QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Monday, August 10, 2015

SÀI GÒN VÀ NHỮNG TÊN ĐƯỜNG XƯA

 

 
SÀI GÒN VÀ NHỮNG TÊN ĐƯỜNG XƯA
Trần Ngọc Quang
SAIGON DUONG XUA
Từ hơn một thế kỷ nay, nước Việt Nam đã chịu rất nhiều thay đổi về chánh trị, hành chánh, văn hóa, xã hội…. luôn cả tên đường của Sài Gòn. Nhiều đường đã thay đổi tên hai, ba lần và vài đường mang tên các vị anh hùng hồi đời nhà Nguyễn đều biến mất. Vài người Việt ở nước ngoài khi trở về nước gặp nhiều khó khăn mới tìm lại được nhà mình đã ở lúc trước. 

Những bạn sanh ra sau 1975 lại không thể hình dung các tên đường thuở trước, nói chi đến lịch sử và tiểu sử của các vị đó. Riêng tôi, nhờ những kỷ niệm in sâu vào óc từ thuở niên thiếu và lại có tánh tò mò muốn biết thêm lịch sử nên tôi cố gắng nhắc lại đây vài tên đường để công hiến các bạn đọc giả và xin ngọn gió bốn phương cho biết thêm ý kiến để tu bổ về sau.

Tôi sanh ra tại nhà bảo sanh của Bác Sĩ Lâm Văn Bổn số 205 đường Frère Louis, gần chợ Thái Bình thuộc Quận 3 thuở đó của Đô Thành Sài Gòn, vào thời Đông Dương sắp vào chiến lửa binh đao, chín tháng trước khi Trân Châu Cảng chìm trong khói lửa, lúc đó Việt Nam còn là một thuộc địa của Pháp Quốc và nhiều đường Sài Gòn mang tên Pháp.

Tôi lớn lên tại Sài Gòn, tại số 148 đường Colonel Boudonnet dọc theo đường rầy xe lửa, sau nầy đổi tên là Lê Lai tới nay, đường lấy tên của Đại Tá Théodore Boudonnet thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh Thuộc-Địa và Tư lệnh Sư Đoàn Bộ Binh An Nam, tử trận bên Pháp hồi 1914. Mặt đất đường nầy thấp hơn các đường Frère Louis, Phan Thanh Giản và Frères Guillerault nên mỗi khi mưa lớn là đường bị ngập : “nhờ vậy” mà sau khi tạnh mưa, dọc theo bức tường ngăn đường rầy và đường lộ những con dế từ đất chui ra hang để khỏi bị ngộp, nên tôi đi bắt đến khuya mới về ít lắm là ba bốn con và thường bị mẹ tôi quở trách.

Sau khi “chạy giặc” hồi 1945 vì máy bay đồng minh oanh tạc nhà ga và đường rầy xe lửa để chận tiếp tế cho quân Nhựt, gia đình tôi trở về sống tạm trước Nhà thờ “Huyện Sỹ” đường Frères Guillerault và năm sau rồi dọn trở về lại hẻm 176/11 đường Colonel Boudonnet.

Nhà thờ Huyện Sỹ xây cất năm 1905, ông là người giàu có vùng Gò Công, tên thật là Lê Phát Đạt và là Ông ngoại của Nam Phương Hoàng Hậu, vợ của Hoàng Đế Bảo Đại. 2
Gần nhà thờ Huyện Sỹ có hai đường mang tên Frère nhưng nếu Frère Louis là để tưởng nhớ đến Thầy Louis Gaubert lập ra trường Tabert, đường Frères Guillerault (có chữ “S” sau Frères) là để tưởng nhớ đến hai anh em Roland và Léon Guillerault sinh trưởng tại Sài Gòn và tử trận trong Đệ Nhứt Thế Chiến bên Pháp.

Trong lúc “tản cư” tôi đi học lớp chót trường làng tại quận Hóc Môn và vì một sự tình cờ mà Ba tôi ghi cho tôi học tiếp miển phí lớp “Douzième” trường Chasseloup-Laubat, thay vì Petrus Ký như Ba tôi.”Trường Chasseloup” xây cất trong ba năm nơi rạp hát bội của Tả Quân Lê Văn Duyệt, lúc đầu mang tên Collège Indigène de Saigon, nhưng khi khánh thành năm 1877 thì đổi lại là Collège Chasseloup-Laubat và từ 1928 trở thành Lycée có nghĩa là luyện thi đến lớp Tú Tài, mang tên của Hầu Tước Justin De Chasseloup Laubat, Bộ Trưởng Bộ Hải Quân và Thuộc Địa dưới thời Napoléon III, người quyết tâm chiếm và giữ Nam Kỳ. 

Hồi 1946 quân đội Pháp mới trở lại Việt Nam nên ít có gia đình và trẻ con Pháp sống tại Sài Gòn nên dư giáo viên mà thiếu học trò ! Lớp 12è niên khoá 1946-1947 trai và gái học chung tại Collège Calmette gần đó, sau đó vài năm trường nầy đổi tên là Lycée Marie Curie cho đến ngày nay. Tôi còn nhớ lúc ra về tôi chạy nhanh ra cổng, không phải để tìm Ba tôi, thường người ra sở trễ và đi xe đạp từ “Toà Tân Đáo” (Sở Ngoại Kiều) ở đường Georges Guynemer dưới Chợ Cũ lên rước tôi, mà là để tranh thủ thời gian để cạo mủ cao su !

Thật vậy, giữa trung tâm thành phố Sài Gòn không hiểu ông Tây nào có ý kiến trồng cây cao su theo hai bên đường Jauréguiberry cho có bóng mát ? Bernard Jauréguiberry là một Đề Đốc Pháp đã đánh vào Đà Nẳng và chiếm thành Gia Định, về sau giữ chức Thượng Nghị Sĩ và Bộ Trưởng Bộ Hải Quân, mà tại sao lại đặt tên cho một đường nhỏ bên hông trường Calmette ? Nhưng dù sao đi nữa những cây cao su đó, sau khi lấy đá đập vào vỏ thì chảy ra mủ trắng rất nhiều. Tôi trét mủ ấy trên cập táp da của tôi rồi khi mủ khô thì cuốn tròn quanh một cục sỏi và ngày qua ngày trở thành một trái banh nhỏ.

Như vậy tôi thuộc vào thành phần “Nam Kỳ chánh cống” và “dân Sài Gòn một trăm phần trăm”, lớp tuổi gần 70 và và sống tại Saigon trong 34 năm. Những bạn lớn hơn tôi vài tuổi và những bạn gốc “Bắc trước năm mươi tư” mới biết tên đường cũ như tôi, các bạn khác ráng mà tìm các tên trong trang sau cùng ! Không phải tôi bị “tây hóa” nên không chịu dùng tên Việt Nam, nhưng các tên đường cũ đả khắc sâu vào trí nhớ tuổi thơ của tôi, hơn nửa lúc trẻ tôi hay tìm tòi trong tự điển Larousse coi ông nầy là ai mà họ đặt 3 tên đường, sau thế hệ của chúng tôi, ít còn ai nhớ đến tên những con đường Sài Gòn năm xưa…

Mẹ tôi có thuê một cyclo để đi làm và đưa tôi đi học tại trường Chasseloup, “Chú Ba Xích Lô” mỗi ngày chạy ra phía nhà ga Sài Gòn theo đường Colonel Boudonnet, sau khi qua rạp hát Aristo, nay là New World Hotel, quẹo trái qua đường Chemin des Dames và băng qua đường Lacote (chớ không phải Lacotte, Moïse Lacote là cựu Trưởng Ban Hành Chánh vùng Gia Định và Giám Đốc Thuế Vụ Nam Kỳ vào năm 1896) hoặc theo đưòng Amiral Roze (người đã từng tấn công Nam Hàn) để đi thẳng tới đường Gia Long, tên của đường La Grandière vào khoảng ấy (Đề Đốc Pierre De La Grandière thay thế Đề Đốc Bonard là một trong những Thống Đốc đầu tiên của Nam Kỳ, Ông tự động đi chiếm xứ Cambodge năm 1863 mà không có lệnh của Hoàng Đế Napoléon III và cũng chính Ông đã chiếm ba tỉnh miền Tây năm 1867 làm cho Cụ Thống Tướng Phan Thanh Giản phải đầu hàng và sau đó tự vận, dưới thời Đề Đốc De La Grandière Sài Gòn phát triển mạnh mẽ).

