QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Saturday, October 31, 2015

Những giọt nước mắt đã khiến cho bao người phải khóc theo!



----- Forwarded Message -----
From: Tran Marie <
To: vneagle_1
Sent: Thursday, October 29, 2015 5:16 PM
Subject: Kính gửi Trần Sư Huynh


Những giọt nước mắt đã khiến cho bao người phải khóc theo!



Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
 

 

 

Những giọt nước mắt đã khiến cho bao người phải khóc theo!   (Hàn Giang Trần Lệ Tuyền)  


Những giọt nước mắt ngày 20/7/1954:

Trong lịch sử cận đại; nếu kể từ ngày đất nước bị chia cắt, phân ly, bởi Hiệp định Genève, 20/7/1954, thì trước hết, phải nói đến những giọt nước mắt của đồng bào miền Bắc: Họ là những người đã từng gạt lệ, khi phải rời bỏ nhà cửa, ruộng vườn, bỏ tất cả… lên đường vào miền Nam, để tỵ nạn Cộng sản.

Suốt hơn năm mươi năm dài đã trôi qua; sau cuộc “bỏ phiếu bằng chân” ấy. Giờ đây, khi nhìn lại những thước phim về cuộc di cư của đồng bào miền Bắc, có lẽ không ít vị cao niên đã phải bồi hồi nhớ lại một ngày, đã bồng bế nhau đi bằng nhiều cách; đặc biệt, một hình ảnh được phổ biến nhiều nhất, là chiếc “tầu há mồm”, với hình ảnh của những cụ già, em bé… Thế nhưng, tiếc rằng, trong số ấy, sau “hai lần bỏ quê, bỏ nước” có rất nhiều vị đã vĩnh viễn ra đi trước khi những thước phim này được phổ biến trên mạng lưới toàn cầu, Internet, mà đôi khi, có thể họ tình cờ nhìn thấy lại chính mình của ngày nào vừa bước chân xuống chiếc “tầu há mồm”: “Những người muôn năm cũ; Hồn ở đâu bây giờ!”.


Và có rất nhiều vị, không phải chỉ một lần rời xa Quê Hương, mà tới hai lần đã “lưu dấu” bước chân của mình bằng những giọt nước mắt đã rơi rơi trên suốt con đường từ Bắc vào Nam, mà còn phải đứt ruột, xé gan trong lần thứ hai khi bước xuống con tầu Trường Xuân, hoặc trên những phương tiện khác, để tìm tự do. Họ, là những đấng sinh thành, không sá chi thân mình, đã “dắt díu con thơ…” đi tìm tương lai cho con cháu. Nhưng giờ đây, khi con cháu của họ đã thành công nơi xứ người, thì họ đã vĩnh viễn nằm yên dưới lòng đất lạnh nơi đất khách. Họ không bao giờ được trở lại quê xưa, cũng không được nhìn thấy những sự thành đạt của con cháu nữa!!!


Những giọt nước mắt trong cuộc Thảm sát Tết Mâu Thân tại Huế, 1968:


         

 

Cho đến ngày nay, trong chúng ta, có ai có thể cầm được nước mắt, trước những hình ảnh của những người Cha, người Mẹ khóc con, người vợ khóc chồng… Họ đã kêu gào, thét gọi, khóc ngất bên những bộ xương trong số hàng ngàn bộ xương của người thân khi đã không còn nguyên vẹn, vừa được quật lên từ những hố hầm tập thể!!!

Và từ  cuộc thảm sát Tết Mậu Thân ấy, đau thương còn tiếp nối đau thương qua trận chiến của Mùa Hè đỏ lửa, 1972. Làm sao kể hết!


 Những giọt nước mắt ngày 30/4/1975:


Nếu cuộc di cư vào sau ngày 20/7/1954, đã đong đầy những dòng nước mắt phân ly, thì những cuộc di tản, vượt biên, vượt biển, kể từ ngày 30/4/1975, lại càng đau đớn, bi thương hơn đến gấp muôn vạn lần.


Và nếu những ai là những người đã từng lênh lênh trên đại dương, trên những con tàu vượt biển, đã trải qua những trận cuồng phong, bão biển, đói khát…; những cuộc giết hại tàn khốc của hải tặc Thái Lan, những cô gái, những thân xác bé thơ, sau khi bị bầy thú tính hành hạ, đôi khi chưa chết hẳn, đã bị hải tặc quăng xuống biển. Những người Cha, người Mẹ, người chồng, người vợ, người anh, người chị… đã đau đớn vật vã, đã khóc đến gần như đã khô đi những dòng lệ, khi phải dùng đôi tay của chính mình để đào đất, bới cát cho thành những huyệt mộ, ở những vùng đất xa xôi trên hải đảo xa lạ, để vùi nông những tấm thân trần trụi lạnh lẽo, không có lấy một manh chiếu rách để cuốn theo những thân xác của những bé thơ vô tội!


Những thảm cảnh, những đau thương, những giọt nước mắt này, ai có thấu chăng???!!!


Những giọt nước mắt trong các trại tù “cải tạo”:

Đó là, những giọt nước mắt của các vị tù “cải tạo” khi hay tin, Cha Mẹ, vợ, con, anh em của mình đã bị đảng Cộng sản cướp đoạt hết nhà cửa, tài sản, hoặc đã chết trên con đường vượt biên vượt biển. Ngoài ra, còn có những giọt nước mắt của những người đồng cảnh ngộ, là các vị đồng tù. Họ đã khóc thương người bạn của mình đã chết, vì đói khát, bệnh tật, bị công an Cộng sản xử bắn. Cũng có vị đã chết trong những phòng “biệt giam”; đôi chân vẫn còn trong đôi cùm sắt, treo trên tường, thân thể quắt queo trên nền gạch của phòng “biệt giam” tối tăm, lạnh lẽo!!!

Những giọt nước mắt của các vị Thương Phế Binh:

Vào một thời đã chắp tay súng, để bảo vệ đồng bào, bảo vệ non sông, bảo vệ tự do, dân chủ. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, không thể ngờ rằng, có một ngày mình phải bị lâm vào những cảnh ngộ đau thương như vào ngày 30/4/1975. Chính ngày này, khi các vị đang nằm trên giường bệnh, với những vết thương còn rỉ máu, tay chân bị cụt, mắt không còn… thế nhưng, các vị đã bị những kẻ nhân danh là “giải phóng” đã thẳng tay đuổi hết các vị ra khỏi các Quân y Viện của Việt Nam Cộng Hòa. Vì thế, các vị phải bò, phải lê lết những tấm thân còn rỉ máu trở về nương tựa với gia đình cho đến tận ngày hôm nay!

Những giọt nước mắt trên những vùng “Kinh tế mới”:

“Kinh tế mới” là cái mỹ từ do đảng Cộng sản đã đặt để ra, cũng như cái mỹ từ “Học tâp cải tạo” vậy. Thực chất, đây là những vùng đất ở những nơi rừng thiêng, nước độc, không người lui tới, để lưu đày tất cả các gia đình “ngụy dân”. Những vùng “kinh tế mới” toàn là rừng núi hoang vu, đất đá khô cằn, trồng sắn, sắn chết, trồng khoai, khoai khô… không một loại ngũ cốc nào sống được.

Chính vì vậy, sau những tháng năm phải dùng những bàn tay, mà vốn trước kia chỉ quen với phấn trắng, bảng đen; các thấy cô giáo “ngụy”. Sau khi lâm vào những căn bệnh sốt rét rừng... có rất nhiều người đã chết ngay trên vùng “kinh tế mới”. Và những giọt nước mắt của họ đã rơi trên những thi thể của con em của mình đã chết vì bệnh tật, đói, lạnh và kiệt sức. Họ cũng đã nhỏ máu mười đầu ngón tay, vì phải vạch gai rừng, đào huyệt mộ trên vùng đất đá, để chôn xác người thân, và cũng không có quan tài, chỉ bó chiếu mà thôi!

Những giọt nước mắt dưới gầm cầu, trong bãi tha ma:

Đó là những giọt nước mắt của những người đã sống sót qua các vùng “kinh tế mới”, của những người khốn khổ, bần cùng, vô gia cư; bởi nhà cửa đã bị đảng Cộng sản “giải phóng” hết. Vì thế, họ phải gối đất, nằm sương, có khi phải ăn, ngủ trong những bãi tha ma. Con cái của họ không được học hành, vì họ là “ngụy dân” không có “sổ lương thực”, không có “hộ khẩu”. Trong số các nạn nhân ấy, có những cụ già, đã nằm khóc, dưới mưa nắng nhiều ngày đêm trước ngôi nhà của chính mình, vì đã được “giải phóng” mất!

Những giọt nước mắt tại hải ngoại:

Đã gần 39 năm trôi qua, kể từ một ngày tang thương: 30/4/1975. Những người đã từng nuốt lệ, lìa xa Quê Hương, có một số người đã quay trở về, cũng có một thiểu số, vì một lẽ nào đó, nên đã chấp nhận chế độ Cộng sản. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn có đa số không chấp nhận Cộng sản, nên chưa trở về, và có thể, họ sẽ không bao giờ được nhìn thấy lại chốn cũ, làng xưa, trước khi nhắm mắt xuôi tay!

Chính vì thế, tại hải ngoại, hàng năm, vào những ngày giỗ của thân nhân, mỗi lần Tết đến, những người Việt tỵ nạn Cộng sản thực sự, họ không trở về quê, mà chỉ biết âm thầm đi đến những nghĩa trang ở những các nước tạm dung, quỳ trước mộ phần của người thân, để đặt những bó hoa, thắp những nén hương, tỏ lòng hiếu kính, tiếc thương. Và những giọt lệ lại rơi rơi trước những mộ bia, trên những lối đi trong những khu nghĩa trang buồn, lạnh lẽo hắt hiu, vì họ biết người thân của họ không muốn vùi thân nơi đất khách; nhưng họ không thể đem thân xác hay tro cốt của người thân trở về quê hương, xứ sở, vì nơi ấy, đảng Cộng sản vẫn còn cai trị toàn dân!

Ngoài những cảnh ngộ ấy, tại hải ngoại, vẫn còn những giọt lệ bi thương vẫn âm thàm rơi trong những nhà dưỡng lão, trên những khuôn mặt già nua, khắc khổ, họ đã quên đi nhiều thứ, nhưng họ vẫn nhớ đến các con, các cháu. Đặc biệt, họ vẫn nhớ mình là người Việt Nam, vẫn tha thiết trở về, để chết trên Quê Hương; nhưng họ không thể trở về. Bởi, họ là những Dân-Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa: Ngày ra đi, họ đã có lời thề: Không về Việt Nam, khi còn chế độ Cộng sản!

