Chó đẻ ?


 


From: th34.3429
Date: Sun, 8 Dec 2013 10:26:09 -0500
Subject: Ai là người đầu tiên đã gọi Hồ Chí Minh là tên Chó đẻ ?

 

Ai là người đầu tiên đã gọi Hồ Chí Minh là tên Chó đẻ ?

Đã từ lâu, khi đọc những bài viết của Luật Sư Nguyễn Văn Chức. Trong đó, có bài viết về tên Phỉ Tặc Hồ Chiếu Manh, tức Hồ Chí Minh. Chắc ai cũng biết không có người nào lên tiếng phản đối tại sao lại gọi giặc Hồ là chó đẻ. Vì cách gọi đó, theo tôi vẫn còn nhẹ nhàng khi dùng nó với một tên tội đồ của dân tộc.
Không những thế, mà y còn là một tội nhân đã gây ra vô số những tội ác, đã gieo tang thương trên khắp nẽo đường đất nước, không ngôn từ nào, không bút mực nào diễn đạt hết.

Trước khi nói đến những tên gọi và những từ ngữ mà người dân Việt đã dành cho Hồ Chí Minh, tôi xin kể về một trường hợp vì đụng chạm đến cái tên giặc nầy, mà có người đã phải bỏ mình trong nhà tù cộng sản.

Vào những năm tháng dài ở trong trại cải tạo T. 154, Tiên Phước, Quảng Nam. Các tù nhân ai cũng biết Đại Úy Nguyễn Phượng sau khi đọc cuốn “Thơ của Hồ chủ tịch” đã từng nói : “Hồ Chí Minh là thằng dốt biết gì mà làm thơ”.

Chính vì vậy, Ông Nguyễn Phượng đã bị đưa vào nhà cùm, bị bỏ đói cho đến chết. Khi chết rồi mà đôi chân ông vẫn còn trong đôi cùm sắt treo trên tường, thân thể quắt queo trên nền gạch lạnh lẽo của phòng biệt giam tăm tối.

Tôi viết lại cái chết bi thảm của Đại Úy Nguyễn Phượng. Với bài viết này, tôi xin kính gửi đến các bậc phụ huynh đã từng ở trong trại cải tạo T.154. Đặc biệt là các bậc phụ huynh thuộc nhà 08 và nhà 10 của Trại chính, tức Trại 1.
Để các vị cùng tưởng nhớ đến Đại Úy Nguyễn Phượng, và các vị đã bị công an tại trại giết chết bằng nhiều cách như Đại tá Nguyễn Văn Bình, Trung tá Huỳnh Như Xuân, Thiếu tá Hồ Minh, Thiếu tá Nguyễn Xuân Giáo, Kỹ sư Trung Úy Trần Quang Trân, ông Ngô Hải Quảng… cũng như các vị đã bỏ mình tại Hố ông Hức. (nơi dành để chôn những vị tù đã chết duới bàn tay của lũ bạo tàn cộng sản).

Nói đến cuốn “Thơ của Hồ chủ tịch” ở trong cái Thư viện tại trại 1,
tức Trại chính của trại tù T. 154. Vì ngoài trại 1, còn có nhiều phân
trại khác nữa. Tôi đã đọc cưốn “Thơ” này. Trong đó có một “bài thơ” mà tôi cố nhớ để mong sau này có dịp thì ghi lại cho mọi người cùng đọc để cùng thấy được cái tài làm thơ của B…ác . Và bây giờ, xin kính mời quý vị cùng đọc những “vần thơ” ấy, tôi xin ghi lại nguyên văn như sau :



Trong tập thơ đã kể rằng : “Vào một hôm có một bà nông dân xin vào dâng Bác Hồ mấy quả cam. Sau khi nhận mấy quả cam, Bác đã ứng khẩu thành thơ và đọc ngay để nói lên tấm lòng của Bác. Thơ rằng :



“Cám ơn bà tặng quả cam
Nhận làm sao đặng, từ làm sao đây
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Hay là khổ tận đến ngày cam lai.”



Với bốn câu “thơ” trên . Tôi chắc chắn ba câu đầu thì đứa con nít hay bất cứ môt người thất học nào cũng biết, cũng nói, cũng viết ra được.

