QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Monday, August 19, 2013

Người cha đẻ hành khúc "Lục Quân Việt Nam" đã ra người thiên cỗ.


Người cha đẻ hành khúc "Lục Quân Việt Nam" đã ra người thiên cỗ.


Lê Dinh

 

Người cha đẻ của hành khúc:  

Lục Quân Việt Nam vừa từ trần

 tại Melbourne, Úc Đại Lợi..

 

Lục Quân Việt Nam Cộng Hòa Hành Khúc
http://www.youtube.com/watch?v=J98GSe8ms7I


Chúng tôi vừa nhận được tin buồn:Nhạc sĩ Văn Giảng tức Thông Đạt Vừa từ trần tại Melbourne, Úc Đại Lợi Ngày 9 Tháng Năm, 2013 Hưởng Thọ 89 tuổi. Tang Lễ được cử hành tại Chùa Quang Minh vào ngày 12 & 13-05-2013. Sẽ được hỏa táng vào lúc 8 giờ sáng ngày Thứ Ba 14-05-2013


 

Dưới đây là bài viết của nhạc sĩ Lê Dinh về Tiểu Sử của nhạc sĩ Văn Giảng vài năm trước đây (xin trích) và 1 tấm hình 2 Ông Bà nhạc sĩ Lê Văn Khoa và Ông Bà Văn Giảng chụp chung với nhau trong chuyến viếng thăm Melbourne của ÔB Lê Văn Khoa (năm 2005) (hình do nhạc sĩ Lê Văn Khoa vừa gởi tặng VH)



****

 

Tiểu Sử Nhạc Sĩ Văn Giảng 

Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn
Đoàn hùng binh trong sương lướt gió reo vang
Đi đi đi, lời thề nguyền, tung gươm thiêng, thi gan trai
Đời hùng cường quyết chiến đấu đoàn quân ra đi...

... Phá tan tành ầm ầm đoàn quân xông pha
Thét oai linh tung gươm giết tan quân thù
Đoàn hùng binh say sưa nhìn trong trời sương
Ta anh hùng đời đời lục quân Việt Nam...


Trên đây là lời ca 8 trường canh đầu của bài hành khúc "Lục Quân Việt Nam" của Văn Giảng mà mọi người Việt Nam, từ cậu học sinh đến anh tân binh ở quân trường cũng như tất cả quân nhân Việt Nam Cộng Hòa đều biết. Bài hát được tác giả viết vào năm 1950 với cung Ré trưởng, khi được đồng ca bởi một số đông người, đem lại cho người nghe một cảm giác như hăng say cương quyết, như nung chí anh hùng:

Nhạc sĩ Văn Giảng sinh ngày 12 tháng 5 năm 1924 tại Huế trong một gia đình trung lưu. Thừa hưởng năng khiếu thiên phú gia tộc về âm nhạc vì ông nội của Văn Giảng cũng là một nhạc sĩ cổ nhạc rất giỏi cho nên Văn Giảng cũng có khiếu về âm nhạc từ lúc nhỏ và ngày còn bé, nghe người ta chơi một loại nhạc khí nào là ông có thể về mò mẫm tự học lấy và thành công trong việc xử dụng loại nhạc khí đó. Cũng như mọi người thích âm nhạc và quyết tâm chơi nhạc, loại đàn dễ học nhất cho mọi người là đàn mandoline, nhạc sĩ Văn Giảng cũng vậy, khi bắt đầu ông học đàn măng cầm và sau đó lần đến lãnh vực tây ban cầm.

Có một người bạn lớn tuổi hơn ông biết đàn tây ban cầm, Văn Giảng muốn tầm sư học đạo, đến nhà ông này để nhờ chỉ dạy nhưng người này bắt ông phải trả công bằng một cây đàn guitare. Làm gì có tiền ở lứa tuổi còn nhỏ? Văn Giảng về nhà tìm tòi tự học lấy và chỉ một thời gian sau, ông vượt qua tài nghệ của ông "thầy hụt" kia và ông này phải nhờ Văn Giảng chỉ lại cho. Nhờ có biệt tài như vậy mà nhạc sĩ Văn Giảng có thể xử dụng rành rẽ nhiều nhạc khí cổ kim, trở thành một nhạc sĩ tài giỏi và đào tạo rất nhiều môn sinh có trình độ sau này.

Không những chỉ trong lãnh vực âm nhạc mà thôi, nhạc sĩ Văn Giảng còn nổi bật trong lãnh vực văn hóa, mọi thứ, mọi việc ông đều tự học như vừa làm giáo sư âm nhạc ở Huế, ông vừa tự học để rồi sau đó lặn lội vào Saigon thi lấy bằng tú tài và bằng cử nhân.

