QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Tuesday, December 17, 2013

Đài Truyền Hình Đồng Nai Việt Nam cộng sản phát hình Hải Chiến Hoàng Sa VNCH



On Sunday, December 15, 2013 12:57 AM, Alexandre Pham <alexannapha> wrote:


Đài Truyền Hình Đồng Nai Việt Nam cộng sản phát hình Hải Chiến Hoàng Sa VNCH:

https://www.youtube.com/watch?v=ACxnZCDfwbY








From: jovitran
Date: Sat, 14 Dec 2013 05:20:17 -0600
Subject: Video: "Chinese Military vs The Japan Self Defence Forces"

 


So sánh vũ lực Nhật & Tàu, ai hơn ai ? Tàu thắng Nhật hay Nhật thắng Tàu ? nếu trận chiến xảy ra ở biển đông.

Video with you on YouTube



Chinese Military vs The Japan Self Defence Forces
by Chery S


轉自youku
©2013 YouTube, LLC 901 Cherry Ave, San Bruno, CA 94066

Hành trình của… “hành trình thuyền nhân”,





Inline image 10



Hành trình của… “hành trình thuyền nhân”,
Du Tử Lê.
Tôi vẫn nghĩ, sinh mệnh của một tác phẩm cũng giống như sinh mệnh một con người. Có những tác phẩm ngay khi vừa “bước vào” đời, đã nhận được những thuận lợi, đôi khi trên cả mơ ước của người sinh thành - - Thì, cũng có những tác phẩm không được ai ngó ngàng. Nó bị lãng quên ngay từ phút “chào đời” thứ nhất. 

Cũng có những tác phẩm, những tưởng đã “chết non” - - Vậy mà nhiều chục năm sau, lại được phục sinh với những vòng nguyệt quế ngợi ca, không thể rực rỡ, chói lòa hơn. Nói cách khác, sự kiện này cho thấy, đường bay một tác phẩm, cũng nằm ngoài tầm kiểm soát của con người vậy. 

Ở trường hợp nào thì, tôi vẫn muốn gọi chung đó là hành trình tử sinh của một đời kiếp.

Cảm nhận này, trở lại với tôi cách đây hơn tháng, khi ký giả Ngụy Vũ cho tái bản bộ sách “Hành Trình Thuyền Nhân” (bản tiếng Việt) – và “The Vietnamse Boat People” (bản tiếng Anh) do NV Foundation ấn hành. Tôi muốn nói đó là một “hành trình” của những “hành trình thuyền nhân”.

Hành trình hay đoạn đường tìm về đầu nguồn bi kịch thuyền nhân, khởi sự khi người trẻ tuổi Ngụy Vũ, một cựu thuyền-nhân nảy sinh sáng kiến, tổ chức cuộc thi chủ đề “Chuyện kể hành trình biển đông”, đăng tải những hồi ký do chính những kẻ sống sót trong hành trình đi tìm tự do trên biển đông, kể lại. 

Chúng ta còn nhớ, ít năm sau biến cố bi thảm 30 tháng 4-1975, như tấm lưới sắt nung đỏ, chụp xuống sinh mạng của mấy chục triệu người dân miền Nam. Và người dân miền Nam, không có một chọn lựa nào khác hơn, lao vào cái chết, để tìm sự sống. 

(1)
Với tôi, những hồi ký ấy, tựa những bản tự khai bên bờ vực sống chết chứa đầy nước mắt, thịt xương của các nạn nhân biển cả, hải tặc, đói khát, may mắn sống sót…, được chuyển tới người đọc mỗi ngày trên nhật báo Viễn Đông, thời cố nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, trong vai trò chủ nhiệm.

 (2) Cũng từ những trang báo Viễn Đông vừa kể, tác phẩm “Chuyện kể hành triển biển Đông” tập một, ra đời.
Sự ra đời của tuyển tập này, không chỉ khơi lại dòng lệ những tưởng nguôi ngoai của bi kịch thuyền nhân - - Những phận đời chao chát trên sóng biển mà, gồm cả những người trên bờ - Những tỵ nạn lưu vong, may mắn không phải ngụp lặn, trải qua những cảnh “địa ngục có thật”. Sự khơi lại bi kịch chưa từng xẩy ra trong lịch sử di tản của loài người, phần nào lai tỉnh những trái tim “đông lạnh” trước đó, trong tinh thần liên đới nhân loại.