Ôi! những giọt nước ấy, những giọt nước mắt tưởng chừng như đã thành sông, thành bể.  Những giọt nước mắt đã rơi trong suốt thời gian, kể từ cuộc phân ly, cắt chia đất nước:  20/7/1954  - 30/4/1975. Như thế, mà suốt gần 39 năm qua, “ông Luật gia” Lê Hiếu Đằng không hề biết hối hận về những hành vi của 45 năm từng làm Cộng sản, cũng không có một lần nhắc đến những cảnh ngộ đau thương, của những nạn nhân đã chết một cách oan uổng!!!

Và  chính những giọt nước mắt ấy, mới khiến cho nhiều người phải khóc theo; chứ không phải là giọt nước mắt giả dối của một kẻ từng có 45 tuổi đảng Cộng sản của “Luật gia” Lê Hiếu Đằng!

Xin quý vị, những người Việt Nam yêu nước chân chính, hãy cùng nhau suy tưởng về những cái chết, về những đau thương chất ngất của toàn dân. Và suốt trong cả mấy chục năm dài, trong lúc những giọt nước mắt đau thương của đồng bào vô tội đã và đang tuôn chảy thành sông ấy, thì “Luật gia” Lê Hiếu Đằng lại thản nhiên bỏ ra “chiến khu”, thản nhiên hoạt động trong tổ chức “Đặc công Sài Gòn – Gia Định” của “Mặt trận giải phóng miền Nam”; một tổ chức ngoại vi của đảng Cộng sản. Và hơn hết, là đã reo vui trên những máu xương và nước mắt của đồng bào vô tội, đã sống bình yên trong “vòng tay” của đảng Cộng sản Hà Nội, như chính “Luật gia” Lê Hiếu Đằng đã viết bằng những lời xác định, là do “đảng Cộng sản VN giải phóng dân tộc”.

Đau thương đã chất ngất, nước mắt đã rơi, xương đã phơi, máu đã đổ quá nhiều rồi. Chúng ta đã từng bị đảng Cộng sản lừa dối không biết bao nhiêu lần. Chính vì thế, giờ đây, khi nước đã mất, nhà đã tan; chúng ta phải hết sức sáng suốt, chúng ta không được, và không cho phép mình lầm lẫn, cho dù có cả hàng trăm, hàng ngàn những đảng viên Cộng sản Việt Nam có “khóc - tuyên bố bỏ đảng”, thì đó, chỉ là thi hành “Khổ nhục kế” mà thôi.

Tuy nhiên, chúng ta không “đánh người chạy lại”. Nhưng chỉ đối với những người thành tâm hối hận, nhận tất cả những lỗi lầm của họ trước toàn dân. Và khi trở về với Chính Nghĩa, Quốc Gia, Dân Tộc, họ phải chứng tỏ bằng những thái độ và hành động dứt khoát, cụ thể rõ ràng, như những cán binh, những đảng viên Cộng sản đã từng Quy Chánh theo chính sách Chiêu Hồi trước ngày 30/4/1975, tại các Trung Tâm Chiêu Hồi, thì mới mong xóa đi những oán cừu, chứ không phải bằng những giọt nước mắt cải lương, bằng những lời lẽ ngụy biện!


Paris, 15/12/2013

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

 



Những giọt nước mắt ngày 20/7/1954:

Trong lịch sử cận đại; nếu kể từ ngày đất nước bị chia cắt, phân ly, bởi Hiệp định Genève, 20/7/1954, thì trước hết, phải nói đến những giọt nước mắt của đồng bào miền Bắc: Họ là những người đã từng gạt lệ, khi phải rời bỏ nhà cửa, ruộng vườn, bỏ tất cả… lên đường vào miền Nam, để tỵ nạn Cộng sản.

Suốt hơn năm mươi năm dài đã trôi qua; sau cuộc “bỏ phiếu bằng chân” ấy. Giờ đây, khi nhìn lại những thước phim về cuộc di cư của đồng bào miền Bắc, có lẽ không ít vị cao niên đã phải bồi hồi nhớ lại một ngày, đã bồng bế nhau đi bằng nhiều cách; đặc biệt, một hình ảnh được phổ biến nhiều nhất, là chiếc “tầu há mồm”, với hình ảnh của những cụ già, em bé… Thế nhưng, tiếc rằng, trong số ấy, sau “hai lần bỏ quê, bỏ nước” có rất nhiều vị đã vĩnh viễn ra đi trước khi những thước phim này được phổ biến trên mạng lưới toàn cầu, Internet, mà đôi khi, có thể họ tình cờ nhìn thấy lại chính mình của ngày nào vừa bước chân xuống chiếc “tầu há mồm”: “Những người muôn năm cũ; Hồn ở đâu bây giờ!”.


Và có rất nhiều vị, không phải chỉ một lần rời xa Quê Hương, mà tới hai lần đã “lưu dấu” bước chân của mình bằng những giọt nước mắt đã rơi rơi trên suốt con đường từ Bắc vào Nam, mà còn phải đứt ruột, xé gan trong lần thứ hai khi bước xuống con tầu Trường Xuân, hoặc trên những phương tiện khác, để tìm tự do. Họ, là những đấng sinh thành, không sá chi thân mình, đã “dắt díu con thơ…” đi tìm tương lai cho con cháu. Nhưng giờ đây, khi con cháu của họ đã thành công nơi xứ người, thì họ đã vĩnh viễn nằm yên dưới lòng đất lạnh nơi đất khách. Họ không bao giờ được trở lại quê xưa, cũng không được nhìn thấy những sự thành đạt của con cháu nữa!!!


Những giọt nước mắt trong cuộc Thảm sát Tết Mâu Thân tại Huế, 1968:


         

 

Cho đến ngày nay, trong chúng ta, có ai có thể cầm được nước mắt, trước những hình ảnh của những người Cha, người Mẹ khóc con, người vợ khóc chồng… Họ đã kêu gào, thét gọi, khóc ngất bên những bộ xương trong số hàng ngàn bộ xương của người thân khi đã không còn nguyên vẹn, vừa được quật lên từ những hố hầm tập thể!!!

Và từ  cuộc thảm sát Tết Mậu Thân ấy, đau thương còn tiếp nối đau thương qua trận chiến của Mùa Hè đỏ lửa, 1972. Làm sao kể hết!


 Những giọt nước mắt ngày 30/4/1975:


Nếu cuộc di cư vào sau ngày 20/7/1954, đã đong đầy những dòng nước mắt phân ly, thì những cuộc di tản, vượt biên, vượt biển, kể từ ngày 30/4/1975, lại càng đau đớn, bi thương hơn đến gấp muôn vạn lần.


Và nếu những ai là những người đã từng lênh lênh trên đại dương, trên những con tàu vượt biển, đã trải qua những trận cuồng phong, bão biển, đói khát…; những cuộc giết hại tàn khốc của hải tặc Thái Lan, những cô gái, những thân xác bé thơ, sau khi bị bầy thú tính hành hạ, đôi khi chưa chết hẳn, đã bị hải tặc quăng xuống biển. Những người Cha, người Mẹ, người chồng, người vợ, người anh, người chị… đã đau đớn vật vã, đã khóc đến gần như đã khô đi những dòng lệ, khi phải dùng đôi tay của chính mình để đào đất, bới cát cho thành những huyệt mộ, ở những vùng đất xa xôi trên hải đảo xa lạ, để vùi nông những tấm thân trần trụi lạnh lẽo, không có lấy một manh chiếu rách để cuốn theo những thân xác của những bé thơ vô tội!


Những thảm cảnh, những đau thương, những giọt nước mắt này, ai có thấu chăng???!!!


Những giọt nước mắt trong các trại tù “cải tạo”:

Đó là, những giọt nước mắt của các vị tù “cải tạo” khi hay tin, Cha Mẹ, vợ, con, anh em của mình đã bị đảng Cộng sản cướp đoạt hết nhà cửa, tài sản, hoặc đã chết trên con đường vượt biên vượt biển. Ngoài ra, còn có những giọt nước mắt của những người đồng cảnh ngộ, là các vị đồng tù. Họ đã khóc thương người bạn của mình đã chết, vì đói khát, bệnh tật, bị công an Cộng sản xử bắn. Cũng có vị đã chết trong những phòng “biệt giam”; đôi chân vẫn còn trong đôi cùm sắt, treo trên tường, thân thể quắt queo trên nền gạch của phòng “biệt giam” tối tăm, lạnh lẽo!!!

Những giọt nước mắt của các vị Thương Phế Binh:

Vào một thời đã chắp tay súng, để bảo vệ đồng bào, bảo vệ non sông, bảo vệ tự do, dân chủ. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, không thể ngờ rằng, có một ngày mình phải bị lâm vào những cảnh ngộ đau thương như vào ngày 30/4/1975. Chính ngày này, khi các vị đang nằm trên giường bệnh, với những vết thương còn rỉ máu, tay chân bị cụt, mắt không còn… thế nhưng, các vị đã bị những kẻ nhân danh là “giải phóng” đã thẳng tay đuổi hết các vị ra khỏi các Quân y Viện của Việt Nam Cộng Hòa. Vì thế, các vị phải bò, phải lê lết những tấm thân còn rỉ máu trở về nương tựa với gia đình cho đến tận ngày hôm nay!

Những giọt nước mắt trên những vùng “Kinh tế mới”:

“Kinh tế mới” là cái mỹ từ do đảng Cộng sản đã đặt để ra, cũng như cái mỹ từ “Học tâp cải tạo” vậy. Thực chất, đây là những vùng đất ở những nơi rừng thiêng, nước độc, không người lui tới, để lưu đày tất cả các gia đình “ngụy dân”. Những vùng “kinh tế mới” toàn là rừng núi hoang vu, đất đá khô cằn, trồng sắn, sắn chết, trồng khoai, khoai khô… không một loại ngũ cốc nào sống được.

Chính vì vậy, sau những tháng năm phải dùng những bàn tay, mà vốn trước kia chỉ quen với phấn trắng, bảng đen; các thấy cô giáo “ngụy”. Sau khi lâm vào những căn bệnh sốt rét rừng... có rất nhiều người đã chết ngay trên vùng “kinh tế mới”. Và những giọt nước mắt của họ đã rơi trên những thi thể của con em của mình đã chết vì bệnh tật, đói, lạnh và kiệt sức. Họ cũng đã nhỏ máu mười đầu ngón tay, vì phải vạch gai rừng, đào huyệt mộ trên vùng đất đá, để chôn xác người thân, và cũng không có quan tài, chỉ bó chiếu mà thôi!

Những giọt nước mắt dưới gầm cầu, trong bãi tha ma:

Đó là những giọt nước mắt của những người đã sống sót qua các vùng “kinh tế mới”, của những người khốn khổ, bần cùng, vô gia cư; bởi nhà cửa đã bị đảng Cộng sản “giải phóng” hết. Vì thế, họ phải gối đất, nằm sương, có khi phải ăn, ngủ trong những bãi tha ma. Con cái của họ không được học hành, vì họ là “ngụy dân” không có “sổ lương thực”, không có “hộ khẩu”. Trong số các nạn nhân ấy, có những cụ già, đã nằm khóc, dưới mưa nắng nhiều ngày đêm trước ngôi nhà của chính mình, vì đã được “giải phóng” mất!