Ông tốt nghiệp Anh văn ở Hội Việt Mỹ và trúng tuyển cuộc thi tuyển sinh viên nghiên cứu về âm nhạc ở ngoại quốc, được xuất dương du học tại trường Âm nhạc lớn của Hoa Kỳ ở Hawaii và Bloomington. Ở Hoa Kỳ, Văn Giảng đã tốt nghiệp với lời khen của Ban Giám khảo và được cấp thêm học bổng để nghiên cứu bậc cao học âm nhạc. Sau đó ông trở về nước và được đề cử làm Giám đốc trường Quốc gia Âm nhạc Huế.

 




HÌNH VỢ CHỒNG NHẠC SĨ VĂN GIẢNG, CHỤP NĂM 1949

Phần đông những sáng tác của nhạc sĩ Văn Giảng thuộc loại hùng ca như "Thúc Quân" (1949), "Lục Quân Việt Nam" (1950), "Đêm Mê Linh" (1951), "Quân Hành Ca" (1951), "Qua Đèo" (1952), "Nhảy Lửa" (1953) v.v... nhưng ít người được biết nhạc sĩ Văn Giảng còn có một biệt hiệu khác là "Thông Đạt" với ca khúc bất hủ "Ai Về Sông Tương" mà mọi người trong giới học sinh, sinh viên và ở lứa tuổi 40 trở lên đều biết:

Ai có về bên bến sông Tương
Nhắn người duyên dáng tôi thương
Bao ngày ôm mối tơ vương
Tháng với ngày mơ nhuốm đau thương
Tâm hồn mơ bóng em luôn
Mong vài lời em ngập hương...

Bài ca này được tác giả viết vào năm 1949 với cung La trưởng, uyển chuyển tha thướt trong phần lời lãng mạn, trữ tình, là một bản nhạc gối đầu giường, nằm lòng của thanh thiếu niên nam nữ trong những thập niên 50 - 60.

Về ca khúc này, có một câu chuyện khá thú vị như sau: Trong những thập niên 1940, 1950, ở Huế ai ai cũng biết ông Tăng Duyệt, giám đốc nhà Xuất bản Tinh Hoa Huế (xin đừng lẫn lộn với nhà xuất bản Tinh Hoa miền Nam ở Saigon do nhạc sĩ Lê Mộng Bảo làm giám đốc) in ấn và phát hành một số nhạc phẩm ít oi của thời đó.

Là nhạc sĩ, đương nhiên Văn Giảng chơi thân với ông Tăng Duyệt vì một số hành khúc của ông đều do nhà xuất bản Tinh Hoa Huế của ông Tăng Duyệt ấn hành. Một hôm trong lúc vui miệng, ông Tăng Duyệt có ngụ ý bảo rằng nhạc sĩ Văn Giảng chỉ viết được những bài hùng ca thôi còn về những bài tình ca không phải sở trường của Văn Giảng. 

Nghe vậy hay vậy, không cần phải trả lời. Nhạc sĩ Văn Giảng về nhà, âm thầm lấy giấy bút viết bài "Ai Về Sông Tương", không ghi tên tác giả là Văn Giảng như mọi khi mà đề tên tác giả là Thông Đạt, một bút hiệu mới toanh trong làng tân nhạc Việt Nam thời đó. Bản "Ai Về Sông Tương" được tác giả Thông Đạt gửi đến các đài phát thanh ở Hà Nội, Huế và Saigon và cả nước đều nghe "Ai Về Sông Tương" của Thông Đạt trong thời gian sau đó:

... Thu nay về vương áng thê lương
Vắng người duyên dáng tôi thương
Mối tình tôi vẫn cô đơn
Xa muôn trùng lưu luyến nhớ em
Mơ hoài hình bóng không quên
Hương tình mộng say dịu êm...

Sau nhiều lần được nghe bài "Ai Về Sông Tương" quá hay trên làn sóng điện, qua các đài phát thanh, ông Tăng Duyệt gặp Văn Giảng và hỏi ở trong giới nhạc, Văn Giảng có biết Thông Đạt, tác giả bài "Ai Về Sông Tương" là ai không để ông thương lượng mua bản quyền xuất bản nhạc phẩm này nhưng Văn Giảng tảng lờ như không biết Thông Đạt là ai!

Rồi một hôm có hai người bạn trẻ của Văn Giảng là nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng, tác giả bài "Mùa Thi" (Thi ơi là thi, sinh mi làm chi, "bay" nghẹn ngào, "bám", ồn áo, buồn vui vì mi) và nhà văn Lữ Hồ tình cờ đến nhà Văn Giảng chơi và thấy bản thảo bài "Ai Về Sông Tương" với tuồng chữ và lối chép nhạc của nhạc sĩ Văn Giảng trong xấp nhạc trên bàn viết nên nói cho ông Tăng Duyệt biết. Ông này mới lái xe ngay tới nhà Văn Giảng và vài ngày sau đó, giới ngưỡng mộ tân nhạc mới có một ca khúc với thể điệu "Blues" tha thướt trong tay để mà ngân nga cho đỡ thương đỡ nhớ những khi trái tim rung động vì một bóng hình nào đó. 