Có dễ chính vì thế mà trong một gặp gỡ tại tòa soạn nhật báo Người Việt giữa năm 2002, khi sức dội của những bản “tự khai” máu và nước mắt của một số nạn nhân trên biển Đông, tức tưởi lan tỏa trong cộng đồng người Việt tỵ nạn, cố nhà báo Đỗ Ngọc Yến (3) chủ nhiệm sáng lập của nhật báo này đã rất thẳng thắn khi nói với Ngụy Vũ, cha đẻ của sáng kiến “Chuyện kể hành trình biển đông” rằng:
“Tại sao chúng tôi lại không nghĩ ra điều phải làm này nhỉ…?”
Và, ông nhấn mạnh, ông sẽ mở “rộng cửa” báo Người Việt, hiểu theo nghĩa, tiếp tay tối đa với Ngụy Vũ trong nỗ lực nhìn lại một giai đoạn lịch sử bi thảm nhất của người Việt trên biển.

Thiện ý của cố Chủ nhiệm Người Việt, Đỗ Ngọc Yến mãi gần một năm sau mới được đáp ứng, Đó là khi “Chuyện kể hành trình biến Đông” tập một được ấn hành năm 2003, cũng là lúc báo Viễn Đông của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang quyết định sẽ giở lại một trang sử bi thảm khác của người dân miền Nam, sau biến cố 1975, qua cuộc thi “Chuyện kể vợ người tù cải tạo”.

Nhớ lại hảo ý của nhà báo Đỗ Ngọc Yến, Ngụy Vũ tìm họ Đỗ, hỏi ông còn giữ ý nghĩ ngày nào? - - Thì họ Đỗ xác nhận:
“Chẳng những vẫn nhớ mà tôi sẽ chỉ định một thành viên của Người Việt, có đủ khả năng tầm vóc, để cùng Ngụy Vũ đi tiếp hành trình đau thương, cần thiết phải được tái hiện này…Tôi là người rất quý những người trẻ có sáng kiến…”
Người được họ Đỗ chọn để giao phó nhiệm vụ cùng Ngụy Vũ bước tiếp trên lộ trình ngược về “biển đông”, chính là nhà báo Vũ Ánh.

Dù bận rộn, nhưng họ Vũ vẫn dành thì giờ, đọc, và chọn những trích đoạn ý nghĩa nhất của mỗi hồi ký “Chuyện kể hành trình biển Đông” để giới thiệu hàng ngày trên nhật báo Người Việt. Nói cách khác, ông đã sát cánh với Ngụy Vũ, dựng lại một giai đoạn lịch sử tỵ nạn lầm than nhất của đồng bào. Kết quả của những ngày tháng làm việc giữa Vũ Ánh và Ngụy Vũ là tuyển tập “Chuyện kể hành trình biển Đông” tập thứ hai ra đời. 

Không lâu sau đó, là ấn bản tiếng Đức. Rồi ấn bản tiếng Anh! Mặc dù để thực hiện hai ấn bản này, là cả một “hành trình” khó khăn với tốn kém không nhỏ. Nhưng, nhà báo Vũ Ánh đã đồng ý với Ngụy Vũ rằng, cách gì thì cũng phải cho ra đời “Chuyện kể hành trình biển Đông” bản Anh ngữ, để gửi cho 100 Thượng nghị sĩ và hơn 400 Dân biểu Liên bang của Quốc Hội Hoa Kỳ. Như lời cảm ơn, đồng thời nhắc nhở họ, đừng quên một cách nhậm lẹ, nguyên nhân đưa tới cái chết tức tưởi của hàng trăm ngàn thuyền nhân ở biển Đông…