Ở đây, tôi chỉ nói đến câu thứ tư : Câu nầy là câu thơ thứ 3210 của cụ Nguyễn Du trong Truyện Kiều ở đoạn Thúy Kiều tái hợp cùng Kim Trọng.
Tôi xin được trích lại từ câu 2207 như sau :



“Chàng rằng : Phổ ấy tay nào?
Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy?
Tẻ, vui bởi tại lòng này,
Hay là khổ tận đến ngày cam lai?”

Như vậy, lời của Đại Úy Nguyễn Phượng “Hồ Chí Minh là thằng dốt biết gì mà làm thơ” chẳng sai một ly nào. Hồ Chí Minh là ông vua đạo văn, đạo thơ cả nước đều biết cả. Nhưng ác hại thay, vì những lời nói trung thực ấy mà Đại Úy Nguyễn Phượng đã bị hành hạ cho đến chết.
Bởi, đối với cộng sản Việt Nam là không ai được đụng tới Hồ Chí Minh, vì y là “ông thánh” nhưng đã từng bị bà “Thần… hồn nó ám cũng mê mẩn đời”.

Nhưng thôi, đó là chuyện thơ văn của B…ác Hồ. Còn bây giờ, tôi xin trở lại với chuyện ai là người đầu tiên đã gọi Hồ Chí Minh là chó đẻ ?

Tôi xin thưa ngay người đó không phải là Luật Sư Nguyễn Văn Chức mà là cụ Phan Khôi, cụ là con của vị cữ nhân rồi Phó bảng Phan Trân, và là cháu ngoại của danh tướng Hoàng Diệu, người Quảng Nam, vùng đất của Ngũ Phụng Tề Phi, Địa Linh Nhân Kiệt.

Theo các tài liệu cũ. Vào cuối năm 1957, cụ Phan Khôi đã viết cuốn “Nắng Chiều” nhưng không được xuất bản. Chẳng những thế, mà còn bị mấy tên văn nô như Tố Hữu, Thế Lữ… từ phê bình đến lên án kịch liệt, chỉ vì trong cuốn sách này có nhiều truyện ngắn như : “Ông Năm Chuột” “Cầm vịt” “Tiếng chim” và “Cây cộng sản …”. Đặc biệt, về “Cây cộng sản” có những đoạn như sau :



“Có một thứ thực vật cũng như sen Nhật Bản ở xứ ta, trước kia không có mà bây giờ có rất nhiều. Đâu thì chưa thấy, chỉ thấy ở Việt Bắc không chổ nào là không có…Có nơi gọi cây trên là cỏ bù xít, vì có mùi hôi như bọ xít, có nơi gọi là cây cứt lợn, hoặc cây chó đẻ… những tên đó đều không nhã tí nào, người có học không gọi như vậy, mà gọi từ cây chó đẻ sang cây cộng sản. Không mấy lâu rồi nó mọc đầy cả đồn điền, trừ khử không hết được, nó lan tràn ra ngoài đồn điền.
 Cái tình trạng ấy bắt đầu có trong những năm 1930-1931 đồng thời với Đông Dương Cộng sản đảng hoạt động, phong trào cộng sản cũng lan tràn nhanh chóng như thứ cây ấy, cho nên bọn tây đồn điền đăt tên cho nó là “herbe communiste”, đáng lẽ dịch là cỏ cộng sản, nhưng nhiều người gọi là cây cộng sản.
Nó còn một tên rất lạ là cỏ cụ Hồ. Thứ cỏ nầy trước kia ở đây không có, từ ngày cụ Hồ về đây lãnh đạo, thì thứ cỏ ấy mọc lên, không mấy lúc mà đầy cả đường sá, đồi, đống, người ta không biết tên nó là gì, thấy nó cùng một lúc với cụ Hồ về thì gọi nó là như vậy…”

Đọc những trích đoạn trên đây, chắc mọi người ai cũng hiểu rằng cụ Phan Khôi đã đồng hóa Hồ Chí Minh và Cộng sản Việt Nam là đồ Cứt lợn, là cỏ hôi Bù xít hay Bọ xít và cuối cùng là TÊN CHÓ ĐẺ HỒ CHÍ MINH CỘNG SẢN.