Nhạc phẩm "Ai Về Sông Tương" đã chiếm kỷ lục tái bản thời đó với 6 lần in thêm trong tháng đầu tiên và được thính giả Đài Phát thanh Pháp Á chọn là bài nhạc hay nhất trong năm 1949. Qua bút hiệu Thông Đạt, chúng ta còn được thưởng thức những sáng tác sau đây: "Đôi Mắt Huyền", "Hoa Cài Mái Tóc", "Tình Em Biển Rộng Sông Dài", "Xin Đừng Chờ Em Nữa" v.v...

Ngoài hai bút hiệu trên, Văn Giảng - Thông Đạt còn một bút hiệu thứ ba để sáng tác những bài Phật giáo. Đó là bút hiệu Nguyên Thông được dùng để ghi trên những nhạc phẩm như "Từ Đàm Quê Hương Tôi", "Mừng Đản Sanh", "Ca Tỳ La Vệ", "Vô Thường", "Hoa Cài Áo Lam" v.v...

Trong thời gian làm nhạc trưởng Đài Phát thanh Huế và giáo sư âm nhạc tại các trường Trung học Hàm Nghi, Quốc Học và trường Sư phạm đào tạo giáo viên Tiểu học, nhạc sĩ Văn Giảng có sáng tác và ấn hành một tập nhạc dành cho thiếu nhi mang tên :"Hát Mà Học" gồm có 10 ca khúc: Đến Trường, Chơi Ná, Chê Trò Xấu Nết, Mèo Chuột, Tham Mồi, Gương Sáng Lê Lai, Quang Trung Hùng Ca, Trăng Trung Thu, Chúc Xuân và Tạm Biệt.

Cũng trong lãnh vực âm nhạc, nhờ xuất thân từ một gia đình có truyền thống âm nhạc, Văn Giảng thích tìm tòi và nghiên cứu nhạc cổ truyền Việt Nam. Năm 1956, ông đã tìm ra phương pháp ký âm cho nhạc sĩ cổ truyền có thể nhìn bài bản mà trình tấu chung với nhạc sĩ tân nhạc và từ đó, ông thành lập ban cổ kim hòa điệu "Việt Thanh", một ban nhạc đầu tiên trong nước dưới hình thức tân cổ hòa điệu với những nhạc khí tranh, tỳ, nhị huyền, nhị hồ, đàn nguyệt... hoà tấu chung với dương cầm, tây ban cầm, đại hồ cầm...

Trong phạm vi này, ông đã hoàn thành tác phẩm độc đáo "Ai Đưa Con Sáo Sang Sông", một bản đại hòa tấu, thời lượng 60 phút, trình diễn bởi các nhạc sĩ cổ truyền. Ông cũng đã soạn nhiều sách giáo khoa về âm nhạc, hoàn thành quyển "Kỹ Thuật Hoà Âm" dày 350 trang được dùng làm tài liệu dạy âm nhạc ở các trường.

Sau Tết Mậu Thân 1968, cảm thấy sinh sống ở Huế bất an - ông Tăng Duyệt, bạn thân của ông, đã chết trong biến cố này - nhạc sĩ Văn Giảng vào Saigon lập nghiệp từ năm 1969 và ông nhanh chóng hòa hợp với nhịp sống âm nhạc của thủ đô, soạn hòa âm cho hãng đĩa Asia - Sóng Nhạc, dạy nhạc tại trường Quốc gia Âm nhạc Saigon, tham gia sinh hoạt ca nhạc ở đài phát thanh, đài truyền hình.

Cũng trong thời gian này, một số nhạc phẩm tình cảm với bút hiệu Thông Đạt của ông được thành hình và tung ra thị trường. Đồng thời, Văn Giảng được Bộ Văn Hóa Giáo Dục đề cử làm Trưởng Phòng Học Vụ Nha Mỹ Thuật, đảm trách học vấn của các trường Âm nhạc Saigon, Huế và các trường Cao đẳng Mỹ thuật.

Năm 1970, ông được huy chương vàng giải Văn học Nghệ thuật của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa (âm nhạc loại A) với sáng tác phẩm "Ngũ Tấu Khúc" (Quintet for Flute and Strings). Cùng năm này, ông được chỉ định làm Giám đốc Nghệ thuật điều hành Đoàn Văn nghệ Việt Nam gồm 100 nghệ sĩ tân cổ nhạc và vũ, ban vũ do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phụ trách, ban vũ cổ truyền đại nội Huế do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba điều khiển, để tham dự Hội chợ Quốc tế Expo 70 tại Osaka (Nhật Bản).

