QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Tuesday, November 26, 2013

Lược-sử Trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức


 

 

On Tuesday, 26 November 2013 5:22 AM, Patrick Willay <> wrote:

 

 

Lược-sử Trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức

KBCHN: Nhân ngày 19 tháng 6 2011 sắp đến, tức là ngày Quân Lực VNCH, KBCHN sẽ lần lượt đăng tải các tài lệu về các quân trường, chiến sử các Quân Binh Chủng VNCH. Quý bạn mốn giới thiệu đơn vị vui lòng email thacmac52@yahoo.com. Nếu thấy bài viết này có giá trị vui lòng click vào RATE THIS (bên trái) dưới đề bài. KBCHN sẵn sàng nhận sửa đổi các chi tiết nếu độc giả cho biết chi tiết xác thật và được kiểm chứng. Trân trọng.

Hà-Mai-Việt biên-soạn


alt

Lời nói đầu

Trong hoàn-cảnh hiện-tại, phải thành-thật mà nói, ít ai có đủ tài-liệu tham-khảo để có thể hoàn-thành một bài viết về lịch-sử của một quân-trường hay một đơn-vị trong Quân-lực VNCH một cách đầy-đủ và chính-xác.

Bởi vậy cho nên ngoài việc phỏng-vấn các cựu sinh-viên Sĩ-quan Trừ-bị (SQTB) mà tôi có dịp gặp để đối-chiếu và sưu-tầm tin-tức, tôi đã góp-nhặt được một số tài-liệu tương-đối có căn-bản, liên-quan tới những nét chính của Quân-đội Quốc-gia Việt-Nam, để chúng ta có thể hiểu rõ hơn về việc đào-tạo cán-bộ chỉ-huy mà điển-hình là việc đào-tạo sinh-viên Sĩ-quan trừ-bị, từ khóa 1 đến khóa 5, là khóa chót của giai-đoạn này.

Ngoài ra để người đọc có thể biết qua về hoàn-cảnh và sinh-hoạt của quân-trường sau khi quân-đội viễn-chinh Pháp bàn-giao lại cho quân-đội quốc-gia VN, tôi cũng ghi chép vài nét đại-cương về những khóa kế tiếp, từ khóa 6 đến khóa 3/1974, để các cựu SVSQTB có dịp bổ-khuyết hay viết-thêm cho đầy đủ hơn, hầu góp phần vào pho quân-sử QLVNCH.

Hình ảnh Quân Trường Bộ Binh Thủ Đức

Huy hiệu của Trường Bộ Binh Thủ Đức

alt

Quân Phục Đại Lễ cho Khóa 1 đến Khóa 23

alt

Quân Phục Đại Lễ cho Khóa 24 đến Khóa năm 1975

alt

Rước Quốc-Quân kỳ

alt

Quỳ xuống các Sinh Viên Sĩ Quan !

alt

Biến-cố sau Đệ Nhị Thế-chiến

Vào lúc 21 giờ đêm ngày 9-3-1945, tại Việt-Nam, đặc-sứ Nhật-Bản Matsumoto, đã thực-hiện cuộc đảo-chính loại quân Pháp khỏi Việt-Nam. Quân Pháp tuy có kháng-cự nhưng cuối cùng cũng phải đầu-hàng. Ông Decoux, Toàn-quyền Pháp tại Đông-Dương, bị bắt. Sáng hôm sau, ngày 10-3-1945, đại-sứ Yokohama đã đến điện Kiến-Trung yết-kiến vua Bảo-Đại và tuyên-bố trao-trả độc-lập cho Việt-Nam. Nhưng biến-cố này trên thực-tế chỉ là một cuộc “đổi chủ” giữa thực-dân Pháp và phát-xít Nhật mà thôi.

Hai ngày sau khi Nhật đầu-hàng (17-8-1945), tướng de Gaule đề-cử thủy-sư đô-đốc Thierry d’Argenlieu làm Cao-ủy Đông-Dương và tướng Leclerc giữ chức Tổng-tư-lệnh Quân-đội Viễn-chinh Pháp. Nhiệm-vụ của hai ông là tái-lập chủ-quyền của Pháp trên toàn lãnh-thổ Đông-Dương gồm Việt, Miên và Lào.

Với sự giúp đỡ của quân-đội Anh, ngày 11-9-1945, 300 quân-nhân Pháp được đổ-bộ xuống phi-trường Tân-Sơn-Nhứt lập đầu cầu. Sáu tháng sau, Pháp đã kiểm-soát tổng-quát được phần đất ở Nam vĩ-tuyến thứ 16. Đầu tháng 3-1946, tướng Leclerc cho quân đổ-bộ lên Hải-Phòng và chuyển quân về Hà-Nội sau khi ông Sainteny ký hiệp-định sơ-bộ với hai ông Hồ-Chí-Minh và Vũ-Hồng-Khanh.

Trong vòng 9 tháng, kể từ tháng 10-1945 đến tháng 6-1946, đoàn-quân viễn-chinh Pháp đã lấy lại ưu-thế tại Đông-Dương. Vấn-đề an-ninh và chủ-quyền của Pháp đã được tái-lập trên những vùng của dân-tộc thiểu-số. Pháp đã kiểm-soát được những địa-điểm trọng-yếu như Đà-Nẵng, Huế, Hải-Phòng, Hà-Nội, Hải-Dương, Nam-Định, Phủ Lạng-Thương, Hòn-Gay, Cẩm-Phả, Lạng-Sơn, Cảng Vallut và đảo Cô-Tô tại vịnh Hạ-Long. Nhưng tất cả các đồn-binh tại những nơi này hầu như bị cầm tù, không thể ra ngoài được.

Mối giao-hảo Việt-Pháp ngày càng rạn nứt bởi các phong-trào chống thực-dân Pháp, vụ quân Việt-Minh tấn-công đoàn xe của Pháp chạy ngang qua Bắc-Ninh để tới Phủ Lạng-Thương, nhất là sau vụ nổ súng giữa các đơn-vị Pháp và Việt tại hải-cảng Hải-Phòng vào ngày 20-10-1946, khiến Pháp đã chiếm trọn Hải-Phòng. Do đó, tình-hình trên toàn cõi Bắc-Việt mỗi ngày một trở nên căng-thẳng và cuộc chiến-tranh toàn-quốc giữa Việt-Minh và quân-đội viễn-chinh Pháp bùng nổ vào

ngày 19-12-1946.

alt

Sau khi các cuộc điều-đình với Việt-Minh tại hội-nghị Dalat vào ngày 17-4-1946 và hội-nghị Fontainebleau vào ngày 6-7-1946 bị bế-tắc, Pháp bèn quay sang giải-pháp tiếp-súc với cựu-hoàng Bảo-Đại tại Hồng-Kông. Kết-quả là Cựu-hoàng chấp-nhận thương-thuyết với Pháp. Do đó, hiệp-định Hạ-Long đã được ký vào ngày 5-6-1948 giữa Bollaert và cựu Hoàng trên tàu Duguay Trouin. Trong bản hiệp-định này, Pháp công-nhận Việt-Nam là một nước độc-lập và Pháp để Việt-Nam tự-do thực-hiện lấy sự thống-nhất của mình, nhưng ngược lại, Việt-Nam tuyên-bố gia-nhập Liên-hiệp Pháp.

Tuy-nhiên, hiệp-định Hạ-Long chỉ là bước đầu để tiến tới một thỏa-hiệp chính-thức với chính-phủ Pháp. Và mãi đến ngày 8-3-1949, hiệp-định Elysée mới được ký-kết giữa tổng-thống Pháp Vincent Auriol và cựu-hoàng Bảo-Đại. Nhờ có hiệp-định này, “Quân-đội Quốc-gia Việt-Nam” mới được chính-thức bắt đầu thành-lập.

Mặc dầu thỏa-ước Elysée ký-kết vào ngày 8-3-1949, nhưng mãi tới ngày 1-5-1950, quốc-hội Pháp mới chấp-thuận cho Việt-Nam được thành-lập quân-đội theo đề-nghị của thủ-tướng Pháp. Cũng trong ngày này, tại Việt-Nam, thủ-tướng Trần-Văn-Hữu tuyên bố thành-lập Quân-đội Quốc-gia chống Cộng gồm 60,000 người, một nửa là chính-quy và một nửa là phụ-lực quân.

Diễn-tiến đào-tạo Sĩ-quan Cán-bộ

Do sáng-kiến của Tổng-Trấn Trung-phần Phan-Văn-Giáo, hàm trung-tướng, trường Sĩ-quan Hiện-dịch đầu tiên được chính-thức thành-lập tại Huế vào ngày 1-12-1948 để rèn-luyện các cấp chỉ-huy cho quân-đội của ông. Nhưng người Pháp không đồng-ý như vậy, họ muốn trường này cũng đào-tạo sĩ-quan trung-đội-trưởng và huấn-luyện-viên cho cả quân-đội Quốc-gia Việt-Nam, cũng nhờ vậy mà sau này Quân-đội Quốc-gia có trên 100 sĩ-quan xuất-thân từ trường Sĩ-quan Huế, trong đó có trung-tướng Nguyễn-Văn-Thiệu, tổng-thống đệ-nhị Cộng-hòa và trung-tướng Đặng-Văn-Quang, cố-vấn của tổng-thống Thiệu.
Gần hai năm sau, ngày 15-9-1950, các trường Võ-bị địa-phương Nam-Định (Bắc-Việt), Huế (Trung-Việt) và Trung-Chánh (Nam-Việt) được thành-lập để đào-tạo cán-bộ cho các đơn-vị bộ-binh thuộc mỗi miền.

Khi trường Hạ-sĩ-quan ra đời tại Huế, quốc-trưởng Bảo-Đại có ý-kiến chuyển trường Sĩ-quan Huế về Đà-Lạt và cải danh trường này thành trường Võ-bị Liên-quân Đà-Lạt. Ngày 1-10-1950, trường tiếp-tục huấn-luyện khóa 3 Sĩ-quan hiện-dịch tại Đà-Lạt nhằm đào-tạo sĩ-quan trung-đội trưởng. Đây là khóa sĩ-quan tình-nguyện đầu tiên được huấn-luyện tại Đà-Lạt, thời-gian thụ-huấn là 6 tháng.

alt

Song-song với trường Võ-bị Liên-quân Đà-Lạt, trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức cũng bắt đầu hình-thành vào ngày 1-10-1950. Nhưng vì dự-án xây-cất trường ốc trên đồi Tăng-Nhơn-Phú chưa hoàn-tất nên khóa 1 Sĩ-quan trừ-bị đã được khai-giảng vào ngày 1-10-1951 tại hai địa-điểm ở Bắc và Nam-Việt, đó là Nam-Định và Thủ-Đức.

Mãi đến ngày 5-5-1951, bộ Quốc-phòng mới thật-sự được thành-lập bằng những cơ-cấu tiên-khởi đã được phác-họa và tạm sắp-xếp từ thời chính-phủ Trung-ương Lâm-thời Nguyễn-Văn-Xuân.

Vào tháng 7-1951, guồng máy chiến-tranh chuyển-động mạnh và lan-rộng khắp mọi nơi. Để đối-phó với tình-trạng khẩn-trương này, quốc-trưởng Bảo-Đại ký dụ số 12 ngày 15-7-1951 ban-hành lệnh động-viên (Service militaire obligatoire).

Việc động-viên thành-phần sĩ-quan nhắm vào tư-nhân, công tư-chức, học-sinh, sinh-viên có bằng-cấp văn-hóa từ trung-học đệ nhất-cấp hoặïc tương-đương trở lên. Trong đợt động-viên đầu tiên, vào năm 1951, có nhiều sinh-viên sĩ-quan đã đậu bằng tú-tài hay cử-nhân, đặc-biệt tại trường Sĩ-quan Nam-Định có 197 SVSQ (55.33%) trong số 356 SVSQ có bằng tú-tài trở lên, riêng SVSQ Nguyễn-Phú-Đức đã có bằng tiến-sĩ luật-khoa.

Khóa Sĩ-quan Trừ-bị đầu tiên đã được tổ-chức tại Thủ-Đức và Nam-Định vào tháng 10-1951. Chương-trình huấn-luyện Sĩ-quan trừ-bị cũng tương-tự như chương-trình đào-tạo các sĩ-quan hiện-dịch. Thời-gian huấn-luyện dài khoảng 6 tháng, không kể thời-gian thực-tập.
Vấn-đề động-viên sĩ-quan lúc đầu cũng gặp một vài trở-ngại như tại Nam-Định có một số khóa-sinh, sau khi hết phép vào dịp Tết Nguyên-đán, đã trở về đơn-vị trễ hay bỏ học, không trở lại trường. Vì vậy cho nên có một số SVSQ trong trường-hợp nói trên đã bị bắt giữ, nhưng sau lại được thả ra và đưa vào Thủ-Đức tiếp-tục học khóa 1 hay được phép thi vào trường Võ-bị Đà-Lạt. Tại Thủ-Đức, trong thời-gian khai-giảng khóa 2, có một số SVSQ tuyệt-thực nhưng đã được ban giám-đốc giải-quyết êm đẹp.