Khi hai tập “Hành trình thuyền nhân” bản tiếng Việt và tiếng Anh được tại bản tại vùng đông bắc Hoa Kỳ, cơ sở NV Foundation đã nhận được nhiều thư của giới trẻ, bày tỏ lòng biết ơn của họ. Vì, qua tuyển tập này, họ mới hiểu rõ, đấng sinh thành, bậc cha, chú của họ, đã trải qua một “hành trình” máu và nước mắt, khủng khiếp như thế nào. Điều đó cũng gần với nhận định của học giả David Maruyama khi ông viết:
“…Việc gìn giữ những câu chuyện này thật quan trọng. Không có những câu chuyện này, ai sẽ nhớ thuyền nhân? Hãy để ký ức về họ còn sống mãi, để tất cả chúng ta còn nhớ vì sao họ phải ra đi và giá trả của tự do…”

Cá nhân tôi, chỉ xin nhấn mạnh, đó cũng là “hành trình” kép của một người tên Ngụy Vũ trên bước đường tái dựng “hành trình thuyền nhân” của tập thể Việt ở quê người. Một “hành trình” nếu không khởi đi từ một tấm lòng, một quyết tâm hy sinh cao độ, thì, lịch sử một giai đoạn của dân tộc, đã (hay chưa) được tái hiện!
Du Tử Lê
(Calif. Dec. 12th 2013)
……………………………………………………………………………………….Chú thích:
(1)Chủ đề và cũng là nhan đề tập sách đầu tiên do ký giả Ngụy Vũ thực hiện và ấn hành tên là “Chuyện kể hành trình biển Đông”. Tuy nhiên, giữa năm 2013, khi quyết định tái bản bộ sách vừa kể, ông đã đổi tên thành “Hành trình thuyền nhân”, để tránh bị “nhiễu sóng” bởi những biến cố chính trị lớn do đảng CS Trung quốc đơn phương gây ra, ở biển Đông…”
(2) Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang sinh năm 1944, mất năm 2011 tại nam California.
(3)Theo Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia thì nhà báo Đỗ Ngọc Yến sinh ngày 25 tháng 5-1941, mất ngày 17 tháng 8-2006, là người sáng lập ra và cũng là chủ nhiệm đầu tiên của Nhật báo Người Việt, tờ báo tiếng Việt lâu đời nhất và cũng lớn nhất tại hải ngoại… Ông bắt đầu viết báo khi còn đi học và là chủ bút tờ báo trường Trương Vĩnh Ký… Khi vào đại học Văn khoa, ông trở thành một đại diện trong ban Chấp hành Sinh viên và đã tổ chức những cuộc xuống đường đòi lật đổ tướng Nguyễn Khánh năm 1964. 

Năm sau ông bắt đầu làm việc với International Voluntary Service (IVS), một hội thiện nguyện Hoa Kỳ, vận động và tổ chức thanh niên sinh viên giúp IVS phân phối thực phẩm cho đồng bào bị nạn bão lụt ở miền Trung. Từ năm 1964 ông đã viết bài cho các nhật báo Sống, Sóng Thần, Ðại Dân Tộc, tạp chí Văn Nghệ, tuần báo Ðời, và nhiều tờ báo khác. 

Bắt đầu từ thập niên 1970 ông cộng tác với nhiều phóng viên các báo ngoại quốc hoạt động tại Việt Nam… Vào ngày 26.04.1975, ông và vợ cùng 3 con rời Việt Nam và sau đó được định cư ở Hoa Kỳ…Ông mắc bệnh tiểu đường và suy thận… Ông mất ngày 17 tháng 8 2006 tại bệnh viện Fountain Valley, miền Nam California.



Monday, December 16, 2013

THOÁI ĐẢNG, MỘT TRIỂN VỌNG MỚI CHO QUÊ HƯƠNG


 

THOÁI ĐẢNG, MỘT TRIỂN VỌNG MỚI CHO QUÊ HƯƠNG



Nguyễn Thu Trâm, 8406 - Trong những ngày qua, dư luận của người Việt trong và ngoài nước xôn xao trước hiện tượng thoái đảng, bỏ đảng của một số đảng viên đảng cộng sản Việt Nam. Nếu so sánh với trào lưu thoái đảng ở Trung Quốc với con số 100 triệu đảng viên đã công khai tuyên bố từ bỏ đảng cộng sản, thì số lượng những người Việt tuyên bố ly khai khỏi đảng cộng sản Việt Nam quả thực chỉ là một con số quá ư ít ỏi, ấy vậy mà đã tiêu tốn không ít giấy mực của các báo chí lề dân, cũng như khá nhiều thời gian bàn qua tán lại của nhiều người đang nặng lòng với quê hương, với đất nước và với tiền đồ của dân tộc.