Sau 1975, nhạc sĩ Văn Giảng kẹt lại Việt Nam cho đến năm 1981 mới vượt biên đến đảo Natuna (Nam Dương) và sau đó được chuyển đến đảo Pulau Galang. Ở đây, trong 6 tháng, Văn Giảng sáng tác được một số bài nói lên thân phận lạc loài của người dân mất nước mà bài đầu tiên là "Natuna người tình đầu" cùng một số 70 ca khúc khác.

Ngày 20/5/1982, Văn Giảng định cư tại Úc, ở đây, ông tiếp tục con đường âm nhạc, soạn và xuất bản nhiều sách nhạc lý như cách dùng hợp âm, tự học tây ban cầm, hòa âm, sáng tác, học hát, học đàn v.v...

Ở đây, ông cũng đã sáng tác thêm nhiều tình khúc như: 12 tình khúc (Tập I), 12 Tình Khúc (Tập II) v.v... Những ai thiết tha với tân nhạc, muốn đi sâu, tìm hiểu hơn về sáng tác và hòa âm hoặc muốn trau dồi việc xử dụng các nhạc khí kim cổ, thiết nghĩ không gì bằng tìm các sách giáo khoa của nhạc sĩ Văn Giảng để đi đến nơi đến chốn. Văn Giảng hiện cư ngụ ở thành phố Footscray, bang Victoria (Úc Châu), điện thoại: (03) 9689-9623.
 

Ngoài một gia sản âm nhạc đồ sộ, từ những hành khúc hùng dũng đến những cung bậc uyển chuyển lả lướt của những bài tình ca qua những điệu nhạc vui tươi yêu đời dành cho thiếu nhi và những ca khúc uy nghiêm về Phật giáo, nhạc sĩ Văn Giảng còn đóng góp trong việc phổ biến âm nhạc Việt Nam ở hải ngoại với một số lượng đáng kể về sách dạy nhạc viết bằng Việt ngữ và Anh ngữ, chẳng những dành cho thế hệ trẻ Việt Nam ở hải ngoại mà cho cả người ngoại quốc muốn học hỏi và tìm hiểu về nền âm nhạc Việt Nam.

Một con người giản dị, khiêm nhường, không thích phô trương với một gia tài âm nhạc to lớn như thế của mình ẩn náu nơi một góc trời Đông sau ngày mất nước quả thật là một người đáng kính nể, đáng tôn thượng trong làng âm nhạc Việt Nam.


Lê Dinh

 




 Thumbnail 45 videos Thumbnail Thumbnail Thumbnail Thumbnail Play all YouTube Mix



NGÀY LONG TÂN 2013


From: Phuong B T Nguyen <
To:
Sent: Sunday, 18 August 2013 10:01 PM
Subject: NGÀY LONG TÂN 18.8.2013

 

NGÀY LONG TÂN 2013


Bạch Phượng


Hôm nay Chủ Nhật 18/8/13 là lần đầu tiên tôi đi xem diễn hành Ngày Long Tân tại Brisbane.
 
Xin được mở dấu ngoặc để nói một chút về Ngày Long Tân.  Vào năm 1988, chính phủ Úc quyết định lấy ngày 18/8 làm ngày “Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam”  (Vietnam War’s Day of Remembrance).  Ngày này còn đưoơc gọi là Ngày Long Tân (Long Tan Day) để nhớ lại trận đánh khốc liệt diễn ra tại xã Long Tân, tỉnh Phước Tuy, vào ngày 18 tháng 8 năm 1966, khi một đại đội Úc bị một lực lượng Việt cộng đông gấp bội phục kích.  Nhưng kết cuộc, Việt cộng bị tổn thất lớn và phải rút lui.  Đối với quân đội Úc, trận Long Tân là một trận đánh mang nhiều ý nghĩa so với những trận đánh khác mà họ đã tham dự trong suốt thời gian tham chiến tại Việt nam từ 1965 đến 1972.
 
Sáng nay, tôi có mặt trước Treasury Casino, điạ điểm tập họp của phái đoàn Hội Cựu Quân Nhân – Qld lúc 10 giờ 45.  Đúng 11 giờ các anh chị trong phái đoàn CQN lần lượt đến.
 
Đoàn diễn hành của Hội CQN-Qld chụp hình lưu niệm

Đoàn diễn hành của Hội CQN-Qld chụp hình lưu niệm

 
Ông Peter
 Hindle, Chủ tịch VVAA-Qld và ông Huỳnh Bá Phụng

Ông Peter Hindle, Chủ tịch VVAA-Qld và ông Huỳnh Bá Phụng



Trước khi diễn hành, ông Huỳnh Bá Phụng, Chủ tịch Hội CQN-Qld, sắp đội hình và dặn dò các thành viên trong đoàn về những điều cần lưu ý khi diễn hành.
 