Để có đủ quân-số khẩn thành lập các đơn-vị khinh-quân thay-thế quân Pháp rút khỏi các đồn-bót, lệnh tổng-động-viên đã được ban-hành vào ngày 1-4-1953. Theo kế-hoạch dự-trù thì việc động-viên được chia làm 4 đợt, mỗi đợt 10,000 người trong tháng, kể từ tháng 7-1953. Các thành-phần trước đây đã phục-vụ trong quân-ngũ, nay cũng bị tái-ngũ. Ngoài ra, 60,000 thanh-niên Việt-Nam cũng được lệnh nhập-ngũ để thụ-huấn hai tháng về căn-bản quân-sự, sau khi mãn-khóa, họ được trở về với gia-đình để chờ lệnh. Sự thực thì vấn-đề động-viên binh-sĩ lúc bấy giờ chỉ là một nhu-cầu chính-trị. Tính đến cuối năm 1953, quân-đội quốc-gia gồm có 198,000 người, trong đó 151,000 (76.27%) là chính-quy và 47,000 (23.73%) là phụ-lực-quân.

alt

Nhằm tăng-cường cho biện-pháp động-viên, ngày 12-4-1954, thủ-tướng Bửu-Lộc đã quyết-định động-viên tập-thể mọi thanh-niên sinh từ 1-1-1929 đến 31-12-1933. Hầu hết số người trong hạng tuổi này, khoảng 1,250 người đủ điều-kiện học-vấn, đã trình-diện các bộ tư-lệnh quân-khu để theo học khóa 5 Sĩ-quan Trừ-bị khai-giảng vào ngày 15-6-1954 tại Trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức. Vì trường Thủ-Đức không đủ chỗ nên số sinh-viên thặng-dư, khoảng 250 người, được gửi lên học tại Đà-Lạt, nhưng vẫn giữ nguyên tình-trạng trừ-bị. Đến ngày mãn-khóa, các sĩ-quan tốt-nghiệp ở Đà-Lạt lại trở về Thủ-Đức để dự lễ tuyên-thệ cùng với các bạn đồng-khóa tại Sài-Gòn.

Ngày 12-8-1954, dụ số 12 ký ngày 15-7-1951 và các nghị-định liên-quan đến dụ trên đều tạm đình-chỉ cho đến khi có lệnh mới. Lệnh động-viên được tạm ngưng nhưng các quân-nhân trừ-bị vẫn được lưu-giữ.

Trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức


Theo kế-hoạch huấn-luyện của bộ Quốc-phòng thì trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức (Ecole d’Officiers de Reserve) được thành-lập để đào-tạo sĩ-quan trừ-bị (SQTB) hầu kịp thời cung-ứng cấp chỉ-huy cho quân-đội Quốc-gia trong thời-gian có chiến-tranh. Sinh-viên Sĩ-quan là những người đến hạn tuổi luật-định, hội đủ điều-kiện sức-khỏe và có học-vấn, từ bằng trung-học trở lên, được động-viên tập-thể. Sau khi tốt-nghiệp, tân sĩ-quan có đủ khả-năng để chỉ-huy một trung-đội bộ-binh hay một đơn-vị tương-đương thuộc binh-chủng hay binh-sở chuyên-môn mà họ đã được chọn lựa.

Trong khoảng thời-gian từ tháng 10 năm 1951 đến tháng 1 năm 1955, dưới sự bảo-trợ của Quân-đội Viễn-chinh Pháp tại Đông-Dương, sau hơn 3 năm, quân-đội Quốc-gia Việt-Nam đã đào-tạo được 6 khoá Sĩ-quan Trừ-bị: 5 khóa chính và 1 khóa phụ. Khi ra trường các tân sĩ-quan được mang cấp-bậc thiếu-úy trừ-bị (TB).

Tổng-số sĩ-quan tốt-nghiệp, trong giai-đoạn nói trên, khoảng hơn 5,000 người. Các tân thiếu-úy ngay sau khi ra trường phần lớn được lần-lượt bổ-nhiệm về các đơn-vị tác chiến để thay-thế sĩ-quan người Pháp đang chỉ-huy những đơn-vị được thành-lập sau khi Pháp trở lại Việt-Nam hay bổ-xung cho các đơn-vị tân-lập của quân-đội Quốc-gia Việt-Nam. Những sĩ-quan này là cán-bộ nòng-cốt của Quân-đội Quốc-gia VN thời bấy giờ, cũng như của quân-lực Việt-Nam Cộng-Hòa sau này. Điển-hình là một số lớn sĩ-quan cấp-tướng đảm-nhiệm vai-trò lãnh-đạo hay chỉ-huy các đại đơn-vị trong thời đệ nhất và đệ-nhị Cộng-Hòa đều xuất-thân từ các khóa Sĩ-quan trừ-bị trong đợt đầu. Theo Niên-giám Sĩ-quan Chủ-lực-quân VNCH, tính đến ngày 31-1-1971, tổng-số tướng-lãnh của quân-lực là 63 người, trong đó có: 14 vị xuất-thân trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức và Nam-Định, thuộc các khóa 1, 2, 3 và 4, đạt tỷ-lệ 22%. 18 vị xuất-thân trường Võ-bị Quốc-gia, đạt tỷ-lệ 28%. Số 50% còn lại xuất-thân từ các quân-trường khác như trường Sĩ-quan Huế (10), Sĩ-quan Tông (3), Sĩ-quan Nước Ngọt (2), Võ-bị Vũng Tàu (2), Võ-bị Địa-phương Phú-Bài (1), Sĩ-quan Hải-quân (3), vv . . .

alt

Thời-gian huấn-luyện SQTB

Thời-gian huấn-luyện tại quân trrường cho mỗi khóa-học trung-bình từø 6 đến 9 tháng tùy theo tình-hình chiến-sự. Chương-trình huấn-luyện được chia làm hai giai-đoạn như sau:
Giai-đoạn 1: huấn-luyện phần căn-bản quân-sự, bộ-binh thuần-túy, từ cá-nhân đến cấp tiểu-đội. Thời-gian là 8 tuần-lễ dành cho các khóa dài 6 tháng, và 9 hay 10 tuần cho các khóa dài 9 tháng.

Giai-đoạn 2: huấn-luyện về Bộ-binh đến cấp trung-đội dành cho sinh-viên sĩ-quan học về Bộ-binh hay các ngành chuyên-môn dành cho SVSQ được tuyển-chọn vào các binh-chủng khác như Thiết-giáp, Pháo-binh, Công-binh, Truyền-tin vv. . .

Trước năm 1955, sau khi tốt-nghiệp tại Thủ-Đức, tân sĩ-quan được gửi đi học bổ-túc tại các quân-trường chuyên-môn của Liên-hiệp Pháp. Riêng các tân sĩ-quan thuần-túy bộ-binh sau khi tốt-nghiệp được phân-phối thẳng về những đơn-vị đang thiếu hụt quân-số.
Dưới thời đệ-nhị Cộng-Hòa, trước hay sau ngày mãn-khoá, các tân sĩ-quan còn được thực-tập trong vòng một hoặc hai tháng tại vùng lân-cận thủ-đô Sài-Gòn hay các vùng sôi đậu. Điển-hình là Khoá 23 SQTB Thủ-Đức thực-tập bình-định với khoá Biệt-Chính, cũng như khoá 1/72 Sĩ-quan Nha-Trang, trước ngày mãn-khóa, cũng công-tác tại Qui-Nhơn gần 2 tháng.

Sau cuộc tổng công-kích của Cộng-Sản Bắc-Việt vào dịp Tết Mậu-Thân, năm 1968, sắc-lệnh tổng-động-viên ra đời, thanh-niên tuổi từ 18 đến 43, có bằng tú-tài 1 trở lên đều phải nhập-ngũ. Để có đủ cán-bộ chỉ-huy các đơn-vị tân-lập theo kế-hoạch bành-trướng quân-lực và nhất là để đáp-ứng nhu-cầu đòi hỏi của chiến-trường, kể từ khóa 1/68, chương-trình huấn luyện, địa-điểm và thời-gian học tập cũng được sửa đổi cho phù-hợp với tình-hình.

alt

Theo thông-lệ, trường Bộ-binh Thủ-Đức hàng năm đào tạo trung-bình từ 2 đến 4 khóa sĩ-quan trừ-bị tùy theo nhu-cầu. Nhưng vào đầu năm 1968, sau biến-cố Tết Mậu-Thân, vì nhu cầu quốc-phòng vượt quá khả-năng huấn-luyện của trường Bộï-binh Thủ-Đức nên trường Hạ-sĩ-quan Đồng-Đế, Nha-Trang đã phải gánh vác thêm việc huấn-luyện Sĩ-quan trừ-bị. Mở đầu cho giai-đoạn này trường Đồng-Đế tiếp-nhận khóa 1/68 và 2/68. Đây là hai khóa sĩ-quan trừ-bị đầu tiên được huấn-luyện tại Nha-Trang. Thời-gian huấn-luyện được rút xuống còn 6 tháng thay vì 9 tháng.

Kể từ tháng 1-1968 đến tháng 12 năm 1972, tất cả sĩ-quan trừ-bị được huấn-luyện tại trường Bộ-binh Thủ-Đức hay trường Hạ-sĩ-quan Đồng-Đế, Nha-Trang. Sau khi trình-diện trung-tâm tuyển-mộ và nhập-ngũ địa-phương, các SVSQ TB được đưa thẳng đến trung-tâm huấn-luyện Quang-Trung để theo học khóa Dự-bị Sĩ-quan, thời-gian thụ-huấn là 9 tuần-lễ. Khóa-sinh tốt-nghiệp được phân-phối về một trong hai trường Thủ-Đức hay Nha-Trang để tiếp-tục học giai-đoạn 2 trong vòng 3 tháng rưỡi.

Các Khóa SQTB do quân-đội Pháp đảm-trách

Khóa 1 Lê-Văn-Duyệt (Thủ-Đức) và Lê-Lợi (Nam-Định):
Để đáp-ứng nhu-cầu cán-bộ chỉ-huy các đơn-vị tân-lập cho kế-hoạch bình-định lãnh-thổ và để thay thế các sĩ-quan Pháp hiện đang chỉ-huy đơn-vị Việt-Nam, trường Sĩ-quan Trừ-bị (SQTB) được thành-lập vào khoảng đầu năm 1951 và khởi-sự huấn-luyện từ tháng 10-1951.

Trong giai-đoạn đầu, vì lý-do cơ-sở chưa sẵn-sàng nên khóa 1 SQTB được tổ-chức huấn-luyện tại hai địa-điểm khác nhau. Trường SQTB Thủ-Đức huấn-luyện SVSQ trình-diện nhập-ngũ thuộc các tỉnh từ Huế trở vào Nam. Trường SQTB Nam-Định huấn-luyện SVSQ thuộc các tỉnh từ Quảng-Trị ra Bắc. Tại Thủ-Đức, trường tạm dựng những dẫy nhà mái lá, vách phên tre làm chỗ cho sinh-viên sĩ-quan tạm-trú. Tại Nam-Định, trường Sĩ-quan Trừ-bị xử-dụng một số phòng-ốc trong Camp Carreau làm nơi huấn-luyện. Camp Carreau là một căn-cứ quân-sự của bộ chỉ-huy Quân-đội Viễn-chinh Pháp tại miền Nam, nằm trong khuôn-viên nhà máy sợi Nam-Định. Nơi này sau được bàn-giao lại cho trường Võ-bị Nam-Định vào khoảng cuối năm 1952.

alt

Khóa 1 SQTB khai-giảng vào ngày 16-10-1951. Tại Nam-Định, sĩ-số là 356 SVSQ, mãn-khóa vào ngày 1-6-1952, được đặt tên là Khóa Lê-Lợi. Tại Thủ-Đức, sĩ-số khoảng 250 SVSQ, mãn-khóa vào ngày 31-5-1952, được đặt tên là khóa Lê-Văn-Duyệt.
Vào tháng 1-1952, khi khóa học bước sang giai-đoạn 2, trường SQTB Thủ-Đức hình-thành một đại-đội SVSQ Kỹ-thuật gồm các trung-đội Công-binh, Truyền-tin và Pháo-binh. Các SVSQ thuộc đại-đội này là những người trong số hơn 600 SVSQ Nam-Định và Thủ-Đức được tuyển chọn trên căn-bản học-lực.

Tổng-cộng cả hai khóa Lê-Lợi và Lê-Văn-Duyệt có 580 tân sĩ-quan gồm 495 thiếu-úy và 85 chuẩn-úy. Thủ-khoa khóa Lê-Lợi là thiếu-úy Nguyễn-Duy-Hinh và thủ-khoa khóa Lê-Văn-Duyệt là thiếu-úy Phạm-Kim-Quy. Cấp-hiệu thiếu-úy, dập theo cấp-bậc của quân-đội Pháp, là một gạch vàng hay trắng bằng kim tuyến, nằm trên hai cầu vai. “Lon” mầu trắng dành cho các sĩ-quan thuộc binh-chủng Thiết-giáp, Quân-cụ và Thông-vận-binh. Cấp-hiệu mầu vàng dành cho bộ-binh và các binh chủng khác.

Tính đến đầu năm 1971, các sĩ-quan tốt-nghiệp Khóa 1 đã nắm giữ những chức-vụ quan-trọng gồm có các tướng Lê-Nguyên-Khang, Nguyễn-Bảo-Trị, Nguyễn-Cao-Kỳ, Nguyễn-Chấn, Nguyễn-Duy-Hinh tốt-nghiệp tại Nam-Định và các tướng Nguyễn-Đức-Thắng, Đồng-Văn-Khuyên, Nguyễn-Ngọc-Loan, Trần-Văn-Minh, Võ-Xuân-Lành, Phan-Đình-Soạn, tốt-nghiệp tại Thủ-Đức. Đến cuối năm 1972 và sau này, quân-lực lại có thêm các chuẩn-tướng Phạm-hữu-Nhơn, Đặng-Đình-Linh, Đặng-Cao-Thăng, Nguyễn-Văn-Lượng, Nguyễn-Hữu-Tần, Nguyễn-Đức-Khánh và Vũ-Đức-Nhuận từ trường Nam-Định và các chuẩn-tướng Nguyễn-Khắc-Bình, Phạm-Ngọc-Sang, Phan-Phụng-Tiên và Huỳnh-Bá-Tính từ trường Thủ-Đức.