Chú Ba Xích Lô xuyên qua vườn “Bờ Rô” để có bóng mát rồi ra đường Larégnère, sau nầy là đường Đoàn Thị Điểm. Tôi không biết tại sao người ta kêu công viên đó bằng tên ấy, có thể là phiên âm của chữ “préau (sân lót gạch) nhưng theo học giả Trần Văn Xướng thì do Ông “Moreau”, tên của người quản thủ Pháp đầu tiên chăm nom vườn nầy; thuở trước các người lớn tuổi còn gọi là “vườn Ông Thượng”, có thể là vì trước kia Tả Quân Lê Văn Duyệt là người tạo ra vườn nầy. 

Dưới thời Pháp thuộc vườn “Bờ Rô” nằm trong khu đất của dinh Thống Đốc nhưng vào năm 1869 Phó Đề Đốc Hector Ohier, người thay thế Đề Đốc De La Grandière, cắt chia đất và tặng thành phố vườn nầy mang tên Parc Maurice Long. Mười năm sau đường Miss Cavell được tạo ra, lúc đó mang tên rue de la Pépinière, để biệt lập với dinh Thống Đốc mà sau nầy là Palais Norodom và sau 1954 trở thành Dinh Độc Lập rồi Dinh Thống Nhứt sau 1975. Cũng có thể tên “Ông Thượng” là Ông Ohier, có tên đường dưới chợ cũ, nhưng tới đời tôi chỉ gọi vườn đó là “vườn Bờ Rổ”, sau nầy mang tên vườn Tao Đàn.

Ra vườn Bờ Rô gặp đường Chasseloup-Laubat rồi đi thẳng trên đường Larégnère, sau đó tới đường Testard : hai tên nầy ở gần nhau cũng đúng vì Trung Tá Bộ Binh Jules Testard và Thiếu Úy Hải Quân Etienne Larégnère, 31 tuổi (chớ không phải Lareynière hay Laraignère) tử vong cùng một trận đánh ác liệt tại Đồn Kỳ Hòa, ở vùng trường đua Phú Thọ, giữa lực lượng của Thống Tướng Nguyễn Tri Phương và Đô Đôc Victor Charner năm 1861. Ai cũng biết đường Chasseloup-Laubat, một đường chiến lược rất dài đi từ Chợ Lớn, từ đường 11è R.I.C (Régiment d’Infanterie Coloniale) đến Thị Nghè, sau 1955 đường nầy đổi tên là Hồng Thập Tự.

Đi thẳng đến đường Testard, chú Ba quẹo mặt và bỏ tôi xuống ở góc đường Barbé vì học sinh vào trường Chasseloup bằng cửa sau. Góc đường nầy sẽ liên hệ nhiều với tôi sau nầy khi tôi trở thành sinh viên y-khoa. Đường Barbé (chớ không phải Barbet ) có từ lâu và mang tên của Đại Úy Nicolas Barbé thuộc Sư Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến Pháp bị Ông Trương Định cho tên Nguyễn Văn Sất ám sát vào năm 1860 gần chùa Khải Tường, nơi vua Minh Mạng sanh ra năm 1791 lúc Nguyễn Ánh chạy lọan vào miền nam để tránh anh em Tây Sơn. Chùa nầy do Nguyễn Ánh sau khi trở thành vua Gia Long ra lệnh xây cất để tạ ơn Phật Trời đã che chở cho con trai là Nguyễn Phúc Đàm (vua Minh Mạng sau nầy), sau đó chùa được lập làm đồn chống Pháp nên bị lính Pháp phá dẹp hồi 1880, pho tượng Phật hiện còn lưu niệm trong Viện Bảo Tàng Sài Gòn, trong Sở Thú. 

Trên nền chùa bỏ hoang nầy về sau có cất lên một biệt thự lầu lớn kiểu âu-châu tại số 28 đường Testard mà Bà Bác Sĩ Henriette Bùi (con gái thứ ba của Ông Bùi Quang Chiêu) mướn lại của người chủ là một luật sư người Pháp làm dưỡng đường sản-phụ khoa vào thập niên 1940. Ông Bùi Quang Chiêu (1872-1945) là kỹ sư canh nông Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp bên Pháp năm 1897 và bị Trần Văn Giàu (phong trào Việt Minh) ám sát cùng ba người con trai vào tháng 9 năm 1945. Còn Bà Henriette Bùi Quang Chiêu sanh năm 1906 là người đàn bà Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp y-khoa bác sĩ tại Paris năm 1929, nay Bà đã 103 tuổi và hiện còn minh mẩn và sống tại ngoại ô Paris: Bà kể lại rằng vào năm 1943 nhà nầy được bán lại cho một người Do Thái tên là David chủ của nhiều biệt thự tại Sài Gòn; vào đầu năm 1945 chánh phủ Pháp trưng dụng nhà nầy và cho Bà thuê một biệt thự khác ở đưởng Blancsubé để dời dưỡng đường đến đấy. Tháng 3 năm 1945 Nhựt đảo chánh Pháp và tịch thu căn villa nầy, và khi Pháp trở lại thì trao cho Viện Đại Học Sài Gòn để rồi năm 1947 nơi nầy trở thành chi nhánh của Đại Học Y-Dược Khoa Hà Nội rồi năm 1954 thành Đại Học Y-Dược Khoa Saigon, nơi tôi được đào tạo trong sáu năm với GS Phạm Biểu Tâm làm Khoa Trưởng. Nơi đầy kỷ niệm nầy nay là Bảo Tàng chứng tích chiến tranh.

Lớn lên tôi đi xe đạp về một mình nhưng thích đi theo đường Testard hơn vì có bóng mát dưới hàng cây me, song song với đường Richaud (sau đổi lại đường Phan Đình Phùng) và thường ghé biệt thự số 6 đường Eyriaud des Vergnes (sau là Trương Minh Giảng) chơi với một bạn học cùng lớp, nhứt là vào mùa các cây trứng cá có trái. Ông Etienne Richaud là một Toàn Quyền Đông Dương hồi cuối thế kỷ XIX, còn Ông Alfred Eyriaud Des Vergnes 5 người gốc Châteauroux là Kỹ Sư Trưởng Nha Công Chánh Nam kỳ (Cochinchine), Ông là một thần đồng tốt nghiệp trường Polytechnique tại Paris lúc 17 tuổi sau đó học trường Ponts et Chaussées, ra lệnh lấp kinh Charner, tạo hệ thống cống dài 7 km, cất 12 cầu theo “Kinh Tàu” (Arroyo chinois nối liền với rạch Bến Nghé chảy ra sông Sài Gòn). 

Ông Eyriaud Des Vergnes là người đầu tiên có ý lập ra đường sắt tại Việt Nam chạy lên Cambodge nhưng kế hoạch không thành, về sau nhờ Kỹ Sư Thévenet Giám Đốc Nha Công Chánh Nam Kỳ và sự hỗ trợ của Cố Vấn chánh phủ Paul Blanchy mà Việt Nam có đường sắt đầu tiên đi từ Sài Gòn đến Mỹ Tho năm 1885. Hai người nầy cũng có tên đường và sau 1955 đổi lại là Tú Xưong (Thévenet) và Hai Bà Trưng (Paul Blanchy).