Vì thế, khi luật sư Nguyễn Văn Chức viết Hồ Chí Minh là tên chó đẻ ta không thấy một người có chút hiểu biết nào lên tiếng, mà chỉ thấy có Bùi Tín tức Pín Tùi lên tiếng một cách hạ cấp. Điều nầy, cũng dể hiểu và cũng nên cảm thông cho Pín… Tuồi, bởi y là một phần của cái cây, có thể chỉ là một quả lép của cái cây Chó đẻ, cây Cộng sản, cây Bù xít hay Bọ xít.
Hoặc Bùi Tín cũng chỉ là một bộ phận nhỏ đôi khi không cần thiết trong cái cơ thể của tên Chó đẻ Hồ Chí Minh, chẳng hạn như là một khúc ruột thừa, hay khúc thịt thừa.
Nhưng, nó mọc từ cái cây Chó đẻ, cây Cứt lợn, cây Bù xít hay Bọ xít ấy mà ra, nên hể có ai đụng tới cái thân, cái cây Chó đẻ đó là nó đều đụng chạm tới một phần của cái tế bào thừa ấy, nên nó thấy đau đau, thấy khó chịu, thế là nó có phản ứng, có khi nó dữ dội nữa.

Cũng như trước đây, Bùi Tín còn tuyên bố láo khoét là : “Nếu cụ Hồ còn sống thì không có các trại cải tạo ở miền Nam.” Về điều nầy, trước đây tôi đã viết qua nhiều số báo của Văn Nghệ Tiền Phong, tôi đã chứng minh bằng một trại cải tạo, đó là trại cải tạo Đá Trắng, tại Tiên Phước, Quảng Nam, tiền thân của trại cải tạo T.154, đã được thành lập vào cuối năm 1959.
Đến đầu năm 1964, khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đổ, một số vị ở quê tôi trong đó có Bác ruột tôi đã bị Việt cộng bắt đem giam vào trại nầy, và các vị đã bỏ mình tại trại Đá Trắng trong vòng sáu tháng đầu, vì bị hành hạ, bỏ đói đến chết. Nên nhớ, là lúc đó tên
Hồ Cứt lợn, Hồ Bù xít hay Bọ xít, Hồ chó đẻ vẫn còn sống nhăn răng với mấy nàng Thượng du trong… Háng Pắc Pó.

Nhưng đó là chuyện trong cuốn “Nắng Chiều” của cụ Phan Khôi . Còn sau đây là chuyện thật về cây chó đẻ còn lưu truyền cho đến ngày nay, và sẽ mãi mãi nó vẫn là tên chó đẻ.

Từ những ngày xa xưa còn bé, tôi đã thấy ở quê tôi làng Thạnh Bình, huyện Tiên Phước, Quảng Nam. Đây cũng là quê hương của cụ Huỳnh Thúc Kháng.
Tôi đã thấy những bà Mẹ quê, trong đó có Mẹ tôi, cứ mỗi lần có con chó đẻ con, là các cụ liền đi nhặt những cây chó đẻ, một loại cây thân và lá có mầu đỏ hơi giống cây rau sam. Cũng có thể vì có mầu đỏ nên cụ Phan Khôi mới đặt cho nó cái tên đã kể cho xứng hợp với mầu máu của cộng sản.
Loại Cây Chó Đẻ nầy mọc rất nhiều lẫn trong các đám cỏ hôi, cỏ dại. Sau khi nhặt về các cụ bỏ vào nồi nấu chung với gạo thành cháo rồi đem cho con chó đẻ nó ăn, để có nhiều sữa cho bầy con của nó bú.

Về chuyện trên có cụ nói là “do cụ Huỳnh Thúc Kháng bày như vậy”. Chẳng biết do cây chó đẻ hay vì con chó đẻ nó được ăn cháo gạo mà có nhiều sữa. Nhưng ăn cháo gạo nấu với cây chó đẻ, thì con chó đẻ nó có nhiều sữa thật, cũng như cây chó đẻ là có thật.

