QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Tuesday, December 16, 2014

Tập hồi ký của Giáo sư Vũ Quốc Thúc


TẠP CHÍ VIỆT NAM

GS Vũ Quốc Thúc: " Phải chọn con đường vì dân tộc"

  •  
  •  
  •  
  • Share

Tập hồi ký của Giáo sư Vũ Quốc Thúc có tựa đề “Thời đại của tôi” ( gồm 2 cuốn “ Nhìn lại 100 năm lịch sử “ ( xuất bản năm 2009 ) và “Đời tôi trải qua các thời biến” ( xuất bản năm 2010) đã được sang tiếng Anh và vừa được xuất bản tại Hoa Kỳ.


Đây là một sự kiện đáng chú ý bởi vì Giáo sư Vũ Quốc Thúc không những có nhiều đóng góp trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam trước năm 1975, mà còn từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa từ thời tổng thống Ngô Đình Diệm : Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục, Thống đốc Ngân hàng Quốc gia, Quốc vụ khanh đặc trách Tái thiết và Phát triển...

Đặc biệt, GS còn là đồng tác giả hai bản phúc trình Stanley-Vũ Quốc Thúc ( 1961 ) và Phúc trình Lilienthal-Vũ Quốc Thúc ( 1968 ) về tái thiết thời hậu chiến. Ấy là chưa kể rất nhiều sách và bài khảo luận về các vấn đề chính trị, kinh tế bằng tiếng Việt và tiếng Pháp.

Sinh năm 1920, tức là năm nay đã 94 tuổi, có thể nói GS Vũ Quốc Thúc là một trong số hiếm hoi các nhân chứng trực tiếp của thời cuộc Việt Nam suốt gần 100 năm qua, từ thời chế độ Pháp thuộc năm 1900 cho đến thời chế độ Cộng sản, cụ thể là đến năm 2000. Toàn bộ 100 năm lịch sử đó đã được Giáo sư tóm gọn trong cuốn đầu của tập hồi ký, qua cái nhìn của người trong cuộc.

Khác với cuốn đầu, gần như thuần túy mang tính biên khảo, cuốn thứ hai mới thật sự là hồi ký Vũ Quốc Thúc, vì trong đó ông trình bày rất nhiều chi tiết về cá nhân, về gia đình, dòng tộc và sự nghiệp chính trị của ông. Nhưng Giáo sư Vũ Quốc Thúc cũng không quên đưa vào hồi ký những suy tư, nhưng trăn trở của ông về thời cuộc Việt Nam trước đây và hiện nay.

Giáo sư Vũ Quốc Thúc 12/12/2014 nghe

Ngày 08/12/2014 vừa qua, chúng tôi đã được Giáo sư Nguyễn Thái Sơn dẫn đến nhà riêng của Giáo sư Vũ Quốc Thúc ở Nanterre, nằm không xa khu La Défense, ngoại ô Paris, để phỏng vấn ông nhân dịp cuốn hồi ký được xuất bản bằng tiếng Anh tại Hoa Kỳ. Tuy năm nay đã 94 tuổi, nhưng bầu nhiệt huyết tuổi thanh xuân, lòng yêu nước thương nòi, nỗi lo cho tiền đồ dân tộc hầu như vẫn nguyên vẹn trong con người Giáo sư Vũ Quốc Thúc. Càng nói giọng của ông càng hùng hồn, lập luận càng khúc chiết, rành mạch, tưởng như Giáo sư vẫn còn đứng trên bục giảng đường đại học năm xưa.

Trích đoạn phỏng vấn :

GS Vũ Quốc Thúc: Thực ra, khi tôi viết cuốn hồi ký kể về nhiều câu chuyện liên quan đến bản thân và gia đình mình, tôi không hề nghĩ đến khả năng cuốn hồi ký đó được phổ biến cho nhiều người ngoài gia đình đọc.

Mục đích của cuốn hồi ký này là để cho cháu chắt tôi hiểu được tại sao ông cụ của mình đã phải rời bỏ quê hương sang định cư bên Pháp, khiến cho chúng mình bây giờ trở thành công dân Pháp, xem Pháp là quê hương chính, còn Việt Nam là quê hương thứ hai, mặc dù chúng ta không bao giờ quên cái quê hương thứ hai đó. Tôi muốn cho cháu chắt tôi biết trong hoàn cảnh nào tôi đã phải bỏ nước ra đi, để thấy tâm tư của một bậc tiền bối, đâu phải là ra đi chỉ mưu cầu những an ninh, lạc thú ở ngoại quốc, mà trái lại luôn luôn hướng về quê cha đất tổ.

Thành ra hồi ký tôi chỉ viết bằng tiếng Việt, xuất bản từ Mỹ vào năm 2010, tức là cách đây đã 4 năm rồi. Nếu tôi có ý đồ vận động dư luận các nước Tây Phương, nhất là ở Âu Châu hay là Mỹ, thì tôi đã viết bằng tiếng Pháp rồi, vì tôi đã được đào tạo ở Pháp trong bao nhiêu năm rồi, viết bằng tiếng Pháp dễ hơn ! Chứ còn biểu tôi viết bằng tiếng Anh thì, thú thật, trình độ Anh ngữ của tôi còn kém lắm ! Vì vậy nên có chuyện dịch ra tiếng Anh này.

Khi được đề nghị cho dịch cuốn hồi ký sang tiếng Anh thì tôi thấy không có gì trở ngại cả, bởi vì trong cuốn hồi ký của tôi, những sự việc xảy ra như thế nào thì tôi viết y như thế, không thêm, không bớt. Tôi tự xem mình như là một nhân chứng được mời ra trước tòa án lịch sử, tòa án dư luận trong nhiều thế hệ. Khi ra trước một tòa án như thế, nhân chứng phải tuyên thệ: " Tôi xin thề nói sự thực, tất cả sự thực và chỉ có sự thật". Tôi đã áp dụng đúng phưong châm dó trong cuốn hồi ký, không thêm mắm thêm muối cốt để tự mình khoa trương mình.

Trong hai cuốn hồi ký được dịch ra thì tôi chú trọng đến quyển hai, vì trong đó tôi kể nhiều chuyện riêng tư, chứ còn trong quyển một, tôi chỉ kể lại lịch sử, như là một thầy giáo giảng bài cho học sinh: Đây là những gì tôi đã được biết, đã được phổ biến, mà tôi còn nhớ để thuật lại, những điều mà tôi tin đó là sự thực.

RFI : Giáo sư có hy vọng là cuốn hồi ký này, khi được dịch sang tiếng Anh và xuất bản tại Hoa Kỳ, sẽ có tác động phần nào đến dư luận Mỹ, để họ hiểu rõ hơn về hoàn cảnh của Việt Nam trước đây và hiện nay?

GS Vũ Quốc Thúc : Tôi không dám ngông cuồng đến độ tin rằng cuốn sách của tôi sẽ làm sáng tỏ hơn nhiều chuyện hãy còn mờ ám trong lịch sử, nhất là trong quan hệ Việt - Mỹ. Nhưng tôi thấy rằng ở Hoa Kỳ, trước khi ra một biện pháp gì đó, hay thay đổi một chính sách nào đó, người ta thường thăm dò dư luận. 

Tôi coi việc phổ biến hồi ký của tôi phần nào như là một cách để họ thăm dò dư luận, không chỉ trong người Mỹ gốc Việt, mà cả những người Mỹ khác và dư luận thế giới.

Tại sao ? Là tại vì trong cuốn hồi ký của tôi, ngoài những chuyện mà tôi kể lại, mà có thể một số người nay mới biết về chi tiết, tôi còn có những suy tư về những chuyện trọng đại, như chính sách chống cộng, chiến tranh lạnh, việc Hoa Kỳ can thiệp...

Tôi hy vọng khi hồi ký được dịch sang Anh ngữ thì sẽ có nhiều người biết hơn, chứ còn nếu chỉ là bản tiếng Việt thì chỉ có một số nhỏ người Việt tha thiết với các vấn đề của dân tộc mới đọc thôi. Tôi cũng hy vọng là khi sách được dịch sang Anh ngữ, được phổ biến trong giới sành Anh ngữ, thì chính đồng bào Việt Nam ở quốc nội sẽ quan tâm hơn đến. Tầng lớp trẻ, nhất là những người du học ở nước ngoài, có khi đọc tiếng Anh còn dễ hơn đọc tiếng Việt và khi họ đọc được bản tiếng Anh, có thể họ sẽ trở lại tìm đọc nguyên bản tiếng Việt

Còn cuốn sách của tôi sẽ có tác động gì đến chính sách của Hoa Kỳ hay không, thì quả thật tôi không dám tin như thế, vì Hoa Kỳ có chính sách của họ, họ cứ làm. Ở đây họ chỉ thăm dò dư luận. Có thể họ sẽ dùng cuốn sách của tôi để biện minh cho một số biện pháp mà họ sẽ thi hành. Đó là hy vọng của tôi thôi.

RFI : Quan hệ Mỹ-Việt là vấn đề nhiều người quan tâm hiện nay, nhất là vì giới lãnh đạo Hà Nội hiện nay có vẻ muốn dựa nhiều hơn vào Hoa Kỳ và Hoa Kỳ thì muốn tăng cường quan hệ với Việt Nam, cụ thể gần đây họ đã bãi bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam. Trong hồi ký, Giáo sư đã nói nhiều đến thái độ của Mỹ trong thời gian chiến tranh Việt Nam, nhất là sau khi đã ký hiệp định Paris để có thể rút quân. Khi miền Bắc tấn công miền Nam, tức là vi phạm hiệp định Paris, Hoa Kỳ đã không có phản ứng gì, khiến miền Nam lọt vào tay Cộng sản. Nhìn lại giai đoạn lịch sử ấy, Giáo sư có nhận định như thế nào?

Giáo sư Vũ Quốc Thúc : Hoa Kỳ, cũng như tất cả các cường quốc khác, phải chú tâm trước hết đến uy tín quốc tế của họ, rồi đến những quyền lợi thực tế của họ. Thành ra, khi Hoa Kỳ can thiệp vào bất cứ nơi nào trên thế giới, mục đính trước tiên của họ là bảo vệ uy tín của đệ nhất siêu cường thế giới hiện nay, rồi nghĩ đến những quyền lợi thực tiễn, như là về dầu hỏa, về xuất cảng...
Chứ còn bảo rằng Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam để tranh đấu cho Việt Nam thì đời nào ! Cái đó về sau thì có thật đấy, tức là khi mà người ta gởi quân lính sang, trợ giúp khí giới, thì tất nhiên là người ta cũng muốn cho mình đạt được một kết quả nào đó. Chứ chính mình thì đời nào chúng ta chấp nhận cho ngoại quốc xen lấn vào, để rồi mình phải thi hành đường lối của ngoại quốc !