 


 

Thực ra không phải ông Lê Hiếu Đằng là người đầu tiên ly khai khỏi đảng cộng sản, mà trước đó, từ những năm cuối thập niên 1980s và đầu thập niên 1990s cũng đã có nhiều đảng viên, từng giữ các trọng trách trong bộ máy quyền lực của nhà nước cộng sản như các ông Huỳnh Nhật Hải sinh năm 1943, ông Huỳnh Nhật Tấn sinh năm 1946 là hai anh em ruột, là những người đã công khai từ bỏ đảng cộng sản vào cuối năm 1988, đồng thời hai ông Hải và Tấn cũng từ bỏ luôn những chức vụ đang đảm nhiệm kèm theo những tiềm năng rất lớn về quyền lực và quyền lợi:  Vào thời điểm đó, ông Hùynh Nhật Hải đang là Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Đà Lạt kiêm Thành ủy viên Thành ủy Đà Lạt, còn ông Huỳnh Nhật Tấn đang giữ chức vụ Phó Giám đốc Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng kiêm Tỉnh ủy viên dự khuyết. Và một đảng viên kỳ cựu khác mà không ít người quen tên biết tuổi, cũng đã công khai tuyên bố từ bỏ đảng cộng sản vào cuối năm 2009 đó là nhà văn, Ðại tá quân đội cộng sản bắc Việt Phạm Ðình Trọng. Nhưng trong thực tế đã có khá nhiều đảng viên cộng sản khác âm thầm từ bỏ đảng mà không cần tuyên bố.


Trở lại với hai ông cộng sản nòi Huỳnh Nhật Hải và Huỳnh Nhật Tấn, điều gì đã khiến hai đảng viên cộng sản đầy tiềm năng của một gia đình có truyền thống cách mạng từ trước năm 1945 lại có quyết định cao cả và quả cảm, ly khai khỏi đảng cộng sản khi đang trên đà danh vọng và quyền lợi cho bản thân, cho gia đình, cho con cháu đang ở trong tầm tay?

Đây chúng ta hãy lắng nghe tâm sự của hai ông trong một dịp trải lòng với Bác Sỹ Phạm Hồng Sơn, Hội trưởng Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Và Tôn Giáo Việt Nam trong chuyến Nam du vào đầu tháng 12 vừa qua:

Huỳnh Nhật Hải: “Có thể nói hai anh em chúng tôi đã được “nhuộm đỏ” từ bé. Chúng tôi đã có thiện cảm, tinh thần ủng hộ, và làm những việc có lợi cho những tổ chức của cách mạng như Việt Minh hay Mặt trận Dân tộc Giải Phóng miền Nam Việt Nam ngay từ khi còn rất nhỏ tuổi. Vì ba má tôi là một gia đình tư sản ủng hộ Việt Minh tại Đà Lạt từ trước năm 1945. Ba tôi là hội viên Công hội Đỏ và tham gia cướp chính quyền tại Đà Lạt vào năm 1945 và sau đó trở thành đảng viên bí mật của Đảng Cộng sản Đông Dương. Hai anh trai tôi là những người đi tập kết ra Bắc sau năm 1954. Một yếu tố nữa cũng làm cho chúng tôi ủng hộ Mặt trận là sự xuất hiện của quân đội Mỹ tại miền Nam. Sự xuất hiện đó làm cho những người như chúng tôi cảm thấy bị xúc phạm về chủ quyền dân tộc. Chúng tôi cảm thấy là miền Nam đang bị người Mỹ xâm lăng và cần phải chống lại họ và chính quyền thân Mỹ tại miền Nam.”

 

Huỳnh Nhật Tấn: “Tôi còn nhớ trong lá đơn xin ra khỏi Đảng lúc đó tôi có viết một câu: “Tôi không tin ĐCSVN có thể lãnh đạo đưa đất nước đạt được những điều tốt đẹp như Đảng thường nói.”

