QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Monday, October 21, 2013

NHẤT TRỤ KÌNH THIÊN TẠI



To: Nuoc_VIET@yahoogroups.com
Date: Sun, 20 Oct 2013 09:25:22 -0700
Subject: Nhờ post dùm bài này. Cám ơn. LM [1 Attachment]
 


KHONG VE VIET NAM NEU CON VIET CONG (KVVNNCVC)
MUON CHONG TAU CONG PHAI DIET VIET CONG (MCTCPDVC)
MUON DIET VIET CONG PHAI DIET VIET GIAN (MDVCPDVG)

 

 

NHẤT TRỤ KÌNH THIÊN TẠI

 

*LÃO MÓC

Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm trong một lần đi kinh lý miền Bắc, đến một làng nọ rất nổi tiếng văn học. Dân làng làm rất nhiều cổng chào, cổng chào nào cũng dán đầy những câu ca ngợi thịnh đức của Thủ Tướng. Các nhân viên đi theo liền chép lại tất cả các câu ấy để trình lên cấp trên để lấy điểm. Thủ Tướng rất lấy làm bằng lòng, chỉ có hơi thắc mắc mấy chữ đại tự trên một bức hoành:

ĐẠI ĐIỂM QUẦN THẦN

Có người giải thích rằng, Thủ Tướng đi kinh lý tức là đã làm một điểm mặt tất cả các quần thần, mà đây cũng là một cuộc tổng điểm danh lớn, nên người ta mới dâng câu mừng "Đại điểm quần thần".

Có người lại bàn rằng Thủ Tướng là người đứng đầu các quan chức là người nổi bật trong số các quần thần của Hoàng đế Bảo Đại, "đại điểm quần thần" có nghĩa như thế...

Mỗi người giải thích một cách, ai cũng cho rằng mình đúng. Tới khi ai nấy ra về hết, mới có một người lại gần nói khẽ với Thủ Tướng:

-Bọn đó nó nói xấu Thủ Tướng đấy. "Đại điểm" là cái "chấm to". "Quần thần" là kẻ "bầy tôi". "Chấm to bầy tôi" nói lái lại là "Chó Tâm bồi Tây".

*

Có một ông quê ở làng Động Trung, tỉnh Thái Bình, tuổi trung niên có thời mở cửa hàng bán mộc tồn để làm kế sinh nhai. Sau này khá giả, bỏ nghề. Có một năm kia mở tiệc mừng thọ.

Có người đem tặng bức hoành phi khắc ba chữ:

ĐỘNG TRUNG XUÂN

Động trung xuân có nghĩa là làng Động Trung trẻ mãi vì chữ Xuân còn hàm nghĩa trẻ trung, rất hợp với lời chúc thọ.

Chủ nhân treo lên được vài tuần, bỗng bảo người nhà hạ xuống, đem ra chẻ củi, ai hỏi tại sao cũng không nói. Mãi sau mới có người đoán ra được rằng trong bài thơ "Thiên Thai" có hai câu:

Vãng vãng kê minh nham hạ nguyệt

Thần thần khuyển phệ động trung xuân.

(Văng vẳng bên non gà gáy nguyệt

Oang oang trước động chó chào xuân).

Thơ thì hay thật, nhưng khổ nỗi trước chữ "Động trung xuân" lại là chữ "khuyển phệ" - chó sủa - ý người tặng muốn xỏ chủ nhân về chuyện đã từng làm nghề bán thịt chó. Chủ nhân đã muốn quên đi chuyện ấy từ lâu, nay có người nhắc lại nên giận là phải.

*

Có một ông từng làm kép hề trên sân khấu, khi về già mở tiệc lên lão. Có người mừng một bức trướng:

TỬ TÔN THẰNG THẰNG

có nghĩa là con cháu đông đúc. Chủ nhân cứ thế treo lên vì có người bàn rằng bốn chữ ở chương Chung tư, Chu Nam trong kinh Thi. Chủ nhân  không ngờ  rằng người tặng bức trướng đã đem nghề cũ của mình ra diễu vì nguyên văn hai câu trong Chung tư là:

"Chung tư vũ, hoăng hoăng hề, nghi nhĩ tử tôn, thằng thằng hề".

Chữ "hề" trong các bài hát cổ chỉ là tiếng đệm cuối câu, không mang ý nghĩa gì. Nhưng trong trường hợp này thì trở thành câu nói mĩa: "tử tôn thằng thằng... hề".    

Cách mĩa mai như vậy hoặc cố tình moi móc về nghề bán "mộc tồn" ở trên cũng thế, so với đời bây giờ thì có vẻ hẹp hòi cố chấp và không hợp thời, nhưng đây là chuyện xảy ra dưới thời Pháp thuộc.

*

Thời còn thuộc Pháp ở Nam Định có một ông chuyên buôn đồ cổ. Vì nghề ông sưu tầm được nhiều bộ ấm chén, lọ sứ, độc bình, bát đĩa cổ rất quý. Ông cũng là người có theo đòi nghiên bút nhưng thi không đỗ nên xoay qua nghề buôn bán. Có Tây thực dân tên Cognacq là người có quyền thế lại cũng mê sưu tầm đồ cổ. Ông nhà buôn liền làm thân, nay tăng món này, mai món kia, toàn là những đồ cổ đời Thanh, đời Minh rất quý.

Dần dần được lòng quan Tây, coi như người nhà. Một ngày kia, ông được quan Tây đặc cách bổ đi làm Tri huyện ở một Huyện vùng trung du. Vì ông không đỗ đạt gì mà được bổ làm quan nên nhiều người vẫn gọi xách mé theo nghề cũ của ông là Huyện Chén; gọi mãi thành tên.

Làm quan ở trung du vài năm, ông bị chứng sốt rết ngã nước qua đời. Linh cữu đưa về quê hương ở Nam Định mai táng. Có ông nhà Nho viếng bốn chữ lấy trong Sở từ:

TỐNG QUÂN NAM PHỐ

Ai cũng phải chịu là hay, vì câu này có nghĩa: Tiễn đưa ông ở Nam phố, có vẻ tha thiết với bạn, chữ Nam phố lại cùng nghĩa với quê hương của ông Huyện.