Chính quyền nào ở nước ta cũng vậy, Không một chính quyền nào, dù thiên tả hay thiên hữu, lại quên các vấn đề của dân tộc. Dù không công khai nói là bảo vệ quyền lợi dân tộc, nhưng trong thâm tâm, bất cứ chính quyền nào cũng phải nghĩ đến quyền lợi dân tộc.
Đâu phải một khi người ta nắm quyền được chính quyền là người ta quên hẳn quyền lợi dân tộc. Việt Nam mình đâu phải lúc nào cũng nhắm mắt theo các cường quốc ! 

Bao giờ mình cũng ý thức được quyền lợi trường tồn của dân tộc. Tôi tin là như thế. Đã là người Việt thì không thể nào phản bội quyền lợi dân tộc ! Dù muốn dù không, tiềm ẩn trong trái tim người ta vẫn có lòng yêu nước, vẫn nhớ lại những truyền thống oai hùng của dân tộc mình. Không ai dám phản bội Tổ quốc một cách trắng trợn.

RFI : Thưa Giáo sư, trong bối cảnh mà hiểm họa xâm lăng từ Trung Quốc ngày càng rõ nét, việc Hoa Kỳ bãi bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam là một điều tốt ?

Giáo sư Vũ Quốc Thúc : Việc mình trông cậy hoàn toàn vào ngoại bang để bảo vệ quyền lợi dân tộc là chuyện bất đắc dĩ. Trong hoàn cảnh lịch sử mà mình chưa đủ sức để tự bảo vệ, thì mình phải dựa vào một ngoại bang. Nhưng điều trước tiên là mình phải bồi dưỡng nội lực của mình đã, để có thể tự vệ được.
Khi nói bồi dưỡng lực lượng của chính mình, thì không chỉ có lực lượng quân sự mà thôi. Bây giờ ta có thể được Hoa Kỳ bán chịu một số vũ khí hiện đại, nhưng ta đâu có thể hưởng cái đó mãi ? Đến một lúc nào đó chúng ta phải trả nợ.
Mà vũ khí là để làm gì, để giết ai ? Tôi chỉ sợ là Việt Nam mình, nếu không cẩn thận, sẽ lại rơi vào tình trạng như xưa, tức là có hai phe trong nhân dân, một phe thì muốn dựa vào Trung Hoa, phe thì muốn dựa vào Hoa Kỳ. Hai phe đó tất nhiên là xung đột nhau. Hoa Kỳ sẽ dùng hai phe đó để sử dụng các vũ khí sát thương của họ. Chúng ta phải cẩn thận.

Nước ta còn nghèo, còn yếu, nếu mà chỉ nghĩ đến chuyện đánh nhau, thì chẳng qua là chúng ta xuất khẩu xương máu. Trước khi phải sử dụng đến vũ khí hiện đại thì mình phải dùng đến ngoại giao. Trong thế yếu hiện nay của Việt Nam, mình chỉ có thể len lõi giữa những xung đột của các cường quốc, vì quyền lợi của họ có khi là mâu thuẫn nhau, phải tìm cách lái cho họ đi đến chỗ phải bảo vệ chúng ta trên các diễn đàn ngoại giao.

RFI : Tránh một cuộc chiến tranh với Trung Quốc có vẻ cũng là đường lới hiện nay của các nhà lãnh đạo Hà Nội, phải làm hòa với Trung Quốc sau vụ khủng hoảng giàn khoan Hải Dương 981 . Nhưng đồng thời Việt Nam cũng đang cố tranh thủ thêm sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Trong cuốn hồi ký, Giáo sư gọi đó là chính sách đu dây giữa các cường quốc. Nhưng chính sách có nguy cơ sẽ đưa Việt Nam vào thế kẹt ?

Giáo sư Vũ Quốc Thúc : Trong vụ xung đột về giàn khoan, kết quả là Trung Quốc cũng đã rút giàn khoan đi. Cho nên tôi quan niệm thế này : phải luôn phân biệt chiến lược với chiến thuật. Về mặt chiến lược, phải nghĩ đến quyền lợi lâu dài của dân tộc, còn về mặt chiến thuật thì có khi ta phải đi đến một đồng minh này, có khi phải đi với một đồng minh khác.

Chiến lược lâu dài đối với tôi thì không có chuyện lựa chọn giữa Hoa Kỳ hay Trung Quốc, mà chỉ có con đường duy nhất là chọn lựa Việt Nam, tranh đấu cho Việt Nam. Cái gì có lợi cho Việt Nam, thì tôi làm, cái gì ngược lại với quyền lợi trường tồn của Việt Nam, thì tôi chống.

Người ta cứ luôn nói đến chính sách đu dây, nhưng bây giờ tôi nghĩ đến một hình ảnh khác, đó là cái bản lề. Nhìn bản đồ Việt Nam, tôi thấy nó chẳng khác chi bản lề, giúp cho cánh cửa, khi mở, khi đóng, khi quay về tai trái, khi quay về tay mặt. 

Cho tới nay, cái bản lề ấy chỉ đóng vai trò thụ động, thì tại sao ta không tìm cách điều khiển nó? Mình phải làm chủ cái bản lề ấy để mà ngăn chận, không cho bên nào lấn sang bên kia cả.

Nói cách khác, mình phải có một chính sách dân tộc rõ ràng. Phải có một lực lượng, hay một phần lực lượng để tự vệ đã, rồi mới có thể sử dụng cái vị trí bản lế ấy. Các lực lượng quốc tế nào định sử dụng ta như quân cờ thì lúc đó họ sẽ e dè. Lúc đó, chính là ta đã chọn lựa dân tộc.

RFI: Xin cám ơn Giáo sư Vũ Quốc Thúc.

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Sunday, December 14, 2014

Thượng Viện Canada mở lại hồ sơ Hiệp Định Paris 1973



XIN MỜI ĐỌC " MỘT TIN VUI GIỮA GIỜ TUYỆT VỌNG !!! "
 

               
Sujet:
Fw: Fwd: Thượng Viện Canada mở lại hồ sơ Hiệp Định Paris 1973
Date :
Sat, 13 Dec 2014 12:53:01 +0100 

Expéditeur: xuanmai lynh
Date: 11 décembre 2014 22:19:19 UTC+1
<Objet: Rép : Thượng Viện Canada mở lại hồ sơ Hiệp Định Paris 1973                

                 
              

THƯỢNG VIỆN CANADA MỞ HỘI NGHỊ VỀ DÙNG HÒA ƯỚC PARIS 1973 GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG

Vi Anh -- CANADA- 8.12.2014 -Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam Cộng Hoà, sắp qua năm thứ 40 ngày Việt Nam Cộng Hoà bị CS Bắc Viết đánh chiếm, Canada, một trong mười mấy nước kỳ Hoà Ước Paris 1973, Thượng Viện Canada mở hội nghị về một giải pháp dùng Hoà Ước Paris 1973 giải quyết tranh chấp Biển Đông, trả lại công bằng cho VNCH, cho dân VN được quyền tự quyết trong cuộc bầu cử tự do có Liên Hiệp Quốc giám sát, đúng tinh thần pháp chế quốc tế và tinh thần cam kết trong hoà ước.
Sư kiện lịch sử này là do cuộc vận động kiên nhẫn và và điều hợp khéo léo của Thượng Nghị sĩ Ngô thanh Hải, một người Việt tỵ nạn CS ở Canada được công cử làm Thượng Nghị sĩ của Canada. Hội nghị này được Thượng Viện Canada bảo trợ, họp ngay trong toà nhà Thượng Viện của Quốc Hội Lưỡng Viện Canada, khu Parliament Hill, Center Block, Room 160-S, suốt ngày Thứ Năm 5 tháng 12, năm 2014.

Về phía Thượng Viện Canada có TNS Ngô Thanh Hải, TNS Lang, Chủ Tich Uỷ ban Quốc Phòng và An Ninh, TNS White Chủ Tịch UB Nội Qui, Thủ Tục và Năng Quyền Quốc Hội, TNS Andeychuk, Chủ Tịch UB Ngoại vụ và Ngoại Thương, Ngài Tim Uppal, Bộ Trưởng Bộ Đa Văn hoá của chánh quyền liên bang Canada, Ngài Deepak Obhrai, Bộ Trưởng Ngoại Vụ và Nhân quyền, Ngài David W. Kilgour, Cựu Chủ Tich Viện Dân biểu và Bộ Trưởng đặc trách Á châu và Thái bình dương của chánh quyền Canada.

Phía Việt Nam Cộng hoà có phái đoàn quân dân cán chính VNCH đến từ các cộng đồng người Canada gốc Việt trong nước Canada, các miền lớn Montreal, Toronto, Ottawa trên 20 người, trong đó có chủ tich cộng động, nhân sĩ trí thức, chuyên gia sáu bảy luật sư đang hành nghề và luật gia Canada chánh tông và Canada gốc Việt, tiêu biểu như Luật sư Lâm chấn Thọ, Ls Trịnh quốc Toàn, luật gia Benoit Bénéteau, David Lamenti, Tiến sĩ Bá ngọc Đào và Ts Nguyễn thế Bình.

Phái đoàn quân dân, cán chính Việt Nam Cộng Hoà đến từ Mỹ có 8 người Giáo sư Nguyễn ngoc Bích, Ts Binh thế Nguyễn đến từ Miển Đông Mỹ, nhà báo Vi Anh, Cựu dân biểu VNCH, Nhạc sĩ Hồ văn Sinh, thường vụ của VNCF Foundation dến từ Miền Tây Mỹ.
Chương trình làm việc, sau phần nghi thức, giới thiệu bắt đầu hội nghi với phát biểu của TNS Ngô thanh Hải của Thương Viện Canada. Hình thức làm việc có tính liên họp giữa điều trần và chất vấn. Phái đoàn VNCH Người Việt hải ngoại điều trần, đề nghị quí vị nghị sĩ và viên chức chất vấn và giải thích liên quan đến viêc dùng Hoà Ước Paris để đem lại công bằng, chân lý cho VNCH bị TC đánh lấy đảo năm 1974 và CS Bắc Việt dành lấy VNCH ở Miển Nam và giải quyết những tranh chấp biển đảo đang xảy ra ở Á châu Thái bình dương. Trường hợp này đã có tiền lệ, thành viên Hoà Ước Paris 1973 đã triệu tập lại lên án CS Bắc Việt đã đánh chiếm Campuchia, bị các nước ký hiệp ươc này trừng phạt cấm vận và buộc phải rút quân về VN.

Những diễn giả chánh có Gs Nguyễn ngọc Bích, Ls Lâm chấn Thọ, Nữ Ts Bình thế Nguyễn đọc bức thư của Ô Lê trọng Quát, Cựu Bộ Trưởng VNCH, Cưu Chủ Tich Uỷ ban Nội vụ và Quốc Phòng Hạ Viện, VNCH. Trong điều trần, chất vấn và hội luận có hai vấn đề chánh bàn luận rất gay go, sâu sắc nhưng đa số quí vị thượng nghi sĩ chuyên trách về ngoại giao Canada, qui vị luật gia và luật sư gốc Việt có mặt có chung nhận định đều về những điểm cốt lõi sau. Chiếu hiến chương Liên hiệp Quốc, VNCH còn tồn tại trên phương diện pháp lý. Hiệp ước Paris 1973 vẫn còn giá trị, chưa có nước nào chánh thức rút ra. Các nước đã ký hãy còn trách nhiệm vói8 chánh quyền và nhân dân VNCH. TC và CS Bắc Việt tiền thân của chế dộ CSVN bây giờ đã vi phạm thô bạo hiễp ước Hoà Bình Paris 1973: TC đánh chiếm Hoàng sa của VNCH năm 1974, CS Bắc Việt đánh chiếm VNCH năm 1975.