 

Huỳnh Nhật Hải: “Còn trong lá đơn của tôi viết sau ông em tôi một vài tháng, tôi nhớ đã viết là: “Tôi không còn động cơ để phấn đấu cho mục tiêu và lý tưởng của Đảng nữa.” Nhưng thực sự trong thâm tâm thì cũng giống như ông em tôi đã nói ở trên. Tôi không tin ĐCSVN nữa. Đó là một quãng thời gian kéo dài khoảng 5-7 năm, thông qua những quan sát, tìm hiểu, trao đổi, bàn bạc và trằn trọc từ mỗi bản thân và gần như chỉ giữa hai anh em chúng tôi.


Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói chúng tôi đi đến sự bất tín vào ĐCSVN là dựa vào những gì chúng tôi thấy, chúng tôi gặp trên thực tế hơn là từ vấn đề lý luận. Đó chính là những chính sách về quản lý xã hội, điều hành kinh tế và việc tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của người dân của ĐCSVN. Về quản lý xã hội, ĐCSVN đã không quản lý bằng pháp luật mà bằng sự tùy tiện, áp đặt, gần như hoàn toàn chỉ dựa theo các chỉ thị, ý muốn từ lãnh đạo Đảng. Ví dụ việc tịch thu nhà cửa, tài sản hay đưa đi “học tập cải tạo”, thực chất là bỏ tù con người, đều không dựa trên pháp luật hay xét xử của tòa án. Điều hành kinh tế thì lúc đó chúng tôi thấy những chính sách rất kỳ cục và phản khoa học, ví dụ như có những chỉ thị là Đà Lạt phải sản xuất bao nhiêu rau hay các huyện khác phải sản xuất bao nhiều mì[i] mà không cần  biết khả năng và lợi thế về thổ nhưỡng, thói quen canh tác của người dân hoặc việc giao quyền lãnh đạo kinh tế không dựa vào chuyên môn, kinh nghiệm mà lại dựa vào thành phần giai cấp và sự gắn bó với Đảng. Về các quyền tự do dân chủ của người dân, càng ngày chúng tôi càng thấy thực tế lại tồi tệ và khó khăn hơn rất nhiều so với thời Việt Nam Cộng hòa. Ví dụ như khi hoạt động trước 1975, chúng tôi đã từng cho một số viên chức chính quyền đọc cả cương lĩnh của Mặt trận nhưng những người đó không coi chúng tôi là thù địch, họ coi việc khác biệt quan điểm là chuyện hết sức bình thường. Nhưng sau năm 1975 mọi thứ không như thế nữa, tất cả mọi hoạt động, kể cả trong tư tưởng, mà khác với quan điểm của ĐCSVN thì đều không được chấp nhận. Báo chí tư nhân, biểu tình, bãi công, bãi thị đã hoàn toàn bị cấm ngặt mặc dù những bất công, nhu cầu lên tiếng của xã hội hết sức bức bối. Có thể nói điều lớn nhất để chúng tôi nhận thức lại ĐCSVN là sự độc tài toàn trị dựa trên bạo lực và không tôn trọng những quyền căn bản của người dân.


Huỳnh Nhật Hải: Sau khi cùng tìm hiểu, trao đổi, bàn luận chúng tôi nhận thấy tình trạng mất tự do, phi dân chủ hay có thể nói là cuộc sống kìm kẹp, đau thương của nhân dân, của giới trí thức sau chiến thắng 30/04/1975 ở miền Nam hoàn toàn là sự lặp lại y nguyên tình trạng ở miền Bắc sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 – thời kỳ mà ông Hồ Chí Minh vẫn hoàn toàn ở trên đỉnh cao quyền lực.

…Và khi nhắc đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi cả hai ông đều được trở lại thành, được sum họp với gia đình, bạn bè và họ mạc, sau khi đoàn quân của đảng các ông đã cưỡng chiếm được toàn miền Nam, thì cả hai ông Huỳnh Nhật Hải và Huỳnh Nhật Tấn đều có chung một tâm trạng là BUỒN

 

Huỳnh Nhật Hải: Buồn. Nếu không có cuộc chiến tranh tương tàn giữa hai miền trước 1975 thì dân tộc này không có cái bất hạnh, đau khổ như ngày hôm nay.