Thật ra cái ẩn ý của người viếng câu này lại nằm ở chỗ khác. Ai cũng biết trong bộ đồ trà nào, ngoài cái ấm còn có một chén "tống" và bốn chén "quân". Chén tống, chén quân thì nói quá rõ cái nghề của quan Huyện có tên là Huyện Chén, ai chẳng biết. Nào phải mến tiếc đưa tiễn gì đâu.

*

Cũng thời thuộc Pháp ở miền Bắc có một ông thời trẻ có làm nghề lái lợn. Sau này bỏ nghề theo binh nghiệp lên quan. Khi mở tiệc mừng thọ có người đem tặng bức hoành phi có hai chữ to tổ bố:

ĐẠI LAI

bèn lấy làm mừng rỡ đem treo. "Những điều vĩ đại, lớn lao nó cứ trở lại mãi" thì tốt quá rồi còn muốn gì hơn nữa.

Sau, có người cắt nghĩa "đại lai" có nghĩa là "lớn lại", mới biết là mình bị chơi xỏ.

*

Không phải như mấy ông nhà Nho thời trước có tật hay nói lòng vòng, mỉa mai này nọ, mấy ông "sĩ phu" thời xã hội chủ nghĩa khoái dùng văn chương chữ nghĩa ca tụng những người nổi tiếng vừa qua đời lên tới tận mây xanh như trường hợp đại tướng Võ Nguyên Giáp (VNG) vừa qua đời vào ngày 4 thnág 10 năm 2013.

Từ 3 năm trước, năm 2010, khi ông Đại tướng “cầm quân lẫn cầm quần” bắt đầu “cuộc sống thực vật” ở Quân y viện 108 thì ông Tiến sĩ Nguyễn Xuân Tụ tức Hà Sĩ Phu đã làm thơ ca tụng Võ đại tướng nhân ngày sinh nhật thứ 100, như sau:

Trăm Năm Nguyên Giáp

Tính sổ Trời cho đã bách niên

Thử cân hạnh phúc với ưu phiền

Tiếc thay ĐỘC LẬP còn dang dở

Thương chữ QUYỀN DÂN chửa đáp đền

Một trận ĐIỆN BIÊN vang quốc sử

Ba thư “BÔ XÍT” động dân quyền

Một đời ái quốc, VĂN thành VÕ

Chưa cởi chiến bào GIÁP vẫn NGUYÊN

Ông “sĩ phu” này còn làm thơ xưng tụng ông Võ đại tướng là “cây thông trăm tuổi đứng vững giữa tuyết sương, giông bão.”

 

Ông Nguyễn Huệ Chi thì ca tụng chữ “nhẫn” của ông VNG, là “ông VNG đã nhẫn nhục để làm việc lớn, vì dân tộc vì đất nước”. Ông này còn xưng tụng rằng “đại tướng là nguyên khí của quốc gia” và “cho nên đại tướng trở thành một biểu tượng không thể thay thế được trong hoàn cảnh thời điểm hiện nay. Và sự hụt hẫng của mọi người, của đông đảo nhân dân cũng như tầng lớp trí thức  là ở chỗ trước mắt  chưa tìm thấy một biểu tượng khác để phất ngọn cờ cho mọi mọi người cùng đi”.

Tiến sĩ, luật sư Cù Huy Hà Vũ, từ trong tù cũng đã lên tiếng ca tụng VNG là “nhà trí thức lớn”, “nhà qúy tộc quân sự” vì lối ăm mặc lúc nào cũng chỉnh tề, đàng hoàng làm cho người ta kính nể”.

Cựu Tướng VC Nguyễn Trọng Vĩnh, dân biểu VC Dương Trung Quốc cũng hết lời ca tụng đại tướng VNG.

Người ca tụng VNG hết mình, hết mẫy là ông Đặng Vũ Khiêu cứ như là vừa khóc thút thít vừa rền rĩ: “Sinh ra Khiêu là cha mẹ, mà hiểu được Khiêu này chỉ có anh (đại tướng) Giáp (sic!)”

Dư luận cho rằng các vị này đã nói những lời ca tụng quá lố, không ngượng miệng là muốn bám vào “cái đuôi áo”  của VNG để kiếm một chỗ đứng chính trị xã hội.

*

Sau “đám tương tượng đái” VNG, ở hải ngoại, trên các diễn đàn điện tử có lưu truyền một giai thoại do “sĩ phu lưu vong” Nguyễn Nhơn, vốn là Phó Tổng đốc Biên Hoà tỉnh thời Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hoà kể lại.

Gai thoại kể rằng trong lễ “quốc tang đại tướng” có một vị vô danh gửi đến một bức trướng có viết mấy chữ:

NHẤT TRỤ KÌNH THIÊN TẠI

có nghĩa ca tụng vị đại tướng là “một cây cột chống trời!”

Dư luận xúm vào chửi ông “sĩ phu lưu vong” Nguyễn Nhơn như tát nước vì nghĩ rằng ông này là tác giả của bức trướng ca tụng đại tướng VNG như “một cây cột chống Trời!” Chửi còn hơn cả chửi ông cựu Đại sứ Bùi Diễm tự khoe mình là học trò của Tướng Giáp và ca tụng tên tội đồ đã ký sắc lệnh đặt đảng Đại Việt là đảng mà hiện nay ông ta là Đảng trưởng ra ngoài vòng pháp luật. 

Để “minh oan”, “sĩ phu lưu vong” Nguyễn Nhơn bèn đính chánh là giai thoại “NHẤT TRỤ KÌNH THIÊN TẠI” không phải do ông ta sáng tác mà đây là giai thoại về tên Việt gian Nguyễn Thân thời Pháp thuộc. Nguyễn Thân làm Tổng đốc Bình Định, năm Ất Vị (1895) được triều đình Huế đề cử với Pháp lãnh chức Khâm mạng Tiết chế Quân vụ, đem binh tiểu trừ Phan Đình Phùng; binh triều đến nơi thì cụ Phan Đình Phùng đã qua đời vì bệnh, Nguyễn Thân bèn quật mồ và toan đốt xác lấy tro trộn với thuốc sung; nhưng Pháp không đồng ý.