Vì những chuyện có thật như trên. Nếu ai có nuôi chó đẻ tức là những con chó nái. Khi nó đẻ con thì cứ đi nhặt những cây mà cụ Phan Khôi đã nói có TÊN CHÓ ĐẺ, CÂY CỘNG SẢN hay Bù xít, Bọ xít, CỎ CỤ HỒ- HOA CỨT LỢN, đem nấu cháo với gạo để “bồi dưỡng” cho con chó đẻ.

Thay cho lời kết.

Lịch sử đã chứng minh, hễ cái gì nó bất biến và hiện hữu mãi mãi với thời gian, thì nó trở thành một chân lý. Và cũng thế, cho đến ngày nay, đã bao nhiêu năm qua rồi. Nhưng cái tên Cây Chó Đẻ nó vẫn tồn tại cùng với Con Chó Đẻ. Như vậy, là những kẻ hậu sinh ai ai cũng đều phải biết rằng : BÙ XÍT- BỌ XÍT- CỎ CỤ HỒ-HOA CỨT LỢN-CÂY CHÓ ĐẺ đều là một.

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền .
Pháp quốc, 20/7/2007 .
sưu tầm từ : Người SaiGon - DĐ / Quê Hương Ngày Mai.
Lính thủy đã đọc và chuyển.

 

FW: Bi mật lịch sử


 


From: paul.van3060
Date: Sun, 8 Dec 2013 09:22:28 -0500
Subject: Bi mật lịch sử

 

 

 

Bí mật lịch sử hay Truyện Giả Sử ?!

Trong một dịp bàn luận với Đại Tướng Cao Văn Viên về y' định thực hiện một quyển sách Anh Ngữ dưới tựa đề "The shadow of history: Vietnam 1960 - 1975". Đại Tướng Viên gợi y': nên viết dưới hình thức "hư hư thực thực" tạm gọi là FICTORY, tổng hợp Fiction và History, một lối viết khá ăn khách của một số ky' giả ngoại quốc đã được Trần Bạch Đằng tức Tư Ánh, Nguyễn Hiểu Trường, Trương Gia Triều xữ dụng bút danh Nguyễn Trương  Thiên Ly ' phóng tác bộ sách "Ván Bài Lật Ngữa" chuyễn thành bộ phim nhiều tập do tài tử minh tinh điện ảnh Nguyễn Chánh Tín & Thanh Lan thủ vai chính.

Nếu xác định bài viết của tác giả Trần Ngọc Giang về Tướng Trần Thiện Khiêm là một tài liệu lịch sử chính xác có giá trị; chúng tôi rất mong được phỏng vấn tác giả Trần Ngọc Giang trực tiếp trên đài truyền hình Việt Nam tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn. 

Paul Vân

 

 

Từ: Khoi Ta <
Ngày: December 8, 2013 at 1:16:10 AM EST
Chủ đề: FW: Bi mật lịch sử

 

:

Tài liệu đáng tin cậy vì Khiêm ai cũng rõ là tay sai CIA sẵn sàng làm mọi việc chủ sai bảo và ra lệnh

TƯỚNG TRẦN THIỆN KHIÊM

Cơn lốc rối loạn Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam
 
 
Tác Giả: Trần Ngọc Giang

Kể từ biến cố lịch sử năm 1975 đến nay đã có nhiều sách báo, đoàn thể, tôn giáo cũng như hầu hết đồng bào Việt Nam đều quy trách những nhà lãnh tụ miền Nam như Tổng thống Diệm, tuớng Minh, Đôn, Thiệu, Kỳ v.v...đều là những người đã một phần chịu trách nhiệm để Cộng sản thôn tính miền Nam. Sự quy trách này trên bình diện chính trị, truyền thông đương nhiên không ai phủ nhận, nhưng trên phương diện lịch sử thì thật là phiến diện. Do đó tiện giả sau nhiều lần suy nghĩ, trăn trở vẫn phải cầm cây viết hầu phơi bày một sự thật để phần nào giúp các sử gia sau này có những sự kiện quan trọng đưa vào dòng định mệnh của Lịch sử Việt Nam.
 