Huỳnh Nhật Tấn: Buồn. Một ngày quá buồn. Cái chiến thắng 30/04 chỉ đem lại một sự áp bức trên mọi phương diện cho nhân dân, đất nước và lại nặng nề hơn cả thời Pháp thuộc.

Và lý do mà cả hai ông Huỳnh Nhật Hải và Huỳnh Nhật Tấn đã từ bỏ đảng cộng sản khi đang còn trên đỉnh cao của danh vọng và quyền lực bởi cả hai đều đã nhận ra được lầm lỗi của mình qua những tâm sự đắng cay thế này:


Huỳnh Nhật Tấn: Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay. Và nếu xét về những căn bản để bảo đảm tự do cho nhân dân và độc lập cho dân tộc thì tôi cũng đã vô tình góp công sức đưa những người mang danh là “cách mạng” nhưng thực chất là vì quyền lực tới phá bỏ một chế độ đã được xây dựng trên những căn bản về tự do, dân chủ và nhân bản tại miền Nam Việt Nam.

Huỳnh Nhật Hải: Bây giờ nhìn lại, con đường chúng tôi đã đi trước 1975 là một con đường sai lầm. Sự nhiệt huyết lúc đó của chúng tôi đã đem lại bất hạnh hơn là hạnh phúc cho dân tộc.

 


...Trở lại với trường hợp thoái đảng của ông Lê Hiếu Đằng, khác hẳn với bối cảnh ly khai khỏi đảng cộng sản của hai ông Hải và Tấn, Ông Lê Hiếu Đằng thoái đảng trên giường bệnh, khi biết mình đã gần đất xa trời, khi biết mình chắc chắn sẽ không còn nhận được chút ân sủng gì nữa của đảng, và điều đáng tiếc là ông Đằng vẫn chưa nhận ra tội lỗi của mình đối với đồng bào, với dân tộc khi đi theo cộng sản để mang lại đau thương, tang tóc cho quê hương cho nòi giống, thậm chí ông Đằng vẫn còn ngộ nhận hành động xâm lược miền Nam của cộng sản Bắc Việt là “Giải Phóng Dân Tộc” nên dẫu đã từ bỏ đảng nhưng vẫn chưa hề ăn năn: “Tôi tên Lê Hiếu Ðằng là đảng viên đảng CSVN, hơn 40 tuổi đảng. Nay tôi tuyên bố công khai ra khỏi đảng CSVN vì: Ðảng CSVN bây giờ không còn như trước (đấu tranh giải phóng dân tộc) mà đang suy thoái biến chất, thực chất chỉ là đảng của những tập đoàn lợi ích, trở thành lực cản cho sự phát triển đất nước, dân tộc. Ði ngược lại lợi ích dân tộc, nhân dân. Tôi xin xác định đây là quyết định của tôi”.​... Và khi ngồi viết những lời này thì chúng tôi nhận được thông tin ông Lê Hiếu Đằng đã bị hôn mê sâu sau nhiều tháng dài điều trị tại bệnh viện. Chắc chắn là sự tồn tại của ông Đằng trên thế gian này chỉ còn tính bằng giờ, bằng khắc ngắn ngũi mà thôi. "Hổ tử lưu bì, nhân tử lưu danh": Vâng hổ chết để da, người ta chết để tiếng... Sinh ra và lớn lên ở miền Nam tự do, được hưởng thụ nền giáo dục khai phóng và nhân bản của Việt Nam Cộng Hòa với đầy đủ và trọn vẹn những quyền làm người mà Thương Đế đã ban cho, nhưng như loài dơi không chấp nhận ánh sáng mà chỉ thích nghi với đời sống nơi tối tăm, u trệ, Lê Hiếu Đằng cùng một số nhân sỹ trí thức Miền Nam từng ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản đã chối bỏ ánh sáng của Tự Do, Dân Chủ của Miền Nam mà đi tìm sự tăm tối u mê nơi chế độ cộng sản và cũng chính Lê Hiếu Đằng cùng đồng đảng đã mang cái tối tăm u trệ và đau thương tang tóc cho quê hương, cho dân tộc. Chẳng biết sự quay đầu quá muộn màn của Lê Hiếu Đằng có giúp rửa đi phần nào những vết dơ tội lỗi của ông đối với người dân Nam, đối với chính thể Việt Nam Cộng Hòa hay không, bởi chắc chắn với những tội lỗi của ông và của những kẻ ăn cơm quốc gia mà thờ ma cộng sản, tuổi tên của ông và của đồng đảng sẽ phải lưu xú muôn đời. Chỉ mong rằng, những kẻ cùng thuyền cùng hội với Lê Hiếu Đằng sớm quay đầu trước khi quá muộn.