Vì hành động gian ác với mục đích lập công với thực dân Pháp nên khi chết đã được một thầy đồ đến phúng tang với bức trướng “NHẤT TRỤ KÌNH THIÊN TẠI”.

Theo “sĩ phu lưu vong” Nguyễn Nhơn thì 5 chữ trên khi được ông thầy đồ giải thích thì  nó cũng có ý nghĩa xiên xỏ như mấy chữ ĐẠI ĐIỂM QUẦN THẦN, TỐNG QUÂN NAM PHỐ…  đã kể ở đầu bài.

Nghĩa nôm na của mấy chữ “NHẤT TRỤ KÌNH THIÊN TẠI” có nghĩa là: “ÔNG NHƯ CÁI TỰ DO NGỎNG LÊN” chớ không có phải là “cái cột chống Trời, chống Đất” gì cả!

*

Trên diễn đàn điện tử, nhà thơ ký tên tắt SR có diễn tả bằng thơ về việc CSVN làm rùm beng “đám tương đại táng”" như sau:

 

“Vẹm ta chẳng có gì khoe

Phải đem tên Giáp ra loè mà thôi

Giáp là đại tướng chồn lùi

Cầm quân nướng lính phải lui, cầm quần

Mấy bà thắc mắc, ngại ngần

Ủa! Sao thằng Vẹm nó cầm quần tui???”  

Và cũng ông nhà thơ SR đã rất là văn hoa khi dẫn giải mấy chữ “NHẤT TRỤ KÌNH THIÊN TẠI” thành câu lục bát vô cùng ý nhị như sau:

“Đã nằm nhắm mắt trong hòm

Thế mà đại bác vẫn còn ngỏng lên!”

Diễn tả việc đảng CSVN và mấy ông “trí thức Bác Hồ” ở trong nước cũng như “trí thức đầu ruồi” ở hải ngoại làm rùm beng đám tang và xúm vào ca tụng tên “đệ nhị ác nhân” VNG bằng thơ châm biếm như thế thì thiệt là… hết ý, phải không?

Cố đại tướng VC Võ Nguyên Giáp quả xứng đáng là NHẤT TRỤ KÌNH THIÊN TẠI; bởi vì mấy ông Tướng VC còn lại thì ông nào cũng sìu sìu, ễnh ễnh!

LÃO MÓC


 

Phóng sự bằng hình ảnh: Sydney: Biểu tình chống Văn Hoá Vận của Việt Cộng.


From: Truong Nhan <
To: 
Sent: Monday, 21 October 2013 4:12 AM
Subject:  Phóng sự bằng hình ảnh: Sydney: Biểu tình chống Văn Hoá Vận của Việt Cộng.

 

 


18.10.2013


 
























Hình ảnh của Quân Trần chụp

 

---

 



 

 

Cuộc diễn binh kỷ niệm Ngày Quân Lực lần thứ 65 của Quân Lực Đại Hàn Dân Quốc và 60 năm ngày Hoa Kỳ và Đại Hàn trở thành đồng minh..vào ngày 1 tháng 10, 2013 vừa qua.. Ngoài những vị lãnh đạo của Đại Hàn, còn có quan khách ngoại quốc, trong đó có Bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Chuck Hagel.. 

Tôi đã thu thập tất cả gồm có 8 video clips, có xướng ngôn tối thiểu bằng Anh Ngữ.. Dài khỏang 1 giờ 42 phút...

Nhìn hình ảnh Quân Lực Đại Hàn Dân Quốc, một trong những quân lực hùng mạnh, kỷ luật, trang thiết bị tối tân tân nhất thế giới...

Đã từng là đồng minh, chiến đấu, góp phần bảo vệ Miền Nam Việt Nam ...bên cạnh
Quân, Dân Việt Nam Cộng Hòa. 

Thấy thật buồn, khi nhớ lại hình ảnh oai hùng, và thân yêu của những người
Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. 

Xin mời Qúy Vị xem để tường...

 

BMH
Washington, D.C


1.-  22:29 phút: Lễ Khai Mạc - 

Nữ Tổng Thống Park Geun-hye duyệt binh.


 

2.-1041 phút :  Tổng thống đọc diễn văn..


 

3.- 12:05 phút: Biểu diễn nhảy dù


 

4.- 8:40 phút: Biểu diễn Thái Cực Đạo


 

5.- 16:24 phút: Diễn binh


 

6.-14:59 phút:  Diễn binh với quân cụ.


 

7.- 5:00 phút:  Không quân


 

8.- 13:41 phút:  Biểu diễn Không quân – Air show…


 


 

Phóng viên người Đức viết về thảm sát Mậu Thân và tội ác diệt chủng cuả việt cộng


From: Dan Vo <
To: >
Sent: Sunday, October 20, 2013 5:03 PM
Subject: Phóng viên người Đức viết về thảm sát Mậu Thân và tội ác diệt chủng

 

 

Sự kiện

Phóng viên người Đức viết về thảm sát Mậu Thân và tội ác diệt chủng cuả việt cộng


Cập nhật lúc 21-05-2013 03:52:31 (GMT+1)

Những xác chết trong Tết Mậu Thân

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tác giả là người Đức, hiện cư ngụ tại USA. Là phóng viên, ông có mặt tại VN khoảng 5 năm và là chứng nhân việc thảm sát Mậu thân, việc 4 vị giáo sư Đức của Đại học Y Khoa Huế bị việt cộng thảm sát. v.v..

A reporter's love for a wounded people

Cuốn sách Đức: "A reporter's love for a wounded people" của tác giả Uwe Siemon-Netto đã được viết xong và đang chờ một số người viết "foreword" và endorsements.

Bản dịch cũng đã xong, được phép của tác giả chúng tôi xin giới thiệu đoạn kết rất xúc động mà tác giả đã nói lên ước muốn cùng với người Việt Nam nuôi dưỡng niềm hy vọng một ngày không xa Tự Do Dân Chủ sẽ trở lại với quê hương khốn khổ của chúng ta:

Đoạn kết

Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng.

Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã biệt Việt Nam. Vào năm 2015, thế giới sẽ chứng kiến kỷ niệm lần thứ 40 chiến thắng của Cộng sản và nhiều người sẽ gọi đó là ngày "giải phóng." Ga xe lửa Huế, nơi một đầu máy và một toa hành lý khởi hành chuyến tầu tượng trưng 500 thước mỗi buổi sáng vào lúc 8 giờ sẽ không còn đáng đi vào kịch trường của sự phi lý nữa. Nó đã được phục hồi đẹp đẽ và sơn phết lại mầu hồng. Một lần nữa, tương tự như những ngày dưới sự thống trị của người Pháp, nó là nhà ga xe lửa đẹp nhất vùng Đông Dương và tài xế tắc-xi không phải chờ đợi vô ích bên ngoài. Mười chuyến tầu thong dong chạy qua mỗi ngày, năm chuyến xuôi Nam và năm chuyến ra Bắc. Gộp chung lại chúng được mệnh danh một cách không chính thức là Tàu Tốc Hành Thống Nhất. Chẳng lẽ nào tôi lại không mừng vui?
 
Chuyện này có khác nào bên Đức khi bức tường Bá Linh đổ xuống và những bãi mìn biến mất, và nay những chuyến tầu cao tốc phóng ngược xuôi giữa hai xứ nguyên là Cộng sản bên Đông và Dân chủ bên Tây với tốc độ lên tới 200 dặm một giờ?

Hiển nhiên là tôi rất vui khi chiến tranh kết thúc và Việt Nam được thống nhất và phát triển, những chuyến xe lửa đã hoạt động trở lại và các bãi mìn đã được tháo gỡ. Nhưng đến đây thì sự tương đồng với nước Đức chấm dứt. Nước Đức hoàn thành sự thống nhất, một phần nhờ người dân tại Đông Đức đã lật đổ chế độ độc tài toàn trị bằng những cuộc biểu tình và phản kháng ôn hòa, một phần nhờ vào sự khôn ngoan của các nguyên thủ quốc tế như các vị Tổng thống Ronald Reagan và George G.W. Bush, của Thủ tướng Helmut Kohl, của lãnh tụ Sô Viết Mikhail Gorbachev, và cũng phần khác vì sự sụp đổ có thể đoán trước được của hệ thống xã hội chủ nghĩa sai lầm trong khối Sô Viết. Không có ai bị thiệt mạng trong tiến trình này, không một ai bị tra tấn, chẳng có ai phải vào trại tù và cũng không có ai bị buộc phải trốn chạy.

Có một khuynh hướng khó hiểu, ngay cả trong số các vị học giả đáng kính của phương Tây đã diễn tả sự kiện Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam như là một cuộc "giải phóng." Điều này đặt ra một câu hỏi: giải phóng cái gì và cho ai? Có phải miền Nam đã được "giải phóng" khỏi sự áp đặt một nhà nước độc đảng toàn trị được xếp hạng chung với những chế độ vi phạm tồi tệ nhất thế giới về các nguyên tắc tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí? Một cái thứ giải phóng gì đã làm chết 3,8 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975 và đã buộc hơn một triệu người khác phải trốn ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là thuyền nhân bị chết đuối?

Có phải là hành động giải phóng không khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên chức chính phủ sau ngày Sài Gòn thất thủ? Phải chăng chỉ là một màn trình diễn nhân đạo của bên thắng cuộc bằng cách lùa từ một triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn, theo một cuộc nghiên cứu của một nhóm học giả quốc tế do Bác sĩ tâm thần Richard F. Molina của đại học Harvard dẫn đầu?

Từ giữa những năm 1960, những tay bịa đặt chuyện huyền thoại về chính trị và lịch sử của phương Tây, hoặc ngây thơ hoặc bất lương, đã chấp nhận lời giải thích của Hà Nội rằng cuộc xung đột là một cuộc "chiến tranh nhân dân." Cũng đúng thôi nếu chấp nhận định nghĩa của Mao Trạch Đông và Võ Nguyên Giáp về cụm chữ đó. Nhưng theo luật văn phạm về sở hữu tự theo cách Saxon Genitive qui định thì "chiến tranh nhân dân" phải được hiểu là cuộc "chiến tranh của nhân dân." Thực tế không phải như vậy. Ðã có khoảng 3,8 triệu người Việt Nam đã bị giết giữa các năm 1954 và 1975. Khoảng 164.000 thường dân miền Nam đã bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi Cộng sản Việt Nam trong cùng thời kỳ, theo nhà học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel của trường Đại học Hawaii. Ngũ Giác Ðài ước tính khoảng 950.000 lính Bắc Việt (CSVN)và hơn 200.000 lính VNCH đã ngã xuống ngoài trận mạc, cộng thêm 58.000 quân Hoa Kỳ nữa. Đây không thể là một cuộc chiến tranh của nhân dân mà chính là chiến tranh chống nhân dân.

Trong tất cả những lập luận đạo đức giả về cuộc chiến Việt Nam ta gặp quá thường trong vòng 40 năm qua, cái câu hỏi quan trọng nhất đã bị mất dấu hay AWOL, nếu dùng một từ ngữ viết tắt quân sự có nghĩa là "vắng mặt không phép," câu hỏi đó là: Dân Việt Nam có mong muốn một chế độ Cộng sản hay không? Nếu có, tại sao gần một triệu người miền Bắc đã di cư vào Nam sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954, trong khi chỉ có vào khoảng 130.000 cảm tình viên Việt Minh đi hướng ngược lại?