Sau khi qua đường Pierre Flandin (tên của một “đứa con” của Sài Gòn tuy sanh tại vùng Vaucluse và tử trận tại Noyon, tỉnh Oise, miền bắc nước Pháp vào năm 1917), đến cuối đường gặp rạp hát Nam Quang (nay vẫn còn), tôi quẹo trái ra đường Verdun (khoảng đó tên là đường Thái Lập Thành), đến ngã sáu Sài Gòn thì tôi lại đi qua đường Frère Louis để về nhà bằng đường d’Ypres cho vắng xe. Đường nhỏ nầy ở sau “Mả Lá Gẫm”, đúng hơn là của Ông Mathieu Lê Văn Gẫm, có bức tượng trong nhà thờ Huyện Sỹ, tử đạo thời vua Thiệu Trị vì bị hành hình lối năm 1847, mả đó nay vẫn còn nguyên tuy bị che khuất, và Ypres là tên một thành phố nhỏ bên vương quốc Bỉ, như thành phố Dixmude, nơi đã xẩy ra những trận đánh lớn hồi Đệ Nhứt Thế Chiến.

Đi xích lô mỗi ngày như vậy hoài cũng chán nên tôi thường đề nghị với Chú Ba đi về bằng ngả khác, thuở ấy đường phố ít xe hơn bây giờ vì Sài Gòn và Chợ Lớn không hơn một triệu dân cư. Tôi thích nhứt đi về nhà qua chợ Sài Gòn : Chú Ba tránh đường Mac Mahon (sau 1952 đoạn nầy lấy tên De Lattre de Tassigny và sau đó là Công Lý), đi đường Barbé và một đoạn đường Chasseloup-Laubat, rồi quẹo trái qua đường Miss Cavell với hàng cây cao bên hông Cercle Sportif Saigonnais (tên không phải viết Cawell hay Cavel : Edith Cavell là một nữ y-tá người Anh bị quân Đức xử bắn tại Bỉ vào năm 1915 lúc 50 tuổi vì giúp tù binh Anh, Bỉ và Pháp trốn qua Hòa Lan) để trổ ra đường Aviateur Garros rồi xuống chợ Sài Gòn, nơi bán nhiều trái cây (Roland Garros là phi công Pháp đầu tiên bay xuyên biển Méditerranée hồi 1913 và tử trận năm 1918).

Rồi cứ đi theo mãi đường d’Espagne (sau là Lê Thánh Tôn) vì vào 1859 quân lính Tây-Ban-Nha dưới quyền chỉ huy của các Đề Đốc Pháp đóng tại đó) để về Ngã Sáu (Phù Đổng) rồi về Colonel Boudonnet bằng ngã Amiral Roze. Đặc biệt Sài Gòn có rất nhiều tên đường mang tên các trận đánh thời Đệ Nhứt Thế Chiến (Boulevard de la Somme, Chemin 6 des Dames, đường Verdun, đường Arras, đường Champagne, đường Dixmude, đường Douaumont, Quai de la Marne….) và tên các đề đốc Pháp vì dưới thời các vua Minh Mạng và Tự Đức tất cả quân Pháp đến Việt Nam bằng tàu thủy mà hai vị có tiếng nhứt là Charner và Bonard. 

Đô Đốc Léopold Victor Charner người vùng Bretagne, gốc Thụy Sĩ là Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Hải Quân Pháp tại Đông Nam Á, ngưòi đã chiếm Nam Kỳ, còn Đề Đốc Adolphe Bonard (chớ không phải Bonnard ) là Thống Đốc đầu tiên của Nam Kỳ do hoàng đế Napoléon III bổ nhiệm vào năm 1861 dưói thời vua Tự Đức.
Vào cuối thế kỷ XIX kinh rộng nhứt của Sài Gòn là “Kinh Lớn” hay “Kinh Charner” đi từ sông Sài Gòn đến Tòa Thị Sảnh, có hai đường dọc hai bên : đường chạy xuống bờ sông là đường Rigault de Genouilly, đường chạy lên là đường Charner. Vì mùi hôi thúi người Pháp lấp kinh lại sau nhiều năm bàn cãi và khi “đường Kinh Lấp” thành lập thì đương nhiên lấy tên Boulevard Charner vào năm 1861 nhưng Ba tôi vẫn gọi là đường Kinh Lấp vào những năm 1930. 

Trước đó, có một kinh dẫn nước sình lầy chảy ra Kinh Tàu từ chợ Bến Thành (người Pháp gọi là Les Halles Centrales), theo Học Giả Vương Hồng Sển vì gần rạch Bến Nghé và gần Thành Gia Định, kinh đó mang tên kinh Gallimard. Thiếu Tá công binh Léon Gallimart có dự trận đánh Kỳ Hòa, và đào kinh nầy vào năm 1861 theo lệnh của Đô Đốc Charner. Kinh nầy sau khi lấp lại theo ý kiến của kỹ sư Thiếu Tá Bovet năm 1867 lấy tên là Đại Lộ Bonard, vì thế đường nầy mới rộng lớn như ngày nay. Lúc lấp kinh và bến đò họ thành lập một công trường lớn, đó là “Bùng Binh” trước chợ Bến Thành mà người Pháp gọi là Place Eugène Cuniac, tên của một Thị Trưởng Sài Gòn, nay vẫn còn tên Công Trường Quách Thị Trang, một nữ sinh thiệt mạng lúc biểu tình dưới thời Ngô Đình Diệm năm 1963. 

Trước Tòa Thị Xã Sảnh, ở góc đường Charner và Bonard cũng có một bùng binh nhỏ với nước phun lên tên là Place Francis Garnier, nay là công trường Lam Sơn, để tưởng nhớ đến một sĩ quan hải quân trẻ tuổi phiêu lưu trên đất bắc và tử thương tại Hà Nội hồi 1873. Nhiều đường khác củng do lấp kinh mà ra như Boulevard de La Somme (rạch Cầu Sấu, sau nầy là đại lộ Hàm Nghi), đường Tổng Đốc Phương (hay Đỗ Hữu Phương), đường Pellerin (tên của một Giám Mục đã bênh vực công giáo Việt Nam nhưng khuyên lầm Đề Đốc Rigault De Genouilly lúc tấn công Đà Nẳng vào 1858) sau nầy đường Pellerin lấy tên là Pasteur.

Đường mà tôi thích nhứt, sang trọng nhứt và có tiếng nhứt Sài Gòn là đường Catinat, có trước khi người Pháp đến và mang tên một thuyền lớn đã bắn đại bác vào Đà Nẳng (chớ không phải tên của một Đề Đốc như nhiều người tưởng, thuyền “Le Catinat” lấy 7 tên của Thống Chế Nicolas de Catinat, sống hồi thế kỷ XVII dưới thời Louis XIV). Nơi đó có rất nhiều tiệm sang trọng, đường phố sạch sẽ và có nhiều “Ông Tây” ngồi uống cà phê tại khách sạn Continental, lúc đó chưa có tiệm Givral và nơi đó là Nhà Thuốc Tây Solirène, thay thế Pharmacie Centrale. Sau nầy có thêm tiệm Brodard ở gốc đường Catinat và Carabelli, tên của một Nghị Viên thành phố. 

Tôi cũng có dịp vô nhà sách Albert Portail (nay vẫn còn dưới tên Xuân Thu từ 1955) và đi dạo trong Passage Eden vì trong cùng có rạp hát Eden, rạp nầy và rạp Majestic ở cuối đường Catinat là hai rạp chiếu bóng sang nhứt Sài Gòn vào thuở đó; đi chơi vậy chớ có tiền đâu mà mua đồ, nhiều lắm thì lấy vài tấm hình mà các ông phó nhòm chụp dạo lúc đi trước “Nhà Hát Tây”, cất theo kiểu Opéra bên Paris. Đường Catinat là đường tráng nhựa đầu tiên của Sài Gòn, khi mới tráng nguời ta kêu là đường “Keo Su” dài tới Nhà Thờ Đức Bà ; qua công trường Pigneau de Béhaine trước Bưu Điện có bức tượng Ông “Cha Cả” hay Evêque d’Adran dẫn Hoàng Tử Cảnh ra trình diện Louis XVI tại Versailles. Sau khi qua khỏi đường Norodom thì đường Catinat lấy tên của Cố Vấn chánh phủ và Nghị Viên Thị Xã Sài Gòn Blancsubé và tiếp theo công trường Maréchal Joffre với tượng đài chiến si tử vong trong Đệ Nhứt Thế Chiến là đưòng Garcerie với những hàng cây cao, sau nầy mang tên Duy Tân và công trường Quốc Tế hay “Hồ Con Rùa”.