Những giọt nước mắt tại hải ngoại:

Đã gần 39 năm trôi qua, kể từ một ngày tang thương: 30/4/1975. Những người đã từng nuốt lệ, lìa xa Quê Hương, có một số người đã quay trở về, cũng có một thiểu số, vì một lẽ nào đó, nên đã chấp nhận chế độ Cộng sản. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn có đa số không chấp nhận Cộng sản, nên chưa trở về, và có thể, họ sẽ không bao giờ được nhìn thấy lại chốn cũ, làng xưa, trước khi nhắm mắt xuôi tay!

Chính vì thế, tại hải ngoại, hàng năm, vào những ngày giỗ của thân nhân, mỗi lần Tết đến, những người Việt tỵ nạn Cộng sản thực sự, họ không trở về quê, mà chỉ biết âm thầm đi đến những nghĩa trang ở những các nước tạm dung, quỳ trước mộ phần của người thân, để đặt những bó hoa, thắp những nén hương, tỏ lòng hiếu kính, tiếc thương. Và những giọt lệ lại rơi rơi trước những mộ bia, trên những lối đi trong những khu nghĩa trang buồn, lạnh lẽo hắt hiu, vì họ biết người thân của họ không muốn vùi thân nơi đất khách; nhưng họ không thể đem thân xác hay tro cốt của người thân trở về quê hương, xứ sở, vì nơi ấy, đảng Cộng sản vẫn còn cai trị toàn dân!

Ngoài những cảnh ngộ ấy, tại hải ngoại, vẫn còn những giọt lệ bi thương vẫn âm thàm rơi trong những nhà dưỡng lão, trên những khuôn mặt già nua, khắc khổ, họ đã quên đi nhiều thứ, nhưng họ vẫn nhớ đến các con, các cháu. Đặc biệt, họ vẫn nhớ mình là người Việt Nam, vẫn tha thiết trở về, để chết trên Quê Hương; nhưng họ không thể trở về. Bởi, họ là những Dân-Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa: Ngày ra đi, họ đã có lời thề: Không về Việt Nam, khi còn chế độ Cộng sản!

Ôi! những giọt nước ấy, những giọt nước mắt tưởng chừng như đã thành sông, thành bể.  Những giọt nước mắt đã rơi trong suốt thời gian, kể từ cuộc phân ly, cắt chia đất nước:  20/7/1954  - 30/4/1975. Như thế, mà suốt gần 39 năm qua, “ông Luật gia” Lê Hiếu Đằng không hề biết hối hận về những hành vi của 45 năm từng làm Cộng sản, cũng không có một lần nhắc đến những cảnh ngộ đau thương, của những nạn nhân đã chết một cách oan uổng!!!

Và  chính những giọt nước mắt ấy, mới khiến cho nhiều người phải khóc theo; chứ không phải là giọt nước mắt giả dối của một kẻ từng có 45 tuổi đảng Cộng sản của “Luật gia” Lê Hiếu Đằng!

Xin quý vị, những người Việt Nam yêu nước chân chính, hãy cùng nhau suy tưởng về những cái chết, về những đau thương chất ngất của toàn dân. Và suốt trong cả mấy chục năm dài, trong lúc những giọt nước mắt đau thương của đồng bào vô tội đã và đang tuôn chảy thành sông ấy, thì “Luật gia” Lê Hiếu Đằng lại thản nhiên bỏ ra “chiến khu”, thản nhiên hoạt động trong tổ chức “Đặc công Sài Gòn – Gia Định” của “Mặt trận giải phóng miền Nam”; một tổ chức ngoại vi của đảng Cộng sản. Và hơn hết, là đã reo vui trên những máu xương và nước mắt của đồng bào vô tội, đã sống bình yên trong “vòng tay” của đảng Cộng sản Hà Nội, như chính “Luật gia” Lê Hiếu Đằng đã viết bằng những lời xác định, là do “đảng Cộng sản VN giải phóng dân tộc”.

Đau thương đã chất ngất, nước mắt đã rơi, xương đã phơi, máu đã đổ quá nhiều rồi. Chúng ta đã từng bị đảng Cộng sản lừa dối không biết bao nhiêu lần. Chính vì thế, giờ đây, khi nước đã mất, nhà đã tan; chúng ta phải hết sức sáng suốt, chúng ta không được, và không cho phép mình lầm lẫn, cho dù có cả hàng trăm, hàng ngàn những đảng viên Cộng sản Việt Nam có “khóc - tuyên bố bỏ đảng”, thì đó, chỉ là thi hành “Khổ nhục kế” mà thôi.

Tuy nhiên, chúng ta không “đánh người chạy lại”. Nhưng chỉ đối với những người thành tâm hối hận, nhận tất cả những lỗi lầm của họ trước toàn dân. Và khi trở về với Chính Nghĩa, Quốc Gia, Dân Tộc, họ phải chứng tỏ bằng những thái độ và hành động dứt khoát, cụ thể rõ ràng, như những cán binh, những đảng viên Cộng sản đã từng Quy Chánh theo chính sách Chiêu Hồi trước ngày 30/4/1975, tại các Trung Tâm Chiêu Hồi, thì mới mong xóa đi những oán cừu, chứ không phải bằng những giọt nước mắt cải lương, bằng những lời lẽ ngụy biện!


Paris, 15/12/2013

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền


 



Những giọt nước mắt ngày 20/7/1954:

Trong lịch sử cận đại; nếu kể từ ngày đất nước bị chia cắt, phân ly, bởi Hiệp định Genève, 20/7/1954, thì trước hết, phải nói đến những giọt nước mắt của đồng bào miền Bắc: Họ là những người đã từng gạt lệ, khi phải rời bỏ nhà cửa, ruộng vườn, bỏ tất cả… lên đường vào miền Nam, để tỵ nạn Cộng sản.

Suốt hơn năm mươi năm dài đã trôi qua; sau cuộc “bỏ phiếu bằng chân” ấy. Giờ đây, khi nhìn lại những thước phim về cuộc di cư của đồng bào miền Bắc, có lẽ không ít vị cao niên đã phải bồi hồi nhớ lại một ngày, đã bồng bế nhau đi bằng nhiều cách; đặc biệt, một hình ảnh được phổ biến nhiều nhất, là chiếc “tầu há mồm”, với hình ảnh của những cụ già, em bé… Thế nhưng, tiếc rằng, trong số ấy, sau “hai lần bỏ quê, bỏ nước” có rất nhiều vị đã vĩnh viễn ra đi trước khi những thước phim này được phổ biến trên mạng lưới toàn cầu, Internet, mà đôi khi, có thể họ tình cờ nhìn thấy lại chính mình của ngày nào vừa bước chân xuống chiếc “tầu há mồm”: “Những người muôn năm cũ; Hồn ở đâu bây giờ!”.


Và có rất nhiều vị, không phải chỉ một lần rời xa Quê Hương, mà tới hai lần đã “lưu dấu” bước chân của mình bằng những giọt nước mắt đã rơi rơi trên suốt con đường từ Bắc vào Nam, mà còn phải đứt ruột, xé gan trong lần thứ hai khi bước xuống con tầu Trường Xuân, hoặc trên những phương tiện khác, để tìm tự do. Họ, là những đấng sinh thành, không sá chi thân mình, đã “dắt díu con thơ…” đi tìm tương lai cho con cháu. Nhưng giờ đây, khi con cháu của họ đã thành công nơi xứ người, thì họ đã vĩnh viễn nằm yên dưới lòng đất lạnh nơi đất khách. Họ không bao giờ được trở lại quê xưa, cũng không được nhìn thấy những sự thành đạt của con cháu nữa!!!


Những giọt nước mắt trong cuộc Thảm sát Tết Mâu Thân tại Huế, 1968:


         

 

Cho đến ngày nay, trong chúng ta, có ai có thể cầm được nước mắt, trước những hình ảnh của những người Cha, người Mẹ khóc con, người vợ khóc chồng… Họ đã kêu gào, thét gọi, khóc ngất bên những bộ xương trong số hàng ngàn bộ xương của người thân khi đã không còn nguyên vẹn, vừa được quật lên từ những hố hầm tập thể!!!

Và từ  cuộc thảm sát Tết Mậu Thân ấy, đau thương còn tiếp nối đau thương qua trận chiến của Mùa Hè đỏ lửa, 1972. Làm sao kể hết!


 Những giọt nước mắt ngày 30/4/1975:


Nếu cuộc di cư vào sau ngày 20/7/1954, đã đong đầy những dòng nước mắt phân ly, thì những cuộc di tản, vượt biên, vượt biển, kể từ ngày 30/4/1975, lại càng đau đớn, bi thương hơn đến gấp muôn vạn lần.


Và nếu những ai là những người đã từng lênh lênh trên đại dương, trên những con tàu vượt biển, đã trải qua những trận cuồng phong, bão biển, đói khát…; những cuộc giết hại tàn khốc của hải tặc Thái Lan, những cô gái, những thân xác bé thơ, sau khi bị bầy thú tính hành hạ, đôi khi chưa chết hẳn, đã bị hải tặc quăng xuống biển. Những người Cha, người Mẹ, người chồng, người vợ, người anh, người chị… đã đau đớn vật vã, đã khóc đến gần như đã khô đi những dòng lệ, khi phải dùng đôi tay của chính mình để đào đất, bới cát cho thành những huyệt mộ, ở những vùng đất xa xôi trên hải đảo xa lạ, để vùi nông những tấm thân trần trụi lạnh lẽo, không có lấy một manh chiếu rách để cuốn theo những thân xác của những bé thơ vô tội!


Những thảm cảnh, những đau thương, những giọt nước mắt này, ai có thấu chăng???!!!


Những giọt nước mắt trong các trại tù “cải tạo”:

Đó là, những giọt nước mắt của các vị tù “cải tạo” khi hay tin, Cha Mẹ, vợ, con, anh em của mình đã bị đảng Cộng sản cướp đoạt hết nhà cửa, tài sản, hoặc đã chết trên con đường vượt biên vượt biển. Ngoài ra, còn có những giọt nước mắt của những người đồng cảnh ngộ, là các vị đồng tù. Họ đã khóc thương người bạn của mình đã chết, vì đói khát, bệnh tật, bị công an Cộng sản xử bắn. Cũng có vị đã chết trong những phòng “biệt giam”; đôi chân vẫn còn trong đôi cùm sắt, treo trên tường, thân thể quắt queo trên nền gạch của phòng “biệt giam” tối tăm, lạnh lẽo!!!