Ai đã khởi đầu cuộc chiến tranh? Có bất kỳ đơn vị miền Nam nào đã hoạt động ở miền Bắc hay không? Không. Có du kích quân miền Nam nào vượt vĩ tuyến 17 để mổ bụng và treo cổ những người trưởng làng thân cộng, cùng vợ và con cái họ ở đồng quê miền Bắc hay không? Không. Chế độ miền Nam có tàn sát cả một giai cấp hàng chục ngàn người trên lãnh thổ của họ sau năm 1954 bằng cách tiêu diệt địa chủ và các đối thủ tiềm năng khác theo cách thống trị theo lối Sô Viết của họ hay không? Không. Miền Nam có thiết lập chế độ độc đảng toàn trị hay không? Không.

Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này, hay nói theo lối người Mỹ là "I have no dog in this fight" (tôi chẳng có con chó nào trong vụ cắn lộn này cả). Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn sách "Lời nguyện của nhà báo", tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi đã từng và vẫn còn đứng về phía dân tộc Việt Nam nhiều đau thương. Lòng tôi hướng về những người phụ nữ tuyệt vời với tính tình rất thẳng thắn và vui vẻ; hướng về những người đàn ông Việt Nam khôn ngoan và vô cùng phức tạp đang theo đuổi giấc mơ tuyệt hảo theo phong cách Khổng giáo; hướng về các chiến binh giống như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang theo cái tài sản duy nhất là một lồng chim hoàng yến; hướng về các góa phụ chiến tranh trẻ với cơ thể bị nhào nặn méo mó chỉ vì muốn bắt một tấm chồng lính Mỹ nhằm tạo một ngôi nhà mới cho con cái và có thể cho chính họ, còn hơn là đối mặt với độc tài Cộng sản Việt Nam; hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị cũng như ngoài nông thôn săn sóc lẫn nhau và những con trâu đồng. Với trái tim chai cứng còn lại, lòng tôi thuộc về những người trốn chạy khỏi lò sát sinh và vùng chiến sự, luôn luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ về hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không còn một tấc đất nào vắng bóng Cộng sản nữa để mà trốn. Tôi đã chứng kiến họ bị thảm sát hay bị chôn sống trong những ngôi mồ tập thể và mũi tôi vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của những thi thể đang thối rữa.

Tôi không có mặt vào lúc Sài Gòn thất thủ sau khi toàn bộ các đơn vị Quân Lực VNCH, thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đã chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này. Tôi đang ở Paris, lòng sầu thảm khi tất cả những chuyện này xẩy ra và tôi ước gì có dịp tỏ lòng kính trọng năm vị tướng lãnh VNCH trước khi họ quyên sinh lúc mọi chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đã có thể thắng: Lê Văn Hưng (sinh năm 1933), Lê Nguyên Vỹ (sinh năm 1933), Nguyễn Khoa Nam (sinh năm 1927), Trần Văn Hai (sinh năm 1927) và Phạm Văn Phú (sinh năm 1927).

Tết Mậu Thân

Khi tôi viết đoạn kết này, một ký giả đồng nghiệp và một loại học giả sinh năm 1975 khi Sài Gòn bị thất thủ, đã tự tạo cho bản thân một thứ tên tuổi bằng cách bêu xấu tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Vâng, họ thật đáng bị bêu xấu. Đúng, đó là sự thật. Mỹ Lai có thật. Tôi biết, tôi đã có mặt trong phiên tòa mặt trận khi Trung úy William Calley bị kết án là có tội. Tôi biết cái tiêu chuẩn đếm xác chết được tôn sùng bởi đầu óc méo mó của các cấp chỉ huy quân sự cũng như dân sự thời đại Mc Namara tại Washington và bản doanh Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã làm tổn hại hàng ngàn mạng sống của người dân vô tội.

Nhưng không có hành vi tàn ác nào của các đơn vị rối loạn Hoa Kỳ và VNCH có thể sánh bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước giáng xuống đầu người miền Nam nhân danh Hồ Chí Minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay những kẻ kế thừa thậm chí vẫn không thừa nhận vì không ai có cái dũng cảm hỏi họ: Tại sao các anh thảm sát tất cả những người vô tội mà các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng họ? Với tư cách một người Đức, tôi xin được thêm một đoạn chú thích như sau: tại sao các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt von Collenberg, tại sao lại giết các bác sĩ người Đức ở Huế, và anh Otto Söllner tội nghiệp mà "tội ác" duy nhất là dạy trẻ em Việt Nam cách điều khiển một ban nhạc hòa tấu? Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên thiện nguyện Knights of Malta, làm cho một số bị chết trong rừng rậm và số khác thì bị giam cầm tại Hà Nội? Tại sao các anh không bao giờ tự xét lương tâm về những hành động đó, theo cách những người Mỹ chính trực trong khi họ đã được xác định một cách đúng đắn là họ thuộc về phía lẽ phải trong cuộc Đại Chiến Thứ Hai, vẫn bị dằn vặt bởi cái di sản khủng khiếp để lại vì đánh bom rải thảm những khu dân cư trong nước Đức và tấn công bằng bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki?

Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con đường mòn Hồ Chí Minh trong tạp chí Der Spiegel, cô y tá Tây Đức Monika Schwinn nhớ lại cuộc gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu Bắc Việt trên đường xuống phía Nam như là một trong những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. Cô diễn tả cái cường độ của mối hận thù trên khuôn mặt của những tên lính đó và cô viết chính những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn lắm mới ngăn chận họ không giết những người Đức ngay tại chỗ. Không có ai sinh ra là biết hận thù cả. Sự thù hận chỉ có thể có được do dậy dỗ. Nuôi dưỡng tính giết người trong lòng thanh niên là một khuôn phép huấn luyện chỉ có trường phái chủ nghĩa toàn trị là giỏi nhất. Trong cuốn tiểu sử rất hay nói về tay chỉ huy SS Heinrich Himmler, sử gia Peter Longerich diễn tả là ngay cả gã sáng lập viên cái lực lượng tàn độc gồm những tên côn đồ mặc đồ đen cũng khó lòng buộc thuộc hạ vượt qua sự kiềm chế tự nhiên để thi hành lệnh thảm sát Holocaust (Longerich. Heinrich Himmler. Oxford: 2012). Chính cái ánh mắt thù hận của những tên sát nhân Bắc Việt tại Huế làm ám ảnh những người tôi phỏng vấn hơn cả. Nhưng dĩ nhiên phải dành nhiều thời gian với họ, chịu sự đau khổ cùng họ, tạo niềm tin và trò chuyện với họ thì mới khám phá ra cái cốt lõi của một phần nhân tính con người, một hiểm họa về mặt chính trị và quân sự vẫn còn quanh quẩn bên chúng ta từ bốn thập niên qua. Chỉ phán ý kiến về nó từ trên tháp ngà đài truyền hình New York hay các trường đại học Ivy League thì không bao giờ đủ cả.alt