Ngược dốc thời gian năm 1958, Đại tá Trần Thiện Khiêm là một trong những sĩ quan được Tổng thống Diệm ưa thích vì vậy Đại tá Khiêm đã được bổ nhiệm Tư lệnh Sư đoàn 4BB.
 
Thời gian này Đại tá Khiêm có hai người bạn thân nhất là Đại tá Nguyễn Khánh và Trung tá Nguyễn Văn Thiệu, bất cứ cuối tuần nào , Đại tá Khiêm đều lái xe đến thăm Đại tá Khánh tại đồn điền trà J'Ring, sau đó 2 người kéo lên Đà Lạt thăm Trung tá Thiệu đương là Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt..

Năm 1960 trong vụ đảo chánh do Trung tá Vương Văn Đông cầm đầu bị thất bại, bởi Đại tá Khiêm Tư lệnh SĐ 21BB từ miền Tây kéo về giải cứu Tổng thống Diệm, và kể từ đó Đại tá Khiêm được Tổng thống Diệm tín cẩn tuyệt đối, thăng cấp Thiếu tướng và được bổ nhiệm Tham mưu trưởng Liên quân Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Sau khi nắm chức vụ trên và nhất là được sự tin tưởng của Tổng thống, Thiếu tướng Khiêm đã đề cử Trung tá Thiệu làm Tư lệnh Sư đoàn 5BB và Thiếu tướng Khánh làm Tư lệnh vùng 2 Chiến thuật. Tóm lại tất cả các chức vụ quan trọng trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa vào thới điểm này nếu có sự đề bạt của Thiếu tướng Khiêm chắc chắn sẽ được Tổng thống Diệm chấp thuận, ngoài ra TT Khiêm hơn hẳn các tướng lãnh khác là được cả ông Cố vấn Ngô Đình Nhu mến phục. Bởi vậy tiếng nói của Thiếu tướng Khiêm với hai nhân vật then chốt của nền Đệ Nhất Cộng Hòa có một tác dụng gần như tuyệt đối, các tướng lãnh và tư lệnh quân binh chủng trong QLVNCH biết như vậy nên mọi lệnh của TT Khiêm, Tham mưu trưởng Liên quân đưa ra đều được thi hành đầy đủ, chính xác.

Từ trước tới nay đã có nhiều sử gia và nhân vật chính trị đề cập đến cuộc đảo chánh ngày 1-11-63 nhưng nhiều sự kiện vẫn còn thiếu sót và không chính xác vì chưa ai nêu đúng nhân vật chủ chốt, hầu hết đều cho rằng các tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính là những nhân tố chính. Nhưng mặt trái bên trong hậu trường thì không phải vậy, Trung tướng Đôn mặc dù là Quyền Tổng Tham mưu trưởng nhưng không được các Tư lệnh quân binh chủng tin tưởng, Tướng Minh không có thực lực trong tay còn lại Tướng Đính chỉ trong phạm vi Tổng trấn Sài Gòn mà thôi.

Đến đây tiện giả xin trình bày diễn tiến cuộc đảo chánh 1-11-63 để quý vị độc giả có thể thấu hiểu ai là người đã soạn thảo, móc nối và thi hành kế hoạch đảo chánh.

Khoảng đầu tháng 10-1963 Thiếu tướng Khiêm gọi Thiếu tá Giang lên văn phòng cho biết sẽ có đảo chánh để lật đổ chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa vì Thiếu tướng Khiêm được biết ông Ngô Đình Nhu đã có liên lạc với phía Việt Cộng. Đến đây tiện giả xin mở dấu ngoặc. Sở dĩ Thiếu tướng Khiêm tiết lộ cuộc đảo chánh cho Thiếu tá Giang vì Thiếu tá Giang đã từng là Chánh Văn phòng của Thiếu tướng Khiêm, và ngay sau nhậm chức Tham mưu trưởng Liên quân Thiếu tướng Khiêm đã yêu cầu Nha An ninh quân đội đưa Thiếu tá Giang sang giữ chức vụ Trưởng phòng An ninh Quân đội Bộ Tổng Tham mưu.