Nhà báo Vi Anh, Cựu Dân biểu VNCH đúc kết, nói suốt gần hai một buổi thảo luận nhưng vị có thẫm quyền của Canada và những viên chức VNCH và đại diện cộng đồng, đoàn thế dân chính, chánh đảng và nhân sĩ, trí thức có mặt đã trình bày: rõ ràng TC, CS Bắc Việt đã vi phạm Hiệp ước và Đinh Ước Hoà Đàm 1973, dùng lực lương võ trang đánh chiếm lấy Hoàng sa của VNCH, chiếm lãnh thổ VNCH một cách thô bạo. Canada là một nước có ký trong hiệp ước. Vì tinh thần thượng tôn quốc tế công pháp, vì trách nhiệm và nghĩa vụ cam kết ngoại giao, vì công lý cho nhân dân VN, vì chủ quyền chánh đáng của quốc gia dân tộc VN, xin chủ toạ đoàn cho biểu quyết. Để có một văn kiện quan trọng, và long trọng trên phương diện luật pháp và thực tế để tạo một tiến trình. Hầu chánh quyển Canada có chứng cớ đặt vấn đề với các nước đã ký trong hiệp ước năm 1973. Và để người Việt hải ngoại chứng lý tiếp tục vận động các nước khác đã ký trong Hiệp ước.

TNS Hải chủ toạ cho ngưng thảo luận và biểu quyết đồng ý hay không đồng ý trên nguyên tắc dự thảo Nghị Quyết do Ls Thọ và một số luật gia của Canada đúc kết nguyện vọng của hội nghi đã trình bày. Cả trăm vị trong chánh quyền Canada, VNCH, và quí vị có mặt trong hội nghị đồng ý chấp thuận dự thảo trên nguyên tắc, với đa số tuyệt tuyệt đối. Chủ Toạ TNS Hải còn thận trọng cho biểu quyết ngược lại, ai không đồng ý xin giơ tay: không ai giơ tay cả. Coi như tuyệt đối đồng thuận thông qua dự thảo Nghị Quyết.

Càng thận trong hơn, TNS Hải đề nghị hội trường cử ra 5 vị nhuận sách bản văn dự thảo. Hội nghi đề cử TNS Hải, Gs Bích, Ls Thọ, DB Vi Anh, Nữ Ts Bình nhuận sắc dư thảo Nghị Quyết của hội nghị để TNS Hải với tư cách là một người Việt hải ngoại và thương nghị sĩ của Canada trình bày với Thương Viện, chuyển trình Hạ Viên và những chức trách liên quan trong chánh quyền Canada- càng sớm càng tốt.

Sau đây là dự thảo đã dược 100% hội nghị biểu quyết thông qua, bản gốc bằng tiếng Anh, xin tạm dịch ra tiếng Việt như sau: “Nên những thành phần tham dự yêu cầu và kêu gọi chánh quyền Canada, thông qua Bộ Trưởng Ngoại Giao, tham khảo với các nước đã ký Định ước của Hoà Ước Paris để tìm một giải pháp để nhân dân Việt Nam Cộng hoà ở Miền Nam VN có thể thực hiện quyền tự quyết qua bầu cử tự do dưới sự giám sát của Liên hiệp Quốc; hay một giải pháp khác mà chánh quyền các nước đã ký xem là cần thiết, để triệu tập một hội nghị quốc tế về VN trong đó có mặt của các đại diện của các nước đã ký Đinh Ước, thể theo Điều VII (b) của Định Ước, để giải quyết nhưng tranh chấp Biển Nam Trung Hoa, bằng cách mời thêm một số nước có liên quan tham dư 
hội nghị này.”

Ngày làm việc được chấm dứt bằng một cuộc viếng thăm Quốc Hội lưỡng viện của Canada, do các phu tá và công cán uỷ viên của văn phòng TNS Ngô thanh Hải hướng dẫn. Và khoảng 8 giờ tất cả tế tựu dến Việt Nam Restaurant của Ottawa dự bữa cơm thân mật do TNS Hải khoản đãi. Còn bữa ăn trưa làm việc khi hôi nghị do Thượng Viện mời. Và đêm trước phái đoàn VN từ các công đồng Việt ở Canada và Mỹ đến thì Tiến sĩ Lê duy Cấn của Cộng đồng Ottawa khoản đãi và một số văn nghệ sĩ giúp vui chào mừng VNCH và đồng bào các nơi đến lo việc nước, chuyện dân VNCH.


Vi Anh - Việt Báo .



__._,_.___

Posted by: <vneagle_


Friday, December 12, 2014

Lật chồng báo cũ: Về nguồn gốc tên VC nằm vùng ỡ Hoa Kỳ




Lật chồng báo cũ: Về nguồn gốc tên VC nằm vùng ỡ Hoa Kỳ

Inline image 2 

“Sáu Hồ Hởi” aka “Sáu Góp Gió”  
Dương Tiến Đình.
                                                         
LGT: Ngay sau khi chương trình H. O. ra đời, nhà văn Dương Tiến Đình đã cho ra mắt một tập truyện mang tên là “Sau Cuộc Đổi Đời” để cảnh báo dư luận hải ngoại về việc các cán bộ Công an, tình báo VC đã chui vào chương trình này để được đưa ra hải ngoại  hoạt động. Câu chuyện về anh “Sáu Hồ Hởi” là câu chuyện đầu tiên nói về một nhân vật “nổi cộm” trong số 12 câu chuyện đã được nhà văn Dương Tiến Đình kể lại trong tập truyện này.
Khi vừa mới chân ướt chân ráo đến Mỹ theo diện H.O. –mà là H.O.#1 mới ngon lành- anh “Sáu Hồ Hởi” đã cho phát hành tờ Góp Gió với hàng ngàn ấn bản phát không, mail đến tận nhà những người Việt khắp nơi trên thế giới –chi ra một khoản tiền rất lớn-, để làm một công việc duy nhất là bôi đen bôi đỏ tất cả những khuôn mặt của người Việt Quốc Gia đang hoạt động tích cực tại hải ngoại. Trong số những nhân vật được anh “Sáu Hồ Hởi” đưa lên bảng phong thần kể cả GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, Tướng Lê Minh Đảo, qúy sư, quý cha, v.v… và nay thì đến lượt BK Nguyễn Hữu Luyện. Để khỏi mất thì gìờ bạn đọc, xin mời quý vị cùng chúng tôi nghe nhà văn Dương Tiến Đình kể chuyện về nhân vật này. HHN.

 Hưng nằm vùi trên ô đất chà láng lót tấm áo đi mưa “pon-cho” nhà binh. Từ hôm được phép thăm nuôi tới giờ anh ốm đi thấy rõ. Trông anh như bị cảm mạo thương hàn, nhưng khi bác sĩ khám thì chẳng thấy bệnh hoạn gì ráo. Mặc dù vậy, anh cũng khai bệnh nằm nhà, chẳng chịu theo anh em đi lao động như mọi ngày. Anh Tổ Trưởng biết, nhưng cố lờ đi không báo cáo cán bộ quản giáo. Khác hẵn với những lần thăm nuôi trước, mỗi khi gặp thân nhân về, mặt anh lộ vẽ hân hoan, nhưng lần này trông anh tiều tụy thấy rõ. Hưng biếng ăn, thần sắc mất hết vẻ linh hoạt vui nhộn. Điều lạ lùng nhất là anh chẳng nhận một món quà thăm nuôi nào cả. Ở chung một trại thì chẳng có gì bí mật hết. Những người chung quanh bàn ra tán vào càng làm cho Hưng buồn tủi thêm. Thật khốn nạn cho người vợ hư thân  mất nết, đã thối tha như vậy còn dám đem cái bụng mang dạ chửa đến bỉ mặt chàng. Hưng đâu phải hạng người chịu nhục vì miếng ăn, chẳng biết điều sĩ diện là gì. Thà nhịn đói nhịn khát, chứ đời nào anh thèm nhìn người đàn bà bỉ ổi đó là vợ nữa. Mặc cho loa phóng thanh gọi tên anh năm lần bảy lượt, mặc cho vệ binh tìm kiếm áp giải anh ra tận khu thăm nuôi, mặc cho nước mắt cá sấu tuôn đầm đìa trên gò má mụ, Hưng vẫn lạnh lùng ngoảnh mặt làm ngơ, quay lưng trở vào trại, cố tình không nghe tiếng nấc nghẹn não nùng tuyệt vọng của vợ anh đang réo gọi sau lưng. 

Trong khi mọi người thương hại cho Hưng và lên án người đàn bà thối tha tội lỗi, chỉ có một mình anh Sáu hồ hởi là người luôn luôn bào chữa, bênh vực. Anh lý luận:
-         Chú em chưa phải là người trượng phu. Đàn ông cần phải có một chút khoan dung độ lượng mới chứng tỏ là đàn ông. Anh hỏi thật chú em nhé, chú em có để lại cho thiếm chút ít vốn liếng gì trước khi đi trình diện học tập không?
Hưng lắc đầu chán nản:
-         Tháng lương nào xài tới mười tây cũng phải đi vay nợ thì lấy cái chi để dành bây giờ?
-         Vậy thì lại càng thông cảm cho thiếm. Ai ở trong hoàn cảnh này cũng phải vậy thôi. Thử hỏi vừa thăm chồng, vừa nuôi con, người đàn bà tay yếu chân mềm, lại không có chút vốn liếng, không lẽ nằm chờ chết đói? Thiếm phải xoay sở để sống chứ.
-         Nhưng tụi em ở chung với ông nội bà nội. Hưng không hẵn đồng ý.
-         Ở thì đỡ tốn tiền nhà nhưng cũng phải lo cái ăn nữa chứ. Thiếm chết một mình cũng đành đi, nhưng còn chồng, còn con, thiếm phải gánh vác cho trọn tình, trọn nghĩa. Ở thế chẳng đặng đừng, thiếm có liều nhắm mắt đưa chân, chịu tiếng nhục để nuôi chồng nuôi con thì cũng đáng thương thôi. Chú đừng nên oán trách thiếm nữa mà tội nghiệp. 
Hưng nghe anh Sáu khuyên lơn mãi cũng bùi tai, buồn thì có buồn nhưng không còn giận dỗi chán đời như trước nữa. Anh Sáu có cái biệt danh là “Sáu Hồ Hởi”. Trong trại này tiếng tăm anh đã nổi như cồn. Anh là người chững chạc, thẳng thắn, cởi mở và luôn luôn lạc quan. Chưa bao giờ thấy anh Sáu buồn rầu lo lắng. Anh quan niệm chính nghĩa là lẽ tất thắng. Anh thường mang niềm tin và hy vọng đến cho người chung quanh, cho nên khi thấy ai đau khổ, anh liền tìm cách an ủi vỗ về. 