Trong một cuốn sách gây chú ý về đoàn quân Lê Dương Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại tá đầy huyền thoại Pierre Charton và Tướng Võ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điên Biên Phủ (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton là tù binh trong tay Cộng sản Việt Minh. Giáp đến thăm Charton nhưng cũng để hả hê. Cuộc gặp gỡ xẩy ra trong một lớp học trước mặt khoảng 20 học viên đang tham dự một buổi tuyên truyền chính trị. Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối chọi nhau đã xẩy ra như sau:

Giáp: "Tôi đã đánh bại ông, thưa Đại tá!"

Charton: "Không, ông không đánh bại tôi, thưa Đại tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng tôi... cùng sự hỗ trợ các ông đã nhận được từ người dân bằng các phương tiện khủng bố."

Võ Nguyên Giáp không ưa câu trả lời này và cấm các học viên không được ghi chép nó. Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là một nửa của sự thật. Cái nửa kia là các nền dân chủ như Hoa Kỳ đúng là không được trang bị về chính trị và tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ. Sự nhận thức này, cùng với cách sử dụng các phương tiện khủng bố đã trở thành trụ cột trong chiến lược của Võ Nguyên Giáp. Hắn đã đúng và hắn đã thắng. Thậm chí nguy hiểm hơn nữa là ngày nay các chế độ toàn trị đang chú ý đến điểm này.

Cho đến tận ngày hôm nay tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi cái kết luận tôi bắt buộc phải rút ra từ kinh nghiệm về Việt Nam là: khi một nền văn hóa bê tha hủ hóa đã mệt mỏi về lòng hy sinh, nó sẽ có khả năng vứt bỏ tất cả. Nó đã chín mùi để bỏ rơi một dân tộc mà đáng lẽ nó phải bảo vệ. Nó còn thậm chí sẵn sàng xóa đi những mạng sống, sức khoẻ về thể chất và tinh thần, nhân phẩm, trí nhớ và danh thơm của những thanh niên đã được đưa ra mặt trận. Điều này đã xẩy ra trong trường hợp các cựu chiến binh Việt Nam. Tác động của sự khiếm khuyết đã ăn sâu trong các nền dân chủ tự do này rất đáng sợ vì cuối cùng nó sẽ phá hỏng chính nghĩa và tiêu diệt một xã hội tự do.

Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được. Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử, mặc dù được khép kín trong quá khứ, vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai. Là một Ki-Tô hữu tôi biết ai là Chúa của lịch sử. Chiến thắng của Cộng sản dựa vào những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và phản bội. Hiển nhiên tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa. Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tin là họ sẽ cuối cùng tìm ra phương cách ôn hòa và các lãnh tụ chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ xẩy ra.

Trong ý nghĩa này, tôi bây giờ chỉ muốn xếp hàng vào đoàn xích-lô bên ngoài ga xe lửa Huế vào năm 1972, nơi chẳng có người khách nào quay trở lại. Chỗ của tôi ở đâu bây giờ? Tôi còn lại gì nữa ngoài niềm hy vọng.

Đọc thêm về tác giả tại:
http://en.wikipedia.org/wiki/Uwe_Siemon-Netto
Nơi đặt mua sách (sách viết bằng tiếng Anh và bản dịch tiếng Việt sẽ xuất bản tháng 2013)
http://www.siemon-netto.org/
http://www.lienlacso3.info/index.php?/archives/486-A-reporters-love-for-a-wounded-people.html


Sunday, October 20, 2013

Tủ sách Tiếng Quê hương và nhà văn Uyên Thao


 

Tủ sách Tiếng Quê hương và nhà văn Uyên Thao


Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-10-19

Email

Ý kiến của Bạn

Chia sẻ

In trang này


VHNT10192013.mp3 Phần âm thanhTải xuống âm thanh

RMSNVGP-22-305.jpg

Nhà văn, Nhà báo Uyên Thao phát biểu về Tủ Sách Tiếng Quê Hương trong một lần giới thiệu sách hồi năm 2012.

Courtesy Tiếng Quê Hương

 

Tiếng nói người viết văn


Trong thời gian từ hơn mười năm nay, Tủ sách Tiếng Quê Hương của nhà văn nhà báo UyênThao phụ trách đã phát hành rất nhiếu tác phẩm giá trị của các tác giả trong và ngoài nước. Nỗ lực này nhằm góp một tiếng nói của người viết văn nêu lên thực trạng xã hội đang diễn ra cả bên trong và bên ngoài Việt Nam. Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn nhà văn Uyên Thao mặc dù ông đã hơn tuổi 80 và đang chiến đấu với căn bệnh khó trị từ nhiêu niều năm qua, về sinh hoạt được xem là khó khăn và đòi hỏi rất nhiều hy sinh này:

Mặc Lâm: Thưa ông, ông có thể cho biết các hoạt động của ông bắt đầu cho sự nghiệp văn chương chữ nghĩa vào lúc nào?

Nhà văn Uyên Thao: Tôi bắt đầu viết lách vào những năm 51-52 ở Hà Nội nhưng cái đó tôi chẳng nghĩ là nghề nghiệp mà giống như là một loại sở thích tự nhiên của tuổi trẻ lúc đó, vậy thôi.

Mặc Lâm: Sau đó khi vào Sài Gòn ông có còn tiếp tục nghiệp viết cũng như sách vở nữa hay không?