Ngày 20-10-1963 Thiếu tướng Khiêm chỉ thị Thiếu tá Giang qua gặp Đại tá Đỗ Mậu, Giám đốc Nha An ninh quân đội để cho Đại tá Mậu biết là ông Cố vấn Ngô Đình Nhu vừa ra lệnh cho Thiếu tướng Khiêm tạm giữ Đại tá Mậu vì ông này đang vận động đảo chánh; và Thiếu tướng Khiêm dặn Thiếu tá Giang nói với Đại tá Mậu tạm thời lánh mặt để Thiếu tướng Khiêm dễ dàng trình lên ông Cố vấn. Cũng trong thời gian này Thiếu tướng Khiêm tiết lộ với Thiếu tá Giang về phía tướng lãnh Thiếu tướng Khiêm đã tranh thủ được hầu hết, chỉ còn có Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, Tư lệnh vùng 4 là chưa hội ý, riêng Tướng Khánh và Đại tá Thiệu hoàn toàn đồng ý với Thiếu tướng Khiêm, ngoài ra các Tư lệnh quân binh chủng đã có hứa là sẽ sát cánh với Thiếu tướng Khiêm. Nói tóm lại việc vận động, tổ chức cũng như hoàn tất kế hoạch đảo chánh hầu như do Thiếu tướng Khiêm chủ động vì chỉ có tướng Khiêm hội đủ mọi yếu tố để cho các tướng lãnh và tư lệnh quân binh chủng tin tưởng.

Sáng sớm ngày 31-10-1963 Thiếu tướng Khiêm gọi Thiếu tá Giang lên văn phòng; khi Thiếu tá Giang bước vào thì thấy Đại tá Nguyễn Hữu Có ở đó, Thiếu tướng Khiêm chỉ thị cho Thiếu tá Giang cầm công điện hỏa tốc đi cùng với Đại tá Có xuống Mỹ Tho để bàn giao chức vụ Tư lệnh Sư đoàn hiện do Đại tá Đạm là tư lệnh. Sở dĩ Thiếu tướng Khiêm ra lệnh cho Thiếu tá Giang đi với Đại tá Có là để Đại tá Đạm tin tưởng là lệnh thật do chính Thiếu tướng Tham mưu trưởng ký vì Đại tá Đạm từng biết sự thân cận giữa Thiếu tướng Khiêm và Thiếu tá Giang.

Đến 11 giờ sáng cùng ngày Thiếu tá Giang trở về Bộ Tổng Tham mưu và được Thiếu tướng Khiêm cho biết đúng 12 giờ trưa Thiếu tướng Khiêm sẽ chủ tọa buổi họp các tư lệnh quân binh chủng, và sau buổi họp nếu ai chống lại đảo chánh thì thiếu tá Giang phải giữ lại trong phòng họp Bộ Tổng Tham mưu chờ lệnh của Thiếu tướng Khiêm. Buổi họp vừa chấm dứt; trong lúc lộn xộn thì Đại úy Nhung sĩ quan cận vệ của Trung tướng Minh tự ý bắt Đại tá Lê Quang Tung, Tư lệnh Lực lượng đặc biệt dẫn đi đâu không rõ, sau đó Đại úy Nhung trở lại định bắt Đại tá Cao Văn Viên, Tư lệnh Sư đoàn nhảy dù và ông Lê Văn Tư, Giám đốc Cảnh sát Đô Thành, nhưng Thiếu tá Giang đã ngăn chặn kịp thời. Đại úy Nhung báo lên Trung tướng Minh và Trung tướng đến hỏi lý do cản trở Đại úy Nhung thì Thiếu tá Giang trả lời là thi hành lệnh Tướng Khiêm.

Khoảng 2 giờ trưa ngày 31-10-63 Đại úy Lê Quang Triệu, em ruột của Đại tá Tung dẫn 1 đại đội lực lượng đặc biệt cùng với 4 chiến xa đến cổng Bộ Tổng Tham mưu để hỏi tình trạng Đại tá Tung, ngay khi đó Đại úy Nhung chạy ra gặp Đại uý Triệu và yêu cầu Đại úy vào trình diện Thiếu tướng Khiêm, Đại úy Triệu nghe lệnh trình diện Thiếu tướng Khiêm nên Đại úy không nghi ngờ gì do đó mới bị chết thảm.