Trong khi mọi người tuyệt vọng chán nản thì anh vẫn tin tưởng vào ngày mai tươi sang. Anh tổng hợp, phân tích một cách sắc bén tình hình quốc tế, quốc nội với lập trường vững chắc. Anh không bao giờ buộc tội Mỹ bỏ rơi chúng ta. Anh nói đấy chỉ là một chiến lược giai đoạn, “bất chiến tự nhiên thành” bằng cách dùng “miếng thịt bò tẩm thuốc độc để tiêu diệt con cọp hung tàn”. Anh Sáu ví miền Nam như miếng thịt bò, miền Bắc nói riêng và cọng sản nói chung là con cọp. Anh nói ai cũng bùi tai và sướng gan, sướng ruột vô cùng. Thỉnh thoảng anh đưa vào một vài dẫn chứng, chẳng hạn như khi ngoại trưởng Mỹ Kissinger nghe Việt Nam Cộng Hoà buông súng đầu hàng vô điều kiện thì vui mừng, vì biết ngày tàn của Cộng Sản đã gần kề. Hoặc giả anh Sáu mang những câu sấm của Trạng Trình để lý giải theo phương pháp của tâm linh.

Cứ mỗi lần được phép thăm nuôi, những tin tức sôi động từ thế giới bên ngoài lại dồn dập đổ vào theo con đường rỉ tai. Mỗi người bàn luận, diễn giải theo một lối “Mao Tôn Cương” khác nhau. Có lẽ hấp dẫn và phấn khởi nhất là nguồn tin từ một số người ở Phương Lâm Định Quán, di rẩy sáng sớm bắt gặp được vị trí đóng quân vừa bỏ đi của một đơn vị kháng chiến, lò than còn nóng hổi, thức ăn đồ hộp của quân đội Mỹ và bom táo còn tươi rói rơi rớt chung quanh. Khi nghe xong anh Sáu tỏ vẻ đăm chiêu suy nghĩ:
-         Chắc chắn có lực lượng của ta đang hoạt động trong vùng này.
-         Nhưng mà lực lượng của ai mới được chứ?
-         Có thể là lực lượng Fulro? Khi người khác đưa ra giả thuyết, anh Sáu tỏ vẻ đồng tình:
-         Dám lắm! Nghe nói ngày trước mặc dù chống Quốc Gia, nhưng họ cũng không chịu hợp tác với Cộng Sản, cho nên Mỹ đưa qua biên giới Lào huấn luyện và trang bị quân sự từ đầu tới chân bằng vũ khí tối tân.
-         Không lẽ họ hoạt động một mình? Một anh bạn trẻ gợi ý.
-         Họ có thể đang liên kết với tàn quân của ta chạy vào rừng, chẳng hạn như cánh quân Vùng II chiến thuật, họ đâu có trình diện hết khi mất Pleiku? Họ vẫn lẩn trốn trong rừng. Riêng tại vùng IV, đâu có mấy đơn vị chịu buông súng đầu hàng. Họ kéo về tử thủ tại rừng tràm Đồng Tháp Mười, V.C. giờ này cũng chưa dám mò vô tới đó. Anh Sáu bàn tiếp tới đây, có người khoái chí vổ tay nhưng có người vẫn phân vân.
-         Nghe nói Tướng Nguyễn Khoa Nam tự sát tại cột cờ rồi?
Anh Sáu lắc đầu:
-         Làm gì có chuyện đó! Hôm đi trình diện học tập, anh gặp Đại úy Chánh văn phòng của ông nói người chết không phải ông. Ông đánh lừa mấy thằng V.C. đó mà.
Nghe anh Sáu khẳng định như vậy ai lại không tin:
-         Nếu đúng thì V.C. cũng khó ăn đó!
Anh Sáu tuyên bố tiếp:
-         Ăn làm sao được, tụi chúng đang thương lượng với Mỹ để bán tù cải tạo, mấy chú có biết không?
Nghe tin hấp dẫn mọi người nhao nhao lên:
-         Có thiệt vậy không anh Sáu?
Anh Sáu đưa ngón tay lên miệng ra dấu phải thận trọng, rồi tiết lộ:
-         Sao không thiệt! Mỗi đầu người là mười ngàn đô la. Họ lãnh chúng ta ra và đưa đi Mỹ ngay.
-         Còn gia đìnhvợ con thì sao? Có người thắc mắc.
-         Thì đi hết, chứ để lại ai nuôi!   
Ôi chao! Sung sướng hồ hởi biết chừng nào! Một ngày nào đó được ra khỏi đây, rồi ung dung bước lên chiếc máy bay “Boeing” đang chực sẵn tại phi trường Tân Sơn Nhất, vẫy tay chào tạm biệt như một vị anh hùng ra đi tìm đường cứu nước và hẹn ngày tái ngộ khi đã sạch bóng quân thù. Càng nghĩ càng phấn khởi. Mọi người tự động giải tán. Ngay sau nguồn tin nóng bỏng đó, cả trại thi nhau trau dồi Anh ngữ.  
Đùng một buổi sáng cuối tuần, mọi người được lệnh xét nhà đột xuất. Vệ binh và trật tự lật từng mảnh chiếu, từng kẻ đất để tìm bài học tiếng Anh. Những người có tang vật bị đưa vào phòng kỷ luật về tội “nín thở qua sông”, đầu óc còn tư tưởng “ôm chân đế quốc”. Mặc dù là người phao tin đồn thất thiệt, nhưng khi xet nhà, anh “Sáu Hồ Hởi”chẳng có một mảnh giấy vụn tiếng Anh nào làm tang chứng, hơn nữa chẳng có người nào nhẫn tâm khai cho anh, nên anh vẫn tự do ở ngoài. Sau khi được thả ra, những người bị kết tội được bố trí sang các đội khác. 

Sau biến cố “học Anh văn” vừa rồi thì tình hình trong trại trở nên lắng dịu với những sinh hoạt bình thường, nếu không có lệnh quản giáo cho làm vệ sinh sạch sẽ doanh trại để đón tiếp phái đoàn Cao Ủy Liên Hiệp Quốc đến tham quan. Nghe nói phái đoàn này, gồm có thành viên của Uỷ Ban Nhân Quyền (Human Rights) và Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International). Bộ tham mưu của anh Sáu bắt đầu làm việc. Họ tiên liệu, ngày đó cả trại sẽ cho ăn cơm nguyên với cá thịt đàng hoàng. Cải tạo viên sẽ nghỉ lao động và mặc quần áo tươm tất sạch sẽ vừa được phát mấy ngày trước. Chắc chắn Ban Chỉ Huy Trại phải làm như thế để đánh lừa dư luận thế giới. Muốn cho người ngoài thấy được bộ mặt thật, chúng ta chỉ còn cách là chuẩn bị một số tư liệu để trình bày khi có dịp tiếp xúc với phái đoàn. Tất cả mọi người có mặt đều đồng ý lời đề nghị của anh Sáu là hợp tình hợp lý. Họ cạn ly nước trà nấu bằng “hà thủ ô” rồi nhà ai nấy về.  

Qua ngày hôm sau thì phái đoàn tới. Trên ngực mỗi thành viên có mang bảng tên và chức vụ để chứng tỏ họ đến đây để làm việc nghiêm túc, chứ không phải đi tham quan du lịch. Trái với dự liệu của mọi người, Trại vẫn sinh hoạt rất bình thường. Bửa cơm vẫn là bo bo độn với khoai sắn. Không thấy mùi thịt cá, chỉ trừ canh rau nấu với nước muối mặn. Mỗi người vẫn đi lao động như mọi ngày với quần áo vá víu rách tả tơi. Phái đoàn đang đi ngừng lại để chụp hình, nhưng bị vệ binh tịch thu máy, kéo phim ra phá hủy. Một vài người trong phái đoàn lên tiếng phản đối, nhưng chẳng ai quan tâm. Đến chiều tối, sau khi lao động trở về, mọi người được lệnh tập trung tại sân cờ để sinh hoạt với phái đoàn quốc tế. Anh em mừng thầm, đây là cơ hội ngàn năm một thuở để đạo đạt nguyện vọng và nói lên sự thật. Có nhiều người mạnh dạn bước ra phát biểu ý kiến. Họ tố cáo với phái đoàn chế độ lao tù hà khắc vô nhân đạo. Nhất là tình trạng sức khoẻ, khi cải tạo viên đau ốm bệnh hoạn không được cung cấp thuốc men. Bệnh dịch tả, dịch hạch hoành hành, nhiều người bị chết vì không được chữa trị. Khi bị thương tích, tai nạn, không được chở vào bệnh viện, mặc dù rất gần thành phố. Khi cần, y sĩ thiếu dụng cụ y khoa, thuốc tê và trụ sinh mổ nạn nhân còn tĩnh như thiến một con heo hoặc một con chó, không cần biết họ đau đớn và hậu quả ra sao.