Trong suốt cuộc chiến, quân-lực VNCH có 23 tướng-lãnh xuất-thân từ khóa 1 Thủ-Đức và Nam-Định, nhưng đặc-biệt nhất là thiếu-tướng Nguyễn-Cao-Kỳ, người đã giữ những chức-vụ quan-trọng như Tư-lệnh Không-quân VN, Chủ-tịch ủy-ban Hành-pháp Trung-ương và Phó Tổng-thống VNCH.

Khóa 2 Phụng-Sự khai-giảng vào ngày 1-10-1952 và mãn-khóa vào ngày 1-4-1953. Thời-gian huấn-luyện là 6 tháng. Khóa này có khoảng 300 sinh-viên sĩ-quan, tổ-chức thành 14 trung-đội thuộc 5 đại-đội. Lễ mãn-khóa được tổ-chức tại Sài-gòn, thủ-khoa khóa 2 Phụng-sự là thiếu-úy Nguyễn-Thành-Huê.

Kể từ khóa 1 SQTB, tại Thủ-Đức ngoài việc đào-tạo các sĩ-quan Bộ-binh, còn có các lớp giảng dạy về ngành chuyên-môn như Pháo-binh, Công-binh, Truyền-tin. Kể từ khóa 2 trở về sau lại có thêm các lớp Thiết-giáp, Sĩ-quan Tình-báo và Quân-cụ.

Đặc-biệt chuẩn-tướng Nguyễn-Văn-Thiện, tư-lệnh Biệt-khu Quảng-Đà, nguyên chỉ-huy-trưởng Thiết-giáp-binh thời đệ-nhất cộng-hòa, là vị tướng độc-nhất của khóa 2 Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức được vinh-thăng lên hàng tướng-lãnh, nhưng ông được ghi nhận mất-tích trong chuyến bay quân-sự từ Đà-Nẵng vào Sài-Gòn để tổng-thống Nguyễn-Văn-Thiệu đích-thân gắn lon chuẩn-tướng cho ông tại dinh Độc-Lập.

Khóa 3 Đống-Đa khai-giảng vào tháng 5 và mãn-khóa vào tháng 12-1953. Tổng số sinh-viên sĩ-quan thụ-huấn là 700 người. Khóa 3 SQTB có hai sĩ-quan được vinh thăng lên hàng tướng-lãnh, đó là các tướng Nguyễn-Khoa Nam và Huỳnh-Văn-Lạc. Trong chức-vụ tư-lệnh Quân-đoàn 4 / Quân-khu IV, vào sáng ngày 1-5-1975, thiếu-tướng Nguyễn-Khoa-Nam đã tuẫn-tiết, không chịu đầu hàng, sau khi nhận thấy tình-thế đi đến chỗ tuyệt-vọng.

alt

Khóa 4 Cương-Quyết gồm 1,400 sinh-viên sĩ-quan, khai-giảng tại Thủ-Đức vào tháng 11-1953 và mãn khóa vào ngày 2-6-1954. Thời-gian huấn-luyện là 6 tháng. Đặc-biệt trong khóa này, sang giai-đoạn 2, ngoài việc huấn-luyện các ngành chuyên-môn như Quân-Cụ, Truyền-Tin, Pháo-Binh, Thiết-giáp, Công-Binh, Thông-Vận-Binh, nhà trường còn huấn-luyện thêm một trung-đội Nhảy Dù. Khóa 4 là khóa đã đào-tạo nhiều tướng trẻ nổi-danh trong đầu thập-niên 70 như các tướng Ngô-Quang-Trưởng, Bùi-Thế-Lân, Lê-Quang-Lưỡng, Nguyễn-Văn-Điềm và Hồ-Trung-Hậu.

Tới cuối năm 1953, việc đào-tạo sĩ-quan cán-bộ cho Quân-đội Quốc-gia Việt-Nam có phần cấp-bách nên trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức đang với khả-năng thâu-nhâïn trung-bình là 500 khóa-sinh cho mỗi khóa, đã phải tăng lên đến 1,000 người. Mặc dầu sĩ-số thụ-huấn đã tăng lên gấp đôi nhưng trên thực-tế vẫn chưa thỏa-mãn được nhu-cầu động-viên tập-thể. Để tránh tình-trạng ứ-đọng, gây trở-ngại cho kế-hoạch động-viên, kể từ khóa 4 SQTB, bộ Tổng-tham-mưu quyết-định gửi thặng-số thanh-niên đến tuổi động-viên lên trường Võ-bị Đà-Lạt thụ-huấn nhưng được áp-dụng chương-trình huấn-luyện dành cho sĩ-quan trừ-bị. Sau khi tốt-nghiệp các tân sĩ-quan vẫn theo quy-chế của sĩ-quan trừ-bị. Sau này, sĩ-quan trừ-bị muốn sang hiện-dịch, các đương-sự phải nạp đơn xin, chuyển theo hệ-thống quân-giai, để bộ Tổng-tham-mưu quyết-định.

Khóa 4 phụ Cương-quyết có 850 SVSQ, chia làm hai toán, khai-giảng vào ngày 25-3-1954. Trường Thủ-Đức phụ-trách huấn-luyện 500 sinh-viên, số 350 sinh-viên còn lại được chuyển lên Đà-Lạt thụ-huấn nhưng đến ngày mãn-khóa, 1-10-1954, người ta ghi nhận chỉ còn lại 160 thiếu-úy và 99 chuẩn-úy tốt-nghiệp, gần 100 sinh-viên khác không hội đủ điều-kiện nên đã bị loại sau kỳ khảo-hạch giai-đoạn 1. Thủ-khoa khóa 4 phụ tại Đà-Lạt là thiếu-úy Ngô-Văn-Lợi. Thời-gian huấn-luyện dành cho khóa 4 phụ là 6 tháng nhưng khóa 4 phụ tại Thủ-Đức mãn-khóa sau khóa 4 phụ Đà-Lạt đúng một tuần.

Vào những năm cuối cùng của cuộc-chiến, 1974-1975, vì nhu-cầu chỉ-huy đại đơn-vị, khóa 4 phụ có hai đại-tá được thăng lên cấp chuẩn-tướng đó là các tướng Trần-Quốc-Lịch, gốc Nhảy dù và Phạm-Duy-Tất, gốc Lực Lượng Đặc Biệt, nguyên chỉ-huy-trưởng Biệt-động-quân Vùng 2 Chiến-thuật.

Khóa 5 Vì Dân: Trước khi Điện-Biên-Phủ thất-thủ, hơn một ngàn thanh-niên trên toàn quốc được động-viên theo học khóa 5 SQTB. Khóa này khai-giảng ngày 15-6-1954 và mãn khóa vào ngày 30-1-1955. Vì lý-do khả-năng tiếp-nhạân hạn-hẹp nên trường Thủ-Đức chỉ giữ lại 1,000 người trình-diện theo hạn định, lập thành 8 đại-đội gồm: đại-đội 1 và 2 Bộ-binh, đại-đội 3 Vũ-khí nặng, đại-đội 4 Công-binh, đại-đội 5 Pháo-binh, đại-đội 6 Thông-vận-binh, đại-đội 7 Thiết-giáp (3 trung-đội) và Quân-cụ (1 trung-đội), đại-đội 8 Quân-nhu. Thặng-số còn lại khoảng 265 người, lập thành 2 Đại-đội BB, được chuyển lên trường Võ-bị Đà-Lạt để thụ-huấn. Các tân sĩ-quan thụ-huấn tại Đà-Lạt, cũng tương-tự như trường hợp của khóa 4, sau khi tốt-nghiệp, vẫn giữ quy-chế của sĩ-quan trừ-bị. Lễ mãn-khóa được tổ-chức tại đường Trần-Hưng-Đạo, Sài-Gòn vào đầu tháng 2 năm 1955 cho các tân sĩ-quan thụ-huấn tại Thủ-Đức và Đà-Lạt. Thủ-tướng Ngô-Đình-Diệm chủ-tọa và long-trọng đặt tên cho khóa này là khóa Vì Dân.

alt

Cũng như khóa 2 Phụng-Sự, khóa 5 Vì-Dân chỉ có một trong số không quá mười đại-tá thuộc khóa 5 Vì Dân được vinh-thăng lên hàng tướng-lãnh tính đến tháng 3-1972, đó là chuẩn-tướng Lê-Văn-Hưng, tư-lệnh sư-đoàn 5 Bộ-binh, chức-vụ sau cùng của ông là tư-lệnh-phó Quân-đoàn 4 / Quân-khu IV. Sau khi đại-tướng Dương-Văn-Minh ra lệnh đầu hàng vào lúc 10 giờ sáng ngày 30-4-1975, tướng Hưng là vị tướng đầu tiên tại Vùng 4 tuẫn-tiết vào buổi tối cùng ngày, chứ không chịu để địch-quân bắt sống.

Tính đến ngày 30-4-1975, sau 21 năm chiến-đấu chống Cộng-Sản Bắc-Việt, SVSQ Lê-Văn-Hưng là người độc-nhất, trong số 1,265 sinh-viên sĩ-quan trừ-bị nhập-ngũ từ tháng 5-1954, được thăng cấp chuẩn-tướng. Từ khóa 5 trở về sau, người ta chưa thấy một sĩ-quan trừ-bị nào trong Quân-lực VNCH được thăng lên hàng tướng-lãnh. Do đó người ta có nhận-định rằng việc thăng lên cấp tướng thường không căn-cứ vào khả-năng quân-sự, nhu-cầu chỉ-huy, hay qui-chế sĩ-quan cao-cấp như thường được áp-dụng trong quân-đội các nước tân-tiến mà chính là bởi quyết-định của cá-nhân vị lãnh-đạo quốc-gia và bởi ảnh-hưởng chính-trị. Do đó quân-đội VNCH đã được đặt dưới quyền chỉ-huy của nhiều tướng-lãnh hèn-nhát và thiếu tài-đức.

alt

Liên-trường Võ-khoa Thủ-Đức

Sau khi hoàn-tất việc huấn-luyện khoá 5 SQTB, trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức tạm ngưng đào-tạo Sĩ-quan Trừ-bị trong một thời-gian khoảng 2 năm. Vào cuối năm 1955, các lớp huấn-luyện chuyên-môn như Quân-Cụ, Quân-Chánh, Thông-vận-binh, Thiết-giáp-binh, Pháo-binh, Công-binh, Truyền-tin . . . lần-lượt trở thành các trường chuyên-môn, phụ-trách huấn-luyện cán-bộ các cấp, từ hàng binh-sĩ cho đến sĩ-quan, thuộc binh-sở hay binh-chủng. Nhưng các trường hay lớp huấn-luyện chuyên-môn này vẫn được đặt dưới quyền kiểm-soát của bộ chỉ-huy trường Sĩ-quan Trừ-bị. Do đó, vào đầu năm 1957 trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức được cải-danh thành Liên-trường Võ-khoa Thủ-Đức gồm các quân-trường nói trên. Riêng hai trường Pháo-binh và Công-binh tuy thống-thuộc Liên-trường nhưng trú-đóng tại Bình-Dương.

Kể từ tháng 2 năm 1957, các quân-trường thuộc Liên-trường VKTĐ bắt đầu hoạt-động theo phương-thức huấn-luyện của Hoa-Kỳ. Các cơ-sở và thao-trường cũng được tân-trang hay xây cất thêm cho qui-mô và rộng-rãi hơn.

Các Khóa SQTB do Quân-đội Quốc-gia đảm-trách

Khoá 6: Mãi đến tháng 2–1957, Liên-trường Võ-khoa Thủ-Đức mới tiếp-tục đào-tạo SQTB, đây là khóa sĩ-quan trừ-bị đầu tiên kể từ ngày nước Việt-Nam bị chia cắt làm hai miền Nam, Bắc tại vĩ-tuyến thứ 17 bởi hiệp-định Genève, do Pháp và Việt-Minh cùng thỏa-thuận ký-kết vào ngày 21 tháng 7 năm 1954. Đại-úy Nguyễn-Viết-Thanh, sau này là thiếu-tướng tư-lệnh Quân-đoàn IV, được chỉ-định làm giám-đốc “Trường Sĩ-quan Trừ-bị” này. Tổng-số sinh-viên sĩ-quan khóa 6 gồm khoảng 600 người kể cả 200 khóa-sinh thuộc Bảo-An-đoàn. Đặc biệt khóa này được huấn-luyện trong thời-gian 11 tháng để các tân sĩ-quan có đủ khả-năng chỉ-huy một đơn-vị cao hơn cấp trung-đội khi cần. Kể từ khóa 6 SQTB, sinh-viên sĩ-quan sau khi tốt-nghiệp được mang cấp bậc chuẩn-úy thay vì thiếu-úy như 5 khóa trước áp-dụng quy-chế của quân-đội Pháp. Chuẩn-úy Phạm-Văn-Vĩnh đậu thủ-khoa khóa 6.

Sau khi khóa 6 ra trường, Khóa 7 được tiếp-tục khai-giảng vào tháng 3-1958. Mỗi năm trường Bộ-binh đào-tạo trung-bình từ 2 đến 4 khóa, đánh số theo thứ-tự từ khóa 7 cho đến Khóa 27. Sau đó, kể từ đầu năm 1968, các khóa kế tiếp được thay đổi danh-xưng bằng cách dùng số thứ-tự kèm theo niên-hiệu. Ví dụ khóa 1/68 thay vì khóa thứ 28.

