QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Tuesday, July 30, 2013

Theo Dòng Lịch Sử


From:  Quang Chau


 

GS Nguyễn Xuân Vinh

Theo Dòng Lịch Sử

Chúng ta ai cũng có những ưu tư về tương lai của đất nước, và một câu hỏi thường đặt ra là: “bao giờ chế độ cộng sản VN sẽ sụp đổ?”. Có một lần tôi hỏi ông Douglas E. Pike câu này. Ông là chuyên gia nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ về chiến tranh VN. Ông từng là giám đốc Indochina Archive ở UC Berkeley từ năm 1981, sau này từ năm 1997 ở Texas Tech University cho đến khi nghỉ hưu và qua đời vào ngày 13/5/2002. Câu trả lời của ông là: “Không bao giờ tôi trả lời câu hỏi này …. ”.

Tôi thật thông cảm với ông Pike vì, với sự hiểu biết của ông, tuy không nói ra nhưng tôi chắc ông nghĩ rằng: “cộng sản sẽ sụp đổ duy chỉ khó lòng tiên đoán được ngày giờ mà thôi”.

Đi ngược lại dòng lịch sử, chúng ta có thể nhận thấy rằng mỗi khi có sự thay đổi quan trọng trên đất nước, thì tình hình chính trị, và tất nhiên là tình hình quân sự, bao giờ cũng đột biến. Tuy vậy, trước đó thế nào cũng có những triệu chứng báo hiệu rằng có việc quan trọng sắp xẩy ra, nhưng khó tiên đoán được ngày nào sẽ xẩy ra.

Trở lại hơn một trăm năm trước đây, qua hoà ước Patenôtre ký năm 1884, khi triều đình Việt Nam dâng đất nước cho thực dân Pháp thống trị, thì trước đó những người theo dõi tình hình đưa quân viễn chinh chiếm thuộc địa của những nước Tây Âu cũng biết được rằng vấn nạn mất nước của những tiểu nhược quốc sẽ xẩy ra, duy chỉ không đoán được vào thời điểm nào mà thôi. Vào thời đó, trên đất nước ta, thì Nam kỳ đã hoàn toàn là thuộc địa của chính phủ Pháp. Rồi tới năm 1882, khi quân Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai và sau đó tiếp tục đánh chiếm những tỉnh thành khác ở Bắc kỳ, thì triều đình nhà Nguyễn không còn uy thế nào với người dân Việt. Để làm áp lực với Triều đình Huế, ngày 15 tháng 7 năm Qúi Mùi (1883) Toàn quyền Harmand và Đô đốc Courbet đem chiến thuyền vào đánh cửa Thuận An là cửa ngõ vào kinh thành. Triều đình Huế đang gặp cảnh bối rối vỉ Vua Dực Tông vừa băng hà. Các quan Đại thần phải ký hoà ước nhận sự bảo hộ của Chính phủ Pháp. Văn bản chính thức đưa Việt Nam chịu Pháp thuộc được ký kết ngày 6 tháng 6 năm 1884, năm Âm lịch là Giáp Thân, khi Công sứ nước Pháp ở Bắc Kinh là ông Patenôtre trên đường đi nhậm chức, nhận được chỉ thị của Chính phủ ở Paris đi cùng với Khâm sứ Rheinart ra Huế thương lượng với Triều đình nước ta để sửa đổi vài khoản trong hiệp ước Qúi Mùi cho thích hợp với chính sách chia để trị của Pháp.

Nhửng lần khác, có sự thay đổi chính thể trên đất nước ta, cũng có những diễn biến tương tự. Trước tiên là có những dấu hiệu suy thoái để dẫn tới một biến động. Mồi lửa châm ngòi nổ cũng đột ngột. Lấy thí dụ tiếp theo là ngày 9 tháng 3 năm 1945 khi chỉ trong một đêm quân đội Nhật tước khí giới quân đội Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Diễn biến này cũng bất thường nhưng sự việc cũng có thể biết trước duy không biết là ngày nào xẩy ra vì lẽ dễ hiểu là hai lực lượng quân sự, Pháp và Nhật, mà không phải là đồng minh trong một trận chiến toàn cầu, thì tất nhiên không thể nào cùng sát cánh đứng chung dài lâu được. Đầu mối làm quân đội Nhật phải phát động là Toàn quyền Đông Dương khi đó là Đô đốc Jean Decoux, tuy trực thuộc chính phủ Vichy ở Pháp nhưng có dấu hiệu đã liên lạc với Hải quân Hoàng gia Anh ở Viễn Đông.

Tiếp theo là ngày 15 tháng 8 năm 1945 khi Nhật xin đầu hàng Hoa Kỳ. Sự việc này có thể đoán trước được khi chiến cuộc Thái Bình Dương thu dần về Okinawa và tiến vể Tokyo. Dấu hiệu báo trước là ngày 26 tháng 7 năm 1945, khi Hội nghị các nhà lãnh đạo Đồng minh ở Postdam ra tuyên cáo đòi Nhật đầu hàng. Ngòi nổ báo động sự việc là hai quả bom nguyên tử thả xuống Hiroshima và Nagasaki những ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945. Vào dịp này Việt Minh đã lợi dụng thời cơ cướp chính quyền vào ngày 19 tháng 8 năm 1945. Sau đó, Hồ Chí Minh tuyên bố nước Việt Nam độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, nhưng vào ngày này thế giới chỉ chú trọng vào Lễ đầu hàng của Nhật do Đại Tướng Douglas MacArthur chủ toạ trên chiến hạm USS Missouri đóng neo ngay ở ngay vịnh Tokyo.

Thời điểm lịch sử tiếp theo là ngày 7 tháng 5 năm 1954 khi Pháp thua trận Điện Biên Phủ. Đây là ngòi nổ đưa đến hiệp định Genève chia đôi đất nước vào ngày 20 tháng 7, năm 1954 và dẫn đến sự thành lập Việt Nam Cộng Hoà ở dưới vĩ tuyến 17. Sự việc này cũng là đột biến vì trước đó một năm hay chỉ là vài tháng thôi, không ai nghĩ đến chuyện có giòng sông Bến Hải ngăn cách Bắc và Nam, hai miền của đất nước.

Mốc lịch sử tiếp theo mà chúng ta không ai quên được là ngày Quốc Hận 30 tháng Tư năm 1975. Biến động này bắt nguồn từ ba năm trước đó, sau khi Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon sang thăm Chủ Tịch Trung Cộng Mao Trạch Đông để sau đó cho Henry Kissinger mật đàm với Lê Đức Thọ soạn thảo hiệp định ngưng chiến ký ngày 27 tháng Giêng năm 1973 cho Nixon được rút quân Mỹ về nước nhưng lại để cho VC với sự trợ giúp khí giới của Nga sô mở cuộc tấn công toàn diện vào miền Nam VN bắt đầu từ ngày 13 tháng Chạp năm 1974. Những ngày cuối cùng, quân viện không đầy đủ, Quân Lực VNCH bị bó tay, đã chiến đấu tới viên đạn và giọt xăng cuối cùng. Ngòi nổ báo động lần này chính là vụ Watergate đã xẩy ra để cho Nixon phải từ chức ngày 9 tháng 8 năm 1974.

Qua nhửng sự phân tích kể trên, nếu chúng ta muốn biết đất nước Việt Nam, dưới sự cai trị độc tài và thiếu nhân tính của Đảng Cộng Sản sẽ đi về đâu, và muốn đoán được thời điểm nào chế độ cộng sản Việt Nam sẽ tàn lụi thì phải theo thứ tự:

·Tìm dấu hiệu suy sụp.

·Tiên đoán dài hạn.

·Tìm điềm báo hiệu.

Một nhận xét chung là mỗi lần quốc biến như vậy bao giờ cũng có sự tham dự của các nước liên hệ trực tiếp như Pháp và Hoa Kỳ và gián tiếp như Nga và Trung Quốc. Xét về tình hình hiện tại trên nước nhà mà muốn có một nhận xét về tương lại của đất nước, ta phải xét về sự liên hệ giữa hai nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà ta viết tắt là VN và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa mà ta dùng chữ quen thuộc để viết tắt là TQ. Ngoài ra trong bài viết này, khi nói đến những chế độ cầm quyền độc tài cộng sản thì chúng tôi dùng nhửng danh từ là Việt cộng và Trung cộng.

Hiện Tình Chủ Quyền Đất Nước

Tình hình thế giới đang trở nên căng thẳng . Quyết định cuả Hoa Kỳ quay trở lại Á Châu đã nói lên vấn đề trầm trọng cuả mối đe doạ đến từ Trung cộng. Sau khi nước này lớn mạnh do nhận được sự đầu tư cuả chính Hoa Kỳ và các nước Tây Phương, Trung cộng đã duy trì toàn bộ hệ thống chính quyền cai trị sắt máu thời cách mạng vô sản và hệ thống kinh tế chỉ huy quốc doanh, tích lũy toàn bộ nguồn vốn khổng lồ vào Nhà Nước. Người dân hoàn toàn không được hưởng mọi điều, kể cả nhân quyền và đời sống vật chất thường ngày. Trung cộng dùng nguồn vốn thu thập được mang đổ vào Phi Châu và Nam Mỹ để khai thác tài nguyên khoáng sản trong đó có dầu mỏ. Trung cộng cũng đã dồn nguồn vốn vào nỗ lực trang bị quốc phòng và canh tân vũ khí. Những nhà nghiên cứu chính trị quốc tế phải nhìn thấy ngày nay Trung cộng tin rằng đã đủ mạnh về kinh tế để có thể hất cẳng các nước Tây phương ra khỏi lục địa Phi châu và đe doạ quyền lợi cuả Hoa Kỳ tại chính Mỹ Châu và Trung Đông, đồng thời lấn chiếm, gây bất ổn khắp nơi trên thế giới, trong đó có Biển Đông và Biển Hoa Đông.

Riêng với Việt Nam thì Trung cộng là nước lân bang “Sông liền sông núi liền núi” đã từng có “Hạt gạo cắn làm đôi” thì VN không thể không bị ảnh hưởng và bị xử dụng như một “Chiến trường lớn cho Hậu phương lớn của Trung cộng lần thứ hai” trong bối cảnh hiện nay. Ta hãy nhìn tình hình Chủ Quyền đất nước hiện nay trong tình hình tranh chấp Biển Đông như thế nào. Đối với thế giới, Tập Cẩm Bình khi họp thương đỉnh tại Hoa Kỳ ngày 8 tháng 6 năm 2013 đã ngang ngược coi thường Quốc Tế, và dám tuyên bố với Tổng Thồng Barack Obama rằng: "Thái Bình Dương mênh mông đủ chỗ cho hai nước lớn Hoa Kỳ và Trung Hoa”.

Việt Nam trong lịch sử từ cổ chí kim, luôn bị Trung quốc từ phương Bắc tìm cách thôn tính và bằng mọi cách đồng hoá trong 4 thời kỳ Bắc thuộc nhưng đều bị thất bại. Ngày nay Trung cộng đang hung hãn chiếm đoạt toàn bộ Biển Đông một cách thô bạo và ngang ngược, bất chấp chủ quyền cuả các nước trong vùng, bất chấp luật lệ quốc tế vả các yếu tố lịch sử đã thành văn có chứng tích qua nhiều niên kỷ. Trung cộng đã ngang nhiên tự vẽ lằn ranh biên giới trên biển với hình lưỡi bò lấn sát vào bờ biển các nước mặc dầu Quốc tế đã quy định về thềm lục điạ cuả mỗi nước là hai trăm hải lý. Trung cộng đã lấn sâu vào bờ biển các nước trong vùng Biển Đông chỉ còn hai mươi hải lý và tuyên bố “chủ quyền này không thể tranh cãi”. Với hành động này, Hải lộ quốc tế trên Biển Đông đi từ Nhật Bản, Nam Hàn qua Ấn Độ Dương, để đi tới Phi châu và Trung Đông sẽ đi qua vùng Trung cộng kiểm soát. Trên đất liền, Trung cộng cũng không từ bỏ mọi hành động thôn tính các nước lân bang, và đã chiếm đoạt và sáp nhập Tân Cương và Tây Tạng vào lãnh thổ Trung cộng. Việt Nam cũng không tránh khỏi mưu tính này.

Trong Chiến Tranh Lạnh, miền Nam Việt Nam đã từng là vị trí chiến lược mà Hoa Kỳ đã hiện diện trong nhiều thập niên để ngăn cản không cho làn sóng Chủ Nghiã CS tràn xuống Đông Nam Á và Nam Bán Cầu. Nhưng với Hiệp Ước Paris, Hoa Kỳ đã bí mật ký kết để cho Hà Nội tiến chiếm Miền Nam thống nhất lãnh thổ để thiết lập thế Chiến Lược mới khi quyết định xoá bỏ VNCH để đổ nguồn vốn khổng lồ đầu tư vào Hoa Lục trong kế hoạch Toàn Cầu hoá nền Kinh Tế Thế Giới. Trung cộng đã không bỏ lỡ cơ hội khi Hoa Kỳ rút khỏi VN, và đã bằng mọi cách, gây ảnh hưởng mạnh mẽ vào đất nước này. Hiện nay ta có thể coi như là Trung cộng đã kiểm soát VN hoàn toàn. Mở đầu là cuộc chiến biên giới năm 1979, khi Đặng Tiểu Bình nói là phải “Dạy cho VN một bài học”. Sau đó, Hà Nội hoàn toàn cúi đầu thần phục Bắc Kinh.