Những giọt nước mắt của các vị Thương Phế Binh:

Vào một thời đã chắp tay súng, để bảo vệ đồng bào, bảo vệ non sông, bảo vệ tự do, dân chủ. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, không thể ngờ rằng, có một ngày mình phải bị lâm vào những cảnh ngộ đau thương như vào ngày 30/4/1975. Chính ngày này, khi các vị đang nằm trên giường bệnh, với những vết thương còn rỉ máu, tay chân bị cụt, mắt không còn… thế nhưng, các vị đã bị những kẻ nhân danh là “giải phóng” đã thẳng tay đuổi hết các vị ra khỏi các Quân y Viện của Việt Nam Cộng Hòa. Vì thế, các vị phải bò, phải lê lết những tấm thân còn rỉ máu trở về nương tựa với gia đình cho đến tận ngày hôm nay!

Những giọt nước mắt trên những vùng “Kinh tế mới”:

“Kinh tế mới” là cái mỹ từ do đảng Cộng sản đã đặt để ra, cũng như cái mỹ từ “Học tâp cải tạo” vậy. Thực chất, đây là những vùng đất ở những nơi rừng thiêng, nước độc, không người lui tới, để lưu đày tất cả các gia đình “ngụy dân”. Những vùng “kinh tế mới” toàn là rừng núi hoang vu, đất đá khô cằn, trồng sắn, sắn chết, trồng khoai, khoai khô… không một loại ngũ cốc nào sống được.

Chính vì vậy, sau những tháng năm phải dùng những bàn tay, mà vốn trước kia chỉ quen với phấn trắng, bảng đen; các thấy cô giáo “ngụy”. Sau khi lâm vào những căn bệnh sốt rét rừng... có rất nhiều người đã chết ngay trên vùng “kinh tế mới”. Và những giọt nước mắt của họ đã rơi trên những thi thể của con em của mình đã chết vì bệnh tật, đói, lạnh và kiệt sức. Họ cũng đã nhỏ máu mười đầu ngón tay, vì phải vạch gai rừng, đào huyệt mộ trên vùng đất đá, để chôn xác người thân, và cũng không có quan tài, chỉ bó chiếu mà thôi!

Những giọt nước mắt dưới gầm cầu, trong bãi tha ma:

Đó là những giọt nước mắt của những người đã sống sót qua các vùng “kinh tế mới”, của những người khốn khổ, bần cùng, vô gia cư; bởi nhà cửa đã bị đảng Cộng sản “giải phóng” hết. Vì thế, họ phải gối đất, nằm sương, có khi phải ăn, ngủ trong những bãi tha ma. Con cái của họ không được học hành, vì họ là “ngụy dân” không có “sổ lương thực”, không có “hộ khẩu”. Trong số các nạn nhân ấy, có những cụ già, đã nằm khóc, dưới mưa nắng nhiều ngày đêm trước ngôi nhà của chính mình, vì đã được “giải phóng” mất!

Những giọt nước mắt tại hải ngoại:

Đã gần 39 năm trôi qua, kể từ một ngày tang thương: 30/4/1975. Những người đã từng nuốt lệ, lìa xa Quê Hương, có một số người đã quay trở về, cũng có một thiểu số, vì một lẽ nào đó, nên đã chấp nhận chế độ Cộng sản. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn có đa số không chấp nhận Cộng sản, nên chưa trở về, và có thể, họ sẽ không bao giờ được nhìn thấy lại chốn cũ, làng xưa, trước khi nhắm mắt xuôi tay!

Chính vì thế, tại hải ngoại, hàng năm, vào những ngày giỗ của thân nhân, mỗi lần Tết đến, những người Việt tỵ nạn Cộng sản thực sự, họ không trở về quê, mà chỉ biết âm thầm đi đến những nghĩa trang ở những các nước tạm dung, quỳ trước mộ phần của người thân, để đặt những bó hoa, thắp những nén hương, tỏ lòng hiếu kính, tiếc thương. Và những giọt lệ lại rơi rơi trước những mộ bia, trên những lối đi trong những khu nghĩa trang buồn, lạnh lẽo hắt hiu, vì họ biết người thân của họ không muốn vùi thân nơi đất khách; nhưng họ không thể đem thân xác hay tro cốt của người thân trở về quê hương, xứ sở, vì nơi ấy, đảng Cộng sản vẫn còn cai trị toàn dân!

Ngoài những cảnh ngộ ấy, tại hải ngoại, vẫn còn những giọt lệ bi thương vẫn âm thàm rơi trong những nhà dưỡng lão, trên những khuôn mặt già nua, khắc khổ, họ đã quên đi nhiều thứ, nhưng họ vẫn nhớ đến các con, các cháu. Đặc biệt, họ vẫn nhớ mình là người Việt Nam, vẫn tha thiết trở về, để chết trên Quê Hương; nhưng họ không thể trở về. Bởi, họ là những Dân-Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa: Ngày ra đi, họ đã có lời thề: Không về Việt Nam, khi còn chế độ Cộng sản!

Ôi! những giọt nước ấy, những giọt nước mắt tưởng chừng như đã thành sông, thành bể.  Những giọt nước mắt đã rơi trong suốt thời gian, kể từ cuộc phân ly, cắt chia đất nước:  20/7/1954  - 30/4/1975. Như thế, mà suốt gần 39 năm qua, “ông Luật gia” Lê Hiếu Đằng không hề biết hối hận về những hành vi của 45 năm từng làm Cộng sản, cũng không có một lần nhắc đến những cảnh ngộ đau thương, của những nạn nhân đã chết một cách oan uổng!!!

Và  chính những giọt nước mắt ấy, mới khiến cho nhiều người phải khóc theo; chứ không phải là giọt nước mắt giả dối của một kẻ từng có 45 tuổi đảng Cộng sản của “Luật gia” Lê Hiếu Đằng!

Xin quý vị, những người Việt Nam yêu nước chân chính, hãy cùng nhau suy tưởng về những cái chết, về những đau thương chất ngất của toàn dân. Và suốt trong cả mấy chục năm dài, trong lúc những giọt nước mắt đau thương của đồng bào vô tội đã và đang tuôn chảy thành sông ấy, thì “Luật gia” Lê Hiếu Đằng lại thản nhiên bỏ ra “chiến khu”, thản nhiên hoạt động trong tổ chức “Đặc công Sài Gòn – Gia Định” của “Mặt trận giải phóng miền Nam”; một tổ chức ngoại vi của đảng Cộng sản. Và hơn hết, là đã reo vui trên những máu xương và nước mắt của đồng bào vô tội, đã sống bình yên trong “vòng tay” của đảng Cộng sản Hà Nội, như chính “Luật gia” Lê Hiếu Đằng đã viết bằng những lời xác định, là do “đảng Cộng sản VN giải phóng dân tộc”.

Đau thương đã chất ngất, nước mắt đã rơi, xương đã phơi, máu đã đổ quá nhiều rồi. Chúng ta đã từng bị đảng Cộng sản lừa dối không biết bao nhiêu lần. Chính vì thế, giờ đây, khi nước đã mất, nhà đã tan; chúng ta phải hết sức sáng suốt, chúng ta không được, và không cho phép mình lầm lẫn, cho dù có cả hàng trăm, hàng ngàn những đảng viên Cộng sản Việt Nam có “khóc - tuyên bố bỏ đảng”, thì đó, chỉ là thi hành “Khổ nhục kế” mà thôi.

Tuy nhiên, chúng ta không “đánh người chạy lại”. Nhưng chỉ đối với những người thành tâm hối hận, nhận tất cả những lỗi lầm của họ trước toàn dân. Và khi trở về với Chính Nghĩa, Quốc Gia, Dân Tộc, họ phải chứng tỏ bằng những thái độ và hành động dứt khoát, cụ thể rõ ràng, như những cán binh, những đảng viên Cộng sản đã từng Quy Chánh theo chính sách Chiêu Hồi trước ngày 30/4/1975, tại các Trung Tâm Chiêu Hồi, thì mới mong xóa đi những oán cừu, chứ không phải bằng những giọt nước mắt cải lương, bằng những lời lẽ ngụy biện!


Paris, 15/12/2013

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền


__._,_.___


Posted by: <vneagle_1

Thursday, October 29, 2015

Ngày nay SG còn đâu tên gọi Hòn Ngọc Viễn Đông. Than ôi !!!



Nhân vô thập toàn ...
Ngay cả các tổng thống Mỹ , Âu Châu ... cũng có kẻ khen người chê , kẻ thương người ghét .

TT Ngô Đình Diệm là một người yêu nước . Ông đã cố gắng hết sức mình để đưa Việt Nam trở nên phú cường , văn minh . Kinh tế dưới thời TT Diệm cao nhất Đông Nam Á.  Lúc đó Việt Nam được gọi là con rồng Á Châu .
Đời sống dân miền Nam sung túc.
Lợi tức trung bình ( GNP Per capita Average )   chỉ thua Nhật Bản , và mức sống Nam VN lại cao hơn cả Nam Hàn, Singapore , Đài Loan ..v.v.

Ngày nay SG còn đâu tên gọi  Hòn Ngọc Viễn Đông.   Than ôi    !!!



----- Forwarded Message -----
From: Thong  Pham
Sent: Thursday, October 08, 2015 11:21 PM




 TRƯNG CẨU DÂN Ý 1955 - TT NGÔ ĐÌNH DIỆM   5,721,735  PHIẾU BẦU   ( 99 %  )  ---  BẢO ĐẠI ĐƯỢC 63,017 PHIẾU

Trong cuốn Le Dragon D'Annam ( Con rồng An Nam ) xuất bản tại Pháp 1980 , Hoàng Đế Bảo Đại đã dành mấy trang để nói về TT Ngô Đình Diệm , từ thời Ngô Đình Khả được Vua Thành Thái mới ra làm Thuợng Thơ Bộ Lại năm 1896 . Chức vụ này được dân Huế gọi là Tể Tướng của nhà Vua triều Nguyễn . Ngày nay người ta gọi là Thủ Tướng .