Kể từ khóa 7 đến khóa 3/74, là khóa cuối cùng, chúng tôi chưa sưu-tầm được đầy-đủ tài-liệu nói về danh-xưng, sĩ-số, thời-gian và địa-điểm huấn-luyện, ngày khai-giảng và mãn-khóa, tên họ thủ-khoa. Vậy nên chúng tôi xin để các hội hay tổng-hội cựu SVSQTB sưu-tầm, bổ-khuyết, đúc-kết và phổ-biến sau. Trường-hợp quý-vị muốn chúng tôi điền-khuyết trong bài, xin gửi tài-liệu bổ-túc về: HMV/SVSQTB, 10210 Kent Towne Ln, SugarLand, TX 77478.

Khoá 7:Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm HL, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khoá 8: 1960, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, thủ-khoa Bùi-Đức-Lạc?

Khoá 9:Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm HL, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khoá 10: Từ khóa 10, các khóa-sinh có bằng THDNC phải qua một kỳ thi-tuyển. Sĩ-số khoảng trên 400 người kể cả 1 đại-đội BA trên 100 người. Hùynh-Văn-Bé, thủ-khoa khóa Thành-Tín. Thời-gian, địa-điểm HL, ngày khai-giảng, mãn-khóa không rõ?

Khoá 11: Sĩ-số là 800 người kể cả 200 Bảo-An, đa-số khóa-sinh BA là Hạ-sĩ-quan thâm-niên. Khai-giảng ngày 3-1-1961, mãn-khóa ngày 22-12-1961. Thời-gian huấn-luyện là 11 tháng. Tên khóa: Đồng-tiến, thủ-khoa: Trần-Văn-An. Hầu hết BA gia-nhập lực-lượng đặc-biệt.

Khoá 12: Sĩ-số là 2,000 người, kể cả hơn 300 Bảo-An (8 đại-đội x 4 trung-đội) 50% phải qua một kỳ-thi tuyển. Khai-giảng vào tháng 9-1961, mãn-khóa ngày 1-8-1962. Thời-gian huấn-luyện là 11 tháng. Thủ-khoa là giáo-sư Nguyễn-Ngọc-Linh. Đại-tá Võ-Ân, trung-đoàn-trưởng trung-đoàn 53 BB, trấn-giữ phi-trường Phụng-Dực, tháng 3-1975, là cựu SV khóa 12 Thủ-Đức.

alt

Trường Bộ-binh Thủ-Đức.

Vào tháng 10 năm 1961, tất cả các quân trường chuyên-môn như Quân-Cụ, Quân-Chính, Truyền-Tin, Quân-Vận, Công-Binh, Pháo-Binh vv. . . được tách rời khỏi Liên-trường Võ-khoa Thủ-Đức và trực-thuộc các binh-sở và binh-chủng liên-hệ. Vì vậy mà Liên-trường Võ-khoa không còn hiện-diện, đồng-thời “Trường Sĩ-quan Trừ-bị” cũng được cải-danh thành trường Bộ-Binh. Đến năm1962, tại căn-cứ huấn-luyện Thủ-Đức chỉ còn lại trường Bộ-Binh, trường Thiết-giáp và trường Vũõ-thuật và Thể-dục Quân-sự. Đặc-biệt trường Bộ-binh ngoài việc đảm-nhiệm các khóa Sĩ-quan Trừ-bị trường còn phụ-trách huấn-luyện các lớp Đại-đội-trưởng.

Tóm lại, trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức trên đồi Tăng-Nhơn-Phú hình-thành từ năm 1950, đến năm 1957 trường này được biến cải và bành trướng thành Liên-trường Võ-khoa Thủ-Đức. Cuối năm 1961 trường lại thâu gọn thành trường Bộ-binh Thủ-Đức.

Khoá 13: Khai-giảng vào tháng 1-1962, mãn-khóa vào tháng 11-1962. Phải có bằng tú-tài 1 trở lên. Các khóa-sinh BA kể từ khóa này cũng phải qua nột kỳ thi tuyển. Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm HL, tên họ thủ-khoa không rõ?

Khoá 14: Khai-giảng vào tháng 4-1962, mãn-khóa vào tháng 1-1963. BA có một quy-chế riêng. Chuẩn-úy Trần-Sách-Đắc đậu thủ-khoa khóa 14. Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm HL, chưa rõ ?

Khoá 15: Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khoá 16: 1963. Sau cách-mạng 1-11-1963, BA đổi thành Địa-phương-quân. Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm HL, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa không rõ?

Khoá 17: Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khoá 18: Khai-giảng vào tháng 6-1964. Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm HL, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa không rõ?

Khoá 19: Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khoá 20: Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khoá 20 Phụ: Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên thủ-khoa?

Khoá 21: Khai-giảng tháng 10-1965, mãn-khóa tháng 10-1966. Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm HL, tên họ thủ-khoa không rõ?

Khoá 22: Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khoá 23: khai-giảng vào tháng 9-1966, mãn khoá vào tháng 6-1967. Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm HL, tên họ thủ-khoa không rõ?

Khoá 24: khai-giảng vào đầu năm 1967, mãn-khóa vào tháng 9-1967. Thời-gian huấn-luyện là 9 tháng. SVSQ đa số là giáo-chức, chuyên-viên kỹ-thuật. Tên khóa, sĩ-số, địa-điểm HL, tên họ thủ-khoa không rõ?

Khoá 25: Sĩ-số khoảng 2,000 người, 10 đại-đội gồm 5 trung đội 40 SV, cũng như các khóa 24 và 26, đa-số là giáo-chức bị động-viên, khai-giảng ngày 12-4-1967, thời-gian thụ-huấn khoảng 9 tháng rưỡi. TT Thiệu chủ-tọa lễ mãn-khóa ngày 5-1-1968, trước Tết Mậu-Thân. Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm HL, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa không rõ?

Khoá 26 khai-giảng vào tháng 6? 9-1967, mãn khoá vào ngày 8-6-1968. Sĩ-số trên 2,000 người. Tên khóa, thời-gian, địa-điểm, tên họ thủ-khoa không rõ?

Khoá 27 khai-giảng vào ngày 26-12-1967 và mãn-khoá vào ngày 1-8-1968. Thời-gian 7 tháng. Sĩ-số khoảng hơn 1,000 người. Khóa 27 trưởng-thành trong khói lửa, sau khi trải qua biến-cố Tết Mậu-Thân. Khóa 27 là khóa cuối cùng gọi tên khóa bằng số. Tên khóa, địa-điểm, tên họ thủ-khoa Châu Minh Ba (Trưởng ty Công Chánh Long Khánh – Chi tiết Thủ Khoa do KBCHN cung cấp)

Các Khóa SQTB lấy tên theo niên-hiệu

Kể từ năm 1968, danh hiệu của các khóa Sĩ-quan Trừ-bị được đánh số thứ-tự kèm niên-hiệu.
Năm 1968 có 8 khóa, sinh-viên khóa 1 và 2/68 dựng trên đỉnh núi một tượng bằng ciment cao khoảng 30 feet, đứng nhìn xuống thao-trường, họ đặt tên cho tượng này là anh Cù-Lần.

Khoá 1/68 tại Nha-Trang, tên khóa, sĩ-số, thời-gian, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 2/68 tại Nha-Trang, tên khóa, sĩ-số, thời-gian, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 3/68 tại Thủ-Đức, tên khóa, sĩ-số, thời-gian, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 4/68 tại Thủ-Đức, tên khóa, sĩ-số, thời-gian, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 5/68 tại Thủ-Đức có 8 đai-đội, sĩ-số khoảng 1,500 người Mãn-khóa tại Quang-Trung ngày 28-7-1968, giai-đoạn 2 tại Thủ-Đức từ 8-10-1968 đến 25-1-1969. Thủ-khoa là chuẩn-úy Nguyễn-Đình-Mô. Tên khóa ?

Khóa 6/68 Địa-điểm, tên khóa, sĩ-số, thời-gian, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 7/68 tại Thủ-Đức, tên khóa, sĩ-số, thời-gian, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 8/68 tại Thủ-Đức, tên khóa, sĩ-số, thời-gian, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 9/68 tại Thủ-Đức, tên khóa, sĩ-số, thời-gian, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?
Năm 1969 có 6 khoá:

Khóa 1/69 tại Thủ-Đức, tên khóa, sĩ-số, thời-gian, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 2/69 tại Nha-Trang, tên khóa, sĩ-số, thời-gian, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ
thủ-khoa?

Khóa 3/69 tại Thủ-Đức gồm 5 đại-đội, mỗi đại-đội có 200 người, sĩ-số là 1,000 SVSQ. Khóa này khai-giảng vào tháng 3 và mãn-khóa vào khoảng tháng 10-1969. tên khóa, thời-gian, tên họ thủ-khoa không rõ?

Khóa 4/69 tại Thủ-Đức, mãn-khóa tháng 7-1970. tên khóa, sĩ-số, thời-gian, khai-giảng, tên họ thủ-khoa không rõ?

Khóa 5/69 tại Thủ-Đức, tên khóa, sĩ-số, thời-gian, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 6/69 tại Thủ-Đức, khai-giảng tháng 7-1970. tên khóa, sĩ-số, thời-gian, khai-giảng, tên họ thủ-khoa không rõ?

Năm 1970 có 6 khóa:

Khoá 1/70, Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 2/70, Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 3/70, Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 4/70, Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 5/70, Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 6/70, Tên khóa, 1650 SVSQ, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

alt

Năm 1971 có 5 khóa:

Khoá 1/71, Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 2/71, Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 3/71, Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 4/71 tại Thủ-Đức, khai-giảng ngày 22-8-1971 đến ngày 2-5-1972, tổng-cộng hơn 8 tháng. Có tên là Khóa Bình-Long Anh-Dũng, sĩ-số, tên họ thủ-khoa không rõ?

Khóa 5/71, Tổng-số khoảng 500 SVSQ, mà 1/5 thuộc thành-phần giáo-chức nhưng trước ngày mãn-khóa có một số được trả về nhiệm-sở cũ. thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, thủ-khoa được bổ-xung về ngành HCTC. Khóa này có tên là Kontum kiêu-hùng.

alt

Năm 1972 có 15 khoá, tất cả đều tham-dự chiến-dịch, chia làm nhiều toán khoảng 4, 5 người đi với Địa-phương-quân và nghĩa-quân để tác-động tinh-thần và phổ-biến hiệp-định Paris. Thời-gian học quân-sự và chiến-dịch khoảng một năm.

Khoá 1/72 tại Nha-Trang, do đại-tá Bùi-Trạch-Dần, Liên-đoàn-trưởng, phụ-trách. Khai-giảng. . . . Lẽ ra mãn-khóa ngày 8-12-1972, nhưng vì Hiệp-định Paris nên mãi đến tháng 3-1973 mới mãn-khóa. Sĩ-số khoảng 700 SVSQ, hầu hết là sinh-viên kiến-trúc nhập-ngũ theo lệnh tổng-động-viên. Tên khóa, ngày khai-giảng, tên họ thủ-khoa không rõ?

Khóa 2/72, Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 3/72, Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khoá 4/72, Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 5A/72, Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khoá 5B/72, Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 6/72 Nha-Trang (thiếu-tướng Võ-Văn-Cảnh chỉ-huy-trưởng trường Đồng-Đế. ), sĩ-số, thời-gian, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa không rõ?

Khóa 7/72, Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 8/72, Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khoá 9A/72, Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khoá 9B/72, Nha-Trang, sĩ-số, thời-gian, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khoá 9C/72, Thủ-Đức, sĩ-số, thời-gian, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 10/72, Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khóa 11/72 tại Nha-Trang, sĩ-số 922 người. khai-giảng 16-10-1972, mãn-khóa 2-6-1973. thời-gian, tên họ thủ-khoa không rõ?

Khóa 12/72, Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

alt

Năm 1973 có 7 khoá:

Khoá 1/73 tại Thủ-Đức, sĩ-số, thời-gian, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa không rõ?

Khóa 2/73 tại Thủ-Đức, sĩ-số, thời-gian, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa không rõ?

Khóa 3/73 tại Long-Thành, sĩ-số, thời-gian, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa không rõ?

Khoá 4/73 Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?

Khoá 5/73 Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?
Khoá 6/73 Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa?
Khoá 7/73 Rất đông sinh-viên SQ có bằng cử-nhân và cao-học, một số lớn xin gia-nhập ngành Quân-Cảnh và Địa-phương-quân. Khóa học trên 11 tháng kể cả thời-gian đi chiến dịch lấn đất, giành dân. Tên khóa, sĩ-số, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa không rõ?

alt

Năm 1974 có 3 khoá:
Khoá 1/74 tại Long-Thành, sĩ-số, thời-gian, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa không rõ?
Khóa 2/74 tại Long-Thành, sĩ-số, thời-gian, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa không rõ?
Khóa 3/74 tại Long-Thành, sĩ-số, thời-gian, khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa không rõ?

Vì nhu-cầu bổ-sung cán-bộ, các sĩ-quan trừ-bị đã có nhiều cơ-hội nắm giữ những chức-vụ quan-trọng tại hầu hết các bộ tham-mưu và ngành chuyên-môn trong quân-đội. Bởi lẽ khối-lượng sĩ-quan trừ-bị đông đảo hơn sĩ-quan hiện-dịch (gấp 17 lần trong năm 1973), hơn nữa vì cuộc chiến kéo dài triền-miên nên những sĩ-quan thuộc các khóa đầu đã phục-vụ trong quân-đội hầu như vĩnh-viễn. Một số lớn sĩ-quan trừ-bị thâm-niên đã xin chuyển sang hiện-dịch để được hưởng quy-chế dành cho sĩ-quan hiện-dịch, nhất là có nhiều quyền-lợi sau khi được giải-ngũ. Những sĩ-quan này, nhờ có nhiều kinh-nghiệm và khả-năng cao nên đã nắm giữ những chức-vụ quan-trọng trong quân-đội và chính-quyền.