TQ coi VN như một điạ điểm chiến lược trên đất, gắn liền với Biến Đông. Ảnh hưởng mạnh mẽ cuả TQ đến VN đang thể hiện trong nhiều lãnh vực từ chính trị, kinh tế, môi trường đến văn hoá và lịch sử dân tộc. Trước hết là kế hoạch khống chế hai nguồn nước Hồng Hà và Cửu Long cuả hai đồng bằng vựa luá lớn cho cả nước. TQ đã đắp nhiều đập ngăn nước trên thượng nguồn cả hai con sông chính của VN. Với dòng sông Hồng sau khi các đập thuỷ điện trên thượng nguồn sông Đà và Sông Hồng bên kia biên giới đóng lại thì toàn vùng luá gạo đã bị kiệt nước nhiều tháng. Các con đập trên thương nguồn sông Mekong phiá TQ đã làm lượng nước phù sa giảm đi nhiều khiến nước biển tràn vào cửa sông Cửu Long làm nước ở cửa biển bị nhiễm mặn. Một khi con đập cuối cùng tại Lào đắp xong thì Trung cộng có thể vắt kiệt nước sông Cửu Long. Hiện nay đang có sạt lở khắp nơi tại Cà Mau, là vùng đất phù sa bồi nhiều trăm năm trước. Thêm vào nữa, vì TQ kiểm soát lượng nước ở thượng nguồn nên ngoài việc hạn chế được sự sản xuất của hai vựa lúa ở những đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, còn làm cho cuộc sống của ngừoi dân Việt làm nghề chài lưới càng thêm khốn khổ.

Từ ngày Việt Minh cướp chính quyền, và trong suốt thời gian chống Pháp, và sau này trong cuôc tấn công để cưỡng chiếm miền Nam, Việt cộng đã lệ thuộc hoàn toàn vào Hoa Lục, với sự chỉ đạo trực tiếp cuả Trung cộng. Tới thời gian hiện tại, mọi chỉ thị cuả Bắc Kinh đang được âm thầm thực hiện, đều theo kế hoạch làm biến toàn thể VN thành một bộ phận của TQ. Đất nước đang bị Cộng Sản Hà Nội giao hoàn toàn cho Bắc Kinh quyết định.

Các rừng đầu nguồn, từ Bắc chí Nam đã cho quân Trung cộng âm thầm chiếm đóng trong kế hoạch cho thuê rừng đầu nguồn dài hạn 50 năm. Các làng TQ mọc lên khắp nơi tại VN cũng như kế hoạch khai thác Bô Xít tại cao nguyên Gia Rai và các công trình trúng thầu xây cất nhà máy ở khắp nước mà công nhân được tuyển dụng tại TQ, và khí cụ được chuyển sang từ phương Bắc. Việt cộng đã bị ép buộc phải bỏ chiếu khán nhập cảnh cho Trung cộng và điều này làm cho cuộc di dân TQ tràn ngập sang VN. Tại VN, người dân bị cướp đoạt mọi quyền tự do nên cho đến nay không có một cuộc kiểm tra thống kê chính thức để biết kế hoạch kiểm soát và Hán hoá VN đã tiến hành đến mức độ nào hay đã vượt quá mức báo động như đã lên tới 40% xẩy ra trước đây ở Miến Điện.

Tình Hình Quân Sự

Để chuẩn bị xâm chiếm miền Nam của chính phủ VNCH, Việt cộng đã từng có một đạo quân gồm hơn một triệu người được tiếp viện võ khí đầy đủ bởi Liên Sô và có sự hậu thuẫn và cố vấn của Trung cộng. Sau thời điểm 1975, Việt cộng bị giằng co giữa hai thế lực cộng sản là Trung cộng và Liên Sô. Để làm giảm lực lượng của Việt cộng nên Trung cộng đã viện trợ quân sự cho Căm Pu Chia dưới sự lãnh đạo của Khmer Đỏ để giúp cho quân đội nước này quấy rối biên giới VN và có lần đánh chiếm đảo Phú Quốc, và bắt đi mấy trăm người dân Việt sống trên đảo. Vì muốn chấm dứt tình trạng này nên vào ngày 13 tháng 12 năm 1978 Việt cộng đã tấn công toàn diện và chiếm đóng Căm Pu Chia để lật đổ chế độ Khmer Đỏ. Chiến dịch này đã làm cho giới lảnh đạo Trung cộng nổi giận và mở đầu cho cuộc chiến Việt-Trung kéo dài từ ngày 17 tháng 2 cho tới ngày 18 tháng 3 cùng trong năm 1979, chỉ chấm dứt khi Trung cộng tuyên bố là đã thực hiện được kế hoạch trận chiến đánh chiếm 6 tỉnh biên giới và tuyên bố lui quân. Tuy chỉ diễn ra trong thời gian ngắn ngủi nhưng cả hai bên đều thiệt hại nặng, số tử vong mỗi bên đều lên tới hàng mấy chục ngàn quân binh. Vì trận chiến diễn ra trên phần đất VN nên người dân thường đã phải trả giá nặng nề về nhà cửa và nhân mạng. Sau cuộc chiến tranh chính thức, những cuộc xung đột biên giới còn kéo dài thêm mười năm cho đến năm 1989 mới tạm ngưng tiếng súng. Qua cuộc chiến này cả hai bên cùng rút được nhiêu kinh nghiệm, nhưng khi đem áp dụng thì lợi thế lại về bên Trung cộng. Trong những ngày đầu đưa quân qua biên giới, Trung cộng có “đạo quân thứ Năm” xuất hiện là những người Việt gốc Hoa dã từ lâu sinh sống ở những tỉnh địa đầu và những kiều dân này đã hướng dẫn những đoàn quân tiên phong chiếm đánh những vị trí quan trọng. Một kinh nghiệm đau thương nữa cho VN là đoàn quân Trung cộng đã rất dã man, bắt và hãm hiếp phụ nử không kể là người dân thường hay cả những phu nữ mặc quân phục bị bắt như là tù binh. Những sác người loã lồ còn để lại bị cắt vú, mổ bụng, hình ảnh trông thật thương tâm, mà Việt cộng phải che dấu vì nếu công bố ra sẽ làm lòng dân phẫn nộ, hận thù Tàu khựa, và đàn anh Trung cộng nổi giận. Những hình ảnh này mới đây đã được tìm thấy và công bố trên các mạng lưới toàn cầu. Bài học cho phe Trung công là, dùng bộ chiến, họ đã đánh giá thấp sự phản công của Việt cộng và trong hai ngày đầu lâm trận phe Trung cộng đã có 4000 binh sĩ thương vong. Với một quân số vào khoảng 120 ngàn tràn qua biên giới bằng ba ngả mà phải nhiều ngày mới chiềm được ba tỉnh thành lớn là Lào Cai, Cao Bằng và Lạng Sơn.

Rút kinh nghiệm chiếm đóng VN bằng võ lực không phải là đắc sách, Trung cộng nay đã dùng chính trị và kinh tế để ép được Việt cộng phải hàng phục, dâng đất, dâng biển và trên thực tế đã chiếm trọn được toàn thể VN bằng những biện pháp di dân, lũng đoạn kinh tế và mua chuộc lãnh đạo. Khởi đầu trong kế hoạch di dân để thành lập “đạo quân thứ Năm” trên toàn quốc, Trung cộng đã cho quân sang làm thường dân tiến qua biên giới, từ xa lộ huyết mạch Hoa Nam nối với Đường Trường Sơn vào tới Bình Dương nơi lập raĐông Đô Đại Phố là một trung tâm kinh tế lớn với kiến trúc hoàn toàn đặc trưng văn hoá Hán Tộc. Các làng TQ đã mọc theo, người TQ tự làm, tự quản không tiếp xúc với người Việt mà chỉ xử dụng Đường Trường Sơn qua xa lộ Hoa Nam để về nước. Các kế hoạch bố trí quân sự cuả Trung cộng đã làm cho một số cấp chỉ huy quân sự Việt cộng nay nghỉ hưu phải lo ngại. Một vài người đã lên tiếng về kế hoạch trồng rừng và chiếm lĩnh cao điểm, trá hình là trung tâm khai thác Bô Xit, thuộc vào chiến lược quân sự của Trung cộng, nhưng không được chú ý. Các lực lượng tranh đấu cho nhân quyền trong nước, đang từng bước đòi hỏi sự bạch hoá này cho toàn dân được biết, nhưng đang bị đàn áp khốc liệt.

Với chiến lược gài quân ở khắp nơi, dùng những đập nước ở thượng nguồn để làm áp lực kiểm soát sự sản xuất lúa gạo, và cùng một lúc khủng bố dân Việt làm nghề chài lưới ở Biển Đông, Trung cộng nay đã hoàn toàn khống chế Việt cộng về kinh tế. Chiến tranh biên giới Việt-Trung như năm 1979 chắc chắn không thể xẩy ra được nữa. Trong chuyến sang Bắc Kinh của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang những ngày 19-21 tháng 6 năm 2013 để nhận chỉ thị của Tập Cận Bình trước khi sang Hoa Kỳ theo lời mời của Tồng thống Barack Obama, TQ và VN đã ra một Tuyên Bố chung. Những ai đọc bản thông báo này đều thầy ngay là một bản dịch sang tiếng Việt từ bản chính viết bằng Hoa ngữ. Nội dung chỉ là toàn thể mọi bàn thảo nào trong tương lai đều phải dựa trên phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” với tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Đặc biệt là sáu tỉnh trên đất Việt ở sát biên giới là Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh đã bị Trung cộng chiếm đóng trong trận chiến năm 1979 thì nay Trung cộng đề nghị là có sự hợp tác điều hành chung ở những nơi đó và còn cộng thêm Điện Biên Phủ, không phải là tỉnh biên giới vì nằm sâu trong nước Việt. Trung cộng đã nhìn ngay thấy đây là một địa điểm chiến lược nằm trên Đường Trường Sơn và họ cần được quyền kiểm soát và quản lý nên ghi là một vị trí hợp tác. Nội dung của bản Tuyên Bố chung từ đầu đến cuối chỉ dựa trên căn bản “gác tranh chấp, cùng chung khai thác” nhưng mọi vấn đề tranh chấp, đất và biển đều xấy ra trên đất nước Việt Nam. Ngoài ra hai bên cùng hứa xây dựng Trung tâm Văn hoá của nước này ở nước kia, nhưng trên thực tế sẽ chỉ là chương trình phổ biến dậy tiếng Hán và văn hoá TQ cho trẻ em Việt, từ những lớp tiểu học chứ có bao giờ Việt cộng được phép mang những bài “Bình Ngô Đại Cáo” hay “Hịch Tướng Sĩ Văn” sang giảng dậy cho Tầu khựa.