Dù vậy, cũng phải khách quan mà thừa nhận rằng việc thoái đảng của ông Lê Hiếu Đằng ít nhiều đã tạo được hiệu ứng đối với một số đảng viên trẻ như tiến sỹ Phạm Chí Dũng và Nha Sỹ Nguyễn Đắc Diên… là hai đảng viên đã công khai từ bỏ đảng cộng sản với những tuyên bố mà ở một chừng mực nào đó cũng có thể giúp làm thức tỉnh lương tri của những người cộng sản, những người đang đặt quyền lợi của giai cấp, của bản thân lên trên quyền lới của tổ quốc, của dân tộc, rằng: “Tôi chính thức từ bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam bởi tất cả những gì mà Đảng Cộng sản thể hiện vai trò 'lãnh đạo toàn diện' trong ít nhất một phần tư thế kỷ qua đã khiến cho tôi, cũng như nhiều đảng viên khác, đi từ thất vọng đến tuyệt vọng về lý trí lẫn tình cảm vì đảng Cộng sản hiện thời chỉ còn mang bóng hình và hơi thở của các nhóm lợi ích” (Tiến Sỹ Phạm Chí Dũng). Và “Khi vào đảng tôi đã từng thề, rằng tuyệt đối trung thành với đảng. Nay, tôi thà phản bội lời thề trung thành với đảng còn hơn phải theo đảng mà phản bội lại quyền lợi dân tộc, dân sinh, dân chủ, dân quyền mà lẽ ra dân tộc tôi phải được hưởng từ 38 năm về trước.” (Bác Sỹ Nguyễn Đắc Diên) Hy vọng cùng với những tâm tư đó, những đứa con một thời lầm lạc của dân tộc sẽ nhận ra "con đường bác đi là con đường bi đát", mà sớm quay về để chung tay cùng cả dân tộc trong công cuộc Khai Dân Trí, Chấn Hưng Khí và Hậu Dân Sinh vì sự tồn vong của giống nòi Lạc Việt.

Mong lắm thay

Nguyễn Thu Trâm, 8406

17 Năm Trong Các Trại Cải Tạo Của CSVN


 


17 Năm Trong Các Trại Cải Tạo Của CSVN
 
Lời Nói Đầu
 
Tôi không là văn sĩ, và cũng không có tham vọng làm một nhà văn.  Tôi không phải là một nhà ái quốc theo đúng nghĩa của nó.  Tôi chỉ là một người Việt Nam bình thường, làm những công việc bình thường trong một quốc gia không bình thường!  Giống như hàng trăm ngàn người ở miền Nam Việt Nam sau ngày 30 tháng tư năm 1975, tôi đã vào những trại tập trung của Cộng Sản, cái mà chúng đặt tên là “Trại Cải Tạo”, để rồi đã phải trải qua suốt gần 17 năm dài ở trong ấy.  Viết những trang hồi ký này, tôi chỉ muốn làm một chứng nhân của một giai đoạn lịch sử chứ không có tham vọng kết án những cái gọi là “tội ác của Cộng Sản” hay nêu gương những người anh hùng bất khuất ở trong đó.
 
Những người Việt “Quốc Gia” mà trong đó có tôi đã thất bại trong cuộc chiến mà người Mỹ đặt tên là “Chiến Tranh Việt Nam” - cuộc chiến của Mỹ ở chiến trường Việt Nam -.  Tôi không biết kết quả thật sự của cuộc chiến ấy là người Mỹ đã thắng hay bại mặc dù sau khi “Chiến Tranh Việt Nam” chấm dứt thì khối Cộng Sản đã lần lượt sụp đổ, nhưng điều mà tôi thấy rõ là những người Việt Quốc Gia đã phải chết trong các Trại Cải Tạo của Cộng Sản hay đang phải lưu vong khắp thế giới, và những người Việt Cộng Sản đang ngự trị trên toàn lảnh thổ Việt Nam. 
 