Khi tiếng súng đảo chánh nổ trưa 31-10-63 Thiếu tướng Khiêm đã chủ động qua các diễn trình như:

- Ra lệnh cho Đại tá Có điều động Sư đoàn 7 ngăn chặn lực lượng tiếp viện từ vùng 4 chiến thuật.

- Lệnh cho Đại tá Thiệu, Tư lệnh Sư đoàn 5 điều quân về Sài Gòn để làm chủ lực tấn công Lữ đoàn phòng vệ Phủ Tổng thống và Dinh Gia Long.

- Cô lập tất cả Tư lệnh Quân binh chủng nào xét ra chống lại cuộc đảo chánh.

- Ra lệnh cho Tướng Khánh, Tư lệnh vùng 2 và Tướng Trí vùng 1 chiến thuật thi hành những biện pháp cần thiết. Riêng các Tướng Minh, Đôn, Kim, Nghiêm, Xuân v.v...có mặt tại Tòa nhà chánh bộ Tổng Tham mưu chỉ có tính cách phụ giúp hơn là thực quyền vì tất cả mọi lệnh và điều hành đảo chánh đều diễn ra trong phòng làm việc của tướng Khiêm.

Tiếng chuông của chiếc điện thoại được reo đúng 3 giờ 17 phút, Thiếu tướng Khiêm nghe, đầu giây bên kia người đối thoại không ai khác là Tổng thống Diệm. Sau cuộc điện đàm Thiếu tướng Khiêm quay qua tướng Minh, Đôn nói "Tổng thống nói với các tướng lãnh đến dinh Gia Long nói chuyện. Moi trả lời để hội ý rồi sẽ trình lại Tổng thống sau" nhưng sau đó tướng Minh, Đôn, Kim và cả Khiêm không đồng ý đến gặp Tổng thống Diệm.
 
Tuy nhiên khoảng 4:30 chiều 31-10-63 Thiếu tướng Khiêm tự ý điện thoại cho Tổng thống Diệm với đề nghị đưa Tổng thống cùng toàn thể gia đình ông Nhu ra ngoại quốc với sự bảo đảm an ninh do chính Thiếu tướng Khiêm hứa. Khoảng 6 giờ chiều Tổng thống Diệm gọi cho tướng Khiêm để cho biết là T.T. đồng ý đề nghị nói trên nhưng khi tướng Khiêm hội ý với tướng Minh, Đôn, Kim thì tướng Minh nói ngay "Giờ này quá trễ rồi, chúng ta cứ tiếp tục". Qua các cuộc điện đàm kể từ lúc tiếng súng bắt đầu nổ cho đến khi Tổng thống Diệm chạy đến nhà thờ Cha Tam, Tổng thống Diệm chỉ có gọi điện thoại cho Thiếu tướng Khiêm mà thôi.

Đọc hết đoạn trên chắc độc giả đã nhận ra vai trò của tướng Khiêm từ tiền đảo chánh đến khi cuộc chính biến 1-11-63 hoàn tất, nếu tướng Khiêm không được Tổng thống Diệm tin dùng, nếu không có sự hợp tác với tướng Minh, Đôn v.v...chắc chắn là cuộc đảo chánh không thể xảy ra được vì trên cương vị Tham mưu trưởng Liên quân lại được sự tín cẩn của Tổng thống vì vậy các Tư lệnh Quân Binh Chủng đã không có phản ứng nên chính biến 1-11-63 mới thành công một cách dễ dàng. Ngược lại nếu tướng Minh, Đôn, Đính ra lệnh cho các đơn vị chắc chắn sẽ bị chống đối hoặc không thi hành, nhất là 2 lực lượng nồng cốt do chính Thiếu tướng Khiêm điều động với SĐ7 có nhiệm vụ ngăn chặn tiếp cứu của vùng 4, và Sư đoàn 5 chủ yếu tấn công Lữ đoàn Liên Binh phòng thủ phủ Tổng thống với dinh Gia Long.