Ông Huỳnh Bá Phụng dặn dò đoàn diễn hành

Ông Huỳnh Bá Phụng dặn dò đoàn diễn hành


 
Đúng 12 giờ 10 trưa, cuộc diễn hành bắt đầu.  Dẫn đầu là phái đoàn của Hội CQN-Qld, kế đến là đoàn kèn Tô Cách Lan và sau cùng là phái đoàn các cựu chiến binh Úc tham chiến tại Việt Nam.
 
Lộ trình diễn hành là từ Redacliffe Square (trước Treasury Casino) đến Anzac Square.


Đoàn diễn hành xuất phát

Đoàn diễn hành xuất phát


Đoàn diễn hành của Hội CQN- Qld

Đoàn diễn hành của Hội CQN- Qld


Đoàn diễn hành của Hội CQN- Qld

Đoàn diễn hành của Hội CQN- Qld




Đoàn kèn Tô Cách Lan

Đoàn kèn Tô Cách Lan


Đoàn diễn hành của cựu chiến binh Úc

Đoàn diễn hành của cựu chiến binh Úc


Đoàn diễn hành của cựu chiến binh Úc

Đoàn diễn hành của cựu chiến binh Úc


 
Anzac Square là điạ điểm tiến hành lễ tưởng niệm Ngày Long Tân. Tôi thấy có sự hiện diện  của đại diện Toàn Quyền, đại diện Thủ hiến Queensland, đại diện Thị trưởng Brisbane và một số quan khách.


 Khán đài danh dự

Khán đài danh dự


Mở đầu chương trình, toán lính hầu đi vào vị trí chung quanh đài Tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam . 

Đài Tưởng niệm Chiến Tranh VN và toán   lính hầu

Đài Tưởng niệm Chiến Tranh VN và toán lính hầu



Tiếp theo là lời chào mừng của ông Peter Hindle, Chủ tịch Chi hội Cựu Chiến Binh Tham Chiến tại VN - tiểu bang Qld.  Kế đến là bài phát biểu của Trung tướng S. Smith và phần cầu nguyện.
 
Sau đó là phần đặt vòng hoa tại đài tưởng niệm, một phút mặc niệm và quốc ca Úc.

Quan khách đặt vòng hoa

Quan khách đặt vòng hoa


Quan khách đặt vòng hoa

Quan khách đặt vòng hoa


Quan khách đặt vòng hoa

Quan khách đặt vòng hoa


Những vòng hoa dưới chân tượng đài

Những vòng hoa dưới chân tượng đài


Hồi kèn truy điệu

Hồi kèn truy điệu


 
Buổi lễ chấm dứt vào lúc 1 giờ 15 trưa cùng ngày.  

 

 

Sunday, August 18, 2013

VẾT THẸO TRUYỀN THÔNG


 

From: Anh Vu <

VẾT THẸO TRUYỀN THÔNG

 

TRƯƠNG MINH HÒA

 

Bất cứ ai bị thương trên thân xác, là mang thẹo suốt đời, nên thường gắn liền với tật, gọi là thương tật. Đây là những vết thương được nhìn thấy, đến khi chết mới biến mất trong quang tài và mãi mãi không còn nhìn thấy; tuy nhiên, có loại thương tật không nhìn thấy, nhưng lưu lại cho kẻ bị thươngấy suốt đời và sau khi chết cũng chưa mất, đó là vết thẹo truyền thông.
 
Từ hàng ngàn năm, những bạo chúa như Tần Thủy Hoàng, Trụ Vương…dù thời kỳ ấy không có truyền thông đại chúng như ngày nay, chế độphong kiến bưng bít trong" thâm cung bí sử", nhưng vết thẹo tàn ác mà người đời hằn lên cuộc đời và sự nghiệp bạo chúa vẫn còn lưu lạiđến ngày nay, mãi mãi trong lịch sử. Hùm chết để da, người ta chết để tiếng.
 
Trên thế giới, nhiều kẻ đã bị loài người tạo nên những vết thẹo truyền thông, muôn đời không mất, dù kẻ ác qua đời từ lâu như Hitler, Lenin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Kim Nhật Thành, Kim Chánh Nhất….dù có tênđược đồng bọn xác ướp, được canh giữ cần thận vì sợ nạn nhân vào có thái độphản ứng trong việc" trút căm thù thành hành động", sau nầy xác ướp có bị hủy hoại, nhưng vết thẹo truyền thông về thành tích giết người, cướp của vẫn không bao giờ mất như câu ca dao:

" Trăm năm bia đá cũng mòn.Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ".

 

Những kẻ làm cho miền nam suy yếu, là nguyên nhân đưa đến hậu quả 30-4-1975 là bọn phản tướng, phản tá: Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Mai Hữu Xuân, Đổ Mậu, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Văn Thiệu…muôn đời không bao giờ mất vết thẹo truyền thông. Nhứt là tên nằm vùng Dương Văn Minh, Nguyễn Hữu Hạnh, là hai tên được nạn nhân, dân tộc ghi vào thành phần phản dân hại nước, xú danh hàng năm chưa phai mờ.
 