 Chúng ta đã thất bại vì chúng ta đã không nêu được cái chính nghĩa “Quốc Gia” trong khi “Việt Cộng” có cái chính nghĩa “Giải phóng” đất nước của họ.  Những nhà lãnh đạo của chúng ta đã làm gì trong thời gian chiến tranh, điều đó hẳn là hầu hết chúng ta đã nhìn thấy!  Chúng ta đã bị lãnh đạo bởi những người chỉ biết nghĩ đến quyền lợi cá nhân hay tập đoàn hơn là quyền lợi chung của đất nước.  Chúng ta mệnh danh là những người “Việt Quốc Gia” nhưng lại trở thành những người đánh thuê cho Mỹ.  Khi Mỹ rút lui thì chúng ta không còn một khối người “Việt Quốc Gia” nữa mà đã trở thành những toán quân rã ngũ.  Đa số những nhà lãnh đạo thì lo đi tìm sự an toàn riêng cho bản thân và gia đình họ, phần lớn còn lại thì âm thầm hoặc tìm phương lẩn trốn ra nước ngoài hoặc nộp mình vào các trại cải tạo để mong hưởng sự “khoan hồng” của “Đảng và Nhà Nước”.
 
Ở trong trại Cải Tạo, chúng ta cũng không có một sự đoàn kết nào mà lại sống âm thầm, nghi ngờ nhau, đổ lổi nhau, hoặc tự chia rẽ nhau.  Cộng Sản đã khai thác triệt để những nhược điểm ấy để dể điều hành các trại cải tạo của họ. 
 
“Mỗi người Việt Nam đều có trong đầu một ông quan”, không biết cái thành ngữ này có đúng hay không, nhưng tôi thấy không ai trong chúng ta muốn làm một con ốc trong một cổ máy mà chỉ muốn làm người điều hành cổ máy ấy mà thôi, để rồi rốt cuộc thì chẳng ai có một cổ máy nào để điều hành!
 
Chúng ta đã thất bại và những người Cộng Sản đã chiến thắng.  Điều ấy là một thật tế không thể chối cải được!  Mặc dù giờ đây thì đất nước ta đang bị cai trị bởi một chủ nghĩa “phi nhân” trong khi cả thế giới đã phải từ bỏ, điều quan trọng mà tôi thấy được là đất nước ta không còn chiến tranh nữa, dân tộc chúng ta không còn chết chóc tang thương nữa.  Phần còn lại của chúng ta và của các thế hệ mai sau là làm thế nào để đất nước Việt Nam chúng ta thoát khỏi những tắc nghẽn của một chủ thuyết sai lầm để mà tiến lên.
 
Tôi viết những trang hồi ký này chỉ để ghi lại những gì đã diễn ra cho chính bản thân tôi cũng như cho những người bình thường nhất ở trong những cái gọi là “Trại Cải Tạo” của Cộng Sản.  Tất nhiên còn nhiều điều mà tôi không được chứng kiến hay trải qua, cũng như những điều mà tôi không thể nào nhớ hết được.  Vì thế tôi mong những ai đã sống trong giai đoạn ấy nên ghi lại và tổng hợp thành một bức tranh toàn diện về các trại cải tạo của Cộng Sản Việt Nam.
Như tôi đã nói, tôi không là một nhà văn cho nên không có trình độ để trao chuốt văn ngôn.  Các bạn đọc nên xem đây như là một lối kể chuyện của một người bình thường.  Đối với những ai đã sống trong các trại cải tạo thì coi như đây là một đóng góp để nhớ lại thời gian đen tối và đau khổ của chúng ta.  Còn đối với những ai chỉ nghe nói đến hai chử “Cải Tạo” thì coi như đây là một sự tìm hiểu thêm về một giai đoạn của đất nước. 
 Ghi nhớ tất cả các bạn đồng cảnh và
những người đã chết trong các trại Cải Tạo.
Gữi tất cả tình thương về mẹ!
 

Cướp lớn xử cướp bé

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List