Ba tôi có nhiều bạn người Tàu và thừờng vô Chợ Lớn chơi bằng xe lửa điện (tramway) mà người ta thường gọi là “xe lửa giữa” vì chạy giửa đường Gallieni, tới trạm gare de Nancy thì bạn của Ba tôi lên xe lửa đi cùng vì ở gần thành Ô Ma (Camp des Mares, sau nầy là Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia). Tôi còn nhớ xe lửa giữa đó, với ghế cây theo kiểu của Métro xưa bên Paris, chạy thẳng theo đường Gallieni nối liền Sài Gòn với Chợ Lớn. 

Ba tôi nói lúc trứớc nơi đây toàn là đất hoang và sình lầy, sau khi lấp bưng thành đường đất gồ ghề rồi khi Ba tôi xuống Sài Gòn học vào năm 1928 thì đường mới được tráng nhựa và năm sau điện giăng giữa chia con đường làm hai chiều, một bên chạy lên một bên chạy xuống, đường rầy xe điện đặt trung tâm đại lộ, đến năm 1953 mãn hạn giao kèo khai thác mới dẹp. Đường nầy mang tên của Thống Chế lừng danh Joseph Gallieni chết năm 1916 nhưng phục vụ ngoài Bắc lúc còn Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh và sách vở ghi công Ông về tổ chức hành chánh tại Đông Dương. Tên của Ông viết với chữ “e” chớ không phải với chữ “é” vì là người gốc Ý Đại Lợi.

Xe điện chạy thẳng vô đường rue des Marins, qua khu Đại Thế Giới nay là khu Cát Tường và đường Jaccario (vì lúc trước pháo hạm “Le Jaccario” đậu gần đó trên “Kinh Tàu” hay Arroyo chinois trong Chợ Lớn, và chắc lính thủy lên bờ nhiều nên mới gọi là rue des 8 Marins), ở góc đường có vũ trường Arc-En-Ciel, sau 1975 đổi tên là nhà hàng và khách sạn Arc-En Ciel Thiên Hồng, đến đường Tổng Đốc Phương thì quẹo qua trái mới đến Bưu Điện Chợ Lớn, nhà ga cuối cùng là Gare Rodier, tại Kinh Tàu.

Lúc còn ở đường Colonel Boudonnet tôi có nhiều bạn ở khu nhà thờ Huyện Sỹ và thường vô phía sau nhà thờ bắn “giàn thun” trên mấy cây soài nên bị “Ông Từ” rượt nhiều lần ! Ngoài đường Frères Guillerault trước nhà thờ, còn có đường Duranton và đường Léon Combes mà sau nầy đổi tên là Sương Nguyệt “Ánh”. Trung Sĩ Léon Combes là một đứa con của Sài Gòn ở Giồng Ông Tố bên Cát Lái tử trận năm 1917 tại Craonne, thuộc tỉnh Aisne vùng Picardie phía Bắc Paris. Tôi nhớ, vì học “trường tây” nên tôi thắc mắc và tự hỏi Bà nào mà mang họ Sương mà tôi tìm hoài trong sách vở không thấy ? Sau nầy tham khảo mới biết đó là tên bút hiệu của Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuê (có sách nói là Nguyễn Xuân Khuê), con gái thứ tư của cụ Nguyễn Đình Chiểu, người đàn bà đầu tiên làm Chủ Bút báo “Nữ Giới Chung” cho phụ nữ hồi 1918. Tuần báo nầy còn tên là Fémina Annamite và tòa soạn ở 13 đường Taberd, trong sách kể là Sương Nguyệt ANH (=Góa phụ Nguyệt Anh), nhưng tại sao hồi 1955 họ đổi tên đường Léon Combes thành Sương Nguyệt ÁNH ?

Về sau, gia đình tôi dọn về Chợ Lớn ở đường Lacaze, nay là đường Nguyễn Tri Phương, nổi tiếng vì “Mì La Cai”, đường mang tên của Đô Đốc Lucien Lacaze, Bộ Trưởng Bộ Hải Quân từ 1915 đến 1917 hồi Đệ Nhứt Thế Chiến, nhưng chúng tôi ở khúc trên, gần gốc đường Pavie (nay là Lý Thái Tổ chớ không phải đường 3 tháng 2 vì dường nầy mới có vào lối 1957, lúc trước là trại lính) dẫn lên trường đua Phú Thọ. Khúc dưới đường mang tên ông Auguste Pavie (lừng danh trên đất Lào) dặc biệt rộng lớn và rất dài, có nhiều cây và bên trong có đường dành cho xích lô và xe đạp. Nếu đi từ Ngã Bảy xuống công trường Khải Định, từ giữa đường nầy đến đường Frédéric Drouhet sẻ thấy những biệt thự mà “Chú Hoả” cất cho con cháu ở (tên thường gọi của Jean-Baptiste Hui Bôn Hoả một triệu phú người Tàu tham gia với chánh quyền tặng thành phố Sài Gòn Policlinique Déjean De La Bâtie, tên của một bác sĩ tận tụy lo cho người Việt Nam, ngoài đường Bonard, sau nầy trở thành Bệnh Viện Đô-Thành), sau 1954 các nhà nầy dành cho Ủy Hội Kiểm Soát Quốc Tế Đình Chiến ở và khúc đường nầy gọi là đường Hui Bôn Hoả.

Lúc đó đường Pavie có xe nhà binh pháp chạy nhiều vì có thành lính gần đó và tại khu đường Cây Mai, trước khi tới Phú Lâm. Khu đất từ đường Lacaze đến đường Ducos (sau đổi là đường Triệu Đà) là đồng mả, đường hẻm tôi ở trước một mả đá lớn, mới phá hồi tháng 11 năm 2004 : đó là mả có từ thế kỷ thứ XVIII của một người đàn bà lối 50 tuổi 9 và quan tài thứ nhì chắc là của một người đàn ông, chỉ có vài nữ trang chớ không có vàng bạc chôn theo như người ta tưởng.
Từ đường Lacaze đi ra trường Chasseloup Laubat xa hơn, tôi phải đạp xe xuống Ngã Bảy, quẹo trái qua đường Général Lizé, rồi đạp thẳng hoài, qua khỏi đường Verdun đường nấy lấy tên Legrand De La Liraye. 

Qua khỏi trường nữ sinh Gia Long (hồi xưa gọi là Collège des Jeunes Filles Annamites, sau là Trường Aó Tím) và đến tận trường Marie Curie mới quẹo xuống đường Barbé. Đường Général Lizé là một đường chiến lược rất dài lúc trước gọi là đường Hai Mươi, đi từ Ngã Bảy Chợ Lớn, nối dài đường Pierre Pasquier, đến đường Albert Premier trên Dakao, lấy tên của Trung Tướng Lucien Lizé, xuất thân từ trường Polytechnique, Paris, Tư Lệnh Pháo Binh chiến trường Ý tử trận hồi 1918, có phục vụ bên Việt Nam lúc còn Đại Tá, còn Legrand De La Liraye là một trong những linh mục thông ngôn cho Đề Đốc Rigaud De Genouilly và trở thành Thanh Tra phụ trách về các hồ sơ giưã người Việt và chánh quyền bảo hộ. 