Phái đoàn ghi nhận tất cả tình trạng và hứa sẽ phúc trình trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc sáp nhóm họp nay mai.  
Sau khi giải tán, mọi người đều hồ hởi phấn khởi như đã trút hết tâm tư nguyện vọng của mình. Họ nghĩ rằng không sớm thì chầy, thế nào tiếng khóc than cũng thấu tới tai trời. Nhưng họ lầm, chỉ ngay khuya hôm đó, những người đã can đảm lên án tội ác dã man là những kẻ bị chuyển trại vội vàng và bí mật. Từ đó, chẳng ai nghe tung tích những anh em này hiện đang ở đâu, sống chết như thế nào?
Sau này, người ta mới té ngữa ra rằng, trong những năm đó chẳng có phái đoàn Cao Ủy Liên Hiệp Quốc nào tới Việt Nam cả.
 Những đại biểu đó chỉ là những người anh em Liên Sô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Cu Ba ở trong hệ thống XHCN.   
*
 Gần một tháng sau ngày Hưng từ chối gặp mặt vợ con tại nhà thăm nuôi, hôm nay anh Sáu lại đến láng của Hưng. Anh có nhiệm vụ đi phát thư hàng ngày cho anh em trong đội. Đi ngang Hưng, anh dừng lại và giao cho chàng một lá thư. Chưa nhìn qua nét chũ, nhưng anh cũng đã đoán được thư của ai rồi. Hưng định xé vụn bỏ vào thùng rác, nhưng anh Sáu ra tay cản lại:
-         Chú em làm vậy là sai! Phải mở ra đọc, rồi sau đó bỏ đi cũng đâu có muộn!
Nghe anh Sáu can gián hợp lý, Hưng cũng nễ tình xé thư ra xem. Khi đó anh mới biết mình lầm. Không phải là thư của vợ anh, nhưng chính là của mẹ anh gửi cho anh. Thư viết thật dài, thật thống thiết. Hưng vừa đọc, vừa ăn năn hối hận. Hai hàng nước mắt cứ từ từ tuôn rơi. Anh nghĩ mình thật là hồ đồ, đã vội kết án người vợ ngoan hiền chung thủy. Thì ra, vợ chàng chẳng có bầu bì với ai cả, chẳng qua đó chỉ là mưu kế của nàng để cố tình tiếp tế cho anh thêm bột gạo, bột bích chi vượt quá tiêu chuẩn hai ký lô của trại đề ra. Sau cơn mưa trời lại nắng, Hưng cười tươi tắn:
-         Bà này cứ làm em lên ruột kiểu này vài lần, chắc em điên luôn!
Anh Sáu lên giọng:
-         Thì anh đã nói với chú em rồi, đừng vội kết tội người khác bằng bản năng tình cảm tưởng tượng.
Hưng tự thú nhận:
-         Cũng may nhờ anh Sáu khuyên lơn, chứ không em muốn cắn lưỡi chết cho rồi. Nghĩ đi nghĩ lại nhục nhã quá chừng.
-         Chút xíu nữa là chết oan mạng rồi thấy chưa! Anh Sáu cười thông cảm.
-         Chắc cái này cũng là nghiệp quả đấy anh Sáu ạ!
-         Bộ ngày trước chú thường hay gạt thiếm lắm, phải vậy không? Anh Sáu bông đùa.
-         Quả thật đó anh Sáu! Nhưng vì nghề nghiệp đành phải dấu, chứ em có mèo mỡ gì đâu. Hưng phân bua.
-         Trước chú làm ngành gì? Anh Sáu thắc mắc.
Hưng liếc quanh một vòng để chắc chán không có ai có thể nghe được, anh bèn xuống giọng:
-         Với anh, em mới nói thiệt. Hồi đó, em thuộc Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo. Ba má và vợ con em cứ thấy em đi cà nhổng, cằn nhằn em tối ngày, nhưng em đâu có dám nói ra, vì đó là tiêu lệnh “phòng gian bảo mật” tuyệt đối mà!
-         Vậy có chi lạ đâu?
-         Có chứ. Em kể anh nghe nhưng nhớ đừng nói lại với ai, cán bộ mà nghe được là khổ em đó. Cái nầy em vẫn dấu kín đó.
-         Nếu như chú không tin anh thì thôi, anh không ép! Anh Sáu hờn mát. Hưng vội phân trần:
-         Ý em không phải vậy! Rồi Hưng lên giọng kể tiếp. Hồi mới ra trường, em được lệnh đến trình diện Trưởng lưới. Em tưởng là ông ta có văn phòng trụ sở đàng hoàng. Ai dè một địa chỉ nằm trong hẽm. Anh biết nhà ai không? Nhà của ông già vợ em mới chết chứ! Ông trưởng lưới mướn chỗ đó làm trung tâm hành quân. Sau khi trình diện, ông gửi em về chỉ huy một cụm ở bên quận Tư, nhưng ngày nào cũng phải đi qua đi lại, báo cáo tin tức và làm việc với ổng. Ông già vợ em thấy em suốt ngày cứ giao du thân mật với nhóm người này, trông có vẻ chẳng lương thiện tý nào cả, cho nên ông muốn đuổi khéo bằng cách tăng tiền nhà một cách vô lý. Em ở thế khó xử, năn nỉ ông, ông càng giận thêm. Ông báo cảnh sát bao vây căn nhà, bắt trọn ổ đang đánh mật mã. Ông nghi là V.C. nhưng thực ra tụi em đang làm việc. Khi hốt về Nha Cảnh Sát, tụi em suýt bị ăn đòn nếu Trung Ương không ra tay can thiệp kịp thời. Hết ông già vợ tới phiên vợ em lên lớp, cằn nhằn cửi nhửi tối ngày. Bà ấy trách em lo chơi bời lêu lổngvà hăm dọa xách gói về nhà nếu cứ đào ngũ mãi. Em chỉ biết cắn răng chịu đựng, chẳng dám thổ lộ với ai hết vì sợ bể đường dây. Sau ngày 30-4 em đi trình diện học tập, bà xã em mới té ngữa ra và thương em nhiều hơn.  

Anh Sáu cười thích thú:
-         Câu chuyện cũng ly kỳ đó! Chú thận trọng là phải. Tụi chúng mà biết được thì chú không còn ở trong trại này nữa đâu.  
Thật quả như vậy, chỉ nữa tháng sau, Hưng là một trong số người được đưa đi Bắc, gồm có các thành phần trốn học tập, cảnh sát và an ninh tình báo. Anh Sáu Hồ Hởi khi hay tin chỉ biết đưa tay than “trời” mà thôi.  

Thời gian thấm thoắt trôi nhanh, thế mà đã ăn mấy cái Tết trong trại. Vào một ngày đẹp trời, từ tờ mờ sáng, hai mươi sáu ngàn người được lệnh há mồm để nha sĩ khám răng. Mặc dù đây là buổi kiểm tra sức khoẻ, nhưng ngoài các nha sĩ cải tạo, còn thêm một toán công an thành đội ngồi chung để quan sát công việc. Mọi người tỏ vẻ lo âu, không biết chuyện gì xảy ra đây mà không khí coi mòi nghiêm trọng. Người thì được khuyên về súc nước muối, người thì đề nghị gặp lại nha sĩ để nhổ răng sâu. Không ai được cấp cho viên thuốc nào cả.

Khi đến phiên anh Sáu Hồ Hởi, các nha sĩ khám đi khám lại rất cẩn thận. Họ đếm tới đếm lui, rồi đưa qua mấy công an ngồi kế cận kiểm soát lần chót. Khi xác nhận là đúng, họ gật đầu cho toán vệ binh đến còng tay anh Sáu, dẫn đi trước nỗi bàng hoàng ngơ ngác của mọi người đang ngồi chờ đợi. Họ không biết người ta dẫn anh đi đâu. Họ chỉ biết thương hại cho người anh lớn tuổi vui nhộn, cởi mở và luôn luôn lạc quan.
Sau biến cố, họ nghĩ anh Sáu đã bị ăng-ten tố cáo. Anh đang gặp dữ hơn lành. Mọi người xầm xì bàn tán, suy diễn tưởng tượng. Có người còn đoán anh là một tình báo CIA gài lại để thu nhặt tin tức, nhưng bị bại lộ. Họ gán thêm cho anh ám số này, mật mả nọ để câu chuyện về anh trở thành một vị anh hùng bất tử. Họ đâu ngờ rằng, vài tháng sau, tin tức cũng đến từ nhà thăm nuôi, tất cả huyền thoại về anh đều bị sụp đổ, khi biết được rằng anh chỉ là một cán bộ gộc của V.C. gài vào để theo dỏi hành tung và hoạt động của cải tạo viên. Hèn gì những người thân cận với anh đều bị lâm đại nạn cả.  
Sau ngày bị áp giải ra khỏi trại, anh Sáu Hồ Hởi đã được bố trí chức vụ Bí Thư Quận Ủy của một quận lớn nhất tại Thành Phố Hồ Chí Minh và biết đâu anh đã đến định cư tại Mỹ theo diện H.O. nào đó?
 Dương Tiến Đình
(Sau Cuộc Đổi Đời)

Chủ Nhiệm Tờ Truyền Đơn “Góp Gió" Tại Seattle , Sáu Hồ Hởi (Võ Văn Sáu), Bị Bạn Đồng Tù Nhận Diện Là Cán Bộ Công An Việt Cộng.

LGT: Trong guồng máy cai trị của CS, hai ngành công an và thương nghiệp là hai ngành xương sống của chế độ. Một bộ phận nắm giữ phần trị an, thực hiện vô sản chuyên chính còn bộ phận kia thì dùng bao tử , thực hiện nghiêm nhặt chế độ hộ khẩu để cai trị con người. Hai ngành này ngoại trừ những đảng viên cốt cán-nghĩa là những thành phần tin cậy nhất của chế độ -kỳ dư không ai được bố trí vào công tác tại đây.

Đài phát thanh Sài Gòn (SRBS) trong cuộc phỏng vấn một Nhân Chứng Sống của Trại Tù Suối Máu, họa sĩ Nguyễn Quân, đã mang ra trình diện trước đồng bào hai khuôn mặt khá “nổi danh” tại Seattle -nổi danh về thành tích đánh phá và bôi lọ người Việt Quốc Gia- đó là vợ chồng Võ Văn Sáu : Chồng là cán bộ Công An, vợ là Cửa hàng trưởng Thương Nghiệp Thành Phố Sài Gòn!  

      Họa sĩ Nguyễn Quân (NQ) tốt nghiệp trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định năm 1968 và sau đó động viên vào Trường Võ Bị Thủ Đức Khoá 6/68. Sau khi mãn khóa anh về tùng sự tại Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị và rồi được đưa đi học khóa 11 Đại Đội Phó CTCT . Đơn vị sau cùng của anh là Tiểu Đoàn 50 CTCT. Sau 1975 anh bị bắt đi “học tập cải tạo” và đã trải qua hầu hết các trại tù chính ở miền Nam như Trảng Lớn, Long Giao, Suối Máu...
            Anh đến Mỹ theo diện HO 6 vào năm 1991, và hiện đang sinh sống cùng gia đình tại Chicago, Illinois . Trong cuộc phỏng vấn trực tiếp truyền thanh của đài Sài Gòn, anh đã kể lại những ngày sống chung trong tù với Võ Văn Sáu và cuộc đụng độ ở ngoài đời khi Võ Văn Sáu là một cán bộ công an, còn anh là một tù nhân cải tạo vừa mới được phóng thích. Chúng tôi lược bỏ phần xã giao và giới thiệu ở đoạn đầu để trích đăng nguyên văn phần nội dung chính của bài phỏng vấn. 
Đọc xong bài phỏng vấn này chắc quý độc giả sẽ không còn thắc mắc tại sao Sáu Hồ Hởi, hội viên “remote control” và là cánh tay nối dài của Trung Tâm Văn Bút VNHN Toronto của Nguyễn Hữu Nghĩa-  lại bôi đen người tù kiệt xuất Nguyễn Hữu Luyện, bởi vì “bôi đen, bôi đỏ” là nghiệp vụ của chàng. 
***