Danh-sách Chỉ-huy-trưởng trường võ-bị Thủ-Đức

Các sĩ-quan cao-cấp sau đây lần-lượt chỉ-huy trường Thủ-Đức trong 25 năm dấu ? = không chắc lắm)
Thiếu-tá Bouillét, 1951-1953.
Đại-tá Phạm-Văn-Cảm,1953-1957
Thiếu-tướng Lê-Văn-Nghiêm, 1957-1961
Thiếu-tướng Hồ-Văn-Tố, 1961-1962
Đại-tá Nguyễn-Văn-Chuân, 1962?
Đại-tá Phan-Đình-Thứ tự Lam-Sơn, 1962-1963
Thiếu-tướng Trần-Ngọc-Tám, 1963 ?
Thiếu-tướng Bùi-Hữu-Nhơn 1964?
Thiếu-tướng Trần-Văn-Trung, 1965-1967?
Chuẩn-tướng Lâm-Quang-Thơ, 1967-1969
Thiếu-tướng Phạm-Quốc-Thuần, 1969-1973
Trung-tướng-Nguyễn-Vĩnh-Nghi, 1973-1975
Đại-tá Trần-Đức-Minh, Q. CHT, 3-1975

Thành-quả của trường Sĩ-quan Trừ-bị

Nhân ngày Quân-Lực 19-6-1973, nói về thành-tích quân-trường, người ta ghi nhận như sau: Kể từ ngày thành-lập trường Sĩ-quan Trừ-bị để cung-ứng nhu-cầu chỉ-huy và lãnh-đạo cho quân-đội Quốc-gia, trong thời-gian chiến-tranh giữa hai miền Nam Bắc, thì từ cuối năm 1950 đến giữa năm 1973, gần một phần tư thế-kỷ, trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức đã hoàn tất được 69 khóa huấn-luyện, đào-tạo 75% sĩ-quan cán-bộ nòng-cốt cho Quân-lực VNCH. Tổng-số sĩ-quan trừ-bị tốt-nghiệp là 80,000 người so với 4,600 sĩ-quan hiện-dịch xuất-thân từ trường Võ-bị Quốc-gia Đà-Lạt.

Đặc-biệt trong năm 1972 có 15 khóa SQTB thụ-huấn tại Nha-Trang và Thủ-Đức. Kể từ tháng 1-1968 đến tháng 12-1973, trong việc tiếp sức trường Bộ-binh Thủ-Đức, riêng trường Hạ Sĩ-quan Đồng-Đế Nha-Trang đã đào-tạo được 12,000 sĩ-quan trừ-bị. Như vậy tổng-số sĩ-quan trừ-bị được huấn-luyện tại Thủ-Đức, Nam-Định, Đà-Lạt và Nha-Trang đã lên đến trên dưới 100,000 người.

Các Sĩ-quan Trừ-bị, mặc dầu trong hoàn-cảnh động-viên, đã phục-vụ quốc-gia rất đắc-lực, không những trên phương-diện quân-sự mà ngay cả trong địa-hạt hành-chánh và lãnh-đạo. Điển-hình là có rất nhiều Sĩ-quan gốc trừ-bị đã từng giữ những chức-vụ lãnh-đạo quan-trọng trong guồng máy quốc-gia như Phó Tổng-thống, Thủ-tướng, Tổng-trưởng, Bộ-trưởng, Thứ-trưởng, Tổng Giám-đốc, Giám-đốc, Tỉnh-trưởng, Thị-trưởng, Quận-trưởng, vv . . .
Về Quân-sự, có nhiều Sĩ-quan Trừ-bị đã được bổ-nhiệm vào những chức-vụ chỉ-huy và tham-mưu cao-cấp như Phụ-tá Tổng Tham-mưu-trưởng, Tham-mưu-trưởng Liên-quân, Tham-mưu-trưởng Quân-đoàn, Sư-đoàn, Quân, Binh-chủng, Tư-lệnh Quân-chủng, Tư-lệnh Binh-chủng, Tư-lệnh Quân-đoàn, Tư-lệnh Sư-đoàn, Tư-lệnh Lữ-đoàn, Trung-đoàn-trưởng, Thiết-đoàn-trưởng, . . .Tổng-cục-trưởng, Cục-trưởng, Trưởng Phòng Bộ Tổng Tham-mưu, Trưởng-Phòng Bộ Tư-lệnh Quân-đoàn, Sư-đoàn, Quân, Binh-chủng, vv . . .

Nói tóm lại, Sĩ-quan Trừ-bị là một nguồn nhân-lực chỉ-huy và lãnh-đạo trọng-yếu, giữ một vị-thế quan-trọng trong công-cuộc chiến-đấu chống Cộng-Sản, bảo-vệ chính-nghĩa Quốc-gia và kiến-thiết xứ-sở.

Trên thực-tế, không ai phủ-nhận rằng trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức là nơi quy-tụ hầu-hết các thanh-niên có học-thức yêu nước, là những cán-bộ ưu-tú của Việt-Nam Cộng-Hòa, nhưng ít ai tin rằng:
- Trong suốt cuộc-chiến, trên chiến-trường, đã có hàng chục ngàn Sĩ-quan trừ-bị anh-dũng gục-ngã dưới lá quân-kỳ để bảo-vệ tự-do và thanh-bình cho quê-hương, dân-tộc.
- Sau cuộc chiến, đã có hàng chục ngàn Sĩ-quan trừ-bị chịu cảnh đọa-đầy trong các trại cải-tạo ác-nghiệt của Cộng-Sản Bắc-Việt cho đến khi họ kiệt-sức hay phải bỏ mình nơi rừng thiêng, nước độc.
- Từ ngày hiệp-định Genève 1954 ra đời cho đến ngày 30-4-1975, đã có hàng ngàn Sĩ-quan trừ-bị tàn-phế sống lay-lắt, điêu-đứng trong cảnh màn trời, chiếu đất, tối-tăm, tủi nhục.

Ngày cuối cùng của Trường Thủ-Đức trên đồi Tăng-Nhơn-Phú

Vào cuối năm 1973, trường Bộ-binh di-chuyển về Long-Thành, nhưng đến ngày 27-4-1975 trường lại được lệnh di-tản chiến-thuật về Thủ-Đức để nghênh-cản địch-quân.

Một trong những nhân-chứng có mặt tại đồi Tăng-Nhơn-Phú vào giờ chót của ngày cuối cùng, ông Minh-Tân Lê-Quảng-Trị, đã tường-thuật đại để như sau: Vào lúc 08 giờ 15’ sáng 30-4-1975, từ xa-lộ Biên-Hòa, 4 chiến-xa T-54 của CS Bắc-Việt lồng-lộn tiến nhanh về phía quân-trường Thủ-Đức, nhưng ba trong bốn chiến-xa nói trên đã bị bắn cháy ngay tại bờ rào kẽm gai bởi pháo-binh 105 ly bố-phòng trực-xạ. Chiếc chiến-xa T-54 còn lại vượt-thoát chạy thẳng vào trung-tâm trường Thủ-Đức, dùng đại-liên 50 trên pháo-tháp bắn sối-xả vào lực-lượng phòng-thủ khiến trung-tá Ông-Văn-Tuyên, trung-sĩ I Nhân và 5 Sinh-viên sĩ-quan tử-thương, thiếu-tá Vương-Bá-Thuần và 9 người khác bị thương. Sau đó chiếc chiến-xa này chạy thẳng ra cổng số 1, tìm đường tẩu-thoát nhưng đã bị các tổ Sinh-viên Sĩ-quan xử-dụng súng phóng hỏa-tiễn M72 bắn đứt xích. Khi chiến-xa lết ra tới Niện-Phật-đường Quảng-Đức, chợ Nhỏ, chúng quay pháo-tháp vào trường, tiếp-tục bắn phá.

alt

Đứng trước tình-trạng nan-giải này, hai tân khóa-sinh, mỗi người tình-nguyện mang 4 trái lựu-đạn lân-tinh, bò ra ngoài để tiêu-diệt chiến-xa địch. Trong lúc chiếc T-54 đang nhả đạn vào trường, hai khóa-sinh nói trên đã leo lên chiến-xa, thả lựu-đạn lân-tinh vào trong pháo-tháp khiến chiến-xa địch phát hỏa, đạn trong pháo-tháp phát nổ tung trời. Chiến-tích dũng-cảm của hai tân khóa-sinh không những đã làm mọi người phải ngưỡng-phục mà còn nói lên cái khả-năng chiến-đấu siêu-việt cũng như ý-chí bất-khuất và quyết-thắng của

Sinh-viên Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức.

Nhưng vào lúc 10 giờ sáng ngày 30-4-1975, đại-tướng Dương-Văn-Minh, tổng-thống vài ngày cuối cùng của Việt-Nam Cộng-Hòa, đã ra lệnh cho Quân-lực Việt-Nam Cộng-Hòa buông súng đầu-hàng. Tất cả cán-bộ cũng như sinh-viên, khóa-sinh, không ai bảo ai, đã lần-lượt giã-từ vũ-khí, về với gia-đình.

Sugarland, ngày 25-12-2002

Hà-Mai-Việt
SVSQ TB, Khóa 5 Thủ-Đức

Cước-chú:
Tính đến ngày 25-12-2002, tôi bỏ trống và đánh dấu hỏi (?) vào những mục chưa sưu-tầm được tài-liệu. Ví-dụ: Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa? Vậy tôi xin phổ-biến tổng-quát tài-liệu này để các bạn đồng-môn bổ-khuyết, sửa sai và gửi về 10210 Kent towne Ln., Sugar Land, TX 77478. Xin đa tạ.

alt

Tài-liệu tham-chiếu và ghi-chú:

Phạm-Văn-Sơn và Lê-Văn-Bân, Quân-Sử III, 1972, Bộ Tổng Tham-Mưu QLVNCH, PP.441-444.
Lê-Văn-Dương và Tôn-Tích-Đức, Quân-Sử IV, 1971, Bộ Tổng Tham-Mưu QLVNCH, PP.16-21.
Như trên, PP. 96, 186.
Tham-chiếu Niên-giám Sĩ-quan Chủ-lực-quân, tính đến tháng 1-1971, có 10 sĩ-quan cấp-tướng tốt-nghiệp khóa 1 và 2 Sĩ-quan Huế là: Trần-Thanh-Phong, Nguyễn-Thanh-Hoàng nhập-ngũ tháng 12-1946; Nguyễn-Văn-Mạnh, Trần-Văn-Trung, Hoàng-Văn-Lạc nhập-ngũ từ tháng 2 đến 12-1947; Đặng-Văn-Quang, Nguyễn-Văn-Thiệu, Bùi-Đình-Đạm, Ngô-Du nhập-ngũ từ tháng 10 đến 12-1948; Lê-Ngọc-Triển nhập-ngũ tháng 9-1949. Ngoài ra còn có 40 đại-tá và 45 trung-tá thuộc các khóa nói trên.
Sĩ-số tại Nam-Định là 356 SVSQ, 55% có bằng tú-tài I trở lên. Sĩ-số tại Thủ-Đức khoảng 250 SVSQ.
Lê-Văn-Dương và Tôn-Tích-Đức, Quân-Sử IV, PP.194, 379.
Như trên, P. 196.
Phòng Tổng-quản-trị, bộ Tổng-tham-mưu, bộ Quốc-phòng, niên-giám sĩ-quan Chủ-lực-quân,1970-1971, PP. 15-16. Mười bốn Tướng-lãnh xuất-thân từ trường Sĩ-quan Trừ-bị, được viết bằng chữ nghiêng.
Điều-kiện văn-bằng cho khóa sĩ-quan trừ-bị thay đổi như sau: từ khóa 6 (1957) đến khóa 9 (1959), cũng như các khóa trước năm 1954, sinh-viên sĩ-quan tối-thiểu phải có bằng trung-học. Khóa 10 (1960), ngoài bằng trung-học, sinh-viên còn phải qua 1 kỳ thi tuyển. Từ khóa 11 (1961) trở về sau, sinh-viên phải có bằng tú-tài 1 trở lên.
Lê-Văn-Dương và Tôn-Tích-Đức, Quân-Sử IV, PP.374, 376.
Phỏng-vấn cựu SVSQ khóa 1 TĐ, đại-tá Phạm-Kỳ-Loan, tại Houston, Texas, ngày 25-8-2001.
Phỏng-vấn cựu SVSQ khóa 2 TĐ, ông Nguyễn-Văn-Nho, tại Houston, Texas, ngày 25-8-2001.
Ngày khai-giảng, ngày mãn-khóa, sĩ-số và số sĩ-quan tốt-nghiệp tham-chiếu kỷ-yếu khóa I TĐ/NĐ.
Lon là cấp-bậc trong quân-đội, bắt nguồn từ chữ Galon của quân-đội Pháp.
Phỏng-vấn cựu SVSQ khóa 1 NĐ, chuẩn-tướng Đặng-Đình-Linh, tại Dallas, Texas, ngày 28-8-2001.
Phỏng-vấn cựu SVSQ khóa 4 TĐ, thiếu-tá Nguyễn-Đức-Oánh, tại Houston, Texas, ngày 15-9-2001.
Phỏng-vấn cựu SVSQ khóa 4 Phụ, đại-tá Ngô-Văn-Lợi, tại Oklahoma City, OK, ngày 30-9-2001.
Ý nói chuẩn-tướng Hưng còn đang tại chức, với tư-cách tư-lệnh-phó Quân-đoàn IV.
Bảo-An là một tổ-chức được hợp-nhất bởi ba tổ-chức bán quân-sự hình-thành trước năm 1954, đó là các tổ-chức Bảo-Chính-Đoàn tại Bắc-Việt, Việt-Binh-Đoàn tại Trung-Việt và Vệ-Binh Nam-Việt. Kể từ năm 1955, tổ-chức Bảo-An được đặt dưới quyền chỉ-huy của Tổng-Giám-Đốc Bảo-An. Đến năm 1964, tổ-chức Bảo-An được biến-cải thành Địa-Phương-Quân, một lực-lượng thiết-yếu trong hàng-ngũ Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.
Phỏng-vấn cựu SVSQ khóa 6 TĐ, đại-úy Trần-Quang-Pháp, tại Austin, Texas, ngày 9-9-2001.
Năm 1973 trường Bộ-binh dọn về Long-Thành nên sau này còn gọi là trường Bộ-binh Long-Thành
Phỏng-vấn cựu SVSQ khóa 13 TĐ, giáo-sư Lê-Hữu-Thăng, tại Denver, CO, ngày 9-8-2001.
Phỏng-vấn cựu SVSQ khóa 21 TĐ, đại-úy Nguyễn-Thế-Thành, tại Denver, CO, ngày 10-8-2001.
Phỏng-vấn cựu SVSQ khóa 23 TĐ, đại-úy KQ Dương-Khang, tại Denver, CO, ngày 10-8-2001.
Phỏng-vấn cựu SVSQ khóa 25 TĐ, đại-úy Lê-Hoàng-Ân, tại Austin, Texas, ngày 7-9-2001.
Phỏng-vấn cựu SVSQ khóa 26 TĐ, đại-úy Ngô-Công-Đô, tại Houston, Texas, ngày 21-9-2001.
Phỏng-vấn cựu SVSQ khóa 27 TĐ, đại-úy Nguyễn-Ngọc-Bát, tại Denver, CO, ngày 9-8-2001.
Phỏng-vấn cựu SVSQ khóa 1/72 NT, kỹ-sư Nguyễn-Hoàng-Phố, tại Austin, TX, ngày 5-9-2001.
Phỏng-vấn cựu SVSQ khóa 5/68 TĐ, đại-úy Bùi-Khắc-Danh, tại Austin, Texas, ngày 5-9-2001.
Phỏng-vấn cựu SVSQ khóa 3/69 TĐ, trung-úy KQ Nguyễn-Văn-Bích, tại Houston, TX, ngày 1-9-2001.
Phỏng-vấn cựu SVSQ khóa 4/71TĐ, trung-úy Lương-Tuấn-Phong, tại Denver, CO, ngày 9-8-2001.
Tài-liệu do cựu SVSQ khóa 4/71 TĐ, trung-úy Nguyễn-Kim-Bình, tại Houston, TX, gửi ngày 15-1-2003.A
Phỏng-vấn cựu SVSQ khóa 4/71TĐ, trung-úy Lương-Tuấn-Phong, tại Denver, CO, ngày 9-8-2001.
Phỏng-vấn cựu SVSQ khóa 11/72 TĐ, thiếu-úy Nguyễn-Văn-Minh, tại Denver, CO, ngày 9-8-2001.
Đặng-Văn-Thạnh, Đặc-san KBC số 24, Garden Grove, California, 1999, P. 131. Trương Huyền, Đặc-san Đồng-Đế Nha-Trang, số 1, Đặc-biệt, Westminster, Calif., 9-2000, P. 13.
Tân khóa-sinh là sinh-viên SQ mới nhập học, đang được huấn-nhục, chưa được gắn cấp-hiệu Alpha.
Minh-Tân Lê-Quảng-Trị, Đặc-san Chiến-sĩ Cộng-Hòa số 2 tại B.C. Canada, 1999, PP.107-109.