Sau 1954 đường nầy đổi thành đường Phan Thanh Giản, một vị anh hùng sáng suốt và can đảm của Việt Nam. Tiếc thay sau 1975 không còn đường nào trên mảnh đất Việt Nam mang tên anh hùng dân tộc nầy, cũng như không còn đường vào mang tên Lê Văn Duyệt và cũng không còn trường học nào mang tên Petrus Ký ! Cho tới nay tôi chưa thấy một học giả Việt Nam nào giỏi hơn Petrus Trương Vĩnh Ký, tuy vài “Sử Gia” buộc tội vị nầy nhiều điều vô lý, họ quên rằng công lao lớn nhứt của Ông Petrus Ký là truyền bá cho dân chúng sử dụng chữ quốc ngữ có từ Alexandre de Rhodes vào thế kỷ XVII thay thế chữ Nôm khó học và khó viết. 

Tôi nghe nói ở Vĩnh Long hiện nay có một trường học mang tên Phan Thanh Giản và vào tháng 11 năm 2008 rạp chiếu bóng Nguyễn Văn Hảo đường Trần Hưng Đạo tại Sài Gòn đang hát tuồng “Tả Quân Lê Văn Duyệt”, đó là điều đáng mừng vì những vị anh hùng các triều nhà Nguyễn phải được hồi phục.

Hồi thời Pháp thuộc cũng có những tên đường mang tên những anh hùng hay nhân tài Việt Nam như đường Paulus Của (Đốc Phủ Sứ Hùynh Tịnh Của) trên Dakao, đường Tổng Đốc Phương (Đổ Hữu Phương) trong Chợ Lớn, đường Phủ Kiệt (Đốc Phủ Sứ Trần Văn Kiệt là Nghị Viên thành phố trên 25 năm), Hùynh Quan Tiên, Nguyễn Văn Đưởm trên Tân Định (cà hai là Nghị Viên Thuộc Địa và Nghị Viên Thành Phố), Nguyễn Tấn Nghiệm (Nghị Viên), và Trương Minh Ký, một trong những Nghị Viên đầu tiên của thành phố, ông nầy tên thật là Trương Minh Ngôn cháu bốn đời của Trương Minh Giảng, được ông Trương Vỉnh Ký đem về nuôi và đổi tên, cho đi Pháp học và là một trong 7 10 người sáng lập viên ra Trường Thông Ngôn (Ecole des Interprètes) nằm trong Tòa Án, nhờ làm thông dịch viên lúc Traité de Patenôtre năm 1884 nên được vô quốc tịch Pháp, người mất lúc 55 tuổi vì bệnh lao phổi.

Vị anh hùng Đại Úy phi công của quân đội Pháp, xuất thân từ trường Võ Bị Saint-Cyr và là cựu sĩ quan Lê Dương mang tên Đỗ Hữu Vị có tên trên một đường từ bùng binh chợ Bến Thành đến đường Charner, trước đó đường nầy mang tên Hamelin sau nầy đổi lại là Huỳnh Thúc Kháng. Đại Úy Vị là con thứ năm của Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương, sau khi học trung học tại trường nổi danh Janson De Sailly tại Paris, nhập học vô trường Saint-Cyr vào năm 1904. Trung Úy bên Bắc Phi, ông gia nhập vào binh chủng Không Quân vừa thành lập ; bị thương nặng Đại Úy Vị từ chối giải ngũ và trở về đơn vị Lê Dương và tử thưong tại mặt trận tỉnh Somme năm 1916. Hài cốt được người anh cả là Đại Tá Đỗ Hữu Chấn đem về chôn cất trong nghĩa trang gia đình tại Chợ Lớn.

Nay Sài Gòn mất nhiều di tích ngày xưa, vì chiến tranh và vì sự thay đổi thời cuộc, tôi tiếc nhứt là hồi tháng ba năm 1983 đã sang bằng “Lăng Cha Cả”, có từ 1799 để lập một công trường mà chả thấy ai ngồi … Hai người ngọai quốc đã ảnh hưởng Việt Nam nhiều nhứt là Alexandre de Rhodes va Pierre Joseph Pigneau de Béhaine, được dân Việt Nam biết dưới tên Bá Đa Lộc hay Evèque d’Adran, người đã giúp Nguyễn Ánh lên ngôi, đi với Hoàng Tử Nguyễn Phúc Cảnh qua triều đình vua Louis XVI để ký Hiệp Ước Versailles năm 1787. 

Tên thật là Pigneau, sau đó thêm vô sau tên ấp Béhaine của làng Origny-en-Thiérache mà gia đình có phần đất, thuộc tỉnh Aisne, trong vùng Picardie ở miền bắc nước Pháp. Vua Gia Long cất một ngôi nhà ở số 180 đường Richaud cho Bá Đa Lộc (nay vẩn là Tòa Tổng Giám Mục đường Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3) và đọc điếu văn khi người mất năm 1799.

 Mộ ông người Sài Gòn gọi là Lăng Cha Cả là một trong những di tích xưa nhứt của Sài Gòn “ở Gia Định” vào thời Gia Long, sau nầy ở trước trại Phi Long trên Tân Sơn Nhứt. Cốt của Cha Pigneau de Behaine được đem về Pháp năm 1983 và chôn trong nhà thờ Séminaire des Missions Etrangères, rue du Bac tại quận XV Paris. Tôi có viếng thăm nhà kỷ niệm cua Cha Pierre Joseph Pigneau de Béhaine, ở làng Origny-en-Thiérache, trở thành từ năm 1953 “Musée Monseigneur Pigneau de Béhaine” và sau khi xem xong tâm hồn tôi thả về dĩ vãng của một Việt Nam oai hùng tranh đấu cả ngàn năm để giử biên cương …

Tôi cũng có dịp thăm viếng nhiều di tích của xứ Pháp từ thời Trung Cổ, nhiều lâu đài của Âu Châu và Nga Sô có từ thế kỷ XV, luôn cả những ngôi mộ bên Ai Cập có trước 11 nền văn hóa của Hy Lạp và tiếc rằng xứ tôi không biết giữ gìn những kho tàng quý giá của lịch sử.



__._,_.___

Posted by: truc nguyen 

CHÙA CHIỀN VÀ CÁC VỊ SƯ VN Ở HẢI NGOẠI



CHÙA CHIỀN VÀ CÁC VỊ SƯ VN Ở HẢI NGOẠI

Theo tin riêng từ VN, hầu hết các thấy chùa xuất ngoại đều do lò Thích Thanh Từ đào tạo và VC sắp đặt để xuất ngoại

CHÙA CHIỀN VÀ CÁC VỊ SƯ VN Ở HẢI NGOẠI

Hầu như trên khắp nước Mỹ, nơi nào có nhiều người Việt sinh sống thì ở đó đều có tổ chức Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia.  Nhưng, thực tế cho thấy là người Việt hầu như chẳng còn mấy ai có hứng thú tham gia vào những hoạt động do Cộng Đồng tổ chức.

Ngược lại, chùa chiền ở Mỹ mọc lên như là nấm sau mưa.  Mà đa số chùa chiền ở Mỹ bây giờ nằm trong tay những "nhà sư" được bảo lãnh qua sau này.  Ngoài những việc nay kêu nộp tiền, mai gọi đóng góp, mốt tổ chức này kia “gây quỹ”… chẳng thấy họ tu hành gì cả.  Thậm chí có nơi “quý thầy” còn đòi Phật tử phải “cúng dường” mỗi khi “quý thầy” muốn về Việt Nam v.v...  Những "nhà sư" này không bao giờ cho Phật tử tham gia bất kỳ một sinh hoạt nào trái ý Việt Cộng.