Sau cuộc chính biến 1-11-63 thành công, vai trò nổi bật là những tướng Minh, Đôn, Kim, Đính, Xuân. Riêng tướng Khiêm với chức vụ Tổng trưởng Quốc phòng hữu danh vô thực, ngoài ra tiếng nói của tướng Khiêm trong Hội đồng Quân nhân Cách mạng hầu như bị lãng quên do đó cuộc chỉnh lý mới bùng nổ mà nguyên nhân chính là do sự bất mãn của tướng Khiêm.

Người tổ chức, thảo kế hoạch do tướng Khiêm chủ động với sự trợ giúp của tướng Khánh và tướng Thiệu cùng 1 số đông các Tư lệnh quân binh chủng. Tuy nhiên vì sở trường của tướng Khiêm là không bao giờ muốn lộ mặt nên tướng Khánh được tướng Khiêm chỉ định coi như lãnh đạo cuộc chỉnh lý. Trên thực tế tướng Khánh không có thực lực, không được ai tin tưởng cho nên nếu không có tướng Khiêm đẩy ra sân khấu chắc chắn không bao giờ tướng Khánh mơ tưởng được làm Chủ tịch Hội đồng Quân nhân, Thủ tướng v.v...

Mục tiêu của cuộc chỉnh lý không ngoài mục đích của tướng Khiêm là vô hiệu hóa hết quyền hành các tướng Minh, Đôn, Kim v.v...để trả thù lại sự vô ơn của các tướng đối với tướng Khiêm sau cách mạng 1-11-63 và luôn thể đưa những người bạn thân nhất nắm chính quyền là tướng Khánh, tướng Thiệu v.v... Do đó ngay khi cuộc chỉnh lý thành công tướng Khiêm không muốn ở vị thế lãnh đạo nên đẩy tướng Khánh ra thay thế tướng Minh, đưa tướng Thiệu nắm chức Tổng Tham mưu trưởng QLVNCH.

Nhưng khi tam đầu chế Minh, Khánh, Khiêm thành hình thì tướng Khánh ham quyền lực, quên đi người đã gây dựng sự nghiệp cho mình là tướng Khiêm, nên tướng Khánh một mặt củng cố uy quyền mặt khác loại bỏ những người thân cận của tướng Khiêm. Tiện giả còn nhớ câu của tướng Khánh nói với tướng Khiêm khi tướng Khánh tống tướng Khiêm đi làm Đại sứ tại Đài Loan như sau:
"Anh phải dời VN trong vòng 48 tiếng, nếu không tôi sẽ không bảo đảm tính mạng của anh".

Mặc dù sau khi tướng Khánh loại được tướng Khiêm, nhưng từ Đài Loan tướng Khiêm vẫn âm thầm tổ chức để lật đổ tướng Khánh, do đó mới có những cuộc binh biến xảy ra liên miên cầm đầu bởi tướng Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát, Đại tá Tồn, Trang v.v... Tuy nhiên, tướng Khiêm ít nhất vẫn được người bạn trả ơn đàng hoàng là tướng Thiệu, vì ngay khi tướng Thiệu đắc cử Tổng thống thì tướng Khiêm, đương kim Đại sứ Hoa Kỳ được gọi về giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội Vụ và sau đó là Thủ tướng cho đến sát biến cố 4-1975.

Xuyên qua những sụ kiện trình bày trên tiện giả chỉ với mục đích duy nhất là đóng góp nhỏ nhoi vào kho tàng lịch sử biến động nhất của 2 nền Cộng hoà mà tiện giả nghĩ rằng nhân vật Trần Thiện Khiêm dù muốn dù không đã nắm giữ một vai trò tích cực có tính cách xoay chuyển cục diện của miền Nam v.v...

Tiện giả cũng nghĩ rằng nếu không có Trần Thiện Khiêm sẽ không có đảo chánh 1-11-63, không có chỗ cho vai trò của tướng Khánh trên sân khấu chính trị "cải lương" nhất trong giòng lịch sử Việt và chắc chắn sẽ không có một Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống nền Đệ nhị Cộng hòa, người phải chịu hoàn toàn trách nhiệm làm tan rã QĐVNCH trong một thời gian kỷ lục cũng như đau khổ, tủi nhục cho hàng triệu gia đình Việt Nam.

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List