Lực lượng quân sự của Việt cộng khi xưa đã có lần tấn công ào ạt sang Căm Pu Chia và có thời kỳ chống trả lại một cách quyết liệt sự tấn công qua ba ngả biên giới của Trung cộng thì nay chỉ còn lại như kiểu dân quân tự vệ để cho Đảng xử dụng trong những cuộc càn quét dân chúng phụ lực với lực lượng công an. Theo tin chính thức thì quân lực Việt cộng nay gồm có 400.000 Bộ binh, 50.000 người cho Hải quân và 30.000 người cho Không quân. Cộng thêm vào có thêm 60.000 người cho Bộ đội Biên phòng và ước lượng có 260.000 người cho lực lương Công an Cảnh sát. Một mặt khác, để tranh dành ảnh hưởng giữa những cấp lãnh đạo đảng trong những năm vừa qua đã có nhiều sự thanh trừng trong nội bộ, hoặc cho về hưu nhiều tướng lãnh, hoặc cho thăng chức lên cấp tướng nhiều sĩ quan ở các phe phái nhưng chưa có một ngày chiến trận, thậm chí có nhiều tin tức về tai nạn mày bay làm tử nạn cả một bộ chỉ huy và tham mưu cấp quân đoàn. Những cuộc thanh trừng xẩy ra liên tục để tiêu diệt các thế lực đối kháng Trung cộng trong nội bộ lãnh đạo của Việt cộng. Đã có những tin sau này được tiết lộ như toàn bộ Bộ Tư Lệnh Quân Khu 4 tại Thanh Hoá khi bay lên thị sát mặt trận Hải quân, bị bắn cháy chết toàn bộ. Một tin khác cho biết phi cơ chở phái đoàn cấp Bộ trưởng từ Hà Nội đi Lào họp bị nổ tung trên biên giới Lào Việt. Những tin tức này tất nhiên được giới lãnh đạo giữ kín, thỉnh thoảng mới bị lọt ra và không được kiểm chứng. Tuy vậy, đã có những tin thanh trừng được chính thức loan báo như việc toàn bộ Tư Lệnh của 7 Quân Khu khắp nước đã bị thay thế, đểkhông thể đồng lòng chống ngoại xâm Trung cộng. Điều mà truyền thông quốc tế được biết và loan tải rộng rãi là toàn thể những người khởi xướng các phong trào yêu nước, chống sự khống chế của Trung cộng đều lần lựot bị bắt bớ giam cầm và xử án nặng nề. Những từ ngữ tuyên truyền khi xưa như “Quân đội Trung với Đảng, Hiếu với Dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” giờ đây không còn ý nghĩa gì nữa. Nói chung thì hiện nay Quân Đội Nhân Dân Việt Nam chỉ là một lực lượng để cho giới lãnh đạo xử dụng phòng ngừa sự nổi dậy của dân chúng mà thôi. Kẻ thù truyền kiếp là TQ thì hiện nay đang điều khiển giới lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Những nhân vật nắm quyền trong tay, giờ chỉ là những Thái Thú nhận lệnh của Trung cộng, và dựa vào Đảng để chia chác quyền lợi. Ngay cả trong việc sửa đổi Hiến pháp họ còn bố trí để có điều khoản là nhiệm vụ chính của Quân Đội Nhân Dân là bảo vệ Đảng cộng sản Việt Nam. Ta chỉ cần xét những đề nghị đòi hỏi phải sửa đổi bản dự thảo Hiến pháp do Việt cộng đưa ra năm 2012, và bản đề nghị chung này đã có chữ ký của 72 nhân vật sáng giá ở đủ mọi thành phần, nhiều ngưởi đã từng được chế độ ưu đãi. Đặc biệt là đề nghị sửa đổi điều nói về quân đội được trích nguyên văn như sau:

“Hiến pháp đặt lợi ích của toàn dân lên trên lợi ích của bất kỳ một tổ chức hay cá nhân nào. Mọi hoạt động của các lực lượng vũ trang chỉ để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia và phục vụ nhân dân. Lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào, như quy định tại Điều 70 của Dự thảo. Chúng tôi yêu cầu bỏ quy định lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam.”

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam không còn được bố trì để phòng ngừa một sự tấn công qua biên giới phía Bắc nửa vì chiến thuật của Trung cộng là dùng hoả tiễn tầm trung đặt tại Quảng Đông để cảnh cáo Việt cộng. Gần đây, có thông tin cho hay Trung Quốc vừa thiết lập Lữ đoàn 827 tại thành phố Thiều Quan, tỉnh Quảng Đông xử dụng loại hoả tiễn Đông Phong có tầm bắn vào khoảng 1.200 km. Kế hoạch chiến lược của Trung cộng đưa hỏa tiển tầm trung tới Hoa Nam không hẳn chỉ dùng để doạ đàn em Việt cộng nhưng trong trường hợp Biển Đông dậy sóng có sự hiện diện của Hải quân Hoa Kỳ thì những hoả tiễn này có thể được đưa ngay xuống dọc đường Trường Sơn, nơi đây đã có những căn cứ Trung cộng được thiết lập với đầy đủ quân số trong kế hoạch khai thác rừng và khoáng chất mà Việt cộng đã nhường cho Trung cộng. Những dàn hoả tiễn đặt theo Đường Trường Sơn sẽ là khí giới mãnh liệt để trấn giử Biển Đông cho Trung cộng. Tin tức mới đây đưa ra là VN đã đặt mua 6 tầu ngầm loại Kilo của Nga và sẽ nhận chiếc đầu tiên vào năm 2013 đã làm cho những nhà nghiên cứu chiến thuật thắc mắc không biết VN đề phòng hải phận để chống Hải quân nước nào.

Khi bài này được soạn thảo gần xong thì Việt cộng đang hồ hỡi loan tin về Chủ tịch nước Trương Tấn Sang được Tổng Thống Barack Obama mời sang thăm viếng Hoa Kỳ và tiếp đón tại Toà Bạch ốc ngày 25 tháng 7 năm 2013. Nhưng thử hỏi cách đây hơn một tháng, những ngày 19-21 tháng 6, Trương Tấn Sang đã sang Bắc kinh triều kiến Tập Cận Bình để nhận chỉ thị và ký văn kiện chính thức dâng nước cho Trung cộng, trong bản tuyên bố chung dài khoảng 3 trang từ đầu đến cuối toàn những điều tuân theo, gồm có 60 chữ “hợp tác”, 29 chữ “nhất trí” và 7 chữ “toàn diện” để thực hiện những sự cải cách ngay trên đất nước mình theo ý kiến của TQ, thì Việt Nam còn gì nữa đâu để trao đổi với cường quốc Hoa Kỳ. Theo những nhà bình luận chính trị thì Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã không được tiếp đón như một quốc khách theo đúng lễ nghi. Chuyện thăm viếng chỉ cốt làm cho Tổng Thống Hoa Kỳ ghi được thêm thành tích là đã gặp gỡ tất cả mọi Quốc trưởng các nước trên địa cầu và rồi đây được mời tới cả những nơi chưa được ánh sáng dân chủ và tư do soi tới.

Kết Luận

Qua 4 thời kỳ Bắc Thuộc, trong Lịch sử Dân Tộc VN chưa hề có một lần dân Việt chịu khuất phục Bắc Phương, bị Hán hoá hoàn toàn. Các cuộc nổi dậy dành lấy Độc lập và Tự chủ bao giờ cũng do lòng người dân phẫn uất với chế độ cai trị bạo tàn, và nổi lên chống quân xâm lươc. Ngày nay một khi Đảng cộng sản Việt Nam còn đàn áp người dân yêu nước thì điều hiển nhiên là Việt cộng đang tiếp tay cho Trung cộng để tạo ra một cuộc thống trị lâu dài đất nước, xáp nhập và đồng hoá hoàn toàn VN vào TQ. Chế độ hiện tại đã đồng loã với ngoại bang để đặt ra chương trình học chữ Hán từ cấp tiểu học trở lên, để chuẩn bị cho một thời kỳ Bắc Thuộc. Ta có thể nghĩ đó là điềm báo hiệu có sự thay đổi sau nhiều năm tháng dài chờ đợi. Toàn thể dân tộc VN tất nhiên không thể chấp nhận một cuộc Bắc Thuộc lần thứ năm và chắc chắn một cuộc khởi nghiã sẽ phải bùng lên.

Năm 2001 Luật Sư Lê Chí Quang đưa lên mạng lưới bài “Hãy cảnh giác với Bắc Triều” trong đó người trí thức trẻ vì đau lòng với vận nước, đã viết:

“Các triều đại phong kiến của ta chưa bao giờ phải mất một tấc đất nào cho Trung Quốc. Ngay cả những kẻ hèn nhát như Mạc Đăng Dung quỳ gối xin hàng giặc hay Lê Chiêu Thống cõng rắn cắn gà nhà cũng chưa dám dâng đất cho Trung Quốc. Thế mà giờ đây, khi cộng đồng nhân loại đã văn minh hơn, cá lớn không thể nuốt cá bé dễ dàng như xưa thì ai đó lại cam tâm cúi đầu mãi quốc cầu vinh xin dâng phần lãnh thổ, lãnh hải cho Trung Quốc để mong sự bảo trợ cho quyền lãnh đạo độc tôn của mình!”

Bài viết này đã làm cho anh bị bắt bớ, và tù đầy. Hơn mười năm sau nhiều bạn trẻ trong nước đã lên tiếng chống Tầu khựa và không còn sợ hãi đảng cầm quyền. Vấn đề hiện nay không còn giới hạn là “cảnh giác” nữa, cũng không còn ở mức “hiểm hoạ” nữa mà thật sự đất nước Việt Nam đã mất vào tay Trung Quốc. Thị thành dọc biên giới đã mất, rừng mất, biển mất, cao nguyên mất, người TQ tràn ngập lãnh thổ do lệnh bỏ chiếu khán nhập cảnh qua biên giới. Theo những tin tức đưa ra từ trong nước, giới lãnh đạo già nua còn ngoan cố, chia nhau quyền lợi để tham ô vơ vét tài lợi, bám lấy địa vị độc tôn, nhưng tuổi trẻ đang nổi giận. Lòng Yêu Nước trong mỗi thanh niên đang bùng cháy. Một Lê Chí Quang, một Lê Công Định, một Việt Khang và ngày nay các sinh viên Đinh Nguyên Kha, Vũ Phương Uyênlấy máu mình viết thành lời nguyền chống “Tàu Khựa” và họ đã bị đàn áp khốc liệt, nhà tù đang mỗi ngày một đông. Người Việt ở hải ngoại phải cùng nhau đoàn kết, hết lòng hỗ trợ những nhà tranh đấu cho dân chủ, và nhân quyền ở trong nước. Họ đang chờ đợi những tiếng nói và những hành động cụ thể của chúng ta. Chúng ta cũng nên cảnh giác những mưu đồ thâm độc của Việt cộng hòng chia rẽ người Việt ở khắp nơi qua Nghị quyết 36. Chúng ta nên tránh đừng để sa vào bẫy xập của Việt cộng. Ở mỗi nơi, có một tổ chức ái hửu hay đồng hương vừa thành hình thì Việt cộng lại mưu đồ lập thêm ra một tổ chức khác trông như vẻ cạnh tranh nhưng thửc ra là gây chia rẽ. Hàng ngày chúng tung lên mạng lưới nhưng tin tức về người này, đảng phái nọ, tôn giáo kia, hầu hết là những chuyện bịa đặt, cốt để gây tranh cãi, làm chúng ta quên được sự việc bán nước, tham nhũng đang xẩy ra trên quê hương. Những hành động gây chia rẽ này sẽ làm cho những người có lòng phải nản chí. Riêng với người viết bài này, và những người đồng chí hướng, thì những thủ đoạn chia rẽ nhau của Việt cộng chỉ làm cho chúng tôi thêm ý chí muốn cùng nhau đoàn kết mà thôi.

Phụ chú:

1/ Bài viết này ghi lại những lời thuyết trình của tác giả tại buổi Hội thảo về “38 Năm Nhìn Lại-Hiện Tình và Tương Lai Việt Nam” do Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Bưởi-Chu Văn An - Nam California tổ chức ngày Chủ Nhật 14 tháng 7 năm 2013 tại Le-Jao Center của Đại Học Costline Community College, thành phố Westminster, với 5 diễn giả là những GS Nguyễn Xuân Vinh, GS Lưu Trung Khảo, GS Phạm Cao Dương, GS Trần Huy Bích và GS Trần Lam Giang.

Tác giả ghi nhận sự giúp đỡ tìm kiếm tài liệu của Ban Nghiên Cứu - Tập Thể CSVNCH/HN.

2/ Buổi Hội Thảo được Ban Điều Hành tổ chức rất trịnh trọng và đúng giờ với số người tham dự lên tới trên 300 người ngồi chật hội trường và chăm chú nghe suốt chương trình từ 1:00 giờ trưa tới 4:00 chiều. Sau phần thuyết trình, khán thính giả quan tâm tới vận nước đặt ra rất nhiều câu hỏi. Về những câu hỏi đặt ra với diễn giả muốn nghe câu trả lời về “bao giờ chế độ cộng sản VN sẽ sụp đổ?” tác giả đã kể lại kỷ niệm vui là trong buổi gặp gỡ trước đây, chuyên gia về Chiến Tranh Việt Nam là ông Douglas E Pike có hỏi lại là: “Ông là giáo sư về Astrodynamics tại Đại Học danh tiếng University of Michigan và cũng đã từng giảng dậy ở UC Berkeley, vậy ông có thể tiên đoán được hay không về thời điểm chính xác khi một vệ tinh nhân tạo hết hạn kỳ và rơi trở lại tan vỡ ra thành từng mảnh vụn trong bầu khí quyển của trái đất?”. Câu trả lời của diễn giả là sau khi quan sát qũy đạo một thời gian người ta có thể biết là “vệ tinh nhân tạo sẽ có ngày rơi vào bầu khí quyển duy chỉ khó lòng tiên đoán được ngày giờ mà thôi”.