Một điều nhìn thấy rất oái oăm là hễ nghe có người dựng chùa thì Phật tử cứ nhắm mắt ùn ùn kéo đến góp công góp của, chẳng cần biết "nhà sư" là ai, tu hành thế nào.  Mà đa số Phật tử lại là những người vợ và con cháu của những gia đình sĩ quan VNCH qua Mỹ theo diện HO.  Rồi có những "ông thầy" mới từ Việt Nam qua, không cần biết xuất xứ như thế nào, chỉ có những lời nói "xuôi lòng, mát dạ" mà có thể khiến được những người này rủ nhau quyên góp để xây chùa cho "thầy tu" và cung phụng hầu như không thiếu một thứ gì .  Cũng đã có trường hợp đến khi biết mình bị lừa gạt thì chỉ còn biết … kêu trời!

Chuyện “thầy tu” làm chủ (sở hữu) nhà chùa, không tu hành mà chỉ sống xa hoa, lừa Phật tử lấy tiền v.v… LÀ CÓ THẬT!

Chuyện “thầy tu” làm chủ những ngôi chùa do đồng bào tỵ nạn quyên góp tạo nên, rồi “thầy tu” loạn dâm trong chùa, kể cả với trẻ em, LÀ CÓ THẬT!

Chuyện "nhà sư" được bảo lãnh qua tối ngày chỉ biết vòi tiền Phật tử LÀ CÓ THẬT!

Chuyện “nhà sư” ra giá cả mỗi khi có Phật tử mời đi cúng LÀ CÓ THẬT!

Chuyện "nhà sư" được các "thầy" qua trước bảo lãnh qua, rồi được các gia đình HO xây dựng chùa cho "tu", và "nhà sư trụ trì" này mời người tu hành khác về ở để cùng "tu", rồi lại buộc họ phải lừa phỉnh Phật tử để moi móc tiền LÀ CÓ THẬT!

Chuyện người tu hành từ chối sự bắt buộc của “trụ trì” là phải lừa dối Phật tử để moi tiền nên bị đuổi ra khỏi chùa LÀ CÓ THẬT!

Chuyện các "nhà sư" ở Mỹ đi đi về về Việt Nam một năm không biết bao nhiêu lần LÀ CÓ THẬT!

Chuyện các “nhà sư” tổ chức dạy những lớp tiếng Việt cho trẻ em mà dùng những sách mang từ Việt Nam qua, trong đó có hình “bác Hồ” và cờ đỏ sao vàng LÀ CÓ THẬT!

Chuyện một số không phải là ít Phật tử biết những “nhà sư” đã trắng trợn phạ̣m Trọ̣ng Giới nhà Phật, nhưng họ vẫn tiếp tục tôn thờ, đeo bám và tận tụy cung phụng LÀ CÓ THẬT!

Trên đất Mỹ, có nhiều người muốn tu hành thật sự nhưng không thể, hoặc chưa, tìm ra được nơi thích hợp để được tu hành LÀ CÓ THẬT!

Nhìn ra, đa số Phật tử Việt ở Mỹ không hề hiểu hoặc biết thế nào là tu hành, cho nên không bao giờ để ý đến việc biết quan sát đâu là chân sư, đâu là tà đạo.  Và cũng từ đó, sức mạnh của người Việt ở hải ngoại đang nằm trong tay của Việt Cộng.

Theo lời người con gái của ông Hoàng Thu (ở Florida ) kể, trước khi tự thiêu ông ta đã từng nói rằng nếu ở California thì ông ta có thể làm được nhiều việc, còn ở đó ( Florida ) thì ông ta chẳng làm được gì.  Điều này có thể đủ để nói lên được sự bế tắc của cộng đồng người Việt ở nước ngoài.  Cụ thể cũng cho thấy là khi được biết giàn khoan của giặc Tàu đã cắm trên biển Việt Nam, khắp nước Mỹ chẳng có được mấy cuộc biểu tình, mà mỗi lần như vậy cũng chẳng được bao nhiêu người tham dự.
Đã có trường hợp, theo vài người trong ban điều hành Cộng Đồng người Việt ở một địa phương cho biết, họ tới nhờ các chùa thông báo, hoặc xin dán thông báo, để kêu gọi người Việt tham gia biểu tình chống giặc Tàu vào lúc được tin sự kiện giàn khoan giặc Tàu đã vào cắm trên biển Việt Nam, thế nhưng các “nhà sư” từ chối, lấy lý do là chùa chiền không làm chính trị (?!).
Đã có trường hợp, cùng trong một ngày có hai sự kiện diễn ra tại cùng một địa phương: Cộng Đồng người Việt tổ chức biểu tình chống giặc Tàu xâm lược thì chỉ có vài chục người tham dự; còn một “ngôi chùa” nọ tổ chức rước ca sĩ về hát hò ngay trong khuôn viên “chùa” để “gây quỹ”, thì theo một người có vai trò chủ chốt trong “ngôi chùa” đó cho biết, số lượng người kéo về tham dự khoảng 400 người.

Đi biểu tình chống xâm lược KHÔNG phải là làm chính trị!

Tôi đã có nói chuyện, trao đổi, thắc mắc và giải thích với những người trong ban điều hành Cộng Đồng ở đó về vấn đề này.  Nhưng xem ra ... nói chuyện cũng chỉ là nói chuyện.
Nếu là một Phật tử chân chính, thì thời buổi này chắc chắn sẽ chẳng còn mấy ai không biết đến một vị Pháp Vương của Phật Giáo khắp thế giới – đó là Đức Đạt lai Lạt ma đời thứ 14.  Và ngài đã nói như thế nào về vấn đề chính trị và tôn giáo?
"Tôi không xem chính trị tự nó là điều gì đấy sai lạc, nhưng bởi vì người ta sử dụng chính trị vì mục đích ích kỷ, và cuối cùng chính trị trở thành dơ bẩn.  Trong tôn giáo cũng vậy, nếu con người sử dụng trong cung cách sai lầm thì tôn giáo cũng trở thành tôn giáo dơ bẩn."
Đó là lời của Đức Đạt lai Lạt ma đời thứ 14.  Ngài là một bậc chân tu, là một vị Pháp Vương của Phật Giáo, và có lẽ khó có người chối cãi điều này.  Thế nhưng, Ngài vẫn không ngừng đấu tranh cho hạnh phúc của dân tộc Tây Tạng của Ngài.  Điều đó có gì sai?

Nếu ai đó coi mình là một Phật tử chân chính, thì Đức Đạt lai Lạt ma có phải là một tấm gương để mình học hỏi và noi theo hay không?
Nếu ai đó là người Việt Nam , thì thảm cảnh của dân tộc Tây Tạng hiện nay có đủ để thức tỉnh mà nghĩ đến thảm họa trước mắt của quê hương và dân tộc mình hay không?
Hãy nhìn vào thực trạng sinh hoạt của đa số các Cộng Đồng, của đa số chùa chiền và Phật tử Việt Nam ở Mỹ!

Chúng ta còn có thể làm gì?
Hay chúng ta còn mong làm gì được cho quê hương?
Một thực tế đau buồn không thể nào không nghĩ đến được!

Yên Tử









--
Thomas D. Tran

Không Nói, Không Viết, Không Làm
những gì có lợi cho cộng sản.





--
Viet Si
__._,_.___

Posted by: Viet Si 

Đại sứ Mỹ "không ưa" chụp hình với Cờ Vàng...




XIN NOI DOC BAI VIET CUA NGUOI LINH GIA OREGON 


HÃY TỐNG CỔ TÊN ĐẠI SỨ MỸ CHỐI BỎ CỜ VÀNG TED OSIUS RA KHỎI CỘNG ĐỒNG TỴ NẠN VIỆT NAM

người lính già oregon
                              
   
      Đối với quân dân Miền Nam, còn trong nước hoặc ở hải ngoại, có hai tên đại sứ Mỹ tại Việt Nam rất vô lễ, hoặc cà chớn, nói theo ngôn từ bình dân, mỗi tên một kiểu. Đó là: (1) Cuối năm 1963, Henry Cabot Lodge, được ủy thác nhiệm vụ lật đổ Tổng thống hợp pháp Ngô Đình Diệm, bởi cụ đã cực lực phản đối dự định của JFK đưa quân Mỹ vào chiến đấu trực tiếp tại VN. 