Đến ngày 25-12-2002, tôi đã bỏ trống và đánh dấu hỏi (?) vào những mục chưa sưu-tầm được tài-liệu. Ví-dụ: Tên khóa, sĩ-số, thời-gian, địa-điểm, ngày khai-giảng, mãn-khóa, tên họ thủ-khoa? Vậy tôi xin phổ-biến tổng-quát để các bạn đồng-môn bổ-khuyết, sửa sai và gửi về 10210 Kent towne Ln., Sugar Land, TX 77478.

Xin đa tạ.

Monday, November 25, 2013

VINH DỰ CUỐI CỦA ÐỜI BINH NGHIỆP




--

Kính Chuyển

MG

VINH DỰ CUỐI CỦA ÐỜI BINH NGHIỆP

Thương Nhớ Lại Sáu Năm Phục Vụ Tỉnh/Tiểu KhuBình Thuận,

Trong Nhiệm Vụ VN Hóa Chiến Tranh

Ngô Tấn Nghĩa



            Chiến tranh chấm dứt đã 38 năm qua nhưng đôi khi vẫn hình dung như thời gian còn đang tiếp diễn. Nhiều lúc không tưởng mình nay đã 91 tuổi đời và đi được 91 đoạn đường của một thế kỷ, trong đó có 30 năm trực diện chiến đấu với kẻ thù Cộng sản. Trải qua không biết bao nhiêu chiến trận cam go, khắp các vùng chiến thuật. Riêng tại Bình Thuận đã có những kỷ niệm không quên, sự sống còn phải chăng nhờ số mệnh. Ðứng trên đống rơm khi hành quân ở Thiện Giáo có gài mìn nhưng không nổ, mìn chỉ nổ khi chiếc xe bò leo lên sau đó khoảng 15 phút. Máy bay trực thăng đứt ống dầu ngày thứ sáu 13, nhưng trực thăng chỉ rớt xuống vũng sinh tại Sông Mao không hề hấn. Ba lần B40 trực diện vẫn bắn ra ngoài, từ La Gàn (Tuy Phong), tới giữa mật khu Lê Hồng Phong và tại Lô Cốt đồn Tùy Hòa.



            Những hàng trên đây nêu lên để tri ân Thượng Ðế đã ban cho tôi những phép lạ mầu nhiệm , vượt mọi nguy nan để có được ngày hôm nay : “Ngày Mãn Nguyện Cuộc Ðời Binh Nghiệp”.



-Trước Ngày Ði Bình Thuận :



            Sau khi đảo chánh Tổng Thống Diệm (1-11-1963), tôi về Sai Gòn phục vụ ngành Tinh Báo được 6 tháng, thi Ðại tướng Ðổ Cao Trí được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn và Quân khu II, ông bắt tôi đi theo vì biết tôi có nhiều kinh nghiệm với vùng này vì từ năm 1955 đã từng có mặt tại dây để tiếp thu lãnh thổ khi Cộng sản tập kết ra Bắc. Tới cao nguyên lần này, cũng là giai đoạn Mỹ đang đổ nhiều đơn vị , nên tôi đã có dịp tham dự nhiều chiến trường hành quân, kể cả hướng dẫn  oanh kích B52.



            Vì vậy những chiến trường tên tuổi thời đó như Mật khu Ðổ Xá, Iadrang, Pleime, Dakto, Daksut.. qua tận biên giới Lào-Miên, tôi đều có mặt. Sau Tết Mậu Thân 1968 tại Pleiku, tôi được theo học khóa tình báo cao cấp tại Hoa Kỳ. Ðây là giai đoạn phong trào phản chiến đang bùng phát dữ dội trên khắp nước Mỹ. Vì vậy dân chúng và quốc hội đã bị đầu độc quá nặng nề, qua các cuộc biểu tình đòi Mỹ phải rút quân về nước, để tránh thương vong lên quá cao.



            Trước ngày tôi mãn khóa học, Tổng thống Nixon đắc cử với số phiếu bầu gấp hai ứng cử đảng Dân chủ thuộc phe phản chiến. Ðiều này cho thấy đa số dân chúng Mỹ vẫn còn ủng hộ chiến tranh VN và tin tưởng Tổng thống Nixon sẽ giải quyết được cuộc chiến. Về nước, tôi vẫn tiếp tục phục vụ tại Vùng II và có sự mật thiết hơn với các cố vấn chuyên môn.



            Tháng 6-1969, sau 6 tháng chính thức trở thành Tổng Thống Hoa Kỳ, qua các sử liệu được giải mật, cho thấy Nixon có quyết tâm “Trừng Phạt Bắc Việt” bằng một chiến thuật táo bạo (savage, punishing) chỉ trong vòng bốn ngày như hủy diệt các đô thị lớn, đặt thủy lôi tại các hải cảng, phá vở các đê điền, thủy lộ, kể cả việc đổ bộ lên đất Bắc và sử sụng Bom Nguyên Tử.. qua cuộc hành quân mang tên Duck Hook J (1). Nixon muốn nhắn mạnh cho Cộng sản Hà Nội biết là mình bất cứ lúc nào, cũng có thể biến Bắc Việt thành tro bụi, chứ không bao giờ để mang tiếng là kẻ bại trận. Tiếc thay lúc đó, lời nhắn nhủ của Nixon đối với Cộng sản VN, có gì đàn gãy tai trâu, vì bọn đầu sỏ tại Bắc Bộ Phủ, đã bị phản chiến Mỹ “Trói Tay” không cho đầu hàng (2).



            Nixon cũng đã viết một “tối hậu thư” gửi Hồ Chí Minh, nhờ Jean Sainteny đang làm Cao Uỷ Pháp tại Bắc Việt, cũng là bạn thân của Hồ nhờ chuyển dùm. Thật ra Hồ đã bị phe Lê Duẩn tước đoạt quyền hành từ lâu, chỉ còn làm bù nhìn và đã chết ngày 2-9-1969 (3).



            Cuối cùng với quyết định giải quyết chiến tranh bằng sức mạnh trước khi rút quân, tạo nền hòa bình trong danh dự, nên Tổng thống Nixon đã mời Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, tới hội nghị tại thủ phủ Honolulu thuộc Tiểu bang Hawaii, để cùng thiết kế cho giai đoạn VN hoá chiến tranh. Tiếc thay kế hoạch trên đã bị thất bại vì phong trào phản chiến và vụ Watergate, làm cho Tổng thống Nixon bi bó tay rồi từ chức, kéo theo sự tháo chạy nhục nhã của Mỹ và sự sụp đổ VNCH vào ngày 30-4-1975.



            Trên đường về nước, Tổng thống Thiệu có ghé thăm và hội kiến với Tổng Thống Trung Hoa Dân Quốc là Tưởng Giới Thach, bày tỏ sự lật lọng của Mỹ khi thông báo sẽ rút khỏi VN. Tổng thống Thiệu nói “ chúng tôi đâu có làm gì được họ, vì khi các TT Eisenhower, J Kennedy, Johnson đưa quân vào VN đâu có cam kết gì với TT Diệm, nay thì Nixon rút quân, nên tôi đâu có thể làm gì hơn ?”.



            Nhân cuộc hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ-VNCH tại Honolulu, Tổng thống Nixon cũng tuyên bố về Chủ Thuyết của mình, được gọi là Guam hay Nixon. Ðó là một chủ thuyết mới, khác với chủ thuyết Truman trước kia “Nước Mỹ hoàn toàn trách nhiệm những gì cần thiết cho thế giới tự do, chống lại chủ nghĩa Cộng sản (American determination to bear any burden in the worldwide fight against communism). Chủ thuyết này cũng đã được các vị TT Eisenhower, J Kennedy va Johnson tiếp tục . Nay thi Nixon chỉ giúp phương tiện nhưng không giúp người (Means but not men ), ngoại trừ trường hợp xâm lăng quan trọng cần tới SEATO. TT Nixon đã tỏ lòng biết ơn TT Thiệu khi ông sử dung danh từ “TÁI PHỐI TRÍ” để gỡ thể diện cho Mỹ, khi toan tính rút quân , cũng đồng nghĩa là “Tháo Chạy” khỏi chiến trường.



            Khi trở vế nước, để thích ứng với hoàn cảnh, Tổng thống Thiệu đã ra lệnh thiết kế lại “Chiến thuật”  từ Bộ Tổng Tham Mưu tới các Vùng Chiến Thuật . Tháng 10-1969, TT Thiệu tới thăm Quân Ðoàn II, thấy tôi vẫn tiếp tục công việc đã làm từ mấy năm về trước. Mục đích của TT Thiếu lần nay, khi thăm viếng cao nguyên, là để chọn các đơn vị trưởng cho chương trình “VN Hóa Chiến Tranh”.Lúc đó, từ Trung tướng Lữ Lan (Tư Lệnh QÐ), tới Tướng Cố Vấn trưởng, cũng đều đề nghị Tôi làm Tỉnh Trưởng Bình Thuận, nên đã được TT Thiệu chấp thuận ngay trong buổi họp. Ðồng thời cho phép tôi được nghĩ phép Tết, rồi mới tới Phan Thiết nhận nhiệm vụ mới. Tóm lại trong cuộc đời quân ngũ của tôi, ở đâu cũng vậy, dù là vùng hỏa tuyến cũng không màng, nay ra đi biết rằng được tới một tỉnh giàu lớn, đang có rất nhiều người ham muốn nhưng tôi đâu có mừng, vì biết rằng nhiệm vụ tới rất là cam go và nguy hiểm, mà những ai đã ham muốn, nay có thể đã “ Chạy” nhưng vẫn thản nhiên vì gần suốt cuộc đời như đã gắn liền với quân ngũ. Do đó chỉ còn biết Chấp Nhận, để sẵn sàng đón nhận ngay với bao nhiêu thử thách với bom đạn, B 40, mìn bẩy và lần đầu trực diện đối mặt đương đầu với đối lập và tiểu nhân hãm hại..