3/ Câu chuyện bên lề là nhiều khoa học gia đã viết bài về lý thuyết “Life-time of artificial Earth satellite”. Về lý thuyết trở về bầu khí quyển của phi thuyền hay vệ tinh nhân tạo tác giả có viết một sách chuyên khoa với đề là “Hypersonic and Planetary Entry Flight Mechanics” viết chung với nhà bác học người Đức là GS Adolf Busemann và khoa học gia Hoa Kỳ là GS Robert D Culp. Một cựu sinh viên tiến sĩ của tác giả là ông James M Longuski, khi làm việc tại Jet Propulsion Laboratory thuộc cơ quan NASA, có cho JPL ấn hành một phần luận án của ông với đề là “Analytic Theory of Orbit Contraction and Ballistic Entry into Planetary Atmospheres” . Theo lý thuyết này, được kiểm nghiệm rất chính xác thì khi vệ tinh nhân tạo có hình ellip với cận điểm thấp gần bầu khí quyển thì mỗi lần chạy qua, có sự cọ xát với làn không khí dù rất mỏng manh cũng sẽ làm giảm dần vận tốc và làm cho viễn điểm hạ thấp dần để cho qũy đạo co lại. Khi viễn điểm tới bằng cận điểm, qũy đạo thành hình tròn, đó là điềm báo hiệu chỉ còn vài ngày là vệ tinh rơi vào bầu khí quyển và trong mấy vòng cuối cùng sự chuyển đổi qũy đạo sẽ rất mãnh liệt chứ không còn đều đặn như trước. Tiến sĩ Longuski nay là giáo sư Đại Học nổi tiếng Purdue University ở Lafayette, Indiana.

Chuyện sụp đổ của chế độ cộng sản Việt Nam có lẽ cũng tương tự, và giống như những chế độ độc tài ở các nước Trung Đông. Người dân sẽ mất dần lòng tin, và khi lòng dân uất hận đã lên cao độ và bùng nổ thì chính biến xẩy ra kéo xập chế độ chỉ trong vài ngày.

4. Để trả lời câu hỏi đặt ra, tác giả đã nhắc lại tập thơ “Đố Vui Việt Sử” viết cùng với học giả Đào Hữu Dương. Cụ Đào Hữu Dương viết ra 100 câu hỏi theo thể thơ lục-bát, và tác giả đã trả lời mỗi câu hỏi bằng hai câu thơ cũng theo thể thơ lục-bát. Hai câu hỏi cuối cùng trong tập thơ là

99 Mùa Xuân nào phá quân Thanh?

100 Bao giờ trở lại thanh bình Việt Nam?

Để làm kết luận cho bài viết này tác giả xin ghi lại những câu trả lời

99 Quang Trung thần tốc phát binh,

Mùa Xuân Kỷ Dậu chiếm thành Thăng Long.

100 Lời ca con cháu Tiên Rồng,

Cộng nô tiêu diệt, non sông thanh bình.

 

 

Sunday, July 28, 2013

Tan man cua Tuong Nhung >>> Bo Toi: THACH LAM



 

Bố tôi: THẠCH LAM

                            Tường Nhung

 

Ngày bố tôi mất, tôi lên 6 tuổi, em kế tôi 3 tuổi và em út mới sanh được 3 ngày. Cả hai em tôi đều là trai. Bố tôi bị lao phổi, vì thời gian đó làm việc quá sức. Một mình ông phải trông coi nhà in, xuất bản báo, viết bài, viết truyện.

 
Bố tôi bị bịnh nằm nhà đã mấy tháng, nhưng vẫn tỉnh táo, ngay <http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=168795&zoneid=271>  trước khi mất vài tiếng đồng hồ cũng vẫn tỉnh... thấy bố tôi đau lâu mà không bớt, bà nội và cô tôi đi coi bói về bịnh trạng của bố tôi. Thầy bói nói sợ bố tôi không qua khỏi, nhưng sau khi ông bấm số của mẹ tôi. Mẹ tôi lúc đó đang mang thai người em út gần đến ngày sinh. Ông bảo:


“Nếu bà sinh con gái thì nên làm tiệc lớn ăn mừng, còn nếu con trai thì nên lo trước việc tang <http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=168795&zoneid=271>  lễ, vì đứa con trai này khắc cha mẹ và anh chị em nữa.” Tuy bà và cô tôi không tin hẳn lời của ông thầy bói, vì bố tôi vẫn còn tỉnh táo lắm, nhưng cả hai đều rất lo lắng. Rồi ngày sinh em của mẹ đã đến. Khi biết là con trai thì bà và cô tôi khóc rất nhiều. Mọi người giấu mẹ tôi vì chuyện đó. Mẹ ở nhà thương được hai ngày thì tối ấy bố tôi hơi trở bịnh mệt hơn. sáng sớm ngày thứ ba thì bà tôi cho người đến đón mẹ về vì muốn bố tôi thấy mặt em tôi. Lúc ấy bà phải nói cho mẹ tôi biết về lời thầy bói nói. Thế là cả ba đều khóc, phải xuống dưới bếp khóc vì sợ động đến bố tôi. Người nào mắt cũng đỏ hoe <http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=168795&zoneid=271> . Mẹ tôi bế em tôi vào để bố nhìn mặt. Bố tôi bảo đỡ dậy để nhìn em cho rõ hơn. Bố tôi ngắm nghía em rồi khen thằng bé kháu khỉnh và khỏe mạnh rồi quay qua mẹ tôi mắng nhẹ, sao lại bế con về nhà sớm vậy, mới sinh nở còn non nớt, sức khỏe còn yếu, phải nằm lại nhà thương một tuần lễ chứ. Thế là mẹ tôi không cầm lòng được nữa, khóc nức nở. Bố tôi cau mày và nói, tôi đã chết đâu mà khóc.

 
Ðến trưa bố tôi tỉnh dậy và đòi ăn na, thứ na bở mùi thơm ngào ngạt mà bố tôi thích nhất. Ngoài na ra bố tôi còn thích ăn dưa hồng và dưa gang, các thứ dưa đó khi chín cũng tỏa ra một mùi thơm thật nhẹ nhàng. Ăn được một vài miếng thì bố tôi lại đuối sức mệt lả, người nhà vội đỡ bố tôi nằm xuống và bố tôi bắt đầu thiếp dần. Chiều đến thì chú Bảy tôi đến thăm, chú đã ngồi lại trong phòng bố tôi rất lâu. Khi chú Bảy tôi đẩy cửa bước ra thì mọi người trong nhà đều nhìn chú bảy tôi bằng ánh mắt chờ đợi một hy vọng may mắn do chú tôi đem lại, vì lúc ấy chú Bảy tôi đã đậu xong bằng bác sĩ cho nên chú biết rất rõ về bệnh trạng của bố tôi. Chú bước ra và đi rất vội vàng không nhìn ai cả. Có nhẽ chú sợ làm cho mọi người ruột thịt trong nhà mất hết niềm hy vọng đã đặt vào chú là chú có thể chữa khỏi bệnh cho bố tôi. Vẻ mặt đau buồn và cặp mắt đỏ hoe của chú đã nói lên được sự sắp sửa ra đi của bố tôi. Cho nên chú chỉ nói một câu tiếng Tây ý nghĩa là bệnh của bố tôi không khỏi được và sự ra đi vĩnh viễn của bố tôi cũng gần đến. vài giờ sau đó thì bố tôi tắt thở.

 

Ngày đưa đám bố, tôi được ngồi chung xe kéo với mẹ tôi. Trước giờ đưa đám, bà vú bắt tôi mặc áo tang may bằng vải sô thô sơ, lại có dây bằng gai thắt ngang bụng, lại thêm cái mũ mấn chụp vào đầu, kéo miếng vải ở phía trước chụp xuống mắt thì chỉ còn nhìn thấy hai bàn chân mình mà thôi. Tuy còn nhỏ nhưng có lẽ tôi cảm nhận được sự đau buồn qua chiếc áo tang hay có nhẽ vì trông chiếc áo và mũ đó quá xấu và kỳ dị mà tôi chưa thấy bao giờ, cho nên tôi đã khóc và trốn vào trong tủ áo nhất định không chịu mặc khi đưa đám bố tôi.

 

Chiếc xe tang có bốn con ngựa kéo, ngựa được phủ cái choàng màu đen có viền ren trắng, kéo theo chiếc quan tài được phủ bằng nhung đen chung quanh có tua, bốn góc của chiếc xe tang có bốn người thân tay cầm mỗi người một sợi dây từ bốn góc của chiếc quan tài đi chậm chậm theo xe tang. Mẹ tôi mặc áo tang may bằng vải sô, buộc ngang lưng bằng dây gai, đầu đội mụ mấn, tóc xõa ngang lưng, chẳng nhìn thấy mặt mẹ tôi đâu cả. Lúc ấy mẹ tôi mới ngoài 30 tuổi. Bố tôi chết đi để lại cho mẹ tôi 3 đứa con còn quá nhỏ dại, về vật chất thì chẳng có gì, ngoài những cuốn truyện, tiểu thuyết ngắn, dài mà sau này khi chúng tôi khôn lớn, đó là một gia tài vô cùng quý giá và là một niềm hãnh diện cho chúng tôi. Không biết mẹ tôi lúc ấy nghĩ gì và đau buồn ra sao, nhưng tôi chắc mẹ tôi đã đau buồn đến cực độ. (Tôi sẽ viết về mẹ tôi vào một dịp khác.)

 

Khi quan tài hạ huyệt thật là thảm thiết, bà, cô chú Bảy cùng bạn bè thân thiết của bố tôi, ai nấy đều quá đau lòng thương tiếc người ra đi còn quá trẻ, khi nhìn cảnh mẹ tôi cứ khóc ngất đi và không còn nói ra lời nữa. Tôi thì cứ nhìn mọi người khóc rồi cũng khóc theo luôn. Em kế tôi khi nhìn thấy có bát cơm đầy, trên có cắm đôi đũa vông và có hai cái trứng gà luộc thì chỉ tay và đòi ăn. Chị em chúng tôi nào đã biết được sự chia ly chết chóc như thế nào đâu.

Tôi còn nhớ rất rõ về hình dạng của bố tôi, bố tôi rất cao, da trắng hồng trông như lai Tây vậy. Bố tôi hay mặc bộ vét màu kem nhạt may bằng hàng vải đũi, đầu luôn đội cái mũ phớt, chân đi giầy tây, lúc nào cũng bóng loáng. Quần áo của bố tôi lúc nào cũng phải là thẳng tắp, bố tôi rất ngăn nắp thứ tự và rất quý sách. Bố tôi có một tủ sách bìa mạ chữ vàng được xếp rất ngăn nắp. Có một lần cô Năm tôi sang thăm, cô tôi có dẫn theo hai người con trai đang ở tuổi nghịch phá, và họ đã vào phòng sách và lục sách của bố tôi. Bố tôi nói ngay với cô tôi: “Lần sau chị đến thăm em thì chị đến một mình, đừng dân theo mấy cháu nữa.” Cô tôi đã quá quen thuộc với tính nói thẳng của bố tôi cho nên không bao giờ giận bố tôi cả. Ngày bác Ba tôi có người con bị chết, bác Tư gái không đến chia buồn được, cô tôi nói với bố tôi về chuyện đó, bố tôi bảo: “Nếu chị Tư không đến đưa đám con chị Ba thì khi nào con chị Tư chết thì chị Ba cũng không phải đến.” Tuy cô tôi đang buồn về việc cháu mất cũng phải phì cười vì câu nói của bố tôi. Cô chỉ lầm thầm một mình: “Ai mà muốn con mình chết bao giờ.” Cô tôi và bố tôi rất thân và thương nhau vì lúc nhỏ khi các bác tôi đi học ở xa nhà chỉ còn có ba chị em mà chú Bảy thì lại còn nhỏ, bố tôi chỉ kém cô tôi có một tuổi. Khi cô tôi đi lấy chồng, bà tôi cũng bắt đầu ngấm nghé vợ cho bố tôi.

 
Bà rất ưng ý một cô con của bà bạn thân, nhà rất khá giả và cô cũng đẹp. Bà cô có đánh tiếng và nhà gái bằng lòng chỉ chờ bố tôi đi xem mặt. Bà tôi thúc giục bố tôi mấy lần, nhưng lần nào bố tôi cũng tìm cách từ chối khéo, giằng dưa mãi cả gần năm trời, nhà gái thấy bố tôi vẫn chưa động tĩnh gì bèn nhờ người sang dò hỏi bà tôi một lần chót để bà quyết định vì có người khác muốn đi hỏi cưới cô con gái bà. Bố tôi biết tin ấy bèn thưa với bà tôi là: “Mẹ bảo cô ấy đi lấy chồng đi.” Thế là từ đó bà tôi không đả động gì đến chuyện cưới vợ cho bố tôi nữa. Khi gặp mẹ tôi, bố mẹ tôi đã yêu thương nhau ngay. Bố tôi về thưa chuyện với bà tôi để cưới mẹ tuy lúc đầu bà có hơi ngần ngại vì chưa biết mặt mẹ tôi và gia thế như thế nào. Bà và cô tôi có bàn với nhau về chuyện đó, nhưng bà tôi biết tính của bố tôi, khi đã quyết định chuyện gì thì khó có ai mà lay chuyển đổi ý được, phần nữa tính của bố tôi rất khó chiều. sau cùng bà và cô tôi đã chấp nhận mẹ, tôi rất vui vẻ, bà và cô tôi nói với nhau “thế là từ nay mọi chuyện của bố tôi đã có mẹ tôi gánh lấy, mẹ con mình được thảnh thơi”. Mẹ tôi hơn bố tôi vài tuổi, bà tuy hơi thấp so với bố tôi, nhưng bà rất đẹp và rất khéo chiều bố tôi. Bà hiểu rõ rất tỉ mỉ từng chi tiết, những sở thích của bố tôi và tôn trong tất cả những gì mà bố tôi quyết định. Cà phê mà bố tôi uống mỗi buổi sáng phải chính tay mẹ tôi pha.