Đây là Hệ Thống Truyền Thanh Sài-Gòn SRBS.
Kính thưa qúy vị thính giả...           
SRBS: Thưa họa sĩ Nguyễn Quân, khi mà anh bị bắt đi tù cải tạo thì chúng đưa anh vào trại tù nào đầu tiên, thưa anh?
NQ: Dạ, đầu tiên là tôi ở Trảng Lớn, Tây Ninh.
SRBS: Và sau đó họ chuyển anh đi đâu?
NQ: Sau đó họ đưa tôi lên Long Giao.
SRBS: Dạ vâng, rồi sau đó nữa...
NQ: Dạ, sau đó vì trại Long Giao giải tán, họ đưa tôi về Hốc Môn, Thành Ông Năm. Rồi sau đó, họ chuyển tôi lên Suối Máu.
SRBS: Dạ thưa anh, có phải trại Suối Máu ở Tân Hiệp, Biên Hòa không anh?
NQ: Dạ vâng, Tân Hiệp, Biên Hòa. Trại giam tù binh nữ Cộng Sản ngày xưa.
SRBS: Thưa anh, trong trại đó theo sự ước lượng của anh, thì VC đã giam bao nhiêu tù cựu sĩ quan của mình?
NQ: Có tất cả là 5 K. Tôi ở K1, rồi K2 , K3, K4, K5. K5 là K để chữa bệnh, tức là những anh nào bệnh hoạn thì họ đưa về K5. Để tôi nhẩm thử xem mỗi một K là bao nhiêu?
SRBS: Đại khái là mình ước lượng... nghĩa là bao nhiêu người tụi nó nhốt trong trại tù Suối Máu?
NQ: Chắc cũng khoảng độ 8000 người.
SRBS: 8000 người cũng đông dữ phải không anh?
NQ: Dạ, đông lắm ạ.
SRBS: Vâng, trong trại tù Suối Máu, anh ở tổng cộng là bao nhiêu năm tháng ạ?
NQ: Tôi về Suối Máu vào khoảng năm 78.
SRBS: Khoảng bao nhiêu năm?
NQ: Lâu quá tôi không nhớ rõ, nhưng tôi về đó trước khi xảy ra cái đêm Noel náo động của trại.
SRBS: Tức là Noel năm 78 phải không?
NQ: Dạ!
SRBS: Thưa anh ở bên Seattle này có một anh cũng xưng là ở trong trại Suối Máu. Ảnh đã viết một bài nổ lớn là Đêm Noel Vùng Dậy tại Suối Máu, mà tên là Võ Văn Sáu, có ở chung trại với anh không?
NQ: Dạ vâng, có. Anh em trong trại gọi anh Võ Văn Sáu là Sáu Hồ Hởi.
QN: Tại sao gọi là Sáu Hồ Hởi?

NQ: Là như thế này, trước đêm Noel thì anh em tù cải tạo, một số các anh em binh chủng mạnh như Biệt Kích, Lôi Hổ, Thủy Quân Lục Chiến, Nhảy Dù, lập ra một  Ban Hành Động để đánh ăng-ten. Tôi lấy ví dụ như là tôi ở nhà 8, thì lúc mà danh sách ăng-ten có, thì đêm hôm đó Ban Hành Động sẽ đến nhà 8, thì bổn phận anh trưởng nhà 8 là phải tắt đèn. Cả nhà giam chỉ có một bóng đèn vàng mà thôi. Lúc đó Ban Hành Động sẽ vào đúng chỗ thằng ăng-ten nằm, và lôi ra mà đập rất là găng, chớ không phải giỡn chơi. Nhưng nếu người làm ăng-ten mà biết lỗi (dĩ nhiên là phải đánh trước đã, chớ không phải biết lỗi là tha liền), mà xin lỗi thì anh em sẽ tha; tuy nhiên đánh cũng đau lắm. Sau đó, anh em trong Ban Hành Động kéo dài tình trạng như vậy, tức là đập ăng-ten từ nhà này sang nhà khác, cứ đập dần dần. Rồi đồng loạt các trại khác tức là K2,  K3, K4, tất cả các anh em cũng lập ra Ban Hành Động đứng lên lần lượt đập ăng-ten hết. Thời gian đó hình như cái trại tù đó giống như là được tự do. Thế là anh em bên này chui qua hàng rào bên kia hỏi thăm người thân...Sau những lần diệt ăng-ten như vậy, thì một số anh em còn tư cách cảm thấy bị xấu hổ, thì họ từ bỏ, và giai đoạn đó chấm dứt.

            Đến đêm Noel, có bác sĩ Chung hồi đó không phải là ăng ten, ảnh là bác sĩ của phe mình ngày xưa. Thời kỳ đó, trại  giao cho ảnh trách nhiệm là khám bệnh, phát thuốc cho anh em, thì anh ấy cũng hơi quá quắt. Thí dụ anh em bị bệnh như cảm cúm, không đi được, mà ảnh không cho thuốc, ảnh quý thuốc lắm.Vả lại anh em bệnh nhiều không đi làm được đến khai bệnh, thì anh ấy bảo là bệnh giả bắt đi làm hết. Cho nên anh em bực mình nói ảnh là bợ đít cách mạng. Nhưng mà trong thời gian đánh ăng ten, thì bác sĩ Chung có hối hận. Và sau đó tất cả những người bị đánh, thì ảnh săn sóc hết. Có một anh bị đánh nặng nhất là anh Vương Quang Nhật, thì bác sĩ Chung đã săn sóc 7 ngày. Trong đêm Noel năm đó, vì bác sĩ Chung là người Công Giáo nên ảnh đã đứng ra làm lễ thay Linh Mục, ảnh biết tất cả thủ tục làm lễ để đón Giáng Sinh. Mà không biết ở đâu ảnh lại có khăn choàng. 

Trong đêm Noel, tất cả những anh em Công Giáo tụ tập ở sân đằng sau, để nghe bác sĩ Chung làm lễ đón mừng Chúa Giáng Sinh. Anh em Phật Giáo cũng có đến tham dự. Nhưng bất ngờ là Việt Cộng biết, mà lúc đầu thì làm lễ rất là âm thầm, rất là yên lặng, anh em Công Giáo sám hối, xưng tội v.v... Nhưng không biết tại sao Việt Cộng họ biết, và họ đã ập vào. Chúng đã bắt bác sĩ Chung, tịch thu tượng Chúa Hài Đồng. Mà tượng Chúa Hài Đồng được làm bởi anh bạn học cùng khóa với tôi về điêu khắc. Thế thì chúng bắt bác sĩ Chung đi, và cả trại đã biểu tình, yêu cầu phải cho làm lễ và không được bắt người. Mới đầu tụi nó không chịu. 

Thế là anh em Công Giáo trong trại đã hát bài Thánh Ca, anh em Phật Giáo cũng đồng lòng hát lên. Lúc đó tiếng vọng nghe kinh hoàng lắm. Các K khác như K2, K3, K5 sau khi nghe như vậy, họ đồng tâm ca lên. Lúc đó thì không còn phân biệt Công Giáo hay Phật Giáo nữa. Chỉ thuộc bài là ca lên. Và những bài hát Công Giáo thì Phật Giáo cũng thuộc, nghe lâu rồi sẽ nằm trong lòng thôi. Sau khi dân chúng ở Tam Hiệp (Biên Hòa) nghe được tiếng ca từ trong trại. Họ không ngờ là ở trong trại lại có một biến cố lớn như vậy; đến nỗi những lời hát ở trong trại lại vọng ra xa đến như vậy. Sau đó thì Việt Cộng họ đã nhượng bộ. Lúc đó anh em ở trong trại được Free, và đã nghĩ rằng nay mai thì có thể lật đổ Cộng Sản

SRBS: Có phải trong vụ Noel đó, là Sáu Hồ Hởi sách động không?
NQ: Không! Nếu mà anh ấy sách động thì ảnh là người Quốc Gia rồi. Ảnh chỉ nằm một chỗ thôi. Nói chung là anh em Công Giáo làm thôi, sau đó bị Việt Cộng bắt, tự nhiên mình uất ức, thì mình nhảy ra. Lúc đó, những anh em Phật Giáo thấy những anh em Công Giáo bị bắt đi, không cần biết là Công Giáo hay Phật Giáo bị chúng bắt người của mình đem đi là sẽ bị giết. Thế là anh em đồng lòng biểu tình làm cho lớn chuyện. Anh Quốc Nam cũng biết mà, Việt Cộng thấy không xong nên nó thả bác sĩ Chung về. Tuy nhiên, bức tượng Chúa Hài Đồng nó lấy luôn không trả. Đó là chấm dứt cái đêm Noel.

SRBS: Nhưng mà tôi vẫn thắc mắc là tại sao Võ Văn Sáu nằm một chỗ mà Hồ Hởi được.
NQ: Không, sau đó bắt đầu là toàn trại bị náo loạn lên hết, vì tự nhiên có những nguồn tin từ ở đâu đưa vào. Sau đợt ấy, Việt Cộng bàn kế hoạch như thế nào mà mình không rõ, thì từ đó tham mưu của nó tung tin tức vô nghe rất là đã! Chẳng hạn như bà vợ tôi đi kinh tế mới, khốn khổ, khốn nạn, để dành được vài đồng, mua một ít bánh đậu xanh, một cây kem đánh răng, một bánh thuốc lào v.v... Và tôi nghĩ là đồ ăn thì không cần thiết, nhưng phải có bánh thuốc lào. Thì bả cũng ráng dành dụm tậu được bánh thuốc lào đem lên. Trong khi vợ tôi chờ thăm tôi, thì nghe được nào là vợ của ông thiếu tá, trung tá gì đó nghe đài BBC bình luận những chuyện nghe rất là sướng. Mục tiêu những nguồn tin như vậy đi vào, để mà nói mình đừng trốn trại không à! 

Sau đó, tôi nghĩ là toàn những cái tin mà Việt Cộng nó sợ trong thời gian mà cải-tạo-viên thắng thế, mình sẽ phá trại. Anh biết không? Nó sợ mình sẽ nổi loạn mà làm nhiều chuyện bậy, nó cũng ngại, nên nó cho thăm nuôi ào ạt. Tự nhiên anh thấy không, Việt Cộng nó đâu có tử tế gì để cho đi thăm nuôi. Những bà vợ của anh bạn tôi, bà vợ  của những người khác, kể cả bà vợ của ông đại tá nữa vô thăm cũng toàn là nói chuyện đừng nên trốn trại. Bởi vì nay mai là Mỹ sẽ đón các anh ở Biên Hòa, bây giờ phi trường Biên Hòa đang sửa lại và v.v... thì những chuyện như vậy làm sao tôi giấu được. Nên tôi nói với anh bạn tôi là Dương Ngọc Châu, và anh Châu mà họa sĩ Phạm Thông cũng biết, đó là  cháu ruột của thiếu tướng Dương Ngọc Lắm. Mà anh Dương Ngọc Châu và tôi coi như anh em ruột. 

Tôi vào nói với anh Châu: “Anh Châu à! Bà xã tôi ở trên kinh tế mới lên, bả không biết gì hết, nhưng khi ngồi chờ ở ngoài trại thì bả nghe bà đại tá hay thiếu tá nói là ... Bả khóc lóc nói với tôi đừng có trốn trại, lỡ mà nó bắn chết thì em với con ở nhà sống không nổi”. Thì ra tất cả những tin loại đó được truyền miệng đến tai Sáu Hồ Hởi hết. Ví dụ như tôi chẳng hạn, hay là nói trường hợp của anh A khi vợ ảnh vào cho hay là con chết hay là gì đó, hoặc bức hiếp chẳng hạn, thì lúc đó anh A đó sẽ nổi giận nói là: “Chắc tao phải trốn trại, hoặc là chắc tao phải đục mấy thằng cán bộ này”, thì cái tin đó cũng đến anh Sáu Hồ Hởi ngay.