Hoàng Đế Bảo Đại cũng có nói về cuộc Bầu cử dân chủ đầu tiên khi đó BĐ đang làm vua VN , trưng cầu dân ý 1955 .-- Người dân  đa số bỏ phiếu bầu  Diêm làm Tổng Thống đầu tiên của VN diêu hành phục vụ đất nước . Tên mo'i  :  VIÊT  NAM  CÔNG  HOÀ .
BD cũng kể lại câu chuyện năm 1954 khi mời ông Diệm về làm Thủ Tướng . Lúc đó ông Diệm là một tu sĩ Công Giáo ở trong tu viện khổ tu Dòng Saint Benedict ở New Jersey , Hoa Kỳ nên ông từ chối lời mời của Bảo Đại .
Kể lại chuyện này trong cuốn sách Le Dragon D'Annam  , Bảo Đại cho biết cuối cùng BD phải kéo ông Diệm qua phòng bên cạnh -  bảo Diệm "  phải quỳ xuống trước Thánh Giá " ..." để ông Diệm phải thề là một người yêu nước Việt Nam thật sự " .
Cuối cùng ông Diệm chấp nhận lời thề và đồng ý về nước tháng 7 -1954 để làm Thủ Tướng cho Hoàng Đế Bảo Đại

---Forwarded  Message --





Giờ  đây thời gian không thể nói là chưa đủ dài; tài liệu lịch sử không thể nói là thiếu.  Những thực tế về Tổ Quốc và Nhân Dân Việt Nam đã phải hy sinh vì quá thật thà, cả tin, đã quá dư thừa để có thể rút ra bài học lịch sử, đặt hướng đi cho Việt Nam nếu muốn có an bình, độc lập, tự do, công bằng xã hội… và mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam đều được quan tâm đồng đều; những truyền thống văn hóa lịch sử của Việt Nam được bảo tồn và phát triển…

Bài học lịch sử đó phải được THẲNG THẮN NHẬN THỨC LẠI những diễn biến tại Việt Nam trong giai đoạn sau thế chiến thứ hai cho đến nay là 2014.

QUÁ TRÌNH DIỄN BIẾN
1/ Trong tay thực dân Pháp, vị vua cuối cùng của Nhà Nguyễn là Bảo Đại, thực chất chỉ là một hôn quân, hoang tàng đàn điếm, và ngoan ngoãn trong bàn tay thực dân Pháp.

Tháng 3, 1945, Phát Xít Nhật đảo chánh thực dân Pháp ở Đông Dương.  Binh lính thực dân Pháp bộc lộ hoàn toàn sự hèn hạ như tập đoàn Pétain ở chính quốc trước Phát Xít Hitler.

Đối với Việt Nam, Phát Xít Nhật đã cho vào tầm ngắm trong âm mưu thực thi giấc mộng Đại Đông Á. Cho nên chúng đã đỡ đẻ cho ra đời: tổ chức chính trị với Đại Việt và Tôn Giáo với Đạo Cao Đài.

Đảo chính thực dân Pháp xong, Phát Xít Nhật trao lại quyền cho vua Bảo Đại vì cái ông vua này có cũng như không, nhất là Phát Xít Nhật vẫn giữ về đối ngoại và quốc phòng.  Nghĩa là Việt Nam từ thân phận nô lệ trọn vẹn của thực dân Pháp thành nô lệ bán phần cho Phát Xít Nhật mà thôi, bởi vì Phát Xít Nhật đã biết ngày sụp đổ của chúng chỉ còn tính theo từng tháng!

Vua Bảo Đại trao cho Trần Trọng Kim lập chính phủ.  Ông ta là một người yêu nước, có nhiều công trạng trong ngành giáo dục nhưng không có bản lãnh chính trị vào cái thời điểm quan trọng đó.
Chính vì thế, TRẦN TRỌNG KIM ĐÃ ĐƯA RA HAI CÁI LỆNH “YÊU NƯỚC” THÀNH RA “HẠI NƯỚC” hệt như sự tích con trâu.  Một vị thần đã đổ hạt giống cỏ trước, đổ lúa giống sau.  Cho nên cỏ mọc tràn lan, lúa không còn chỗ mọc. Cái ông thần “đãng trí” đó phải mang kiếp trâu để ăn cỏ, kéo cầy bừa trồng lúa cho loài người.

a)      Lệnh Thứ Nhất: Thả hết các tù nhân. Nhờ đó lũ cỏ dại việt gian cộng sản Đông Dương mới có nhân lực để chiếm quyền lực của kẻ thả chúng ra.
b)      Lệnh Thứ Hai: Huyền chức và truy tố các quan lại, hào lý bị kết tội tham nhũng, nhất là lũ giúp giặc Nhật nhổ lúa của dân, trồng đay cho chúng, khiến gần 2 triệu nông dân Bắc Việt Nam bị chết đói năm Ất Dậu 1945.

Vì thế bộ máy hành chính bị những khoảng trống vận hành.  Việc làm “vô chính trị” này đã giúp tên đại tội đồ Hồ Chí Minh khi cướp được cái ghế chủ tịch của chính phủ Liên Hiệp với các đảng”Quốc Gia” của Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam… đã cho lệnh hoãn thi hành.  Nhờ thế chỉ cần một lời đề nghị trong cuộc họp chính phủ, một chữ ký và nhân danh chính phủ, tên đại ma đầu VGCS Hồ Chí Minh đã nhận được  sự trung thành của đám quan lại, hào lý tham nhũng để  điều khiển sự vận hành của bộ máy hành chính có lợi tuyệt đối cho tổ chức việt gian cộng sản Đông Dương, núp trong cái áo Việt Minh!
2/ Trong những bài bình luận trước, Chính Khí Việt đã chứng minh rằng sự ngoan cố một cách tham lam và ngu xuẩn của thực dân Pháp khi chúng quay lại Việt Nam, là nguyên nhân làm bùng lên ngọn lửa yêu nước truyền thống của nhân dân Việt Nam.  Họ sẵn sàng hy sinh mạng sống bản thân và tài sản nhiều đời tích luỹ được để phục vụ cho cuộc chiến tranh chống Pháp.  Sự cuồng nhiệt đó với lòng chân thành  cho nên họ đã bị lèo lái bởi tập đoàn việt gian cộng sản Đông Dương Hồ Chí Minh, được sự hỗ trợ của những tên chính trị gia từ tâm khảm chỉ muốn làm tay sai để dựa dẫm hoàn toàn vào ngoại bang,như bè lũ Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam…  và những anh trí thức, văn nghệ sĩ hoang tưởng…mù loà trí tuệ, đã  cúc cung làm nô tài cho tên đại tội đồ Hồ Chí Minh để hắn thực thi thành công việc lèo lái cuộc kháng chiến chống Pháp thành cuộc chiến giành thuộc địa, bằng chính xương máu người Việt Nam cho thực dân đỏ Leninist Nga Xô và Tàu Mao đối với ba nước Việt Nam, Lào, Cam Bốt. Và cũng dịp đó, đại tội đồ Hồ Chí Minhđã sử dụng thành công khẩu hiệu “tiểu thổ kháng chiến”, bước thứ nhất trong việc bần cùng hóa toàn dân Việt Nam!
Cần lưu ý rằng:

a)      Phía cộng sản Đông Dương, từ tên đại tội đồ Hồ Chí Minh đến những tên đảng viên cốt cán, loại trừ những người vì cái mồi “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” mà vào đảng VGCS.  Họ đã chết cho âm mưu của tên đại VGCS Hồ Chí Minh, nên ai đó sống sót trong chiến đấu thì cũng bị đại tội đồ Hồ Chí Minh và đồng bọn cho giết chết trong các cuộc gọi là “cách mạng” của chúng. Những đứa được lưu dụng lại trong đảng VGCS là những đứa chấp nhận tẩy não tốt, có hành động cụ thể biểu lộ sự trung thành tuyệt đối như: Nguyễn Đình Thi, Bùi Bằng Đoàn, Bùi Tín, Đặng Văn Việt, Cù Huy Cận, Xuân Diệu, Hoài Thanh, Ngyên Ngọc, Lưu Trọng Lư, Lưu Hữu Phước, Huỳng Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, Trần Duy Hưng, Phan Anh, Phan Mỹ, Vũ Đình Hoè, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Đạo Thuý, Vũ Văn Cẩn, Vũ Khiêu, Nguyễn Huy Tưởng,  Tạ Quang Bửu, Tạ Quang Đạm, Nguyễn Bá Thuyên, Trần Duy Hưng, Tô Hoài, Tô Hải….

Nghĩa là cái đảng VGCS và bộ máy nhà nước cùng toàn bộ hệ thống chính trị của nó do Nga Xô và Tàu Mao chỉ đạo mọi mặt hoạt động và xét duyệt nhân sự một cách toàn diện, kể từ sau Hiệp Định Geneve 1954 về Việt Nam.  Từ địa phương tới trung ương KHÔNG MỘT ĐỨA NÀO DO NHÂN DÂN VIỆT NAM BẦU RA, MÀ DO NGOẠI BANG QUYẾT ĐỊNH!!!

b)      Phía gọi là “Quốc Gia” với quốc trưởng Bảo Đại thì nhân sự cũng doThực Dân Pháp Quyết Định với sự hoạt động của một số đảng phái như Đại Việt, VNQDĐ, Đại Việt Quốc Dân Đảng… Nghĩa là KHÔNG MỘT AI DO NHÂN DÂN VIỆT NAM BẦU RA MÀ DO THỰC DÂN PHÁP QUYẾT ĐỊNH!!!
3/ Sau Khi Hiệp định Geneve 1954 Về Việt Nam có hiệu lực thi hành. Việt Nam bị chia đôi với vĩ tuyến 17 là ranh giới.

Tập đoàn VGCS Hồ Chí Minh nắm giữ và quản lý phía Bắc Việt Nam.  Hai toà đại sứ Nga Xô và Tàu Mao chiếm những trường học, villas đẹp nhất Hà Nội làm Toà Đại Sứ và các cơ quan ngoại vi.  Lập tức chúng cho ra đời hai tổ chức làHội Hữu Nghị Việt Xô do Dương Bạch Mai, Uỷ viên trung ương  đảng VGCS, Uỷ viên thường vụ Quốc Hội VGCS, làm hội trưởng. Còn Hội Việt Trung hữu nghị do việt gian Bùi Kỷ, cha đẻ Bùi Diễm (Đại Việt), làm hội trưởng.

Cả hai cái hội này có nhiệm vụ quảng bá tinh thần sùng bái Nga Xô và Tàu Mao một cách cụ thể, từ ngôn ngữ, văn hoá văn nghệ, cách ăn mặc… đến mức độ một tủ sách ở nông thôn Miền Bắc Việt Nam cũng toàn là tác phẩm văn học của Nga Xô và Tàu Mao!  Hai cái hội gọi là “hữu nghị” đó còn là nơi để Nga Xô và Tàu Mao chọn điệp viên tái theo dõi lại  chính mọi hoạt động của tập đoàn VGCS; kiểm tra lại những nội dung của các báo cáo mà tập đoàn VGCS đã  báo cáo cho Mẫu Quốc Nga Xô và Tàu Mao xem chính xác ở mức độ nào.  Hai cái hội đó được quyền phát triển hội viên ở tất cả mọi ngành, mọi giới, mọi tổ chức…nghĩa là toàn bộ hệ thống chính trị của VGCS, kể cả ở bộ quốc phòng VGCS và ở bộ công an VGCS cũng có các chi hội hoạt động trong giới cán bộ Trung, Cao cấp.