Đám giặc thầy chùa Ấn Quang: Trí Quang, Hộ Giác, Minh Châu, Quảng Độ, Huỳnh Liên, Nhất Hạnh, cu sĩ Võ Văn Ái….đời đời để lại vết thẹo truyền thông trong lòng người Việt, lịch sử và đạo pháp. Hay những linh mọp Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Khắc Từ, Trần Bá Cương…là vết nhơ trong hàng ngũ giáo phẩm Thiên Chúa Giáo và được dân tộc hằn lên vết thẹo truyền thông mãi mãi qua thành tích" mượn áo nhà dòng, lập công dâng đảng vô thần cộng sản".
 
Tại hải ngoại, những thành phần đón gió, muối mặt, dù mang danh tị nạn nhưng vẫn ca tung đảng Việt Cộng" cướp cạn" đã bị quần chúng tặng cho những vết thẹo truyền thông, mang từ lúc còn sống, đến chết vẫn còn và kéo dài đến con cháu, dòng dõi, mãi mãi sau nầy, mỗi khi nhắc đến tên, con cháu hãy còn hổ thẹn. Những tên đã bị quần chúng" thân thương" tặng cho những vết thẹo truyền thông như:

 

· -Đại tá Mai Viết Triết: tự mình hủy hoại bằng câu: Đảng cộng sản có công thống nhất đất nước, dân tộc ghi nhận và biếtơn. Được biết kẻ:" ca tung cộng sản" lại không chịu trở về để tôn vinh đảng, trái lại cứ kiên trì bám trụ nơi mà cộng sản lên án là" đất tưbản phản động".

 

· -Giáo sư Vũ Quốc Thúc và luật sư Trần Thanh Hiệp: cộng sản chính nghĩa, chính danh, chính đáng.

 

· -Phóđề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại: Việt Cộng có chính nghĩa.

 

· -Đại tướng Trần Thiện Khiêm: Việt Cộng tốt..

 

· -Phóđề đốc Hoàng Cơ Minh: lừng danh trong mặt trận lừa bịp, kháng chiến dỏm, thu tiền, giết hại nhiều người yêu nước lỡnghe theo tiếng gọi cứu nước, những người nói lên sự thật ở Mỹ, đã bị tổ chức khủng bố K9 của mặt trận giết hại.

 

· -Những kẻ như Hoàng Cơ Định, Hoàng Cơ Long, Lý Thái Hùng ( Bùi Minh Đoàn), Trần Diệu Chân, Trần Xuân Ninh, Nguyễn Kim, Trần Minh Công…nằm trong mặt trận Hoàng Cơ Minh, nay là Việt Tân, cũng được quần chúng ghi vào vết thẹo truyền thông đời đời, được nhiều người biết trên hệ thống thông tin toàn cầu, sách vở, báo chí.

 

· -Thiếu tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ: đã bị quần chúng và cả các chiến hữu của hắn tạo thành vết thẹo" đón gió" lưu lại muôn đời trong hàng ngũ những kẻ phản bội.

 

· -Cựu đại sứ Bùi Diễm, tự mình cắt vào" thành tích" quốc gia bằng tác phẩm The Jaws of History, ca tụng tên súc vật Hồ Chí Minh yêu nước và những việc làm của Bùi Diễm trong thời gian qua, đã để lại vết thẹo truyền thông đời đời do dòng họ Bùi. ( Trong chuyện thơLục Vân Tiên, nhân vật không có thực là Bùi Kiệm, học dỡ, thi rớt, cũng được những người đọc thơ Nguyễn Đình Chiểu nhớ mãi) nên ông Bùi Diễm không thể xóa những vết thẹo truyền thông do chính ông ta gây ra trên giấy trắng mực đen, là tự sát sự nghiệp như câu" đốn củi ba năm rụi một giờ". Một số kẻ nhưký giả Lô Răng, ca tụng tác phẩm của Bùi Diễm cũng được mang vết thẹo truyền thông, dù nhỏ như khó xóa.

 

· -Hồng Y Phạm Minh Mẫn: để lại vết thẹo truyền thông qua việc đòi bỏ lá cờ vàng ba sọc đỏ trong lần đại hội thanh niên thếgiới, tổ chức tại Sydney (Úc Châu), vết thẹo nầy lưu lại vĩnh viễn trong lòng người Việt, giáo dân…

 

· -Gầnđây, một số khoa bảng như tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, Trần Hữu Dũng, Đinh Xuân Quân, Nguyễn Ngọc Bích, nhà báo Đinh Quang Anh Thái…ca tụng " phét phẩm" bên thắng cuộc của văn Vẹm Huy Đức, đã làm cho người ta nghi ngờ về" khả năng" đích thực của những kẻ mang bằng cấp cao và cũng nói lên bàn chất đón gió, nịnh hót một tên Việt Cộng con, rất non trong nghề viết lách. Chính những kẻ nầy đã tựhủy bằng vết thẹo truyền thông khi còn sống đến chết cũng còn.