 
Cà phê mua thứ thượng hạng nguyên hột đem về nhà xay lấy. Khi bố tôi vừa ở tòa soạn về thì đã có sẵn một chậu nước nóng ấm và một cái khăn mặt để sẵn để bố tôi lau mặt. Thay quần áo ra, sau khi tắm xong thì cơm nước đã dọn sẵn. Ăn cơm xong bố tôi có thói quen ra ngồi ngoài hiên trước nhà để ngắm cảnh, tuy đã về chiều nhưng cũng còn một vài chiếc thuyền, trên chở những cặp tình nhân họ chèo thật chạm nhìn ngắm mặt trời lặn và thủ thỉ những lời âm yếm. Bố tôi lúc nào cũng rủ mẹ tôi ra cùng ngồi và trò chuyện tâm tình cùng mẹ. Bố tôi ít nói, nhưng khi nói thì đã diễn tả hết ý mình, mẹ tôi rất thích được nghe bố tôi nói chuyện đó là những giây phút sung sướng của mẹ tôi.

 

Bố tôi viết văn, viết báo, và có nhà in riêng do một nhóm anh em và bạn bè chung vốn, bố tôi rất bận rộn với công việc. Sáng sớm đã rời nhà để lên tòa soạn làm việc, chiều mới vè. Khi về, bố tôi đi tắm thay bộ áo ngủ, trong lúc bố tôi tắm thì mẹ tôi đã sửa soạn bữa ăn tối, thức ăn bố tôi không đòi hỏi phải nhiều thịt, cá hay thịnh soạn, nhưng món gì cũng phải thật tinh khiết, sạch sẽ, và bày cho gọn và đẹp mắt. Bố tôi thích những món ăn thanh như canh giò sống nấu rau ngót, cải xanh nấu cá rô, rau muống luộc, đậu hũ chiên tẩm hành lá hay cá chép rán vàng, và tuyệt đối không bao giờ được dọn món ăn mà đã dọn ăn ngày hôm trước. Có một lần mẹ tôi kho một nồi cá thật công phu định để làm món mặn ăn mấy ngày. Ngày đầu dọn cá kho ra bố tôi thích lắm vừa ăn vừa khen và ăn hết gần một khúc cá kho. Qua ngày hôm sau mẹ tôi lại dọn cá kho ra nữa bố tôi hỏi mẹ tôi “Cá này là cá gỗ phải không?” và không đụng đũa vào dĩa cá nữa nên từ đó trở đi không bao giờ mẹ tôi dọn thức ăn đã ăn ngày hôm trước nữa. Nhà cửa thì lúc nào cũng phải sạch sẽ gọn gàng. Trước giờ bố tôi về, mẹ tôi luôn coi lại nhà cửa tuy lúc nào cũng dọn dẹp cho sạch rồi nhưng nhà có trẻ con thì không thể giữ được gọn gàng như ý muốn. Chỉ một chiếc guốc hay dép hoặc đồ chơi của trẻ con vứt ở giữa nhà thì cả nhà bị mắng ngay. Bố tôi rất khó tính và ít khi cười nhưng lại rất thương người. Có thời gian nhà có một anh phu xe để kéo xe cho bố tôi đi làm hàng ngày nhưng khi trời mưa thì bố tôi bảo mưa ướt tội nghiệp, khi nắng thì bố tôi cũng bảo nóng quá kéo xe mệt, và thấy anh kéo xe đổ mồ hôi thì cũng không đành. Rút cuộc bố tôi lại đi xe ngoài để đi làm, anh phu xe chẳng mất khi được kéo xe cho bố tôi cả, quanh quẩn ở nhà phụ việc lặt vặt với mẹ tôi.

 

Bố tôi rất yêu tôi, tối nào sau khi ăn cơm xong bố tôi cũng gọi tôi vào phòng sách chỗ bố tôi ngồi hàng đêm để viết văn. Trên bàn viết của bố tôi ngoài những giấy, bút, đặc biệt có một lọ kẹo tây. Những viên kẹo đủ màu sắc hồng lạt, đỏ, xanh, trắng, đựng trong chiếc lọ bằng thủy tinh trông thật đẹp mắt và thật là muốn ăn. Bố tôi mở nắp lọ, mùi kẹo bay thật thơm. Bố tôi lấy ra cho tôi một cái, chỉ mt cái thôi không bao giờ bố tôi cho thêm, tôi biết như vậy nên cũng không bao giờ dám xin thêm. Tôi ăn viên kẹo đó thật chậm, chỉ ngậm chứ không dám nhau, khi chất ngọt của kẹo đã tàn gần hết bên trong có một hạt hạnh nhân tôi cắn tan và nhau thật kỹ, vừa ròn vừa bùi.

 
Ngày tôi còn bé bố tôi bảo mẹ may một cái yếm dãi cho tôi lúc nào cũng đeo ở trước ngực có thêu chữ “Ðừng hôn tôi”. Chắc bố tôi sợ mọi người thấy tôi mũm mĩm dễ thương thì hay hôn lên má tôi như vậy không vệ sinh và có thể lây bệnh. Khi trời trở lạnh mẹ tôi nói để mua mũ cho tôi đội thì bố tôi bảo tóc con nó dầy và đen nhanh không cần đội mũ trông xấu xí. Khi mẹ tôi có thai tôi thì bố đã chọn tên sẵn con đầu lòng thì đặt là Bạch kế là Ðằng rồi Giang, lấy tên một dòng sông. Ðến khi tôi chào đời là gái bố tôi ngại khi lớn lên tôi đen đúa cho nên đổi tên khác cho tôi, nhưng sau vẫn giữ hai tên đã chọn sẵn cho hai em tôi. Có lẽ cũng là số mệnh đã định sẵn cho nên bố tôi đã chị chọn có ba tên.

 

Bố tôi không thích tiếp khách ở nhà, ngay cả bạn thân cũng vậy. Chỉ có chú Ðinh Hùng và bác Thế thỉnh thoảng đến có một lần. Chú Ðinh Hùng có lần uống rượu say nôn mửa tung tóe, mẹ tôi lấy vôi rồi bôi vào gan bàn chân của chú. Chủ trẻ hơn bố tôi vài tuổi, người thấp và bé nhỏ, tóc để dài và chải ngược về phía sau và lúc nào cũng bôi brillantine bóng mướt.

 
Khi còn sinh thời (sống) bố mẹ tôi ở tại đầu làng Yên Phụ trong một căn nhà nhỏ nhưng rất thơ mộng. Nhà ở ngay cạnh hồ Tây có cây liễu rủ, tàn liễu xà xuống gần mặt nước hồ có cái cầu bằng gỗ đưa ngoài xa. Tôi hay ra cầu đó ngồi thả đôi chân xuống nước rồi đung đưa đôi chân dưới lần nước thật mát. Ðường từ ngoài vào làng toàn lót bằng gạch đỏ, trên đường đi chỗ nào cũng nhìn thất nước hồ, đi qua một cái đình lớn là tới nhà bố tôi. Ði sâu vào trong làng rất đẹp, hai bên là những dàn hàng rào trồng bằng cây duối, được cắt thật bằng phẳng khi tới mùa quả duối chín vàng trông xa như những sợi tơ tằm óng ánh, ăn thì thật thơm và ngọt. Trừ một vài gia đình từ xa đến ở thuê phần đông làng Yên Phụ sống bằng nghề trồng hoa, đủ các loại từ thược dược tím, đỏ, tía, cúc vạn thọ, vàng ươn, đại đóa vàng mơn, lay ơn trắng hồng, huệ trắng thơm ngào ngạt, v.v... Buổi sáng sớm các tay buôn hoa từ các nơi đều đến vườn hoa để mua buôn về bán lẻ lại tại chợ hoa và các chợ trong thành phố. Một số gia đình có đông người thì họ tự cắt hoa rồi đem ra chợ bán như vậy họ sẽ kiếm được nhiều tiền hơn. Sau khi bố tôi mất, bà nội tôi đã đón mẹ tôi và chị em chúng tôi về lại Cẩm Giang ở với bà. Từ đó tôi chưa có dịp trở về lại làng Yên Phụ nữa.

 
Thấm thoát bố tôi đã ra đi hơn chục năm rồi, hàng năm đến ngày giỗ bố khi mẹ tôi còn sống năm nào bà cũng làm giỗ thật trang trọng dù lúc đó nhà nghèo bà cũng xoay xở để có đủ tiền mua gà, vịt, xôi chè, và các thứ cần thiết cho việc cúng bái, nhất là hoa sen và hoa cẩm chướng hai thứ hoa mà bố tôi thích nhất và thạch trắng thái nhuyễn thả vào trong chén nước đường có thả hoa nhài màu thạch long lanh trông như nhưng mảnh vụn thủy tinh và mùi thơn của hoa nhài, cộng thêm mùi trầm hương của cúng tỏa ra từ trên bàn thờ, tôi có cảm tưởng qua làn khói mỏng đó, bố tôi đã hưởng được và ẩn hiện đâu đây để vui cùng con cháu. Mẹ tôi mất cũng đã hơn hai chục năm qua, chị em chúng tôi cũng vẫn cúng giỗ bố tôi y như hồi mẹ tôi còn sống, năm nào cũng có cô tôi và các cháu của bố tôi tham dự. Năm nay lại sắp đến ngày giỗ của bố tôi, tôi viết bài này để dâng lên hương hồn của bố tôi và để tưởng niệm một nhà văn đã được khen là người viết truyện ngắn hay nhất của đầu thế kỷ thứ 20.

 

(Tác giả bài viết là Ái nữ nhà văn Thạch Lam và cũng là Phu nhân cố Trung tướng Ngô Quang Trưởng) ~~~~~~~~~~~~

* Sơ lược tiểu sử nhà văn Thạch Lam <http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A1ch_Lam>  - Wikipedia

 
                                                            

Friday, July 26, 2013

ÐÂY LONG GIAO và SUỐI MÁU



ÐÂY LONG GIAO và SUỐI MÁU

Những ngày đầu tại trại tù Long Giao tôi ở chung cùng tổ với Tiểu Đoàn Trưởng TÐ.2/TQLC Trần Văn Hợp, Ban tư Lữ Ðoàn Quách Ngọc Lâm, TÐP Trần Quang Duật ÐÐT Thủy Xa Doãn Thiện Niệm. Tổ kế bên gồm Trưởng phòng TLC/SÐ Huỳnh Văn Phú, Trg.P Chính huấn Lê Đình Bảo và các Th/tá Trần Kim Hoàng, Lê Văn Cưu, Phan Công Tôn. Thấp thoáng xa xa bên kia hàng rào kẽm gai là TÐTr/TÐ.9 Lâm Tài Thạnh, T.ÐTr/TÐ.4 Trần Ngọc Toàn, CHP/TTHL Trần Xuân Bàng, Th/tá Phạm Văn Sắt v.v..

Bài viết này không có mục đích nói về cuộc sống mới của những người bị bắt buộc đầu hàng trong “Thiên Ðường CS”, nếu có chỉ là những thoáng qua một vài kỷ niệm.

 

Một chuyện vui và đáng nhớ trong những ngày đầu tiên tại Long Giao là VC bắt mỗi tổ phải luân phiên cắt cử một người ngồi gác tại cửa. Một đêm kia vào khoảng 3 giờ sáng, phiên tôi gác, đang đập muỗi, nhìn trăng nhớ nhà thèm điếu thuốc thì giật mình nghe tiếng la:

- Sĩ quan trực đâu?

Nghe giọng quen quen như của TÐT/TÐ.2 thường gọi tôi khi xưa, như cái máy, tôi chạy vào xem có chuyện gì, nhưng tất cả đều ngủ cả, một mình ta thức với trăng khuya! Lát sau, một con ma xách AK chạy đến lên đạn quát:

- Anh lào na cái rì thế?

Tụi ma này có mặt bất cứ lúc nào và ở khắp nơi để bảo vệ cho SQ/QLVNCH an giấc, biết có sự quan tâm của Cách Mạng nên một đêm nọ, lại cũng nhằm phiên trực của tôi, chả hiểu mê thật hay mê giả mà tôi nghe tiếng la của TÐP Trần Quang Duật:

- Gọi ngay B.52 cho tao

Quả thật chỉ một phút sau, ma lại hiện ra hỏi cái rì thế, tôi bèn chống chế:

- Anh D nhớ vợ nên mơ ấy mà, vợ anh ấy tên là là..Bê-Thị-Năm-Hai.