Những điều cần lưu ý là:

a)     Tất cả các cơ quan từ Trung ương tới địa phương trong toàn bộ tổ chức đảng VGCS, Quốc hội, Hội đồng nhân dân chính phủ VGCS, uỷ ban hành chánh các cấp, cho đến trường học, chợ búa, ga xe lửa, ga tàu điện, bến tàu thuỷ, tổ dân phố, trường mẫu giáo, đền chùa nhà thờ cho đến các công trường, nông trường, lâm trường…và nhà riêng tư nhân thuộc “hộ đơn lẻ” cho tới “hộ tập thể”… đâu đâu cũng có thờ hình ảnh của Marx, Engel, Lenin, Krupscaia (vợ Lenin), Stalin, Malenkov, Molotov, Vorochilov, Zukov.  Về phía tàu cộng thì có các ảnh của Mao, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, Chu Ân Lai, Bành Đức Hoài, Trần Nghị.

b)    Đại việt gian Hồ Chí Minh cho huỷ bộ Tư Pháp và Khoa Luật ở trường đại học, cai trị bằng sắc lệnh.  Chúng bắt đi tù khổ sai tất cả những người mà VGCS cho là không thích hợp với chế độ của chúng, kể cả trẻ vị thành niên, hoặc bị phát lưu đi làm nông nghiệp ở nơi đèo heo hút gió cả gia đình, chỉ căn cứ vào ý kiến của một tên công an nhãi ranh đường phố hầu hết trên dưới 20 tuổi.

c)     Tất nhiên những cái gọi là “cách mạng” cũng được tiếp tục thực thi mà đối tượng bị đấu tố, tù đày, tử hình vẫn là Trí, Phú, Địa Hào của thời Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931!!!

d)    Một điều RẤT QUAN TRỌNG là lực lượng được mệnh danh những người“tập kết” từ Miền Nam ra, hầu như chỉ một số rất ít cán bộ cao cấp mới được đem theo vợ con, còn hầu hết vẫn phải để lại gia đình ở Miền Nam. Tập đoàn VGCS dụ khị những người “tập kết”  là -sau hai năm tổng tuyển cử như quy định của Hiệp Định Geneve 1954 về Việt Nam- sẽ thắng lợi và họ sẽ được trở về Miền Nam để đoàn tụ, sum vầy với  vợ con.  Nhưng lý do thực là Âm Mưu Về Tổng Tuyển Cử của VGCS mà Chính Khí Việt đã trình bày ở những bài trước.

Số phận những người "tập kết" rất gian nan.  Hầu hết bị tống đi các nông trường quốc doanh; nông trường quân đội (nếu người tập kết là quân nhân); đi làm “công nhân” trồng rừng ở các lâm trường quốc doanh thuộc các vùng hoang hoá. Những trẻ vị thành niên thì biên chế vào các “nhà tù kiểu mới”  gọi là “Trường Miền Nam”, sống khổ sở, đói rét, thiếu tình cảm gia đình, bị kỷ luật khắt khe và còn phải lao động cực nhọc nên rất nhiều trẻ trốn ra ngoài, trộm cắp, làm điếm, bị tù đày hoặc cải tạo ở các trại nhi đồng (cũng là một thứ tù khổ sai).









Xin đưa những thí dụ cụ thể:

Thí Dụ 1:  Trần Văn Thành, từng giữ chức tổng thư ký Công đoàn giải phóng của VGCS ở Miền Nam, có hai con trai đưa tập kết ra Bắc, học Trường Miền Nam ở Hà Đông.  Ngày Trần Văn Thành ra Bắc được đại tội đồ Hồ Chí Minhcho gặp ôm hôn thắm thiết cho kẻ đại diện giai cấp công nhân ở Miền Nam!  Sau khi gặp Hồ, Trần Văn Thành xin được gặp hai con trai.  Phải mấy ngày sau mới tìm được  hai đứa nhỏ, đang bị lao động khổ sai ở trại cải tạo Ấm Thượng vì đói quá trốn trường ra Hà Nội ăn cắp ở cửa hàng mậu dịch quốc doanh, phố Tràng Tiền!  Không biết Trần Văn Thành phản ứng ra sao mà sau đó MẤT TÍCH CẢ 3 CHA CON.

Thí Dụ 2: Bác Sĩ Phùng Văn Cung, thành viên trung ương mặt trận giải phóng Miền Nam có cô con gái cưng cũng được ra tập kết với đại việt gian cộng sản Hồ Chí Minh.  Đói khổ quá, trốn học ra bến xe Kim Liên (Hà Nội) vừa bán thuốc lá lẻ, vừa làm … điếm!  Ngày  Bác sĩ Phùng Văn Cung ra Hà Nội có người cho biết tin đã tìm gặp con  và bị cô con gái chửi cho một trận, đại ý là:Mi đã hại cả đời tao, cút đi tên cộng sản ác độc!  Sau đó cô con gái cũng bốc hơi mất tích. Còn bác sĩ Phùng Văn Cung thì “tinh thần cách mạng” tụt dốc thảm hại!

Thí Dụ 3: Con gái của Nguyễn Văn Trấn, tác giả “Gởi Mẹ Và Quốc Hội” cũng làm điếm, bị bắt lên bắt xuống, nhờ Trấn ở ngay tại Hà Nội nên xin cho ra tù để vội vã ghép duyên với một cầu thủ bóng đá, gốc Miền Nam tập kết, của đội bóng Thể Công (tức của nguỵ quân VGCS)!

Tóm lại, số phận của những người Miền Nam có liên quan tới tổ chức VGCS bị buộc tập kết ra Miền Bắc là do họ bị doạ dẫm ở lại sẽ bị “chính quyền Miền Nam” trả thù, chứ không phải là họ tự nguyện.  Đó là lý do tại sao rất nhiều nơi những người Miền Nam tập kết “đã làm loạn” đến mức có một số bị tử hình không xét xử bởi bàn tay máu của tên Thượng tướng Phùng Thế Tài của VGCS.  Hoặc rất nhiều người đã biết tới câu chuyện con trai của tướng VGCS Đồng Văn Cống đã cầm đầu học trò Trường Miền Nam tập kết đóng tại địa bàn Hà Đông “làm loạn” suốt từ Hà Đông ra tới Hà Nội !!!

Thân phận của đại đa số “tập kết” đó, ngay khi vừa bước chân vào Miền Bắc là trở thành NÔ LỆ ĐỎ như dân Miền Bắc vậy!

e)     Điều lưu ý quan trọng nhất là toàn bộ hệ thống nhân sự và tổ chức của cả đảng VGCS cho đến bộ máy nhà nước của chúng hoàn toàn do Nga Xô và Tàu Mao sắp đặt.  Ngay nhân sự cao cấp của VGCS  cũng không phải do đảng viên của chúng được quyền bầu ra mà do Nga Xô và Tàu Mao quyết định duyệt danh sách.  Các đảng viên VGCS chỉ có quyền bầu đúng như danh sách giới thiệu. Bộ máy nhà nước của việt gian cộng sản cũng vậy là do “Đảng cử Dân bầu”. Có khác tí chút là bộ máy của đảng thì “NGA XÔ, TÀU MAO CỬ, ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN VIỆT GIAN BẦU” !!!

CÒN MIỀN NAM VIỆT NAM THÌ SAO

Khi Bảo Đại với tư cách Quốc Trưởng của Việt Nam mời CỤ NGÔ ĐÌNH DIỆM ra làm Thủ Tướng Nam Việt Nam, thì tối thiểu đã có gần 1 triệu người dân Miền Bắc Việt Nam, đã bỏ cả nhà cửa ruộng vườn cùng mồ mả Cha Ông cùng truyền thống không bao giờ tán tổ ly hương của người dân Việt Nam để vào Nam theo Cụ Ngô Đình Diệm một cách tự nguyện, không bị dụ dỗ hoặc một cưỡng ép nào.  Số người còn có thể nhiều hơn nữa nhưng bị hạn chế bởi phương tiện chuyên chở cũng như sự ngăn cản và dùng bạo lực  khủng bố của tập đoàn VGCS.





 Ngày 9 tháng 8 năm 1954. Chính phủ Quốc gia Việt Nam của tân Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, lập Phủ Tổng Uỷ Di Cư Tỵ Nạn



(Gần 1 Triệu Đồng Bào Miền Bắc Đã Bỏ Phiếu Tín Nhiệm Cụ Ngô bằng cả Tài Sản, Ruộng Vườn cùng mồ mả Cha Ông)

Điều cần phải nhớ ở đây là chưa tới thời điểm để tổng tuyển cử như quy định của Hiệp Định Geneve 1954 về Việt Nam, mà dân chúng ở Miền Bắc Việt Namđã TỪ TRÁI TIM MÌNH BẦU RA THỦ TƯỚNG NGÔ ĐÌNH DIỆM MÀ SAU NÀY TRỞ THÀNH TỔNG THỐNG CỦA NỀN ĐỆ NHẤT VIỆT NAM CỘNG HOÀ.
1/ Ở Miền Bắc Việt Nam, tập đoàn việt gian cộng sản Hồ Chí Minh qua Cải cách ruộng đất, Chỉnh đốn tổ chức, Cách mạng văn hoá tư tưởng… đã tiêu diệt hết để hoàn toàn không có đối lập chính trị.  Vì ngay hai đảng Xã Hội Việt Nam và Dân Chủ Việt Nam dù là được VGCS dựng ra đã bị cải tạo và thuần hoá tại chỗ, chỉ còn là cái áo Dân Chủ đa đảng cuội làm mồi câu cho những tên mù loà chính trị ở Miền Nam hoặc người Việt Nam sinh sống ở hải ngoại, chủ yếu là Pháp, chứ Quốc Tế cũng chẳng lạ lùng  gì.

Chúng làm chủ trọn vẹn lực lượng binh lính, công an, toà án, ngân hàng, tài chánh, lương thực và thêm chính sách hộ khẩu, nên có thể nói rằng CHÚNG LÀ CHỦ NHÂN TUYỆT ĐỐI.

Chúng lại còn được sự ủng hộ hết mình của các mẫu quốc Nga Xô và Tàu Mao, của thế giới thứ 3, tức khối các nước không liên kết, như Ấn Độ, Indonesia, Ai Cập… kể cả ngay Bắc Âu, Đông Âu và Pháp cùng một số nước ở Phi Châu, nhất là trên mặt trận truyền thông!

2/ Trong khi đó, Cụ Ngô Đình Diệm phải thừa hưởng cái gánh nặng mọi mặt mà Quốc Trưởng Casino Bảo Đại cùng các đời Thủ Tướng trước đó là Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm đã để xảy ra sự cát cứ của các giáo phái với quân đội riêng; của các đảng phái, các tổ chức chính trị cũng đua nhau hình thành và đấu đá lẫn nhau. Lực lượng quân đội thì nằm trong tay tướng Nguyễn Văn Hinh (con trai Nguyễn Văn Tâm), với quốc tịch Pháp, vợ Pháp cho nên thực chất là Pháp vẫn nắm quân đội.

Còn kinh tế thì nằm trong tay hai bang Tàu là Bang Quảng Đông và Bang Triều Châu!