 

· -Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng tự mình hằn lên sưnghiệp vết thẹo" khi đồng minh tháo chạy" là tác phẩm chỉ để binh vực cho thượng cấp Nguyễn Văn Thiệu, kẻ phá nát quân lực Việt Nam Cộng Hòa ở quân khu 1 trong vòng 55 ngày và làm thiệt hại lớn cho quân khu 2 qua lịnh di tản bằng quốc lộ 7 rất nguy hiểm, thay vì quốc lộ 1 an toàn. Chính ông Thiệu là kẻ" lập công lớn với cộng sản" để quân bắc Việt tiến quân như chỗkhông người, khi quân ta chưa đánh là đã được tổng tư lịnh ra lịnh" tháo chạy".
 
Tội ác của ông Thiệu không bao giờ phai nhạt với hơn 160 ngàn người bị chết trên đường di tản vào nam, hơn 16,000 binh lính chết, để lại cho giặc 70 ngàn tù binh (đương nhiên là giặc ra tay tàn sát quân lính VNCH để trả thù, con số nầy rất cao, chưa ai tổng kết). Nếu không thì cộng sản phải lãnh thảm bại rất lớn như chúng từng nếm mùi trong trận tổng công kích tết Mậu Thân 1968,đã làm hao hơn 100,000 mạng bộ đội, chưa kể đến hơn 5 ngàn cơ sở nằm vùng bịloại ra khỏi vòng chiến.

 

· -Gã Tú Gàn, Sáu Bò Vàng…vẫn tìm mọi cách xóa vết thẹo cho tên Việt Cộng nôi tuyến Dương Văn Minh: kẻ thì lếu láo" vén màn bí mật về cái chết của hai ông Diệm & Nhu" ( Sáu Bò Vàng), tên lấy bút hiệu Lữ Giang trân tráo cho là Mỹ xúi Dương Văn Mình thành đao phủ thủ qua cái chết của tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu..tuy muốn xóa thẹo cho Dương Văn Minh, nhưng chính hai người nầy đã tự tạo thành vết thẹo truyền thông cho chính mình qua bài viết, tác phẩm" giấy trắng mực đen" rõ ràng.

 

· -Một số kẻ sống nhờ vào lá cờ vàng ba sọc đỏ, được sang Mỹ sống cũng dưới lá quốc kỳnầy, như Ngô Nhân Dụng (Đổ Quí Toàn) người phủ nhận lá cờ vàng để" hòa hợp hòa giải theo định hướng xã hội chủ nghĩa", đại tá Vũ Văn Lộc, lấy bút hiệu là nhà văn Giao Chỉ, được người đời tặng danh hiệu" nhà văn NghĩaĐịa" có nhiều thành tích" giựt con mắt" như yểm trợ Madison Nguyễn ở San Jose, giới thiệu sách của Carina Hoàng Oanh, là tác phẩm cố tình né tránh tội ác cộng sản, nên tác giả về Việt nam làm ăn mà không hềhấn gì, còn được" hội ý" với tên Trần Hoan Quang, phó chủ tịch ủy ban người Việt nước ngoài, học tập thi hành nghi quyết 36…Vũ Văn Lộc tự mình cắt thành" vết thẹo truyền thông" nêu trên, ngoài ra còn từ bỏ, không chào cờ trong ngày kỷ niệm 35 thành lập cơ quan IRCC tại San Jose với hơn 200 quan khách.

 

· -Nhà báo Đổ Ngọc Yến để lại vết thẹo truyền thông qua những tấm hình chụp với những tên cán bộ cao cấp như Nguyễn Tấn Dũng và tờ báo Người Việt là vết thẹo truyền thông trong lịch sử báo chí hải ngoại với: hình chậu rửa chân có lá cờ vàng, bài thơ chúc tết cán cộng của bốc sư Nhân Quang, bài viết của Sơn Hào nhục mạ quân lực VNCH…Những người nào làm việc cho tờ Người Việt cũng đã bị quần chúng" tặng" cho những vết thẹo truyền thông như Đinh Quang Anh Thái, Vũ Quí Hạo Nhiên…đương nhiên là vết thẹo nầy không thể xóa dù các đương sự có dùng khả năng viết láchđể chửa trị, khi quần chúng hằn vết thẹo là muôn đời khó rửa.