-Ngày Tới Bình Thuận :



            Xuống tới Phan Thiết vào những ngày sau Tết , nhận xét tình hình với nhiều bi quan như : 95% đất đai bị địch chiếm, vùng còn lại của ta chỉ có ban ngày, tới ban đêm cũng bị đích khống chế luôn. Do đó VC đã tự hào “Ngày của đích, đêm của ta” . Tóm lại, không cần phải ra tới Phú Hài, mà khi di chuyển trong khuôn viên của Tòa Hành Chánh, vị tiền nhiệm trước cũng phải dùng xe Jeep với cận vệ hộ tống. Thời gian đó, mỗi buổi hoàng hôn trước khi mặt trời lặn , thì các đoàn xe Honda chở hai chở ba, từ các xã lân cận lũ lượt kéo về tỉnh ngủ. Họ không phải chỉ là nhân viên xã ấp mà thôi, còn có cả Trung đội trưởng, Ðại đội trưởng.. cũng về thị xã lánh nạn, trong khi đó thì các tiền đồn lẻ tẻ luôn bị tấn công.



            Toàn tỉnh, các trục lộ giao thông lớn nhỏ đều tắt nghẽn, ngay ban ngày CS công khai ra đường chặn xe thu thuế tại cây số 15, đường đi Ma Lâm, Tùy Hòa, núi Tà Dôn. Mỗi động tĩnh đều ỷ vào lực lượng Mỹ và chính qui yểm trợ.



            Trong thời gian đầu tôi hoàn toàn dấu nhẹm nhiệm việc lực lượng Ðịa Phương, từ nay phải đãm trách vai trò chiến đấu , thay thế các chiến đoàn Hoa Kỳ và Chính Qui của QLVNCH đang yểm trợ cho Tiểu khu Bình Thuận , vì sợ xao động tinh thần của các cấp, có thể xảy ra sự dào ngũ. Ðiều này cũng đúng, vì lực lượng đang tăng phái lúc đó rất hùng hậu, gồm một chiến đoàn không kỵ Mỹ, một chi đoàn thiết ky VN, hai tiểu đoàn chính qui của Trung đoàn 44/Sđ23BB, đội viễn thám của Bộ TTM thường đột kích vào các mật khu của VC, để phát hiện địch và gọi các phi tuần Mỹ Việt tới oanh kích, kể cả hải pháo ngoài biển. Chính tướng Frederic Weygand đại diện cho Quân Lực Mỹ tới Phan Thiết để hoạch định cho các đơn vị Mỹ triệt thoái, đã lấy làm tiếc vì phải để QLVNCH phải đơn độc chiến đấu trong hoàn cảnh vô cùng bi đát tại Bình Thuận.



            Ðể thích hợp với hoàn cảnh mới, tôi cho mở một đại hội toàn quân tại Tiêu Khu, mời các đơn vị trưởng mọi cấp quân dân về tham dự và tuyên bố Kế Hoạch năm bước của tôi :



1-RA TUYỀN TUYẾN và ở lại với các đơn vị tuyền tuyến không bỏ đồn bót. Tôi phải xung phong làm gương đều tiên, mỗi đêm đi ngủ với một tiền đồn của trung và đại đội và lần lượt cứ thế mà đi cho hết 173 Ấp trong toàn tỉnh. Làm như vậy các đơn vị nhỏ lớn không biết tôi tới ngủ với họ lúc nào, nên phải luôn ứng chiến , quân số đầy đủ, dù có nuôi lính ma lính kiểng, cũng phải thanh toán cho xong để không bị phát hiện lộ tẩy. Tóm lại các đơn vị luôn sẵn sàng ứng chiến với quân số thật đầy đủ.



2-TÂM LÝ CHIẾN VỚI DÂN : Mỗi khi tới Ấp vào dịp đồng bào đang nghĩ ngơi, thi loa phóng thanh phát lên lời chào hỏi của Ðại Tá Tỉnh trưởng, như những lời tâm sự với đồng bào, giải hóa những luận điệu tuyên truyền “Chống Mỹ cứu nước của CS” . Ðem thí dụ Nhật Bản bị thua trận sau khi Ðệ Nhị Thế Chiến II chấm dứt. Nhưng Mỹ đã không chiếm đóng để đô hộ Nhật, trái lại còn tận tình giúp cho nước này phục hồi kinh tế. Tất cả các món hàng lớn nhỏ mà VNCH đang sử dụng hằng ngày, đa số của Nhật sản xuất. Ðiều này chứng tỏ Mỹ không hề xâm lăng Nhật trái lại Nhật đã xâm chiếm thị trường Mỹ và trở thành cường quốc kinh tế thế giới, chỉ đứng sau Hoa Kỳ. Nhờ sự so sánh này, mà người dân nông thôn đã không còn bị sự tuyên truyền đầu độc của VC và càng lúc càng ngã về với Quốc Gia.



3-MỜI VC VỀ THÀNH CHƠI 15 NGÀY và có thể trở lại Mật Khu an toàn, sau thời gian ân hạn : Qua một số truyền đơn được máy bay thả các thông hành tạm 15 ngày vào tận các mật khu, mời cán binh VC về thành chơi. Trong thời gian này, đương sự tự quyết định về việc “hồi chánh” hay trở lại mật khu, sẽ được bảo vệ an toàn ra về. Kế hoạch này đã được một số cán bộ bộ đội hưởng ứng về với đồng bào. Nhờ họ hướng dẫn, Tiểu Khu Bình Thuận đã mở nhiều cuộc hành quân vào tận sào huyệt giặc, nhất là Khu Lê Hồng Phong, đánh tan căn cứ và giải thoát được nhiều đồng bào bị chúng cưỡng áp sống ở đây từ nhiều năm qua.



            Cũng từ đó, VC không dám hoạt động gần các làng mạc, vì sợ đồng bọn của chúng sẽ bỏ trốn về thành “hồi chánh”. Nội bộ đã xáo trộn, vì ai cũng nghi người bên cạnh minh phản bội để bỏ trốn .





4-ẤP CHIẾN LƯỢC LƯU ÐỘNG VỚI HÀNG RÀO MÌN CLAYMORE : Ðó là một hàng rào chiến lược bằng mìn claymore, được nối bằng một giây điện dài khoảng 50m ở đầu là kẹp nổ, trục mìn hướng về địch và phát nổ khi đầu contact điều khiển bị chạm, gây thành một sự sát hại rất lớn về nhân mạng, trong vòng bán kính từ 50-100m. Kế hoạch này đã khiến cho VC gần như tê liệt, làm cho tinh thần của quân sĩ lên cao vì được an toàn. Tiểu khu còn treo giải thưởng cho các cấp, bất cứ ai dùng mìn Claymore sát hại được địch, sẽ nhận tiền thưởng 2000 đồng (15 USD thời đó) / 1xác, khiến cho binh sĩ càng thêm hăng say chiến đấu.



            Từ đó an ninh toàn tỉnh hoàn toàn được kiểm soát , các trục lộ giao thông được tái lập trên khắp các nẻo đường Bình Thuận. Suốt dọc hai bên bờ quốc lộ 1, được ủi quang theo “Chương Trình Cạo Ðầu Bắt Chí” , , chẳng những cán bộ xã ấp có thể lái xe Honda ngược xuôi khắp tỉnh, mà ngay cả tôi và chính Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, mỗi lần có dịp về thăm quê nhà tại Ninh Thuận, cũng thường dùng đường bộ, từ Phan Thiết băng ngang qua mật khu Lê Hồng Phong, Phan Rí, Tuy Phong.. mà không cần phải có hộ tống. Tóm lại hệ thống ấp chiến lược Mìn Lưu Ðộng tại Bình Thuận vô cùng hiệu quả, so với hệ thống ấp chiến lược thời Ðệ I Cộng Hòa, mà tôi đã thực hiện lúc làm quận trưởng Hóc Môn (Gia Ðịnh) . Việc dời nhà vào ấp chẳng những đã làm mất lòng dân nhưng cuối cùng CS vẫn đột nhập dễ dàng vào trong ấp với sự hổ trợ của thân quyến. Còn hệ thống mìn lưu động , kẻ ra ngưòi vào cũng không được và không dám, vỉ mìn đuợc cài vào lúc trời sắp tối đến sáng hôm sau , đồng bào muốn đi làm phải đợi mìn gỡ xong mới được.



5- HIỆP ÐỊNH BA LÊ GIỮ ÐẤT ANH DŨNG : Khi ký kết Hiệp định Ba Lê năm 1972, CS đã đưa ra điều kiện cắm cờ vào đêm của ngày ‘ N’ tới đâu thì đó là đất của chúng. Trung tướng Times là người liên lạc giữa Tòa Ðại sứ Mỹ, Phủ Tổng thống và Phái đoàn Hòa đàm Ba Lê, đã bay ra Phan Thiết, đem theo mật lệnh phòng thủ Bình Thuận, vì đây là nơi CS quyết định cắm cơ, chiếm đất .



            Vì tình hình quá căng thẳng khắp các chiến tuyến cả nước, nên trung ương và quân đoàn không có khả năng tăng viện được. Do đó tôi chỉ còn biết sử dụng toàn lực Địa Phương Quân + Nghĩa Quân lúc đó chừng 13.000 người, để dàn mỏng phòng thủ tại 173 ấp, trong số này có 24 ấp ven thị xã, đã phải phòng thủ tới 2 trung đoàn. Về phía địch, chúng chỉ có 3 tiểu đoàn địa phương và một trung đoàn tăng cường từ quân khu 6 VC.. Như vậy tương quan lực lượng giữa ta và địch là 1/1, trong khi ta lại có ưu thế phòng thủ vững chắc và hệ thống min lưu động, nên chắc chúng phải sa lầy và bị tiêu diệt.



            Trước ngày N , tôi đi vào các ấp ven thị xã, giải thích với đồng bào, là ngay khi VC tấn công ta, hành động đầu tiên, là chúng sẽ “bắt giữ đồng bào trong ấp” để làm con tin, ngăn cản ta oanh kích và tấn công chúng, như trong quá khứ và gần nhất là Tết Mậu Thân (1968) tai Phan Thiết, chúng lợi dụng chùa chiền, nhà thờ.. làm nơi trú ấn, pháo kích, tấn công ta và đồng bào trong tỉnh.. Cuối cùng, tôi đã thông báo tới đồng bào, là nếu sự kiện trên thật sự xảy ra, tôi sẽ oanh kích không nương tay, để bảo tồn lãnh thổ Bình Thuận không lọt vào CS, cũng như không bao giờ để đồng bào bị VC bắt đi trước làm bia đỡ đạn cho chúng.



            Việc thông báo này rất hiệu nghiệm, vì chỉ hai ngày sau dân trong ấp đi làm ruộng trong vùng, nên đã phát hiện được VC đang tập trung quân chuẩn bị tấn công địch. Vì vậy đồng bào bỏ làm về ấp lũ lượt tản cư lánh nạn, tránh bom đạn. Và đêm đó, vào giờ G , địch đồng loạt tấn công 13 ấp. Tiếng súng và mìn nổ vang dậy khắp nơi, còn pháo binh ta thì liên tục bắn vào các mục tiêu chọn sẵn, nên vô cùng chính xác. Trận chiến kéo dài vỏn vẹn 48 giờ, VC chém vè bọ lại Ðại Nẩm 121 tử thi, một số khác được đồng bọn kéo theo. Tiểu khu phải đợi tới 3 ngày sau yên hẳn tiếng súng, mới chôn cất được các xác trên.



            Sau khi nhận được báo cáo Bình Thuận đã chiến thắng vẻ vang, ba ngày sau tướng Timmes từ Sài Gòn ra thăm Phan Thiết. Tôi lên tận phi trường đón ông, vừa gặp mặt tôi, ông đã hô to bằng tiếng Việt ‘ Ðại ta Neah ! celebrity ! celebrity !. Ðây là một kỷ niệm thật đẹp và đáng nhớ trong đời, nên khi tới Mỹ và được nhập tịch, tôi đã không thay đổi tên họ mình, mà chỉ theo cách đánh vần là Neah Tan Ango. Buồn thay, tôi tới Mỹ chưa được bao lâu thì Tướng Timmes qua đời vì bệnh.



Những Ngày Chót Của Bình Thuận :



            Từ cuối tháng 3-1975, tình hình đã bắt đầu lộn xộn , sau khi Ban Mê Thuột mất, Quân Ðoàn II di tản chiến thuật, bỏ ngỏ các tỉnh Cao nguyên.. làm sụp đổ luôn các thành phố Ðà Lạt, Nha Trang, Phan Rang. Ðoàn quân di tản ô hợp đi ngang qua Bình Thuận, tàn phá khắp nơi, cuối cùng đã bị giải giới tại Bình Tuy vì đường về Sài Gòn, đã bị nghẽn tại Rừng Lá. Ngày 7-4-1975, tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh QÐII , từ Nha Trang bay trực thăng vào gặp BCH.Tiểu Khu tiền phương Bình Thuận tại Lầu Ông Hoàng. Sau đó tướng Nguyễn Văn Hiếu được lệnh thay thế Tướng Phú làm tư lệnh QÐII mà lãnh thổ chỉ còn hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Cũng từ đó, Bình Thuận bị VC tấn công pháo kích tơi bời , vì Lâm Ðồng, Tuyên Ðức bỏ ngỏ, còn Phan Rang thì thất thủ vào chiều ngày 16-4-1975. Mặc kệ địch với cả quân đoàn, xe tăng, đại pháo 130 ly.. các đơn vị vẫn chiến đấu để bảo vệ đồng bào an toàn di tản bình an ra khỏi Phan Thiết, xuôi về Nam tránh bom đạn và sự tàn sát dã man của CS. Ngày 20-4-1975, hơn 3500 quân còn lại trong số 13.000 quân của Bình Thuận, được Hạm Ðội của Tướng Hoàng Cơ Minh vớt tại bãi Kim Hải, chở tới Vũng Tàu-Bà Rịa và tái lập ngay Trung Ðoàn Bình Thuận, tiếp tục chiến đấu chống CS, bên cạnh các đơn vị QLVNCH tại đây, cho tới khi bị Dương Văn Minh ra lệnh buông súng, mới tan hàng.