SRBS: Tức là ai cũng tâm sự với Sáu Hồ Hởi hết!
NQ: Tất cả tin hay, tin dở, tin dữ gì, mà hay một cái là đều đến tai Sáu Hồ Hởi hết. Và chỗ ảnh nằm cũng giống như là Bộ Tham Mưu vậy. Nếu có việc chuyện gì, thì anh Sáu Hồ Hởi sẽ chạy đến ngay. Thí dụ như tôi chẳng hạn, ảnh đến nói là: “Quân à, tao biết vợ mày đi kinh tế mới thì nghèo khổ, con mày thì bệnh hoạn. Nhưng mà mày thấy hôn, vợ mày nó nói như vậy thì mày đừng có trốn  trại. Mày nên đem cái tin của mày ra để mà nói với anh em yên tâm, đừng có này nọ kia. Như tao, tao không có biết là anh em bên K2 họ nói với tao là bây giờ Mỹ nó bằng lòng với cái giá là 12 ngàn đô rồi. Tức là vấn đề tiền nong sòng phẳng mà Mỹ đòi trả bằng máy cày, trong khi Việt Cộng không chịu, chúng đòi trả bằng đô-la. Nhưng mà cái âm mưu của thằng Mỹ là nó đưa máy cày vào tụi Việt Cộng phải xài, xài vài năm thì hư, hư thì bắt đầu phải mua phụ tùng của Mỹ. Thì thằng Mỹ nó sẽ lấy lại hết. Cho nên khi nghe như vậy, thì anh em hồ hởi quá!

SRBS: Thì ra chính Võ Văn Sáu tung tin Hồ Hởi kiểu đó?!
NQ: Nghe đã quá! Anh thấy không? Từ đó ảnh có cái biệt danh là anh Sáu Hồ Hởi. Ví dụ như có một anh có tư tưởng tự tử chẳng hạn, thì anh Sáu Hồ Hởi sẽ đến ngay. Mà có cái hay là kể cả những cái tin ai mà muốn tự tử anh Sáu Hồ Hỡi cũng biết nữa.
SRBS: Tức là có người báo cáo cho anh ta biết?
NQ: Dạ vâng! Đại loại là tất cả những cái gì xảy ra trong trại là anh Sáu Hồ Hởi đều biết hết. Và mục tiêu ảnh đến nói cho mình để mà yên tâm, và cái thứ hai là mình sẽ không trốn trại. Thí dụ như tôi trốn về nhà là khốn nạn, công an sẽ bắt tôi ngay. Trong khi anh em chuẩn bị đợi lên máy bay, lúc đó là ca-ri-bu, ga-lắc-xi... và cái trại lúc đó nó vui lắm. Khi có một chiếc máy bay tầm bậy tầm bạ nào nó bay ngang, chẳng hạn tôi thì đi kiếm anh bạn Không Quân, anh Trí, anh coi xem máy bay đó là máy bay gì? Thì anh bạn Không Quân tôi ngày xưa lái máy bay trực thăng chiến đấu thì đâu có biết gì, nói đại là máy bay Liên Sô. 

  Đến đây, tôi nhấn mạnh một điểm chính anh Sáu Hồ Hởi nói rằng: một cái nguồn tin rất là chính xác, tức là nay mai anh em sẽ được thăng 2 cấp và được lãnh ráp-ben kể từ ngày 30 tháng 4/75. Thí dụ chẳng hạn như tôi là Trung úy sẽ thăng lên Thiếu tá, tức là tăng 2 cấp đặc cách sau khi Mỹ đón mình đi. Thì hỏi anh làm sao không “hồ hởi” được!?

SRBS: Tức là ảnh cấy vào trong lòng người ta những hy vọng hão huyền, phải không ạ?

NQ: Hy vọng quá đi chứ! Hy vọng tràn trề, anh thấy không? Tại vì ảnh đưa ra những điều rằng: “Tụi bây biết không? Khi mà Việt Nam thất thủ, thì Kissinger đang đánh tennis với Đại sứ Anh. Nó ngừng lại ra lấy khăn lông, lau tay, rồi sau đó nó bắt tay với ông Đại sứ Anh nói là nước Mỹ đã thắng trận tại miền Nam Việt Nam ”. Đó! Anh nghe như thế có sướng không chứ? Thành ra cuối cùng khi nghe thấy tất cả những cái hay cái xấu, những cái gì ở trong trại tự động nó sẽ nổi lên. Ví dụ nếu tôi nói: Tao nói thật với tụi bây, kỳ này mà trở về, lật ngược lại ván cờ, là tao sẽ nói với ông già tao “Xin lỗi ba nha! Dù rằng anh ruột hay em ruột của ba có là Cộng Sản, thì con cũng phải giết trước. Giết người trong nhà rồi mới ra ngoài xã hội tính sau”. Chính tôi tuyên bố như vậy, thì những lời tôi nói như vậy sẽ đến tai Sáu Hồ Hởi. Nếu một ngày nào đẹp trời nào đó, VC gọi tôi đến “chuyển trại” thì đó là khốn nạn của cuộc đời tôi. Mà tôi đâu có biết rằng do anh Sáu Hồ Hởi hay là do ai. Trong lúc mình điên lên thì mình đưa tất cả những cái trong lòng của mình ra. 

Chẳng hạn một anh bạn nghe nói như thế thì đã quá, vì nghe nói nay mai Mỹ nó đón rồi. Anh này nói: "Nói thật với mày ngày xưa là tao được Mỹ nó đưa vào Long Bình, nó huấn luyện cho tao hết 6 tháng để làm CIA, làm tình báo", thì anh đó bị bắt nhanh lắm. Nó không có vô bắt đâu! Buổi sáng đi lao động, nó gọi tên là bị đưa đi thôi. Có những anh nhìn thấy thắc mắc: "Ủa! Sao có người được ra thì đi bộ chết mồ, tại sao có những thằng được ra lại được xe bít bùng của nó đưa đi, mình thấy sao khốn nạn vậy?" Mình nói đó đâu phải tha đâu! Cũng như anh Sáu Hồ Hởi, nó đưa lên xe bít bùng đưa đi. Chứ đâu được tha như mình đi bộ ra cửa, đón xe lam về nhà đâu! Trong trại Suối Máu thì mình cũng không có tâm mà để ý anh Sáu Hồ Hởi là người của mình hay là người của ai?  Tại vì không có dư thì giờ. Thì giờ để mà đối phó với mạng sống của mình từng ngày, không có thì giờ để suy nghĩ tới những người khác. Cho nên, cái chuyện anh Sáu Hồ Hởi nói, mình nghe rõ ràng là hồ hởi, chớ chuyện bên trong mình cũng không có thì giờ để mà để ý.
SRBS: Vâng, tôi cũng muốn hỏi anh một câu là khi mà Sáu Hồ Hởi đưa ra những lời hồ hởi như vậy, thì mục đích của anh ta là như thế nào?
NQ: Mục đích của ảnh là mọi người đừng có nổi dậy chống lại trại, và cũng đừng tìm cách mà trốn trại. Nói chung, có thể là nhiệm vụ của ảnh là làm sao để cho trong trại được yên.
SRBS: Nhưng mà thưa anh, ngoài vai trò như thế, có những người nào tiết lộ trốn trại với Sáu Hồ Hởi, thì có bao nhiêu người bị bắt đi mất tích?
NQ: Nhiều! Nhiều lắm!
SRBS: Vâng, khi nãy anh nói đến việc Sáu Hồ Hởi sau đó bị tụi nó bắt đưa lên xe bít bùng, rồi đưa về đâu, anh?
NQ: Anh em trong trại thấy anh Sáu Hồ Hởi bị bắt, thì nghĩ chắc là anh Sáu bị đưa đi thủ tiêu, hay là đưa ảnh đi trại khác để đánh anh ấy. Chắc ảnh sẽ chết vì ảnh thì ốm nhom ốm nhách. Chắc chịu không nổi!
SRBS: Rồi chúng đưa anh ta về đâu?
NQ: Thì sau đó anh em được tin chúng đưa anh Sáu Hồ Hởi về Chí Hòa, và được thả ra ngay.
SRBS: Được thả ra, tức là trước cả những anh em ở trong tù nữa?
NQ: Xa! Ảnh về rồi, 3 năm sau tôi mới được về.
SRBS: Tức là năm mấy thì anh mới được ra khỏi trại Suối Máu?
NQ: Năm 81

SRBS: Rồi về năm 1981, thì anh ở Sài-gòn anh làm nghề gì thưa anh?
LTS.- Họa sĩ HO Nguyễn Quân đã kể lại với đại diện Đài SRBS làm đủ nghề thượng vàng hạ cám để sống qua ngày. Đầu tiên là hai cha con anh làm nghề sửa xe đạp, rồi bán đồ phụ tùng xe Honda. Sau đó, anh mua bán đủ thứ đồ cũ bên lề đường. Cuối cùng, anh học nghề phân chất vàng bạc, để mua bán những đồ cũ có vàng bạc bên trong, lấy ra và bán, kiếm sống trên khắp các nẻo đường của vùng Sài-Gòn. Họa sĩ Nguyễn Quân kể lể tiếp:
NQ:...Và sau đó tôi đi học nghề phân kim, để biết định giá mặt hàng buôn bán hầu khỏi bị hố. Sau khi học xong nghề phân kim, tôi đi khắp các chợ thu mua những mặt hàng của các anh em ngồi lề đường bán lạc-soong giống như tôi ngày xưa ngồi lề đường. Và cũng nhờ như thế mà tôi đi được khắp nơi trong thành phố như Hốc Môn, Quang Trung, Nhà Bè, Thủ Thiêm v.v... Cho đến một ngày tôi không nhớ rõ tôi đi tới Ngã Sáu Sài-Gòn, nơi có tượng Phù Đổng Thiên Vương.