Sau vài tháng nghe VC nói tầm-bậy tầm-bạ đủ 8 bài về Ðế Quốc Mỹ xâm lược, Ngụy Quân, Ngụy Quyền tay sai, chúng tôi bị di chuyển về trại tù Suối Máu, cái trại mà năm Mậu Thân 1968, ÐÐ1/TÐ2/TQLC của tôi đến để bảo vệ cho những người anh em phía bên kia, nay tới phiên họ gác cho chúng tôi rong chơi, không phải đi hành quân, đêm thì ăn ngày thì ngủ, chờ về sân vận động Cộng-Hòa Saigon làm lễ mãn khóa (theo tin đồn rỉ tai). Ngày ấy đã đến, tôi được về trước, Trần Văn Hợp là TÐT/TÐ Trâu Ðiên có nhiều tội ác với nhân dân nên bị ở lại học tập tiếp.

Trong đêm tối, đoàn xe bít bùng chở tù trực chỉ Saigòn, tôi thò tay vân vê cục đường móng-trâu mà Hợp nó nhét vào túi áo tôi lúc hai thằng chia tay, bất chợt tôi muốn hát bài dân ca quan họ: Hợp ơi.. người ở.. đừng về..để tớ về, nhưng chưa kịp hát thì đoàn xe rẽ vào Tân Cảng, đoàn tù bị đẩy xuống hầm tầu, chẳng ai biết đi đâu, một giọng mỉa mai châm biếm của MX Huỳnh Văn Phú vang lên:

- Về sân CH làm lễ mãn khóa mà đi bằng tầu thủy chắc mãn đời không đến!.

Sau 3 ngày đêm, mỗi đêm dài 24 tiếng, tù sống chung với nước biển pha nhớt dưới hầm tàu chở dầu cộng với nước đái và phân của tù thải ra, tàu cập bến Vinh, một nón cối chĩa cái miệng vẩu xuống hầm tầu la to:

- Các anh đã được về miền Bắc XHCN

Quả thực đây là thiên đàng CS sau 3 ngày đêm nằm trong địa ngục trần gian, tôi được vươn vai hít một hơi dài không khí vùng quê xứ Nghệ mặc dù không khí có tí hơi xú-uế bác Hồ. Hít thở chưa xong một hơi thì lại bị đẩy lên những toa xe lửa chở súc vật và xi-măng, nó còn khủng khiếp hơn ở dưới hầm tàu, khi đoàn xe dừng lại, đổ tù xuống Yên Bái thì có nhiều người ngất xỉu! Có 2 trung tá đã chết vì ngộp thở MIỀN BẮC XHCN Năm 1976 thì VC lưu đày SQ cấp tá và những thành phần bị coi là ác-ôn ra rừng núi miền Thượng Du BV như Lào Kay, Yên Bái, Hoàng Liên Sơn. Năm 1979 chiến tranh Việt-Trung bùng nổ, chiến tranh giữa những người anh-em núi liền núi, sông liền sông, như môi với răng, răng CS Tàu cắn môi CSVN, chúng sợ Ðặng Tiểu Bình bắt tay với sĩ quan QLVNCH..nên lại chuyển tù CT về miền Trung Du như Vĩnh Phú, Hà Nam Ninh v.v.. Chúng (VC) luôn xáo trộn lung tung, những bạn cũ không còn ở với nhau thì tôi lại gặp thêm những TQLC khác như các anh Th/tá Lê Văn Huyền, Th/tá Trần Kim Ðệ, T.Ð.Tr <http://T.xn--hda.Tr>  /TÐ16 Ðinh Xuân Lãm, T.Ð.Tr <http://T.xn--hda.Tr>  PB Tr/tá Ðoàn Trọng Cảo, CHT/TT/HL Tr/tá Nguyễn Ðức Ân, Lữ đoàn Phó Tr/tá Huỳnh Văn Lượm ..

TRỞ VỀ MIÊN NAM.

Năm 1982 khởi đầu cho những đợt chuyển tù từ Bắc vào Nam vớí số lượng đông hơn.Tôi được diện kiến ở Z.30D các niên trưởng như Ð/tá tỉnh trưởngTôn Thất Soạn, Ð/tá Lữ đoàn trưởng LÐ.258 Nguyễn Năng Bảo và Tư lệnh Phó Ð/tá Nguyễn Thành Trí.

Những MX kể trên là những người mà tôi ở tù chung hoặc trông thấy, còn rất nhiều các anh em ở những trại khác tôi không gặp nên chưa ghi ra đây, nhưng con số hơn 90% SQ binh chủng TQLC vào tù là không sai bao nhiêu.

THẾ GIAN HƠN ÁO HƠN QUẦN.

Các cụ nhà ta ngày xưa có câu: Thế gian hơn áo hơn quần .giá thử lột trần thì.. ai cũng như ai nên phải nói thật là CÁI ÐÓI trong tù đã tạo lên nhiều tình trạng thê thảm. Người ta đồn rằng chỉ vì một miếng cơm cháy mà hai ông Mặt-Chời đánh nhau! Tôi không tin điều đó, nhưng chuyện Cá đối bằng đầu và những bộ mặt bôi vôi bị trôi đi thì có, nên xẩy ra nhiều trường hợp anh em đồng đội bôi mặt đá nhau, thuộc cấp bôi C.. vào cấp chỉ huy.

Chuyện có thật 100%, tại đội 8 trại Vĩnh Quang A, tên đội trưởng Ng..lùn, nguyên là TĐtr, một tên tù hắc ám và mất dậy nhất, đang đêm đông lạnh lẽo bị đàn em cùng màu áo tên Ð..đem cứt bỏ vào chỗ nằm của hắn! Tên Ng..lăn lộn với cứt suốt đêm, mùi xú uế lan ra làm khổ lây những người nằm gần hắn, sáng ra nó xin cai tù cho ở lại trại để xúc miệng, nhưng cái tên Ng..lùn thì làm sao rửa cho sạch!

Bụt không lên tòa thì gà mổ mắt, tác phong của tên tù Ng..lại muốn làm chó săn cho cán bộ trại ắt hẳn xưa kia hắn là tên đội trên đạp dưới, nay bị đàn em cùng đơn vị bôi phân vào mặt thì có chi lạ, cũng là một mảnh gương vỡ cho nhiều quan soi.

Ðiều an ủi là lòng kính trọng của chúng tôi đối với tất cả các niên trưởng và đồng đội MX không hề suy giảm. Tư cách và tác phong của các anh trong tù còn đẹp hơn khi chỉ huy ngoài mặt trận, nói ngắn gọn như thế là đủ, thiết nghĩ không cần nêu những trường hợp cụ thể, vì đó không phải là mục đích chính của bài viết này.

NHỮNG AI ÐÃ RA ÐI?

Như đã nói ở trên, bài này chỉ có ý đi tìm tài liệu cho Chiến Sử TQLC, nên nêu ra những trường hợp cụ thể để xin các chiến hữu bổ sung và sửa sai mọi chi tiết, xin cung cấp dữ kiện trước khi phê bình ÐÚNG SAI.

1/Trung tá Ðoàn Thức

Khi căn bệnh xơ gan của anh tới giai đoạn cuối thì trại tù Mễ khoan hồng nhân đạo cho về đoàn tụ với gia đình và anh mất sau đó một tháng, tháng 1/1980. Có người nói rằng trại tù không chữa được nên cho anh về! Nếu nói cho công bằng thì VC ở các trại tù không có khả năng chữa và không chữa bất cứ bệnh gì và cho chúng ta.

Trung tá Ðoàn Thức là một sĩ quan tham mưu giỏi và tận tụy với nhiệm vụ, đặc biệt là tính hiền hòa vui vẻ với những người xung quanh, những ngày sau cùng anh là Tham mưu trưởng Lữ đoàn 468/TQLC. Một chi tiết tuy thuộc chuyện riêng tư nhưng cần phải nói: Tr/tá Ðoàn Thức là em của Ðoàn-Khuê, cựu bộ trưởng quốc phòng CS, vì lý do này mà anh Thức bị cục An Ninh Quân Ðội VNCH lưu ý không cho giữ chức vụ chỉ huy, cũng chả sao, anh vẫn là một sĩ quan tham mưu giỏi, một sĩ quan gương mẫu cho tới giờ phút cuối cùng. Khi Ðoàn Khuê vào trại giam thăm, anh Thức đã từ chối:

- Tôi không có bà con nào là cán bộ nhà nước cả (Tham khảo tài liệu của cựu đại tá Tôn thất Soạn) 2/ Trung tá Nguyễn Hữu Cát:

Có lẽ lớp sĩ quan đàn em ít người biết đến anh Cát, có khi tôi còn viết sai cả họ và tên đệm của anh, nhưng đã có thời gian làm việc dưới quyền anh, anh là chuyên viên trung tâm trưởng TTHQ/SÐ.Anh ra đi cũng tại trại Mễ, thuộc huyện Phủ Lý, nơi nhốt những anh em hết thuốc chữa. Ðại úy Nguyễn Kim Thân, hiện định cư San José, trước kia cùng ở trại Mễ vói anh Cát, nói:

- Chính mắt em thấy anh Trung tá Cát đập đầu vào..tường Kính cẩn cúi đầu chào vong linh Tr/tá trung tâm trưởng TTHQ của tôi những ngày ở Hương-Ðiền, của những SQ trực TTHQ như đại úy Hưởng (đã chết tại bờ biển Non Nước sáng 29/3/75), Ð/úy Tú-xe-bò, Tr/úy Sơn-mập v.v..những nhân viên dưới quyền của anh thường thiếu sót nhiệm vụ nhưng anh vẫn cười bao dung và.. bao dàn.

3/ Trung tá Nguyễn Văn Nhiều

Anh là trưởng phòng tư Sư Ðoàn TQLC, những ngày cuối tháng 4/75, hằng ngày một trực thăng liên lạc của của BTL thường đáp xuống CCST, cạnh hồ tắm, đôi lần tôi thấy anh đi theo chiếc trực thăng này. Là sĩ quan tham mưu, có đầy đủ phương tiện trong tay, ở ngay BTL tại Vũng Tàu, vì thế tôi quá đỗi ngạc nhiên khi nghe tin anh không ra đi theo lẽ thông thường mà lại tự tử trên chuyến tàu chở tù ra Bắc!

Các anh Ðinh Xuân Lãm, Trần Kim Hoàng, Huỳnh Văn Phú và tôi cũng được chở bằng tàu từ Tân Cảng ra Bắc nhưng cặp bến tại Vinh rồi bị đưa ra Yên Bái trong các toa xe lửa chở súc vật và xi măng, khi xuống xe có hai trung tá chết vì nghẹt thở nên khi nghe tin anh Nhiều tự tử tôi lại nghĩ anh là một trong hai người đã chết trên chuyến xe lửa cùng đi với chúng tôi. Sau này được tr/tá PB Ðặng Bá Ðạt cùng đi với anh Nhiều cho biết các anh ra Bắc đợt sau và cặp bến Hải Phòng, xác anh Nhiều đã được đưa lên bờ tại đây.

Tôi không biết anh Ðạt hiện nay ở đâu, nếu được xin anh cung cấp cho chúng tôi những thông tin về anh Nhiều.

4/ Trung tá Nguyễn Đằng Tống

Anh là Lữ Đoàn Phó LÐ.147/TQLC, lữ đoàn này thiệt hại quá nặng trong mặt trận tại cửa Thuận An ngày 26/4/75 nên cần thời gian để tái tổ chức lại tại Vũng-Tầu. Trong lúc dầu sôi lửa bỏng, tướng tài đâu phải để ngồi rung đùi ngâm thơ, chén tạc chén thù mà phải CHÉM thù nơi tiền tuyến, nên anh được giao nhiệm vụ mới, là Lữ Đoàn Trưởng LÐ.468/TQLC ngày 24/4/ 75, tham gia mặt trận ở Long Bình Biên Hòa rồi rút về CCST, rồi vào tù và chết trong tù, chúng ta hãy nghe chị Tống nói:

- . ..Rạng ngày 30/4/75, TQLC rút về đầy đủ ở Biên Hòa, sau đó toàn bộ di chuyển về CCST.Khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, anh đi họp với Ðaị tá Trí tại BCH/CCST. Anh trở về bảo tôi đợi cho anh em ra về an toàn hết chúng tôi sẽ đi sau cùng. Chính vì thế trưa ngày 30/4, vào giờ chót cha tôi vào trại Cửu Long đón vợ chồng tôi mà không gặp nên ông đã rời Việt Nam một mình.Mẹ tôi và các thân nhân trú tại căn nhà của chúng tôi đã xuống tàu từ 29/4.