Nhà văn Uyên Thao: Khi vào Sài Gòn thì việc chính của tôi vẫn là cái việc tham gia viết lách, báo chí. Đầu tiên là khoảng năm 53, tôi tham gia tờ Đời Mới. Sau đó thì tham gia nhiều báo lắm mà giờ thì cũng không nhớ hết. Chỉ có là liên tục cho đến sau này thôi.

Mặc Lâm: Vâng, trước năm 75 thì tờ báo hay cơ sở xuất bản nào ông cộng tác trước khi ông qua Mỹ?

Tôi nghĩ mình phải cố gắng lưu lại bằng chữ nghĩa thôi chứ mình không biết làm bằng điều gì hơn vậy nữa. Tốt nhất là in sách, sưu tầm những tác phẩm.
-Nhà văn Uyên Thao

Nhà văn Uyên Thao: Thời gian cuối cùng ở Sài Gòn thì tờ báo tôi cộng tác là Sóng Thần. Tờ báo này do tôi lập ra. Tờ báo bị thu hồi giấy phép vào cuối năm 74. Từ cuối năm 74 cho đến ngày mất Sài Gòn và sau đó thi hầu như tôi không tham gia làm báo nữa.

Mặc Lâm: Thưa ông, theo như trí nhớ của chúng tôi thì tờ Sóng Thần có một thời gian rất nổi tiếng và bán rất chạy ở Sài Gòn. Bây giờ lại biết ông chính là người sáng lập ra nó nữa thì thật là thích thú. Ông có thể cho biết lý do nào mà chính quyền Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lúc đó đã lấy lại giấy phép, thưa ông?

Nhà văn Uyên Thao: Cái đó thì mình phải nhìn lại chút xíu. Vào khoảng năm 70 thì có chuyện xảy ra ở Nha Trang là chuyện của anh Hà Thúc Nhơn. Lúc đó anh ấy là bác sĩ ở quân y viện Nha Trang. Anh ấy không đồng ý với chuyện của quí vị cầm quyền cứ lợi dụng những chức vụ của mình để làm tiền này nọ nên anh ấy phản đối và tố giác những chuyện làm ăn không ra sao hết. Chuyện này dẫn đến kết quả cuối cùng: do bị dồn ép quá, anh ấy giống như nổi loạn với đám thương phế binh nằm ở trong bệnh viện rồi cuối cùng anh ấy bị giết chết. Sau khi anh ấy bị bắn chết, một người bạn của tôi là anh Phạm Văn Lương, trưởng khu giải phẫu ở Đà Nẵng, học cùng trường Quân y với anh Nhơn có vô gặp tôi và nói “bây giờ thằng Nhơn nó chết như vậy, tôi không thể để yên được, phải tìm cách để nhắc nhở về cái chết của nó”. Đấy là lý do chính khiến chúng tôi lập ra tờ Sóng Thần.

Tờ báo xác định tiếp nối công việc của Hà Thúc Nhơn đã làm. Tôi tố giác những vụ tham nhũng có thể làm nguy hại đến tình hình chung của đất nước. Cũng vì lý do đó mà tờ Sóng Thần được coi là nói lên tiếng nói chung, hợp ý với mọi người. Vì vậy lúc đó số báo in lúc đó mỗi một ngày lên đến gần 200.000 số.

Mặc Lâm: Mất tờ Sóng Thần cũng như rời bỏ những công trình đã làm trong một thời gian rất dài tại miền nam Việt Nam, khi qua Mỹ, ông có thể cho biết việc đầu tiên của ông có dính líu tới sách vở là gì không, thưa ông?

Nhà văn Uyên Thao: Khi qua Mỹ thì mình gần tới tuổi 70 rồi thì nói ngay ra lúc đó sức mình cũng không còn nữa mà mình cũng chẳng biết làm gì nữa. Có một điều tôi nghĩ là tất cả những hình ảnh mình thu nhận được trong thời gian mình sống ở trong nước cứ thúc đẩy mình hoài.

RMSNVGP-13-250.jpg

Tủ Sách Tiếng Quê Hương trong một lần giới thiệu sách hồi năm 2012. Courtesy Tiếng Quê Hương.

Điều mà làm tôi không thể quên được là cái cảnh năm 72 khi tôi đứng trên đoạn đường ở chỗ Mỹ Chánh. Nhìn thấy hình ảnh lúc đó trước mắt tôi, giữa những đám xác chết ngổn ngang có một đứa nhỏ nó vẫn nằm trong tay mẹ nó và đang ngậm vú mẹ. Hai mẹ con đã trở thành hai cái xác khô quắt lại bởi vì đó là những cái xác đã chết cách đó hàng tháng rồi. Hình ảnh ấy tôi nhớ mãi. Tôi tự hỏi tại sao một đứa trẻ chưa biết gì ở trong cuộc sống này, chỉ có thể nhay cái vú mẹ là một xác chết mà không một ai nhìn tới; Tại sao người mẹ kia lại có thể phải chết như vậy?

Tôi nghĩ đấy là biểu hiện cho thân phận của những người dân Việt Nam. Điều này không phải cho một số người nào đó mà cả dân tộc mình bị đày đọa như vậy. Trong khi đó từ Nam ra Bắc mình thấy tất cả những người nắm quyền hành trong tay đều đòi hỏi những người khác phải nhớ đến ơn của mình. Ơn của họ là cái gì? Là gieo rắc tai họa cho tất cả mọi người như vây?

Tôi nghĩ bây giờ mình phải làm sao nói được cái thực tế đó, ít nhất thì cũng nhắc nhở được một số những thực tế tệ hại mà đất nước mình, người dân mình phải trải qua trong gần một thế kỷ. Từ thập niên 30-40 cho đến bây giờ. Tôi nghĩ mình phải cố gắng lưu lại bằng chữ nghĩa thôi chứ mình không biết làm bằng điều gì hơn vậy nữa. Tốt nhất là in sách, sưu tầm những tác phẩm giống như là nhân chứng của thực tế cuộc sống đất nước mình. Đấy là lý do chính để tôi làm và coi như việc duy nhất tôi làm sau khi tôi sang đây.