Qua những sách vở và tài liệu, được giải mật, đầy dẫy trên Net, người ta thấy Lodge rất hống hách, hành xử xấc xược như một tên thái thú Tàu ngày xưa, đã ra lệnh cho bọn phản tướng khuyển mã Việt Nam, ngu si, tham tiền, sát hại cụ, dẫn đến bao nhiêu xáo trộn về chính trị và quân sự và cuối cùng, cái chết tức tưởi của VNCH tháng 4,19751.  Và (2) bây giờ, 40 năm sau, Ted Osius, một nhà ngoại giao cắc ké2, trước khi được hai xếp lớn, tổ sư thân Cộng, Obozo3 và Kerry4, cất nhắc, cho đi làm đại sứ tại Hà Nội, đã không muốn thấy lá Cờ Vàng được treo trong một hội trường tại Little Sài Gòn của Cộng đồng Người Việt Quốc Gia Tỵ Nạn California, trong tháng 7 vừa qua.

      Không ai mà không biết, nhất là những quân dân Miền Nam “thua cuộc”, phải lưu lạc trên khắp thê giới, rằng chơi với Mỹ là chấp nhận nắm con dao đằng lưỡi. Và nói theo bà Ngô Đình Nhu, trong một cuộc phỏng vấn với các nhà báo Mỹ, sau khi chồng và anh chồng bị sát hại, tháng 11, 1963: “Khi bạn có Mỹ là đồng minh, bạn sẽ không cần có kẻ thù nữa.”5 Nhất là trong giai đoạn hiện tại chính sách ngoại giao của Obozo và Kerry, hơn bao giờ hết, được đặt trên căn bản lợi nhuận, gọi là “smart power policy”, do một thiểu số tài phiệt giật dây. 

Có lợi là a-lê-hấp bắt tay với bất cứ ai, kể cả với cựu thù6 hạ tiện, ngu dốt, dơ dáy như VC, mà không cần sự phê chuẩn của Quốc Hội –bây giờ đang nằm trong tay Đảng Cộng Hòa gồm những thành viên nhát như thỏ đế, chỉ lo thủ ghế, không dám lên tiếng hó hé về điều gì. Obozo, một kẻ có bằng chứng thiên Cộng từ lúc còn là một tên community organizer vô danh tiểu tốt ở Chicago, khi trở thành tổng thống chó ngáp phải ruồi đã múa gậy vườn hoang: hòa giải với Cuba và Việt Cộng, vô điều kiện, nghĩa là không cần đặt nặng vấn đề tôn trọng tự do, nhân quyền, không như những tổng thống tiền nhiệm, nhượng bộ Putin, làm ngơ cho Bashar al. Assad của Syria giết hại dân bằng vũ khí hóa học, thỏa hiệp với Iran, đi đêm với thủ lãnh Palestine, nguyên là tên khủng bố, gây hấn với thủ tướng Do Thái Netanyahu, đồng minh lâu ngày của Mỹ, đánh cầm chừng bọn cuồng tín ISIS… và biết đâu nay mai ôm hôn thắm thiết tên Cộng sản độc tài Kim Jong Un (tục danh Kim Ủn Ỉn) của Bắc Hàn, mà không biết rằng mình đã trở thành thằng hề quốc tế, làm trò cười cho các nước (cf video về Annual Carnival Parade in Germany, 7/28/2015, trong đó người ta thấy có những chiếc xe treo nhiều hình hí họa, lố bịch châm chọc Obozo một cách thô bạo).

      Đành rằng vậy. Nhưng tiện nhân chưa thấy ai, kể cả Cabot Lodge, xử sự một cách xấc xược, khốn nạn, đối với lá Cờ Vàng thiêng liêng của chúng ta cho bằng tên đại sứ Mỹ Ted Osius trong cuộc gặp gỡ giữa hắn và Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại California trung tuần tháng 7, 2015. Nếu lột bỏ chức tước đi thì cá nhân Ted Osius không phải là mục tiêu xứng đáng, và tiện nhân cũng không hưỡn, để mà quan tâm tới. Đằng này, trong tư cách đại sứ Mỹ, hắn dám động đến lá Cờ Vàng thân yêu thi buộc lòng tiện nhân phải tarzan-nổi-giận, muốn lấy chổi chà tống cổ hắn về Hà Nội, y như những bà nhà quê ngày xưa đã làm với một tên khách mất dạy.

Mợ Thượng nghị sĩ Janet Nguyễn

     Thú thực, qua những email, bài viết và video được bạn bè ưu ái gửi đến, tiện nhân thấy bối rối trước một số chi tiết không rõ ràng, có khi làm lẫn lộn (confusing), trừ một điều chắc chắn: Ted Osius đã xuất hiện tại hai nơi, Nam và Bắc Cali, và tại hai nơi, người ta không hề thấy một lá cờ VNCH, ngay cả bên ngoài hội trường. Bắc Cali có thành phố San José, thành trì chống Cộng, vào ngày 14/7, còn Nam Cali, tại Little Saigon, thủ đô của Người Tỵ Nạn, ngày 12/7 (cf trên Google). 

Đọc lại các bài viết, xem lại các video, tiện nhân biết rằng Ted Osius được Thượng nghị sĩ Tiểu bang Janet Nguyễn (một người khi mới nhậm chức đã tỏ vẻ o bế đồng hương, tôn trọng lá Cờ Vàng) mời đến tham dự một buổi họp báo với Osius do mợ tổ chức. Hội trường hôm ấy đầy nghẹt đồng hương, trong đó có “nhà báo” kiêm chủ tiệm cơm chay Lý Kiến Trúc –thường về VN và được VC xoa đầu khen “làm tốt” và tháng 4, 2014 được cho tháp tùng phái đoàn tên thứ trưởng Ngoại giao, Nguyễn Thanh Sơn, đặc trách Nghị quyết 36, ra thăm đảo Hoàng Sa, rồi trở lại Mỹ viết bài tâng bốc VC. Có cả Điếu Cày nữa, mà tiện nhân sẽ trở lại sau.
      Theo video, trong buổi họp báo, khi có người thắc mắc tại sao không thấy lá Cờ Vàng nào, thì Ted Osius trả lời, bằng tiếng Anh, như sau: “[…] Tuy nhiên tôi đang làm một công việc mà có thể tạo ra được sự khác biệt thực sự. Và nếu tôi chụp hình với lá cờ đó, tôi sẽ bị mất việc và tôi không thể làm việc cho quý vị. Đơn giản vậy thôi. Tôi muốn có thể tiếp tục làm việc để cải thiện mọi quan hệ với Việt Nam”7
     

  

Xin mở: 

Tiện nhân tin chắc rằng tất cả quý vị đều đã nhận, đọc bài, xem video về những vụ xảy ra trên.



Portland, 7 August 2015
Người Lính Già Oregon,
cựu sĩ quan VNCH, cựu tù nhân cải tạo, cựu tù nhân vượt biên,
đương kiêm tỵ nạn VC tại Mỹ,
quyết bảo vệ Cờ Vàng, chống VC cho tới sau hơi thở cuối cùng.
__._,_.___

Posted by: Gia Cao

---------- Forwarded message ----------
From: Van-Nghe

Đại sứ Osius tỏ ra khá gần gũi trong tiếp xúc với truyền thông trong nước và báo chí tiếng Việt tại hải ngoại.

Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam nói công dân Mỹ có quyền hợp pháp và chính đáng trưng bày cờ vàng mặc dù ông không muốn chụp hình với lá cờ này.