            Tại Vũng Tàu, ngày 28-4-1975, Tòa Ðại Sứ Mỹ thông báo cho tôi về Sài Gòn di tản nhưng tôi chỉ trả lại trực thăng và ở lại với anh em. Ðể chuẩn bị chiến đấu lâu dài, tôi giao đơn vị lại cho Thiếu Tá Tiến (TÐT/TÐ229/ÐP) chỉ huy, về Bộ TTM tìm phương tiện, di chuyển anh em Bình Thuận về điạ điểm mới. Nhưng từ sáng ngày 30-4-1975, trung ương từ trên xuống dưới, gần như đã đi hết, cho tới 10 giờ thì có lệnh đầu hàng. Lúc đó, tại Bến Bạch Ðằng vẫn còn nhiều Chiến Hạm chưa nhổ neo, tuy nhiên vì lời hứa với anh em còn đang kẹt tại Vũng Tàu, nên tôi quyết định ở lại . Rồi sau đó, nước mất nhà tan, tôi nhờ một binh sĩ cũ, người Việt gốc Hoa ở Chợ Lớn, che chở giúp đỡ, nên mới có cơ hội lần mò xuống tận Hà Tiên và vượt thoát bằng thuyền chài tới Thái Lan và vào Mỹ , qua sự giúp đỡ của bạn bè trước năm 1975.



            Giờ ngồi nhớ lại chuyện cũ, tôi cảm thấy vô cùng hãnh diện cho Quân Dân Bình Thuận, vì chúng ta đã hoàn thành được nhiệm vụ một cách chu toàn. Tôi rât cảm kích và luôn mến tất cả Quân, Cán, Chính Bình Thuận, mà tôi được vinh dự chỉ huy từ năm 1969-1975. Tôi cũng không bao giờ quên cầu nguyện cho tất cả những chiến hữu đã nằm xuống tại quê nhà, trong lúc cố hoàn thành sứ mạng bảo vệ đồng bào, khỏi rơi vào tay CS dã man tàn bạo. Tôi rất hãnh diện tự hào, là người Tỉnh trưởng Bình Thuận duy nhât, đã sát cánh cùng anh em, xông pha tất cả các trận mạc, bất kể là La Gàn, Tuy Phong, Lê Hông Phong, Nam Sơn, Ma Lâm .. kể cả đạn pháo kích 130 ly của CS bắn vào BCH/Hành Quân một cách chính xác, do các tên tiền sát viên giả dạng người câu cá dưới gầm cầu Nguyễn Hoàng, hay tên VC nằm vùng, làm nghề chụp hình tại Phan Thiết. Chính tên này trong những ngày chót đã theo tôi sát gót, và khi VC chiếm được Bình Thuận, hắn đã lộ diện làm trưởng khu phố, đã ra lệnh tàn sát nhiều anh em ta, bị kẹt lại.



            Cuối cùng tôi vẫn không quên tri ân các vị lãnh đạo Tôn Giáo và Hội Ðồng các sác tộc điạ phương, trong đó có nhiều chiến hữu đáng kính như Dụng Văn Ðối, Ðặng Chánh Anh, Lý Síu Cooáng và nhất là Thiếu Tá Thổ Thêm “Một quân nhân có nhiều HUY CHƯƠNG và CHIẾN CÔNG nhất QLVNCH” . Ðể được tiếp tục ở lại với đồng đội, Anh đã xin tôi giảm tuổi (từ 60 còn 50) và giớ đây tuy người đã khuất, nhưng câu chửi CS ba que xỏ lá, dối gạt đồng bào, làm tôi không bao giờ quên được “Cà Chớn chống Xâm Lăng”.



            Nay đã 91 tuổi nhưng tôi không bao giờ quên được ước vọng cuối cùng “TRỞ VỀ THĂM QUÊ HƯƠNG BìNH THUẬN”.Cứ chờ mãi nhưng tới bao giờ đất nước mới thật sự có “Ðộc Lập-Tự Do” như lòng dân mong đợi ?





Ngô Tấn Nghĩa

viết tại quê người tháng 6-2013.


Lễ tang buồn thảm của kẻ ám sát Tổng thống Mỹ Kennedy



From: ngocdtran
Date: Sat, 23 Nov 2013 18:42:59 -0800
Subject: Lễ tang buồn thảm của kẻ ám sát Tổng thống Mỹ Kennedy

 

 

Lee Oswald thảm sát TT Kennedy, ai cũng thương tiếc. 

Vậy kẻ giết ông TT Diệm làm cho miền Nam mất và hàng triệu người chết, lý giải ra sao?

Bút Xuân

 

2013/11/22 Thomas D. Tran <>

Kính chuyển đọc và tùy nghi.

Kính

TDT


From: Hank Music <>
Date: 2013/11/22
Subject: [Daploisongnui] Fw: Lễ tang buồn thảm của kẻ ám sát Tổng thống Mỹ Kennedy


 

 

( một câu chuyện lịch sử : 50 năm sau .
 Bài học gì đây ? Ác giả ác báo . Đừng làm điều ác ! )

 

On Friday, November 22, 2013 1:22 PM, vthuc le <> wrote:

Lễ tang buồn thảm của kẻ ám sát Tổng thống Mỹ Kennedy


(Dân trí) - Một ngày chớm đông năm 1963, người ta làm lễ tang cho Lee Oswald - kẻ đã ám sát Tổng thống Mỹ John Kennedy. Không một người khách tới dự lễ tang, không có ai để khiêng quan tài, đến mục sư cũng lánh mặt để khỏi phải đọc kinh siêu thoát cho người chết.
 >> Vợ kẻ ám sát Tổng thống Mỹ Kenedy vẫn sống trong sợ hãi


“Một buổi chiều ảm đảm cuối tháng 11/1963, tôi đã trở thành người khiêng quan tài bất đắc dĩ trong đám tang của kẻ tội phạm sát nhân mà có lẽ lịch sử Mỹ sẽ mãi không thôi nhắc đến. Đó là đám tang của Lee Harvey Oswald, kẻ đã ám sát Tổng thống Mỹ John F. Kennedy.

Tôi đã cùng những người đàn ông khác chung tay khiêng chiếc quan tài bằng gỗ rẻ tiền ra nghĩa địa. Sắp sang đông, bầu trời ảm đạm, mặt đất buồn bã một màu cỏ úa. Chẳng có người đi đưa tang nào, vì vậy, cũng chẳng có người hộ tang bên quan tài. Những nhân viên chịu trách nhiệm cử hành tang lễ tìm tới tôi để nhờ vả. Một nhiệm vụ bất đắc dĩ…

Tôi là một phóng viên của hãng tin AP, được cử đến để đưa tin về lễ tang của một tội nhân lịch sử. Làm sao tôi có thể xao nhãng nhiệm vụ quan trọng đó để làm bất cứ việc nào khác? Nhưng rồi tôi cũng nhận lời. 50 năm sau, tên tôi vẫn còn xuất hiện trong dòng chú thích ngắn ngủi của những cuốn sách lịch sử với tư cách một trong những người có mặt tại lễ tang của kẻ sát nhân”.

Đó là câu chuyện của cựu phóng viên Mike  Cochran của hãng tin AP.

Lễ tang buồn thảm của kẻ ám sát Tổng thống Mỹ Kennedy
Tại lễ tang của Lee Harvey Oswald, Mike Cochran và những phóng viên khác đã cùng gác lại nhiệm vụ đưa tin để giúp khiêng quan tài ra nơi chôn cất. Mike Cochran là người đàn ông đang cầm trong tay phải một xấp giấy.

Tại lễ tang đặc biệt đó có khá đông cảnh sát, nhân viên an ninh liên bang, phóng viên, nhiếp ảnh gia nhưng chẳng có người đưa tang nào ngoài những người thân trong gia đình Lee Harvey Oswald.

Một nhân viên cảnh sát được giao nhiệm vụ chở quan tài của Oswald tới nghĩa trang. Sau đó, các nhân viên khác hộ tống gia đình của anh ta ra nơi cử hành tang lễ. Người nhà gồm có mẹ, anh trai, vợ và hai con gái nhỏ của Oswald.

Chẳng có ai khác xuất hiện, ngay  cả mục sư cũng chẳng có. Một phóng viên đứng cạnh Mike Cochran hôm đó đã lắc đầu buồn bã nói nhỏ với ông rằng: “Cochran này, nếu ông và tôi buộc phải viết bài về đám tang của Lee Harvey Oswald, tôi có cảm giác như chúng ta đã chôn sống cả những người thân của hắn”.

Ngay sau đó, nhân viên nghĩa trang đến nhờ các phóng viên hỗ trợ cùng khiêng quan tài. Họ đã đến nhờ ông Mike Cochran đầu tiên, câu trả lời của Cochran là “Quỷ tha ma bắt! Không đời nào!”.

Cựu phóng viên Mike Cochran sau 50 năm nhớ lại câu chuyện xưa.
Cựu phóng viên Mike Cochran sau 50 năm nhớ lại câu chuyện xưa.

Ngay lập tức, một phóng viên khác cũng có mặt tại buổi lễ đã đứng lên và tình nguyện khiêng quan tài. Anh ta là “đối thủ đưa tin” đáng gờm nhất của Mike Cochran ngày hôm đó. Khi thấy ngay cả đối thủ của mình cũng sẵn sàng dẹp nhiệm vụ tác nghiệp sang một bên để làm nghĩa cử nhân đạo cuối cùng, Mike ngay lập tức nhận ra thiếu sót của mình và cùng với các đồng nghiệp khác nhanh chóng nhận lời.

Buổi lễ diễn ra ngắn gọn và sơ sài. Đức cha Louis Saunders, người đứng đầu Giáo hội Thiên Chúa giáo thành phố Fort Worth, bang Texas  đã được mời tới khẩn cấp để làm nhiệm vụ thay cho vị mục sư vì lý do nào đó đã quyết định không đến đọc kinh siêu thoát cho người chết.

Khi đến nơi, Đức cha đã nói rằng: “Chúng ta ở đây không phải để phán xét mà để thực hiện nghĩa cử cuối cùng đối với một con người, đó là chôn cất anh Lee Harvey Oswald”. Khi Đức cha nói đến đây, mẹ và vợ của người chết đã không thể kìm nén xúc động - điều mà họ đã cố gắng thực hiện từ đầu lễ tang - họ bật khóc nức nở.

Cựu phóng viên Mike Cochran sau 50 năm nhớ lại câu chuyện xưa.
Mike Cochran và bức ảnh chụp lại cảnh ông cùng các đồng nghiệp khác khiêng quan tài của Lee Harvey Oswald.

Cựu phóng viên Mike Cochran sau 50 năm nhớ lại câu chuyện xưa.
Chiếc kính phóng đại phóng to khuôn mặt của phóng viên Mike Cochran tại lễ tang của kẻ sát nhân nổi tiếng trong lịch sử Mỹ.

Nhiều năm sau, Mike vẫn được các tòa báo đặt hàng viết bài xung quanh vụ ám sát lịch sử này. Ông đã thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn đối với những nhân vật có liên quan tới Lee Harvey Oswald nhưng người mà ông muốn phỏng vấn nhất - vợ của Oswald - thì vẫn chưa thực hiện được.

Sau khi tái hôn, bà Marina không muốn tiếp xúc với phóng viên nữa. Chồng bà cũng nổi tiếng là người dữ dằn đối với cánh phóng viên, ông ta đã từng rút súng rượt đuổi một phóng viên đeo bám dai dẳng.

Vì vậy, một hôm Mike đã đến chờ sẵn trước ngôi nhà của họ, chờ cho người chồng mới của Marina đi làm rồi mới gõ cửa. Đúng như dự đoán, bà Marina từ chối tiếp chuyện. Mike đứng sững ngoài cửa nhìn bà, quả thực sau tất cả những gì đã xảy ra, giờ đây, Marina đã trở lại là một phụ nữ trẻ trung, xinh đẹp.

“Có gì lạ lắm sao?”, câu hỏi của Marina đã tạo điều kiện cho Mike sử dụng “đòn tâm lý”.

“Vâng, đã 2 năm rồi tôi không nhìn thấy cô, kể từ cái ngày đầu tiên tôi gặp cô ở lễ tang tại nghĩa trang Rose Hill”.

“Ông đã có mặt ở đó sao?”

“Tôi chính là người đã khiêng quan tài”.

“Vâng, vậy… Mời ông vào nhà uống nước”.

Kết quả sau đó là Mike đã có được cuộc phỏng vấn kéo dài vài tiếng đồng hồ với nhiều câu trả lời sâu sắc. Họ vừa trò chuyện, hút thuốc và nhấp cà phê. Marina cho biết khi còn sống với Oswald, chồng cũ của cô nhiều lần đưa thuốc lá bảo cô hút thử nhưng Marina luôn từ chối. Giờ đây, cô đã nghiện thuốc lá nặng.

Cựu phóng viên Mike Cochran sau 50 năm nhớ lại câu chuyện xưa.
Tại lễ tang của Lee Harvey Oswald chỉ có mẹ, anh trai, vợ và hai con gái nhỏ. Những người đứng xung quanh là phóng viên, nhân viên an ninh, cảnh sát, nhân viên nghĩa trang.

Marina nhìn  chồng lần cuối tại lễ tang.
Marina nhìn chồng lần cuối tại lễ tang.

Marina nhìn chồng lần cuối tại lễ tang.
Oswald bị bắt vì tội ám sát Tổng thống John F. Kennedy vào ngày 22/11/1963. Hai ngày sau đó, Oswald cũng bị bắn chết khi đang được cảnh sát dẫn độ chuyển sang nhà tù khác.

 

Bích Ngọc

Theo DM

 

 




 

--

Thomas D. Tran

 

Không Nói, Không Viết, Không Làm

những gì có lợi cho cộng sản.

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List