Xin cũng đừng quên là, ở thời điểm đó, ngay tại Miền Nam Việt Nam, tập đoàn VGCS vẫn còn để lại những bộ mặt VGCS nặng ký như Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Đức Thuận, Nguyễn Văn Sô, Phan Văn Đáng, Trần Lương (tức Trần Nam Trung, sau giữ Bộ trưởng Quốc phòng chính phủ Nguyễn Hữu Thọ - Huỳnh Tấn Phát), Võ Chí Công, Đoàn Khuê, Trần Bạch Đằng, Lê Minh Hương, Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, La Văn Liếm, Cao Đăng Chiếm,… cùng rất nhiều vũ khí và lực lượng du kích, cũng như lực lượng vũ trang chính quy.

Tụi nằm vùng này chỉ thay đổi chỗ ẩn náu CHỦ YẾU LÀ CẠO TRỌC ĐẦU VÀO CHÙA,dựa vào những gia đình có chồng con đi tập kết ra Bắc.  Cũng thời gian đó còn có lũ trí thức hám danh như kiểu luật sư Nguyễn Hữu Thọ, luật sư Trịnh Đình Thảo… toa rập với tên VGCS Phạm Huy Thông từ Pháp về phá bĩnh công khai bằng biểu tình tuyệt thực…

Những điều đó chắc chắn bộ máy mật thám của Pháp biết có khi còn rõ hơn  chính phủ non trẻ của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, vì chúng đã cắm rễ ở Việt Nam gần 100 năm và có nhiều cá nhân, tổ chức không là con đẻ thì cũng là con nuôi của chúng được chúng đào tạo và sử dụng.  Tại Hà Nội, Pháp là nước ở Phương Tây duy nhất có đại diện ở cấp đại sứ nhưng đổi dưới cái tên Tổng đại diện và có cả phóng viên thường trú tại Hà Nội ngay từ khi VGCS vào ăn cướp và giết người  ở Hà Nội nói riêng, cả Miền Bắc Việt Nam nói chung, ngay trước mặt Uỷ Ban Đình Chiến và Giám Sát Quốc tế với Canada, Ấn Độ, Ba Lan, khi đó đang có mặt tại Hà Nội.  

Cái uỷ ban này  dùng hai toà building thuộc loại lớn nhất của Hà Nội để làm trụ sở. Đó là trụ sở hãng xăng  Shell ở ngã tư Trần Hưng Đạo – Ngô Quyền và phòng thương mại cạnh bưu điện Hà Nội đối diện Hồ Gươm.   Còn lính Ấn Độ phục vụ cho cái uỷ ban đó lại đóng  tại nơi sau này là Bộ Nông Trường VGCS, cách nhà “ngài” trí thức gà mờ “lưỡng khoa tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường” độ 100 metters mà Ông Hồ Hữu Tường đặt tên cho là “Thần Đồng…Cứt”, do xuất thân từ làng Cổ Nhuế.  Lính Ấn Độ làm việc thì ít còn buôn lậu thì nhiều. Vì thế bãi đá banh trước trại của chúng từ chập tối tới 10 giờ đêm thành cái chợ mua bán đồ lậu công khai. Tất nhiên có bàn tay của công an VGCS chỉ đạo, thông qua vợ tên Lê Nghĩa, phó giám đốc kiêm Bí thư đảng uỷ VGCS của sở công an Hà Nội!

3/ Phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, mặc dù lúc đó chưa có một cơ quan thăm dò dư luận nào, nhưng nếu lấy kết quả của việc làm thì không ai có thể bác bỏ được sự sáng suốt về chính trị; lòng can đảm dám lãnh trách nhiệm vào thời điểm hỗn loạn và phức tạp lúc đó; tinh thần vì dân mà phục vụ nên được nhân dân chân thành ủng hộ… của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.







Đấy là cơ sở nền tảng để Thủ Tướng Ngô Đình Diệm có cái nhạy bén của người có bản lãnh chính trị hiếm có,  đã chặt được cái gốc của mọi biến loạn.  Đó là, làm cuộc “trưng cầu dân ý” để phế truất Bảo Đại, từ đó có đủ quyền quyết định hành động để dẹp tan các loại cát cứ của giáo phái, đặt tất cả quyền lực vào bộ máy nhà nước và lập tức cho  xây dựng Hiến Pháp cùng tổ chức tự do bầu cử  để thành lập bộ máy nhà nước DO DÂN BẦU RA NỀN ĐÊ NHẤT VIỆT NAM CỘNG HOÀ.  Đấy là việc mà hằng trăm năm bị thực dân Pháp đặt ách thống trị, LẦN ĐẦU TIÊN MỘT LÃNH TỤ CỦA VIỆT NAM ĐƯỢC BẦU RA THEO ĐÚNG LUẬT PHÁP.  Nghĩa là từ 1945 đến thời điểm đó Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người lãnh đạo HỢP HIẾN DUY NHẤT CỦA CẢ NAM VÀ BẮC VIỆT NAM.











Những việc làm sau này của Tổng Thống đầu tiên của Việt Nam là Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã có đầy đủ tài liệu, xin quý bạn đọc tham khảo những links bên dưới bài viết này.

Chính Khí  Việt chỉ xin phép lưu ý đặc biệt bằng so sánh đường lối phục vụ nhân dân và Tổ Quốc Việt Nam của Tổng Thống Ngô Đình Diệm với sự cai trị của tập đoàn VGCS Hồ Chí Minh.  Đó là:

a)      Tôn chỉ cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà là: Tổ Quốc – Danh Dự - Trách Nhiệm.  Còn tôn chỉ của tập đoàn VGCS Hồ Chí Minh cho nguỵ quân việt gian cộng sản của chúng là: Trung Với Đảng (VGCS).

b)      Cải cách điền địa và những vấn đề về kinh tế xã hội khác  của Việt Nam Cộng Hoà là: Hữu sản hoá nông dân, không cần phải đấu tố, giết chết địa chủ. Đồng thời giúp đỡ các nhà công thương phát triển, làm giàu cho bản thân và đất nước, nhưng phải tôn trọng luật lệ bảo vệ đối với công nhân do chính phủ có những văn bản Luật Pháp rõ ràng và người công nhân có quyền tự do lập nghiệp đoàn của mình.

Nói một cách khác là Nền Đệ Nhất VNCH bảo vệ quyền tư hữu, tư liệu sản xuất (trong đó có cả ruộng đất, nhà xưởng…) song song với việc bảo vệ người lao động.

c)       Đệ Nhất VNCH là bộ máy nhà nước đầu tiên tại Việt Nam sau khi thoát khỏi ách thực dân Pháp đã sử dụng luật pháp để điều hành mọi hoạt động xã hội cả sản xuất, cả tái phân phối phúc lợi chung, cả bảo tồn văn hoá nghệ thuật, cả giữ trọn vẹn đất đai sông biển,  tài nguyên của Việt Nam…

Trong khi đó ở Bắc Việt Nam tập đoàn VGCS  Hồ Chí Minh thi hành chính sách bần cùng hoá toàn dân.  Chúng ghi rõ trong văn bản là tập đoàn VGCS là chủ nhân tuyệt đối, còn các tầng lớp nhân dân của mọi giới ĐỀU LÀ NÔ LỆ, có nghĩa thân phận cũng là một thứ tài sản của tập đoàn VGCS.  Nói cho dễ hiểu nếu ở phần lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà người dân được Pháp Luật bảo vệ quyền làm chủ thì đối với Bắc Việt Nam cộng sản các sắc lệnh của VGCS là chỉ để bảo vệ quyền làm chủ của tập đoàn VGCS mà thôi.  Người dân sống trong chế độ VGCS cai trị hoàn toàn không có quyền làm người chỉ là một loại trâu bò mang hình người.

VGCS cai trị bằng sắc lệnh và lệnh miệng (như kiểu khẩu dụ thời phong kiến chuyên chế).  Tất cả các nghiệp đoàn lập ra đều do VGCS tổ chức và trực tiếp điều hành với mục đích kiểm soát tư tưởng, năng xuất lao động, sinh hoạt của mỗi ngành nghề, bảo đảm phục vụ cho tập đoàn VGCS nhiều nhất, tốt nhất có thể được theo mục tiêu chính trị của chúng được Nga Xô – Tàu Mao định hướng.

 Thí dụ từ công nhân, nông dân, nhà văn, nhà giáo, phụ nữ, thanh niên, thiếu nhi, nhi đồng, phụ lão, công nhân viên chức về hưu… chính những tổ chức kềm kẹp chuyên ngành đó của VGCS  đã đẻ ra các khẩu hiệu không giống con giáp nào.  Thí dụ như “Phụ Nữ 3 Đảm Đang”; “Tay Cày Tay Súng” (với nông dân); “Tay Búa Tay Súng” (với công nhân); “Cháu Ngoan Bác Hồ” (với thiếu nhi và nhi đồng); “Thanh Niên 3 Sẵn Sàng” (với thanh niên)…. thậm chí đám cưới, tổ chức dù ở cấp nào cũng có khẩu hiệu “Vui Duyên Mới, Không Quên Nhiệm Vụ”…!?

4/ Ngay khi ở đỉnh cao quyền lực, lãnh tụ Ngô Đình Diệm vẫn giữ nếp sống giản dị, cần kiệm và những cộng tác viên thân cận cũng thế.  Hoàn toàn ngược lại với tập đoàn VGCS Hồ Chí Minh.  Vừa vào đến Hà Nội chúng cướp những biệt thự sang trọng; thành lập các cửa hàng cung cấp đặc biệt cho nhu yếu phẩm riêng của chúng; bệnh viện riêng; khu vui chơi, giải trí riêng; các khu nghỉ mát riêng cùng với chữa bệnh, nghỉ mát  ở nước ngoài.

Cho sắm xe hơi sang trọng. Cho thành lập uỷ ban bảo vệ sức khoẻ riêng để chế biến các loại thuốc bổ như bào thai người ngâm mật ong Hà Giang, vì ong ở đó hút mật hoa cây thuốc phiện; nấu cao hổ cốt, cao Ban Long, cao Tiều. Gạo tám thơm Hương Canh (Vĩnh Phú) là một đặc sản của Miền Bắc Việt Nam, nhưng sản lượng thấp nên tập đoàn VGCS Hồ Chí Minh cấm trồng mà chỉ hạn chế đủ để phục vụ cho Trung Ương VGCS và hai đại sứ quán Tàu Mao và Bắc Hàn (vì Nga Xô  không ăn gạo).  Nói chung các đặc sản của Miền Bắc Việt Nam đều chỉ dành cho nhu cầu của Trung Ương VGCS, ưu tiên Bộ chính trị và ban Bí thư VGCS.