 

· -Tên ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản Trần Trường cũng đã bị quần chúng hằn lên vết thẹo truyền thông từ năm 2000, hắn treo lá cờ máu, chân dung súc vật Hồ Chí Minh ở tiệm hi-tech ngay tại thủ đô người tị nạn. Sau nầy hắn về làm ăn và bị đánh tư sản, bỏ của chạy lấy người, về Mỹ thì được đảng Việt Tân chào đón, mở họp báo, phổ biến trên truyền thông, với mục đích quyên tiền để Trần Trường về Việt Nam kiện các" đồng chí" của hắn để lấy lại tài sản. Trần Trường đúng là" dân Việt kiều oan khiếu kiện", hắn có hậu thuẫn là đảng Việt Tân ở nước ngoài.

 

· -Tên Nguyễn Phương Hùng trở thành" cháu ngu ghẻ bác hồ" sau khi được thứ trưởng ngoại giao, chủ tịch ủy ban người Việt nước ngoài là Nguyễn Thanh Sơn" giác ngộ" quay đầu với với đảng cướp cạn Việt Cộng. Nguyễn Phương Hùng trởthành" kịch sĩ không người lái" qua vở kịch LÓI" là" Nước Mắt Kẻ Hai Hàng" trong kịch bản" Dòng Lệ Song Tử Tây", hắn khóc rất mùi và khóc có bài bản, khóc có chính sách tại đảo Song Tử Tây, trước mặt các đồng chí cán ngố Vẹm, được đưa lên Youtube, phổ biến khắp nơi. Do đó Nguyễn Phương Hùng được quần chúng tặng cho vết thẹo truyền thông" đón gió trở cờ".

 

· -Hoàng Duy Hùng cũng trở thành đón gió, đầu hàng Vẹm qua thành tích tiếp cận với cán Vẹm, có hình ảnh, nên hắn đã mang vết thẹo truyền thông suốt đời, sau nầy chết, con cháu mang tiếp..

Đó là vài tiêu biểu về vài thành phần có chút danh vọng ở đời, nhưng đã bị quần chúng hằn vào những vết thẹo truyền thông, muôn đời khó xóa, dù phải tốn bao nhiêu tiền của cũng vô ích. Đó là thẹo mà không thấy thẹo, nhưng là thẹo, lưu lại từ khi đương sự còn sống đến qua đời, và con cháu vẫn còn mang thẹo….ở hải ngoại, Việt Cộng thì ít, nhưng Việt gian thì nhiều, đó là những kẻ" ăn cơm tự do, đội mo cộng sản", lần lượt xuất đầu lộ diện như cây kim dấu trong bọc vải, lâu ngày tất phải ló ra, nhưng bọn đón gió đã bị quần chúng hằn lên vết thẹo truyền thông, muôn đời không tẩyđược, đó là hậu quả tất yếu của những kẻ gieo gió gặt bảo./.

 

TRƯƠNG MINH HÒA

 

06.05.2013

 

       

Người lính Việt Nam Cộng Hòa trong mắt chúng tôi


From: Tran Ho <
To:
Sent: Tuesday, 28 May 2013 2:13 AM
Subject: TÀI LIỆU Những đoạn Video ngắn Tuyệt Vời, xem để ghi nhơ công ơn của nhửng vị anh hùng dân tộc.

 

 

Người lính Việt Nam Cộng Hòa trong mắt chúng tôi


Những đoạn Video ngắn Tuyệt Vời, xem để ghi nhơ công ơn của nhửng vị anh hùng dân tộc.

Mời các bạn bấm vào những links dưới đây để xem hình ảnh kiêu hùng của những Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hoà
:


 

Vọng Ngày Xanh
http://www.youtube.com/v/TuG0eaqqwug&hl=en&fs=1
 
- - - oOo - - - 
 
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa Part 1
http://www.youtube.com/v/9mi8c2Kl4bc&hl=en&fs=1
 
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa Part 2
http://www.youtube.com/v/wH_mwkVfSVY&hl=en&fs=1
 
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa Part 3
http://www.youtube.com/v/sHYgEwxue7Q&hl=en&fs=1
 
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa Part 4
http://www.youtube.com/v/O-Ji8rPOCQc&hl=en&fs=1
 
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa Part 5
http://www.youtube.com/v/4gRil0ma9QE&hl=en&fs=1
 
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa Part 6
http://www.youtube.com/v/66-59cuZzN4&hl=en&fs=1
 
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa Part 7
http://www.youtube.com/v/U0nt0sYjjTo&hl=en&fs=1
 
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa Part 8
http://www.youtube.com/v/UFGQSzOZUz4&hl=en&fs=1
 
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa Part 9
http://www.youtube.com/v/Y3RDuppOaUw&hl=en&fs=1
 
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa Part 10
http://www.youtube.com/v/nXjfOZik6cw&hl=en&fs=1
 
 Người Lính Việt Nam Cộng Hòa Part 11
http://www.youtube.com/v/vtXvQA-bgz8&hl=en&fs=1
 
 Người Lính Việt Nam Cộng Hòa Part 12
http://www.youtube.com/v/gs3n9VmmvNg&hl=en&fs=1

 

 

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List