SRBS: Có phải nằm gần đường Võ Tánh không anh?
NQ: Vâng, nó nằm ngay đường Võ Tánh. Thì khu đó có cái sân trống ngày xưa, có con đường nhỏ đâm thẳng vào ga xe lửa Saigon . Tôi đến đó để thâu mua hàng, nơi mà Việt Cộng đã xây nhà trên cái sân trống đó. Đầu căn nhà là Cửa Hàng Thương Nghiệp
SRBS: Nó kêu là Cửa Hàng gì anh?
NQ: Cửa Hàng Thương Nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh, bán theo kiểu tạp hóa.  Tôi đến khu đó để thu mua vàng bạc vụn.
SRBS: Thưa anh, xin trở lại về vấn đề Cửa Hàng Thương Nghiệp, thì tại sao anh bước tới đó?
NQ: Tại vì anh em chợ trời lẩn quẩn ở khu đó. Tôi ghé lại để mua hàng. Trong lúc đang loay hoay, thì bất chợt tôi nhìn thấy anh Sáu Hồ Hởi.
SRBS: Nhưng mà anh nhìn thấy vợ ông ấy trước, hay là anh nhìn Võ Văn Sáu?
NQ: Không, tôi không biết vợ của Võ Văn Sáu, tôi chỉ biết Võ Văn Sáu mà thôi. Thì lúc đó tôi kinh ngạc nói: “Ủa, anh Sáu Hồ Hởi”.
SRBS: Tức là Sáu Hồ Hởi trong Cửa Hàng Thương Nghiệp phải không ạ?
NQ: Lúc đó tôi đã ngừng nói.
SRBS: Khi đó anh ta mặc đồ gì?
NQ: Ảnh mặc đồ công an.
SRBS: Mặc đồ công-an VC, và anh ta đeo mấy cái lon...?
NQ: Cái đó thì tôi không để ý. Trong khi tôi sững sờ và chợt nhớ ra hiện trạng, tôi hỏi: “Ủa, anh làm cái gì ở đây?”
SRBS: Thấy Sáu là công an Cộng Sản thì anh giật mình rồi phải không?
NQ: Nói thật với anh lúc đó mà ảnh hắt-xì-hơi, thì tôi cũng chạy dài rồi! Tức là tôi nói trong nỗi lo sợ. Mặc dầu tôi hỏi: “Ủa, anh làm cái gì ở đây?” nhưng thật ra trong lòng tôi cũng lo sợ lắm.
SRBS: Rồi Võ Văn Sáu trả lời ra sao?
NQ: Anh Sáu nói: “Tao đang làm việc ở cái Phường này!”
SRBS: Coi như là công an của Phường đó!
NQ: Yeah! Đồng thời lúc đó vợ của anh Sáu trong cửa hàng bước ra, và ảnh nói: “Đây là bà xã của tao, bả làm Cửa-Hàng-Trưởng ở đây”. Lúc đó tôi cũng giống như con chuột mà gặp con rắn, và tôi đã mất tinh thần rồi! Và sau đó tôi nói: “Chào anh Sáu, tôi đi nha!”
SRBS: Như vậy là nếu một người mà có vợ làm Cửa-Hàng-Trưởng một phòng thương nghiệp như vậy, thì hẳn phải là một cán bộ cao cấp?
NQ: Tất nhiên không phải là dân thường. Chắc chắn  phải là cán bộ thứ dữ, hoặc là bố mẹ, ông bà, hay cô dì của vợ chồng anh Sáu phải là cách mạng thứ dữ rồi. Chứ không bao giờ vợ của một người dân thường mà Việt Cộng đưa ra làm một Cửa-Hàng-Trưởng quan trọng như vậy. Anh thấy không? Chắc chắn gia đình của anh Sáu Hồ Hởi phải là thứ Cách-Mạng- Gộc rồi.
SRBS: Dạ thưa anh, bây giờ anh thử nhớ lại xem cái năm mà anh gặp Sáu Hồ Hởi mặc đồ cán bộ Công An Cộng Sản khoảng năm nào, thưa anh?
NQ: Khoảng năm 1984 hay 1985.

SRBS: Dạ thưa họa sĩ Nguyễn Quân, thực ra thì nãy giờ chúng ta đã nói chuyện với nhau cũng khá lâu, và trong giọng nói của anh cũng có tính chất của một người lính Cộng Hòa. Và anh nói quá chân tình, sự tiết lộ của anh đã làm giải tỏa một số thắc mắc lâu nay về lý lịch tên Võ Văn Sáu. Trước đây, có một nhà văn là Dương Tiến Đình đã viết một cuốn sách tựa là “Sau Cuộc Đổi Đời” và có viết một  truyện ngắn là: Anh Sáu Hồ Hởi. Hồi đó thì Sáu Hồ Hởi chối ghê lắm, và nhiều người tưởng chỉ là hư cấu. Nhưng hôm nay anh là một nhân chứng sống đã nói lên, thì chúng tôi mới tin Sáu Hồ Hởi là một cán bộ Công An của Việt Cộng. Và cái điều đó được anh nói lên rất có lợi cho những người Việt Quốc Gia ở vùng này. 

Thưa anh, thay mặt của những nạn nhân của Sáu Hồ Hởi, nạn nhân của những tù cải tạo, chúng tôi xin cám ơn họa sĩ Nguyễn Quân, mặc dù chúng tôi biết rõ là gia đình anh đều không muốn anh nói lên sự thực qúa phũ phàng này. Tại vì chính anh cũng nói với tôi là không muốn gì khác nữa, nhất là anh ở một tiểu bang xa. Kính thưa quý vị thính giả, chúng tôi đang nói chuyện với một nhân chứng sống, một họa sĩ tù cải tạo từ Chicago tới Seattle, tức là đường dây chúng tôi nối liền 2 thành phố này để nói chuyện với nhau. Và họa sĩ Nguyễn Quân là một người rất thân với một họa sĩ nổi tiếng bạn tôi, đó là anh Phạm Thông. Nếu có dịp, thì chúng tôi hy vọng quý vị sẽ được gặp họa sĩ Nguyễn Quân với những bức tranh đầy màu sắc trong cuộc triển lãm nơi đây trong những ngày sắp tới. Dạ thưa họa sĩ Nguyễn Quân, chúng tôi xin gởi lời cám ơn và xin lỗi với hiền nội và gia đình anh. Cũng chỉ vì chúng tôi cần anh nói lên những tiếng nói của sự thật, và nhất là tiếng nói mà một nhân chứng đã từng sống với Sáu Hồ Hởi Võ Văn Sáu mấy năm trong trại Suối Máu. Và thưa anh, trước khi chúng ta chấm dứt cuộc nói chuyện hôm nay, anh có muốn nói với quý thính giả của Đài Phát Thanh Sài-Gòn ở Seattle đôi lời không ạ?

NQ: Tôi xin phép anh Quốc Nam, thứ nhất  là riêng cá nhân tôi xin chân thành cảm tạ anh em, các chiến hữu cũng như tất cả đồng bào ở Seattle đã tin cậy và gởi trọn niềm tin vào những lời của tôi. Những lời tôi nói với danh dự của một người sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mà danh dự đó tôi hứa là cho đến khi chết tôi vẫn giữ. Và tôi nói với tất cả thành tâm của tôi, để gởi đến cho tất cả anh em và mọi người biết cái điều đó. Riêng với anh Sáu Hồ Hởi, thì nếu mà những lời này đến anh Sáu Hồ Hởi, thì tôi chỉ muốn nói rằng: Anh Sáu ơi, hết rồi, chế độ Cộng Sản của anh quá ư là khủng khiếp rồi. 

Thì thôi anh làm ơn dẹp giùm đi, đừng có phá phách nữa, để cho cộng đồng mình sống yên vui, để mà nhìn tương lai của những đứa con mình lớn lên thành danh ở nước Mỹ này, và chúng nó đem những thành công đó mà về xây dựng đất nước mình. Còn anh em chúng mình, thì chỉ nên sống cho vui tuổi già của mình là được rồi. Và đó là những lời chân tình của tôi gởi đến tất cả những anh em ở Seattle . Thành thật cám ơn anh Quốc Nam, cám ơn tất cả những sĩ quan HO và đồng bào đã chịu khó nghe tôi nói những lời trên đây. Tôi chỉ nói với tấm lòng của tôi là thứ nhất, thứ hai nữa là danh dự của một sĩ quan QLVNCH, chớ tôi không làm gì mà trái với danh dự của tôi, là vì tôi sống ở đây không phải là cho tất cả ai nữa, mà tôi sống cho vợ và con tôi, để nhìn vào sẽ thấy tôi là người bố hoặc người chồng không có hèn và không có đê tiện. Chỉ có vậy thôi! Và nếu những lời tôi nói có hơi cộc cằn, thô lỗ, xin quý vị tha thứ cho.

SRBS: Không, họa sĩ Nguyễn Quân, đó là cái chân tình của một người lính VNCH chúng ta, là nói thật và làm thật. Chúng ta không có xảo trá và làm hại anh em. Đây là những ngày đầu năm, mà chúng tôi được nghe tiếng nói của anh rất là quý giá, và muôn vàn cám ơn anh, một người chiến sĩ Quốc Gia vẫn còn có lòng đối với quốc gia dân tộc. Một lần nữa, xin cám ơn anh, và xin chúc anh cùng gia đình một năm mới hoàn toàn hạnh phúc và vạn sự như ý!

Kính thưa qúy thính giả,
Qúy vị vừa theo dõi cuộc hội thoại đầu thế kỷ 21 giữa hoạ sĩ H.O. Nguyễn Quân và thi sĩ Quốc Nam của bổn Đài. Qua cuộc hội thoại này, chúng ta mới biết không phải một mình Võ Văn Sáu là Cán Bộ Công An VC, mà chính vợ y cũng là cán bộ kinh tế khá quan trọng của Đảng CSVN. Từ đó, người ta mới thấy rằng: từ lâu nay Võ Văn Sáu đã  dùng tờ truyền đơn Góp Gió chửi bới thô tục và chụp mũ bừa bãi rất nhiều người Quốc Gia uy tín là Cộng Sản, để tạo hỏa mù khiến không còn ai quan-trọng- hóa sự hiện diện của bọn VC trong cộng đồng chúng ta nữa. Rồi khi người ta có khám phá ra Võ Văn Sáu là Cán Bộ VC, thì dư luận có thể coi sự việc đó là chuyện thường, và y lại tiếp tục công tác bôi tro trát trấu vào những người Quốc Gia chống Cộng hoặc quý vị lãnh đạo tôn giáo, hầu lấp liếm các tội trạng của y. Gần đây nhất, tờ truyền đơn Góp Gió đã mạ lỵ những vị lãnh dạo tôn giáo cao trọng như Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận của Tòa Thánh La Mã, nhiều vị tu sĩ Phật Giáo (trong số này có Thượng Tọa Thích Minh Tuyên thuộc Giáo Hội Thống Nhất Phật Giáo VN Hải Ngoại), một số vị cựu Sĩ Quan Dalat nhiều công trạng của QLVNCH v.v...

Kính thưa qúy thính giả,  
Nay, sự việc vợ chồng Võ Văn Sáu hoạt động cho VC từ nhiều chục năm qua, đã bị lột mặt nạ. Kể từ  giờ phút này, nhóm Võ Văn Sáu đã không còn đứng trong hàng ngũ quân dân VNCH nữa, và chúng tôi đặt cho cặp ác ôn này một cái tên muôn đời là vợ chồng Sáu Bò Vàng. Bởi vì Bò Vàng là bọn cán bộ công an VC mà mọi người Việt Nam trong và ngoài nước đều xa lánh và ghê tởm, vì tội ác chúng đã gây ra đối với đồng bào ta trong suốt hơn nửa thế kỷ qua. Chương trình hội thoại của Đài SRBS đến đây là chấm dứt, Phượng Nga xin kính chào quý vị và các bạn trẻ.

       




__._,_.___

Posted by: <vneagle_11


Popular Posts

Popular Posts

My Blog List