  Thí dụ như: Cốm Làng Vòng, Hà Nội; Hồng không hột Yên Minh, Hà Giang; Trà Lũng Phìn, Hà Giang; Cam Bố Hạ, Bắc Giang; Nhãn lồng, Hưng Yên; Cá Anh Vũ, Bạch Hạc Phú Thọ; Cá Rô Đầm Sét, Hà Nội… Chúng cho cất rượu từ nếp than, nếp ở Từ Sơn; tinh trùng ngựa giống; sữa tươi củ bò giống Hà Lan, nuôi ở các trại bò Ba Vì và Sơn La, hằng ngày đều có máy bay trực thăng mang về. Nghĩa là đủ thứ sơn hào, hải vị, sâm nhung… cho nên từ tên đại tội đồ Hồ Chí Minh đến lũ gọi là Trung Ương, đứa nào đứa nấy mặt mũi đỏ au, béo tốt mượt mà.  Cho đến nay thử xem đứa nào cũng ngoài 90 tuổi mà còn CHƯA CHẾT!  Cái trò đã “no cơm – ấm cật” thì liền sau đó là “Rậm Rật Chân Tay”  nên tên đại tội đồ Hồ Chí Minh còn cho xây khu nhà “Con Rùa”  ở Quảng Bá, Hồ Tây Hà Nội để chứa gái tơ cho chúng CHƠI.  Đó là các cô gái tuổi từ 17 đến 20, được tuyển chọn từ vùng cao Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng là người Tày và người Thái trắng.  Họ được đào tạo để tự hào PHỤC VỤ SINH LÝ CHO “LÃNH TỤ VÀ LÃNH ĐẠO”  cũng là hoạt động cách mạng!?

Không chỉ một khu nhà “CON RÙA” ở Hồ Tây mà các tỉnh cũng có “nữ phục vụ viên”  để phục vụ cho các “Cán Bộ Cao Cấp”  và “Chuyên Gia” trong những ngôi nhà gọi là “nhà giao tế”.  Đặc biệt ở Hưng Yên, tên Bí thư  tỉnh uỷ VGCS là Lê Quý Quỳnh còn cho lập đội “gái điếm” núp dưới tên “đội thuỷ lợi thường trực” của tỉnh; và ở Quảng Bình thì Bí thư tỉnh uỷ VGCS là Nguyễn Tư Thoan cho lập đội văn công tỉnh để phục vụ sinh lý cho “lãnh đạo”!

Chưa kể đến những tên chóp bu VGCS trong “đại đoàn cận vệ yêu râu xanh” của đại tội đồ VGCS Hồ Chí Minh còn công khai “ăn nằm”  ngay với vợ cán bộ cấp dưới. Thí dụ như chính Hồ Chí Minh (cứ hỏi Vũ Thư Hiên, tác giả “Đêm Giữa Ban Ngày” thì….biết….).    Ngoài ra trưa nào tên đại tội đồ Hồ Chí Minh cũng cho xe hơi đón “CHÁU LINH NHÂM” , ở đoàn văn công Trung Ương vào Phủ Chủ Tịch ăn cơm trưa với “BÁC” và ngâm thơ cho “BÁC”  được  RÊN LÊN … đi vào giấc ngủ trưa!?  Tên đại VGCS Phạm Văn Đồng thì cặp bồ với diễn viên Đàm Liên của đoàn tuồng Khu V; đại đao phủ VGCS

 Võ Nguyên Giáp thì với Hồng Hạnh, vợ nhà văn Đào Vũ; Thiếu tướng nguỵ quân VGCS Nguyễn Trọng Vĩnh thì ngủ với con gái nuôi là diễn viên Mai Sinh của đoàn xiếc Trung ương; Ung Văn Khiêm với vợ goá của Bộ trưởng nông nghiệp nguỵ quyền VGCS Hồ Chí Minh  là Huỳnh Văn Lộc (đã chết), bị vợ đánh ghen nên Tố Hữu ép duyên cho văn nô Hoài Thanh; Nguyễn Văn Trân cặp bồ với cả hai mẹ con nhà tư sản Phó Gia Tường ở Phố Hàng Bồ Hà Nội; hắn còn cặp bồ với cả bạn của con hắn là cầu thủ bóng bàn trong đội tuyển quốc gia là Nguyễn Thị Mai.  Đó là nguyên nhân Nguyễn Văn Trân với tư cách Bí thư Trung ương VGCS cho san bằng trường Bách Nghệ thời thực dân Pháp để làm câu lạc bộ bóng bàn!

 Nhiều lắm làm sao có thể kể hết được.  Cứ nhìn tên đại đao phủ Trần Độ, thần tượng của lũ trí nô trẻ ở Canada, do mụ lang tây Lâm Thu Vân cầm đầu.  Hắn vào Saigon bị bắt trong lúc đang “tâm sự” với một “cháu tiếp viên” lẳng lơ ở khách sạn Hữu Nghị!   Đại VGCS Nông Đức Mạnh thì cướp người yêu của con trai hắn là Nông Quốc Tuấn. Và, nhà đấu tranh cuội Cù Huy Hà Vũ bị bắt lúc đang cởi trần mập như heo với một cô gái ở khách sạn có hai bao cao su đã qua sử dụng (chắc là đánh lạc hướng điều tra của lũ chó săn VGCS)!?  Ngay tên trọc Không Tánh cũng bị bắt quả tang trong một phòng giường đôi ở khách sạn ba sao Hoàng Yến trong lúc tên trọc này đang làm “phật sự” với một Phật Tử thuần thành!!!

Bao nhiêu năm các sự thật nói trên đã bị VGCS bưng bít, nên ngay nhân dân Miền Bắc Việt Nam còn không biết huống chi nhân dân Miền Nam Việt Nam, kể cả những “đội quân tóc dài và mẹ chiến sĩ” của tổ chức VGCS hoạt động trên lãnh thổ VNCH.

5/ Ngày nay người dân Việt Nam bị trị đã biết một số sự thật về diện mạo quá khứ và hiện tại của tập đoàn VGCS, không chỉ qua tin tức nghe được, mà còn là chứng nhân hoặc nạn nhân với những sự việc cụ thể được lập đi lập lại trong mọi tầng lớp nhân sự của toàn bộ hệ thống chính trị của tập đoàn VGCS!

Tuy nhiên, nếu còn một số nào đó vẫn còn nghi ngờ là do âm mưu của VGCS tạo ra những chuyện hư hư thực thực thông qua lũ đặc công đỏ Vũ Thư Hiên, Bùi Tín, Nguyễn Minh Cần, Tô Hải (thằng hèn Tô Hải này viết rằng: “không có việc các ông Lê Đức Thọ và Tố Hữu cấm nhóm Nhân Văn Giai Phẩm viết lách mà chính họ tự cấm mình”…) cũng như những tên an-ten của VGCS  cầm bút kiểu như Trương Minh Hoà, Hứa Vạng Thọ… trên tinparis.net. Những tên này bịa đặt cũng như thêm râu thêm ria vào một số tin nào đó,khiến nhân dân bị trị trong nước là chứng nhân hoặc nạn nhân của VGCS BUỘC PHẢI HOÀI NGHI NHỮNG THÔNG TIN TỪ HẢI NGOẠI TRUYỀN VỀ. Điều đó đã khiến hiệu quả của mặt trận truyền thông từ hải ngoại tác động vào trong nước ít có hiệu quả trong việc vạch mặt tập đoàn VGCS!

6/ Giờ đây, những người dân Việt Nam bị trị mới hiểu được một mảng lớn sự thật về tập đoàn VGCS, nhưng về những sự thật của nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà với Tổng Thống  hợp hiến đầu tiên của Việt Nam sau thế chiến thứ hai là Cụ Ngô Đình Diệm thì còn rất khiếm khuyết!  Do không biết hết sự thật đã và đang diễn biến trên toàn cõi Việt Nam, nên người dân Việt Nam bị trị vẫn còn hoang mang, nghi ngờ về sức mạnh của dân tộc nên rơi vào sự  thụ động một cách tiêu cực; ngả vào lưới các tổ chức, cá nhân, đảng phái… đấu tranh cuội.  Lũ này nếu đa số không do VGCS dựng ra thì cũng do một thế lực duy lợi nào đó dựng ra.  Cái thứ “uy tín mạ kền” của chúng là do VGCS hoặc thế lực duy lợi đánh bóng, hoặc do sự hợp tác của đôi bên vì có chung quyền lợi được bóc lột sức lao động, vơ vét tài nguyên, xử dụng xương máu, lãnh thổ, lãnh hải, bầu trời Việt Nam vào những canh bạc quốc tế!!!

Hiện nay đang là đỉnh điễm cũa sự lựa chọn của toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước:

a)      Hoặc sẽ bị Tàu hoá trọn vẹn và toàn diện nếu chưa lựa chọn cho mình thái độ ứng xử trước nguy cơ của Tổ Quốc và dân tộc.



b)      Hoặc  từ thân phận nô lệ đỏ theo sự dẫn giắt của VGCS  đóng vai trò gọi là “cấp tiến cuội”, hoặc thành nô lệ xanh theo ngõ tắt của lũ dân chủ cuội, nhân quyền dzổm như Nguyễn Đan Quế, Cù Huy Hà Vũ, Phạm Chí Dũng…cùng các đảng phái ma trơi trong và ngoài nước!


c)       Hoặc đi theo con đường tự chủ, tự trọng, nhân bản, công bằng và thực sự độc lập, tự do như thời Lãnh Tụ Ngô Đình Diệm với 9 năm của chính thể Đệ Nhất VNCH, chỉ vỏn vẹn dựa vào 6 chữ là Tổ Quốc – Danh Dự - Trách Nhiệmđể hoạch định chính sách đối nội và đối ngoại cũng như dựa vào 6 chữ đó để kiểm tra việc thi hành các chính sách đề ra.


Quân Dân Cán Chính VNCH và tất cả những người Việt Nam bị trị trong cả nước hãy tự vấn lương tâm xem mình đã  làm  gì cho tổ quốc, mình đã làm gì để bảo vệ danh dự của Tổ Quốc và Dân Tộc, mình đã có trách nhiệm như thế nào đối với Tổ Tiên Việt Nam trong quá khứ, đối với bản thân và đồng bào trong hiện tại, và cuối cùng là đã thấy được trách nhiệm của mình đối với gia tài mà Tổ Tiên Việt Nam để lại, những việc mà bản thân là nhân chứng và nạn nhân trên đất nước của mình trong hiện tại và trách nhiệm của mình đối với thế hệ con cháu phải làm gì và đã làm được như thế nào, sẽ phải làm gì cho hoàn thiện cái trách nhiệm đối với dân tộc và tổ quốc Việt Nam của mình?





__._,_.___
________________________________________
Posted by: Nguyen Van

Featured Post

Tên các Quốc gia mà người Sài Gòn hay gọi trước năm 1975

https://www.facebook.com/groups/miennamvietnam/posts/1953798441526381/ https://www.facebook.com/buianhhuy095096/posts/t%C3%AAn-c%C3%A...

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List