– Suốt tuổi thanh xuân anh đã đi hết mọi nẻo đườngđất nước, trên mọi chiến trường: Bình Giả, Tam Quan, Huế Mậu Thân, Kampuchia, Hạ Lào, Quảng Trị, Cửa Việt v.v.. Ðến lúc nằm xuống là cái giá phải trả bằng xương máu của chính mình, chỗ khúc ruột nối do trận Bồng Sơn bục ra giữa lao tù CS, dưới cái giá lạnh khắc nghiệt của mùa Ðông nơi núi rừng Yên Bái. Anh chết đi trong đau đớn và cô đơn. Chết đi mà chỉ biết mặt đứa con trai duy nhất qua những tấm ảnh vợ gởi vào trong tù.. ..

Vào mùa hè 1980, tại trại tù Vĩnh-Quang A tôi bị đau ruột một cách khủng khiếp, đau đến nỗi cong người lên, anh đội phó Phan-Trừng và Phan Hữu Hạnh phải trói chân tay tôi lại để khỏi vật vã cho tới khi ngất đi, không có thuốc men hay đi bệnh xá gì hết, hai ngày sau tôi gượng dậy được là cai tù bắt tôi đi lao động, theo đội lên đồi cuốc hố sắn, cái đau cái mệt bắt buộc tôi phải liều nằm trên đồi dưới cái nắng gay gắt để mong một trong hai trường hợp sẽ xẩy ra, chết vì nắng hay nó bắn cho một viên thì đỡ khổ hơn, vì thế trường hợp của anh Tống tử nạn không làm tôi ngạc nhiên.

Giây phút cuối trước khi bị bắt buộc phải từ bỏ binh nghiệp, lần đầu tiên và cũng là lần sau cùng tôi được họp cùng đại tá TLP tại BCH/CCST, có gặp anh Nguyễn Đằng Tống trong buổi họp này. Theo lời chị Tống kể thì gia đình đã có đầy đủ phương tiện để ra đi, nhưng anh Tống cương quyết ở lại cùng anh em binh sĩ, nên chị Tống cũng bỏ hết để đến bên anh trong giờ phút hấp hối của chế độ.

Việc anh Tống từ chối ra đi mà quyết ở lại sống chết với binh sĩ dưới quyền thì không có chi lạ, đó chỉ là thái độ đúng đắn của cấp chỉ huy, dù là cấp tiểu đội hay cấp quân đoàn, trong phạm vi nhỏ của TQLC cũng đã có quá nhiều trường hợp tương tự, các anh từ chối chạy trốn cùng gia đình mà ở lại cùng đồng đội chiến đấu.

Ðã bao lần thập tử nhất sinh đều có đồng đội bên cạnh, anh là cấp chỉ huy, anh thức trắng đêm để điều động đơn vị thì người thuộc cấp cũng thức trắng đêm để sẵn sàng thi hành lệnh dù biết cái lệnh đó sẽ đưa họ vào cõi tử nhiều hơn sinh. Bây giờ trước mặt là địch, dù nặng hay nhẹ cũng như những lần xưa kia mà thôi.

Người không có phận sự chỉ huy, không có quân trong tay mà ra đi một cách kín đáo để khỏi làm hoang mang người cầm súng thì cũng chẳng chết ai (!), nhưng nếu họ ở lại cùng anh em là đáng quý, người vợ lính bỏ thanh bình ở lại sau lưng để ra tiền tuyến cùng chồng trong lúc bom đạn mù trời thật là đáng phục, thật là hiếm hoi. Người phụ nữ vì tình yêu mà hy sinh như vậy thật hợp tình nhưng không hợp lý, nếu là cấp chỉ huy thì tôi không khuyến khích những trường hợp hy sinh như thế.

5/ Trung tá Huỳnh Văn Lượm

Anh là LÐP/LÐ.258/TQLC, vì đại tá LÐT bị thương nằm bệnh viện nên anh nắm quyền chỉ huy lữ đoàn trong giai đoạn cuối dưới quyền điều động của đại tá Tư lệnh Phó Nguyễn Thành Trí. Tôi thường xuyên ở cùng trại tù với anh, cùng nhau chia xẻ bi thuốc lào, miếng sắn lát nên có nhận xét anh là một trong những người tù tỉnh bơ nhất. Không bao giờ anh vui (dĩ nhiên) và cũng không buồn, bất cứ lúc nào anh cũng đủng đỉnh từ từ, quản giáo trại giam có hối thúc anh cũng mặc, có la lối mạt sát anh cũng coi như không nghe, không biết, không trả lời, không chống đối, anh vẫn thong thả làm việc chậm chạp, hình như anh là người đi sau mọi người trong tất cả mọi việc. Các quản giáo và bộ đội rất bực vì thái độ ne..pas của anh nhưng chưa có lý do để cùm.

Một lần tên trung úy Bộ, cán bộ an ninh khu A, trại tù Z.30D Xuân Lộc đi kiểm soát buổi tối, thấy anh còn ngồi ôm cây đàn ghi-ta gẩy từng tứng tưng bài gì đó trong khi mọi tù khác vội vàng chuẩn bị vào chuồng, Bộ thấy gai mắt nên kết tội anh chơi nhạc vàng, thay vì nhốt anh thì nó chạy lại cầm cây đàn của anh vứt đi, anh từ từ đứng dậy vẫn im lặng và đi vào buồng, cây đàn vẫn trơ gan nằm bên hàng rào kẽm gai cho tới khi một tên bộ đội đến lấy đi.

Cần nói thêm rằng sau năm 1982, số đông tù được chuyển từ Bắc về Nam, về trại Z.30D Xuân-Lộc, ngày nghỉ hay các buổi tối anh em thường ca hát thoải mái, bộ đội còn đến nghe ké và xin điếu thuốc có cán! Việc anh Lượm bị kết tội hát nhạc vàng chỉ là cái cớ, anh có hát đâu, chỉ dạo vài ngón classic chớ vàng với bạc cái gì.

Sau cái ngày bị mất cây đàn, anh bị thuyên chuyển từ đội trồng rau, đội của mấy người già chậm chạp, xuống đội nhà bếp, là đội cần những người trẻ nhanh nhẹn để nấu sắn, nấu bắp cho tù, ưu ái hơn nữa là anh được chọn vào toán quan trọng nhất, toán bổ củi và nấu nước sôi để phát cho toàn khu A. Tôi thuộc toán lâm sản, đi rừng cưa cây làm củi về giao cho nhà bếp, thấy anh cởi trần đưa xương sườn ra đánh vật với những khúc cây to hơn anh mà thương cho anh, cho chính mình!

Chỗ nấu nước sôi là một cái bệ xi-măng cao gần 1m, trên đó đặt những chảo gang to, đường kính dễ chừng hơn mét, người phụ trách cơm nước phải di chuyển trên đó, giữa cái không gian chật hẹp, không khí đặc quánh vì khói và hơi nước, dưới chân là sàn xi măng và những cái miệng chảo nước sôi trông như những miệng núi lửa.

Việc phải đến đã đến, từ đầu đến ngực của Trung tá LÐP/LÐ.258/TQLC Huỳnh Văn Lượm nằm gọn trong chảo nước sôi! Anh tắt thở trên đường đi đến bệnh viện Biên Hòa.Anh được THA về để gia đình lo hậu sự cho anh.Có lẽ anh chết vì nước nên được ưu đãi hơn các anh Nhiều, Tống, Hợp bị vùi xác nơi xó rừng. Thực ra thì nhà thương trả xác anh về cho gia đình, trại nó đã phủi tay, những ai không may chết trong tù thì không bao giờ nó thông báo cho gia đình đâu.

Ngay lúc anh Lượm bị nạn, không ai có mặt tại chỗ để xác định đó là một tai nạn? Một vụ tự tử hay một vụ dàn cảnh giết người vì lòng nhân đạo? Tất cả, nếu có, chỉ là suy đoán, thí dụ như đối với tôi thì cho đó là một màn kịch hay của tên Trung úy Bọ, an ninh trại giam, không trực tiếp thì cũng gián tiếp, bởi vì một người yếu đuối và chậm chạp như anh, một người được xếp vào đội trồng rau, chỉ vì cây đàn tình tang mà bị đẩy xuống một công việc nặng nhọc nhất, khổ nhất và dễ chết nhất? Có lẽ chỉ có Anh và Hồ chủ tịt biết lý do chính xác nhất.

6/ Thiếu tá Trần Văn Hợp.

Hợp là Tiểu đoàn trưởng sau cùng của T.Ð Trâu-Ðiên . Tiểu đoàn 2/TQLC được chỉ huy bởi 4 Tiểu đoàn trưởng kể từ ngày mang danh là Trâu-Ðiên, hai vị tiểu đoàn trưởng tiền nhiệm là Lê Hằng Minh và Nguyễn Xuân Phúc đã tử trận, Trung tá Lê Hằng Minh hy sinh trong trận bị VC phục kích trên QL1 thuộc cây số 17 quận Phong Ðiền và ngày đó tr/úy Nguyễn Xuân Phúc ÐÐT/ÐÐ4 bị bắn một viên từ ngực xuyên ra sau lưng vẫn không sao, nhưng 9 năm sau thì Tr/tá Nguyễn Xuân Phúc đã tử trận tại Ðà nẵng vào ngày 29-3-1975, một vị TÐTr khác thoát cảnh tù tội, còn Trần Văn Hợp là con trâu đầu đàn sau cùng đi tù và chết trong tù. Có lẽ đây là một nét khá đặc biệt đối với TÐ.2/TQLC mang danh Trâu-Ðiên.

Ðối với VC thì hình như bất cứ Tiểu đoàn TQLC cũng là tiểu đoàn Trâu-Ðiên cả, những tháng đầu tiên tại trại tù Long Giao, khi nón cối nói về những bài Ðế Quốc Mỹ xâm lược, Ngụy Quân, Ngụy Quyền, một tên cán bộ đã cao giọng:

- Những cái gọi là Cọp ba đầu Rằn, Trâu Ðiên, cần phải trừng trị đích dáng!

Hai con Trâu Ðiên ngồi bên nhau, nghe vậy muốn xón..mồ hôi, tôi bóp tay Hợp:

- Tụi nó hù mày đó, liệu cái thần hồn!

Hợp và tôi cùng ở chung một trại gia binh Cửu Long, rủ nhau đi tù một ngày, nằm bên nhau từ trại Long Giao đến trại Suối Máu, tôi ra Bắc trước, chúng tôi xa nhau từ đấy, không bao giờ gặp lại nó nữa: Trâu Ðiên Trần Văn Hợp đã chết trong tù!

Nhớ lại khi vào trại Long Giao, Hợp, Lâm, Duật, Niệm và tôi ở chung một tổ, khi cán bộ quản giáo đưa cho miếng giấy ghi: Không có gì quý HƠN độc lập tự do.. bảo Hợp viết khẩu hiệu này lên tường, Hợp hỏi có sơn và cọ không, tên nón cối nói các anh phải phát huy sáng kiến và khắc phục, Hợp lấy cục than viết lên tường: Không có gì quý BẰNG độc lập tự do!

Hôm sau nón cối đến kiểm soát, thấy hàng chữ viết bằng than ngả nghiêng trên vách trông rất là bôi bác, mặt hắn đỏ lên rồi tái đi nhưng lại nghiến răng xuống giọng:

- Anh nào viết khẩu hiệu đẹp nhưng không đạt mục dích và yêu cầu. Các anh tự mãn là những người học giỏi mà chỉ có vài chữ thôi cũng viết sai

- Tôi thấy chữ HƠN không hay bằng chữ BẰNG nên sửa… Nó lý luận và giải thích rằng phải dùng chữ BẰNG thay cho chữ HƠN mới nêu hết được cái hay tuyệt đối của Tự Do, nón cối không nghe gì cả, như bị chạm nọc, nó phùng mang trợn mắt kết án Hợp tội “Nhục mạ lãnh tụ”!!

Một ngày mùa đông mưa phùn gió bấc, từ trại tù số 8 Hoàng liên Sơn, gần hồ Thác Bà chúng tôi phải khiêng vác những cây bương dài và to, một loại tre rừng, lên xã Cẩm Nhân nộp cho ban chỉ huy liên trại, khi đi ngang một đám người rách rưới, ngồi bó gối chồm hổm bên đường như đám tử tù! Nghe ai khẽ gọi tên tôi, liếc ngang, gặp ngay đôi mắt sáng của Trần Quang Duật môi mấp máy thều thào:

- Anh Hợp chết rồi!

Giữa cái rét đến thâm tím chân tay mà người tôi toát mồ hôi, ngập ngừng chậm lại muốn nghe Duật nói thêm một câu gì đó thì mũi súng AK.47 thúc vào lưng tôi, họng tôi nghẹn cứng, máu hòa nước mắt làm mờ bước chân tôi đi!