Đại sứ Osius cho biết trong chuyến thăm California khi trở lại Hoa Kỳ hồi tháng Bảy ông đã gặp các thành viên trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt.
Ông Osius được một kênh truyền hình tại Quận Cam California dẫn lời nói “Tôi đã có các cuộc trao đổi khá sâu và lắng nghe kỹ quan điểm và đề nghị của người Mỹ gốc Việt.
“Tôi luôn lịch sự và tôn trọng ngay cả khi trao đổi với một phụ nữ mang lá cờ miền nam Việt Nam.
Là Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt nam, tôi muốn không chụp hình với lá cờ nàyTed Osius, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam
“Tôi nói với bà ấy rằng tôi tôn trọng biểu tượng đó và bà có quyền mang lá cờ đó, nhưng tôi cũng lưu ý rằng, là Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, tôi muốn không chụp hình với lá cờ này.
“Chưa khi nào tôi lại cấm ai trưng bày lá cờ này hoặc yêu cầu gỡ bỏ tất cả cờ này tại những địa điểm đó.
“Trưng bày lá cờ này rõ ràng là quyền hợp pháp và chính đáng của công dân Hoa Kỳ,” ông Osius được dẫn lời.
Đại sứ Osius nói thêm rằng “Tôi là Đại sứ Hoa Kỳ đối với chính phủ Việt Nam hiện nay với thủ đô là Hà Nội. Nhiệm vụ của tôi là cố gắng và tăng cường quan hệ với Việt Nam ngày nay, với chính phủ và người dân Việt Nam.
"Trong khi tôi tôn trọng một biểu tượng có ý nghĩa với nhiều người Mỹ, chụp hình tôi với lá cờ đó sẽ gây phương hại tới khả năng thực hiện bổn phận của tôi," ông Osius trả lời kênh Việt Phố TV qua email.

'Sẽ mất việc'

Tại Quận Cam California, Đại sứ Osius nói ông muốn được tiếp tục làm việc để cải thiện quan hệ với Việt Nam.

Hồi tháng Bảy năm nay tại tư gia của Thượng nghị sĩ bang California, bà Janet Nguyễn, ở Quận Cam, Đại sứ Ted Osius đã giải thích cho cử tọa về điều mà ông gọi là không muốn chụp hình với lá cờ vàng. Ông nói:
“Tôi muốn nói đôi điều về lá cờ. Tôi biết là đối với một số người thì có thể là họ thấy khó có thể hiểu được nhưng tôi muốn quí vị hiểu điều này.

“Tôi xin được nói rõ thế này. Tôi rất tôn trọng biểu tượng đó. Hết sức tôn trọng. Nhưng tôi đang làm một công việc và tôi có thể làm được những việc có kết quả, và nếu tôi chụp hình với lá cờ đó thì tôi sẽ mất việc làm đó và tôi không thể đại diện cho quí vị để làm việc được. Chỉ đơn giản là vậy thôi.
Đơn giản là nếu tôi chụp hình với lá cờ đó thì tôi mất việcTed Osius, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam
“Và tôi muốn được tiếp tục làm việc để cải thiện quan hệ với Việt Nam, tiếp tục công việc đấu tranh cho nhân quyền, tranh đấu cho quyền của người lao động tại Việt Nam.
“Và đơn giản là nếu tôi chụp hình với lá cờ đó thì tôi mất việc và quí vị mất đi một người ủng hộ nhiệt thành cho con đường đó.
"Do đó đây không phải là việc không tôn trọng khi tôi yêu cầu là không chụp hình tôi với lá cờ đó mà chỉ đơn giản là tôi muốn tiếp tục làm công việc của tôi.
“Tôi tin vào những gì chúng ta đang làm. Tôi tin rằng 20 năm bình thường hóa quan hệ với Việt Nam chúng ta đã và đang có thể làm được những điều đáng kể," Đại sứ Osius nói.
Trong chuyến thăm Hoa Kỳ vào tháng Bảy vừa qua, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam đã thăm Quận Cam California nơi có đông người gốc Việt sinh sống và làm việc.
Tại một số sự kiện trong đó có cuộc gặp mặt với cộng đồng cùng các dân biểu Hoa Kỳ, dường như không thấy xuất hiện cờ vàng tại những căn phòng ông tới để nói chuyện và trả lời câu hỏi của người dân và truyền thông tại đây.


__._,_.___

Posted by: truc nguyen 

MUA SÁCH ĐẠI HẠ GIÁ 40% YỂM TRỢ TÁC GIẢ CỰU THIẾU TÁ LIÊN THÀNH

 
KHẨN: MUA SÁCH ĐẠI HẠ GIÁ 40% HOẶC TẶNG CHO QUỸ PHÁP LÝ (XIN BẤM NÚT DONATE TRÊN TRANG NHÀ UBTTTADCSVN) YỂM TRỢ TÁC GIẢ CỰU THIẾU TÁ LIÊN THÀNH



Thursday, August 6, 2015 11:08 PM, UBTTTAĐCSVN <> wrote:
 

MUA SÁCH ĐẠI HẠ GIÁ 40% YỂM TRỢ TÁC GIẢ CỰU THIẾU TÁ LIÊN THÀNH

7/31/2015  UBTTTADCSVN  NO COMMENTS
Đúng 40 năm chúng ta đã mất đi quốc gia VNCH thân yêu. Người Việt Quốc Gia của VNCH chúng ta chỉ còn bảo vệ được Quốc Kỳ VNCH và hai tiếng Chính Nghĩa. Nhưng trong cuộc đối đầu này, không lẽ nào Quốc Gia sẽ chịu thua Cộng Sản, không lẽ nào SỰ THẬT sẽ chịu thua SỰ DỐI TRÁ chỉ vì bên phía người Quốc Gia VNCH không có tài chánh để ra pháp đình? Vì ý nghĩa quan trọng của vụ án này, nên chúng tôi đại hạ giá 40% cả ba quyển sách để có tài chánh gấp trả luật sư phí ra pháp đình cho giai đoạn hai, số tiền này không nhỏ. Rất mong đồng bào và quý chiến hữu yểm trợ bằng cách mua sách cho chúng tôi. 

SÁCH ĐẠI HẠ GIÁ (ON SALE 40%)
MUA SÁCH YỂM TRỢ TÁC GIẢ LIÊN THÀNH TRẢ LUẬT SƯ PHÍ TRONG VỤ ÁN TRẦN ĐÌNH MINH (TỔNG THƯ KÝ GHPGVNTN CỦA THÍCH QUẢNG ĐỘ VÀ VÕ VĂN ÁI) VS. LIÊN THÀNH (CỰU CHỈ HUY TRƯỞNG, BỘ CHỈ HUY CẢNH SÁT QUỐC GIA VNCH THỪA THIÊN-HUẾ)
            (Bìa ngoài)                        (Bìa trong)
 A/ Order online (Paypal / Credit Card)
http://tiemsachquocgia.blogspot.com/

a. Thích Trí Quang, Thần Tượng hay Tội Đồ Dân Tộc?
Giá cũ $40=>>Giá mới: $24=>>Bấm vào đây 
b. Biến Động Miền Trung
Giá cũ $35=>>Giá mới: $21=>>Bấm vào đây
c. Huế - Thảm Sát Mậu Thân
Giá cũ $35=>>Giá mới: $21=>>Bấm vào đây


***Gởi đi ngoài Hoa Kỳ: Bấm vào đây 

B/ Money Order / Check xin gởi theo địa chỉ sau:
Liên Thành
Address: P.O. Box 6147 - Fullerton, CA 92834 - USA
Phone: 626-257-1057
Email: ubtttadcsvn.vg@gmail.com

Tặng Cho Quỹ Pháp Lý Yểm Trợ Cựu Thiếu Tá Liên Thành (Được Chừng Nào Hay Chừng Đó). Xin Bấm Vào Nút Donate Nằm Phía Trên Của Trang Nhà UBTTTADCSVN.
 http://ubtttadcsvn.blogspot.com/

Xin Tri Ân Quý Vị.




--
Viet Si
__._,_.___

Posted by: Viet Si 

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List