Phổ biến tác phẩm trong nước


Mặc Lâm: Vâng, chắc có thể từ ý nghĩ đó nên hiện nay trong tay chúng tôi có tác phẩm viết về Nguyễn Chí Thiện: Trái Tim Hồng do tủ sách Tiếng Quê Hương của ông phụ trách vừa mới in ra. Thưa ông, bên cạnh tác phẩm của Trần Phong Vũ viết về Nguyễn Chí Thiện, theo như chúng tôi được biết, trước đây Tiếng Quê Hương cũng đã từng in rất nhiều tác phẩm ở trong nước mà cụ thể là nhà văn Tạ Duy Anh. Ông có thể nhắc đến một vài chi tiết mà đã hướng đến việc ông in ấn tác phẩm của Tạ Duy Anh không ạ?

Nhà văn Uyên Thao: Tôi nghĩ là trong số những người cầm bút ở trong nước mà có những tác phẩm mình cần phải giới thiệu với mọi người thì Tạ Duy Anh là một trong số những người đó. Tủ sách tiếng Quê Hương in hai tác phẩm của Tạ Duy Anh. Cuốn đầu tiên là cuốn Đi Tìm Nhân Vật và cuốn thứ nhì là Sinh Ra Để Chết. Nói chung tôi nghĩ cái nhìn của Tạ Duy Anh đối với cuộc sống ở Việt Nam cũng phù hợp với cái nhìn của những người trong Tủ sách Tiếng Quê Hương.

Còn cái chuyện thu hồi từ bán sách thì hầu như chả bao giờ có đủ cho số tiền mình bỏ ra để in hết. Mình nhờ vào thiện tâm, thiện chí của bạn bè.
-Nhà văn Uyên Thao

Tạ Duy Anh nhìn thấy rằng người Việt Nam từ lúc chào đời cho đến lúc nhắm mắt thì không có cuộc sống bởi vì tất cả những cuộc sống ở Việt Nam kéo dài suốt từ nửa thế kỷ trước cho đến bây giờ chỉ là cõi chết thôi do con người bị đày đọa đủ thứ. Bởi thế Tạ Duy Anh mới đặt tựa đề là Sinh Ra Để Chết chứ không phải để sống. Tôi nghĩ đó là những tác phẩm phản ảnh đúng những thân phận của con người Việt Nam mình vì vậy mà tôi in tác phẩm của anh Tạ Duy Anh.

Bên cạnh đó tôi nghĩ cũng có những tác phẩm có cái nhìn tương tự như cuốn Dạ Tiệc Quỷ của chị Võ Thị Hảo, chẳng hạn. Có những cuốn không phải là sáng tác văn học nhưng viết bằng những cách khác như những cuốn của anh Vũ Cao Quận, của anh Tô Hải. Đại khái như vậy.

Mặc Lâm: Vâng, nhà xuất bản Tiếng Quê Hương đã chọn những người rất là nổi tiếng ở trong nước hiện nay và những tác phẩm của họ có thể nói là một dấu chứng cho những nhìn nhận lịch sử hiện đại cũng như đã từng xảy ra ở trên đất nước của chúng ta. Tuy nhiên khi nhìn lại vấn đề xuất bản, thưa ông, ở hải ngoại này có hai nghề mà người ta rất sợ: thứ nhất là viết văn và thứ nhì là xuất bản vì hai nghề này không thể nuôi sống bản thân họ cũng như là gia đình, ngoại trừ một số ít rất là hiếm hoi. Khi chấp nhận cái chuyện không thể nuôi sống được chính mình thì Tiếng Quê Hương lấy nguồn nào để mà sống, thưa ông?

Nhà văn Uyên Thao: Về vấn đề thời gian của tủ sách Tiếng Quê Hương thì tôi phải nói với anh là chúng tôi chỉ mới có mặt từ năm 2001 tới bây giờ. Thời gian đó phải nói là đầy gay cấn, giống như tôi là người hành hạ bạn bè của mình thôi. Nói chung là tất cả những người bạn mà đã quen biết với nhau và tán đồng với nhau về một số công việc thì tiếp tay nhau để mà duy trì cái tủ sách để có thể tiếp tục cho đến bây giờ. Còn cái chuyện thu hồi từ bán sách thì hầu như chả bao giờ có đủ cho số tiền mình bỏ ra để in hết. Mình nhờ vào thiện tâm, thiện chí của bạn bè, những người muốn đóng góp vào công việc chung, vậy thôi.

Mặc Lâm: Xin được hỏi ông một câu cuối, hiện nay dĩ nhiên ở hải ngoại này tủ sách tiếng Quê Hương, không nhiều thì ít người ta cũng biết đến; tuy nhiên, ở trong nước sau khi Tiếng Quê Hương phát hành những tác phẩm của Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo hay là nhạc sĩ Tô Hải thì dư luận trong nước theo ông nhận thấy có hưng phấn lắm hay không? Và độc giả có biết nhiều đến tủ sách này không?

Nhà văn Uyên Thao: Nói chung thì chúng tôi cũng nhận được rất nhiều thư ở trong nước liên lạc ra, phần đông những thư đó đòi hỏi muốn có sách của Tiếng Quê Hương để đọc nhưng cũng không biết làm cách gì để mà gởi về được. Thành ra đến bây giờ phải nói thiệt với anh một điều là một số anh em quen biết ở trong đó tìm mọi cách để photo copy ra hay là làm cách nào đó để có thể chuyển cho mọi người.

Bằng cách như vậy thì cũng có thể phổ biến một số tác phẩm nhưng tất nhiên là nó không được bao nhiêu. Chẳng hạn, một anh bạn nói với tôi là cuốn sách của Tô Hải anh ấy có thể photo được 80 cuốn. Con số như vậy là lớn nhất rồi còn những cuốn khác thì nhiều khi chỉ 5 đến 10 cuốn thôi. Sau đó thì tùy, mình giao đến tay mọi người thì bằng cách nào đó họ chuyển đến cho người khác. Tất nhiên cũng rất giới hạn dù là nó cũng có thể phổ biến ở trong nước phần nào.

Mặc Lâm: Xin cám ơn nhà văn Uyên Thao về buổi nói chuyện này.

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List