Sau này tôi gặp nhiều người ờ chung trại với Hợp, đều thuật lại giống nhau, nhưng rất tiếc là không gặp ai cùng đội để có những chi tiết rõ ràng hơn. Xin trích một đoạn trong tác phẩmMình Phải Tồn Tại của Phan Văn Thìn, cùng khoá với Hợp:

- Trần Văn Hợp thường nói với tôi như vậy mỗi khi chúng tôi gặp nhau! Tôi và Hợp bị giam chung ở liên trại Kiên Thành, tỉnh Hoàng Liên Sơn, nhưng chúng tôi ở khác K, may mắn găïp nhau một vài phút khi di lãnh thực phẩm, mỗi lần gặp như vậy Hợp thường nhắn Ráng tồn tại nghe mày, tôi gật đầu vẫy tay từ biệt.

Rừng thiêng nước độc, thiếu ăn không thuốc nên chỉ trong một thời gian ngắn đã có 8 người ra đi vì kiết lỵ và tiêu chảy. Một hôm trong toán cưa cây rừng chúng tôi lượm được một loại hột, nếm thử nhân có vị bùi và béo như hạt điều, thế là đi tìm, nhưng may quá, chỉ tìm dược 3 hột cho 4 người, sau khi ăn xong chúng tôi thấy khó chịu và buồn nôn, cố móc họng cho ói ra. Chiều hôm đó về tới trại nghe anh em bàn tán có nhiều người ăn phải hột này nên ngộ dộc. Trại tôi có anh Ðinh long Thành bị nặng nhất.

Hôm sau hay tin anh Hợp đã ngộ độc khá nặng, vì cùng ăn những hột như bọn tôi, phải vào trạm xá và đã ra đi! Lúc đó có một bạn tù cùng tổ, đi lãnh thực phẩm về kể chuyện cho tôi nghe rằng trên đường về có gặp anh Hợp đã bị ngộ độc, ráng bò ra được con đường nhỏ để về trại, nhưng mệt quá đã gục bên đường, tên vệ binh thấy anh em muốn lo lắng săn sóc cho Hợp thì nó quát lên:

- Không sao đâu, anh ấy chỉ say thuốc lào thôi!

Thế là mạnh ai nấy đi, không ai được phép đưa anh Hợp về bệnh xá trại để kịp thời cấp cứu và cuối cùng anh Hợp đã không đạt nguyện vọng ao ước Ta phải tồn tại để xem kẻ thù rồi sẽ ra sao?

(hết trích).

Nhà cách mạng Phan bội Châu nói: Khi bụng đói thì người ta có thể bới đất cuốc cỏ mà nhét cho đầy bụng đói, nhưng cái đầu, bộ óc mà đói thì..bán nước.

Những người Tù mà là tù của miền Bắc nước CHXHCN thì đói là dĩ nhiên, ai không cùng hoàn cảnh thì khó tưởng tượng được nó khủng khiếp đến cỡ nào. Tại trại tù Vĩnh Quang A, chúng tôi bị giam chung với tù hình sự của miền Bắc, họ đói lắm, vì không được gia đình tiếp tế, thấy họ chui đầu cả vào những thùng.. ..phân và rác để kiếm một cái gì đó nhét vào miệng! Một đầu gấu hình sự đến xin ăn, tâm sự:

- Các ông biết không, chúng cháu đói nắm, hôm qua bu (mẹ) thằng Tâm đến thăm, mang cho ló gói cơm lếp và miếng thịt nợn, nó không dám mang vào trại mà ăn hết ngay tại chỗ thăm luôi, khi tối vào buồng, ló bội thực, muốn mửa ra thế nà mấy thằng ông mãnh chung quanh nói thằng Tâm hượm (khoan) đã để chúng ló kiếm cái chậu hấng lấy miếng thịt nợn mà thằng Tâm sắp mửa ra. ..!

Tôi tin điều nó nói, chúng hứng để mong kiếm được miếng thịt heo mà thằng Tâm ói ra, những ai không đi tù CS ở miền Bắc nhưng nếu vượt biên bị lênh đênh trên biển hay lạc vào hoang đảo thì chắc sẽ tin câu chuyện tôi kể.

Dài dòng một chút để hiểu hoàn cảnh ngộ độc của trại tù nơi Hợp bị giam, cái không hiểu được là thấy người sắp chết mà không cứu của đồng tù, còn tụi nón cối ư? Sổ tay của chúng đều ghi: Trần Văn Hợp TÐTr Trâu-Ðiên, cố tình nhục mạ lãnh tụ!

7/Thiếu tá Bạch.

Theo tài liệu của anh Ðinh xuân Lãm cung cấp thì anh Bạch nguyên là đại đội trưởng đại đội thám báo của SÐ, anh cũng tử nạn trong tù nhưng rất ít chi tiết về anh.

8/ Bác Sĩ Vũ đức Giang Y sĩ TÐ7/TQLC ( bổ sung sau khi có đủ tài liệu) Còn rất nhiều các sĩ quan từ cấp chuẩn úy đến đại úy bị tù ở trong Nam, đã tử nạn hoặc bị hành hình vì chống đối vì vượt ngục mà chưa được kể lại, nếu không cùng ở một trai thì khó lòng biết ai còn ai mất, mong rằng sau bài này, những tin tức về tất cả TQLC chết trong ngục tù được bổ sung đầy đủ hơn. Ó-Biển Trần Như Hùng từ bên Úc xa xôi đã cho chúng tôi một vài trường hợp điển hình như sau:

Trung úy Nguyễn Văn MINH, ÐÐT/TÐ.2

Trung úy Nguyễn ngọc BỬU, ÐÐT/TÐ.7

Cuối năm 1978, tại trại giam Suối Máu, Biên Hòa, phong trào diệt an-ten và phản kháng chế độ CS lên cao dần tới tột đỉnh là đêm Giáng Sinh 1978, toàn thể 5 phân trại cùng đồng loạt đứng dậy phản đối hành động cấm anh em tù cử hành thánh lễ nửa đêm, hậu quả những ngày sau đó là đòn thù, lùng bắt, chia cắt, chuyển trại, những ai nằm trong ủy ban hành động chống đối đều bị chuyển ra trại tù ác độc khét tiếng là Xuân Phước Tuy Hòa, trong số này có 2 chiến hữu Mx Minh và Bửu.

Taị trại Xuân Phước, nhân một buổi đi lao động ngoài rừng, Minh và Bửu cùng 3 đồng tù khác đánh gục vệ binh, cướp súng và vượt ngục, nhưng chỉ 2 ngay sau là các anh bị bắt hết.

Không cần diễn tả thì ai cũng biết chuyện gì sẽ đến với các anh, trường hợp vượt ngục của nhóm cha Lễ mà đã được ông diễn ta lại trong hồi ký thì cựu dân biểu Ðặng Văn Tiếp bị đánh chết! Ở đây, anh Bửu không những đã bị bắn chết mà thân xác anh còn bị lưỡi lê đâm nát! Những người khác, trong đó có Minh thì không ai biết số phận họ ra sao?

Trung Úy Nguyễn Văn SAN, ÐÐT/TÐ.3

Trong thời gian đầu mới vào tù, mỗi buổi tối trại giam thường chiếu phim cho tù nhân giải trí (!), với mục đích gì và phim loại gì thì chẳng cần mất thì giờ giải thích, tại trại giam Ái-Tử, nơi có rất đông cấp úy/TQLC cũng được giải trí như vậy.

Chúng ta biết sau vụ ngưng bắn da beo, da cọp, dành dân lấn đất, ai ở đâu thì nằm nguyên đó nên mới có những màn vui chẩy nước mắt trên các tuyến phòng thủ của SÐ/TQLC ở Quảng Trị. Anh em hai miền Nam-Bắc sống chung hòa bình trong tư thế cài răng lược, M.16 nằm gác chân lên A.K, M.79 ôm cổ B.40.

Tuy rằng cấp trên không cho phép, nhưng cùng là máu đỏ da vàng, nói cùng một thứ tiếng nên binh sĩ hai bên zui-zẻ zới nhau, lại là dịp cho các Mũ Xanh chứng tỏ tính ga-lăng hào phóng, mang thực phẩm miền Nam hòa cùng thức ăn miền Bắc để cùng uống cùng hút, nói chuyện gia đình, nói chuyện linh tinh.

Nhưng chính sách trồng người của CS đã không để cho binh sĩ của họ sống bằng tình người với anh em Mũ Xanh, nó đem ngay phân hóa học bón vào đám bộ đội này để dụ khị MX rồi lén lút quay phim dùng làm tài liệu tuyên truyền bịp bợm.

Khi biết chúng dở trò lưu manh, Mũ-Xanh đáp ngay Ði với ma thì mặc áo giấy đúng theo lời dặn của Tổng Tư Lệnh Quân Ðội: VC dùng dao găm, ta chơi mã tấu, MX đấu khẩu không nương tay khiến chúng tắt đài. Trong số những nhà tâm lý chiến trên tuyến đầu phát ngôn hăng hái nhất là trung úy đại đội trưởng NGUYỄN Văn SAN.

Trong một buổi tối chiếu phim, các anh em TQLC được cho coi một cuốn phim vô cùng độc đáo mà những tài tử đóng phim lại do chính các anh thủ vai trên tuyến phòng thủ cài răng lược ở Gia-Ðặng (QT). Khi thấy tài tử chính đóng hay quá, các anh quên là mình đang ngồi trong trại tù bèn hoan hô vỗ tay chỉ vào tài tử chính:

- Trung úy SAN kìa! Coi thằng SAN đóng phim kìa!

Vài ngày sau, khi đang lao động ngoài rừng thì San và một đồng tù bị cán bộ quản giáo gọi ra chỗ vắng làm việc, đây là một kiểu chơi trước sau như một, giống nhau từ Nam ra Bắc, trong giờ lao động, khi chúng muốn dò tin tức, dụ tù làm an-ten, hay hù dọa đều dùng cách này nên chẳng ai để ý làm gì.

Tràng súng AK từ xa vọng về, thằng tù cầm cuốc đứng nghe!

Tên quản giáo rất thong thả từ tốn với giọng nói đầy khoan hồng nhân đạo:

- Hai anh SAN và XY đã lợi dụng lúc tôi làm việc mà trốn trại!

Ðừng nghe những gì CS nói, nói láo như vẹm! Anh em bạn tù cầm cuốc đứng nghe, nhưng hình như trong đầu mỗi người, tùy theo tôn giáo, đã có lời cầu xin cho vong linh hai bạn SAN và X.Y sớm siêu thoát.

Những người dân đi vào rừng bới đất cuốc cỏ để tìm cho được một chút gì hầu nhét cho đầy bụng đói thì chỉ còn một chút hơi tàn xầm xì:

- Có hai xác tù dang bị mối xông!

Cái hình ảnh TQLC San bị đem đi bắn một cách dấm dúi chỉ vì một lý do rất buồn mà cười càng làm cho tôi nghi ngờ về cái chết của Trung tá Huỳnh Văn Lượm trong chảo nước sôi và của Trâu Ðiên đầu đàn Trần Văn Hợp. Tôi xin nhắc lại một lần nữa là ngày khai giảng khóa học 8 bài về Ðế quốc Mỹ, Ngụy-quân, Ngụy-quyền tại trại Long Giao năm 1976, tên cán bộ cấp cao đã tuyên bố:

- Những thứ như Trâu Ðiên, Cọp đầu rằn cần phải trừng trị dích đáng!

XIN MỘT LẦN ÐƯỢC VIẾT TÊN ANH

Ðồng đội tôi, cấp chỉ huy của tôi đã ra đi mỗi người một cung cách khác nhau:

Người thì anh dũng đền xong nợ nước trên chiến trường, hòm gỗ phủ cờ, cài hoa, bạn bè tiễn đưa, thân nhân lập mộ.

Anh thì dù đã làm xong bổn phận người quân nhân mà đành uất nghẹn bị bắt buộc đưa tay cho địch trói dẫn đi thủ tiêu dần mòn trong chốn rừng sâu, không đồng đội thân nhân, không một miếng gỗ đề tên cho thê nhi tìm xác, không một điếu thuốc, chén cơm trái trứng, ngọn nến, nén nhang để linh hồn anh bay theo hương khói lên trời cao mà mãi mãi cứ bị dập vùi trong khe suối hốc đá! Chiều tà khi bóng ngả về tây, không nghe tiếng mõ tụng kinh nơi cửa Phật, thiếu tiếng kinh chiều nơi giáo đường, linh hồn anh vật vờ trên đồi sắn nương ngô, ngóng về quê hương miền Nam yêu dấu!

Mọi sự ra đi của các anh đều tô thêm nét hào hùng cho mầu áo binh chủng, thêm âm cao vang cho bài ca Cờ bay trên Cổ Thành, tạo thêm nét bi ai cho bài ca truy điệu, cho bài chiến sĩ trận vong, cho bài chiến sĩ vô danh.

 

Cần Thơ

TÐ2/TQLC

 

 

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List