QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Thursday, December 25, 2014

Về những người Việt đã vượt biển đến Hong Kong sau ngày 30/4/1975

From: "Tran Marie hangiangletuyen
To: thaoluan9@yahoogroups.com
Sent: Thursday, December 25, 2014 8:56 AM
Subject: [Thaoluan9] Về những người Việt đã vượt biển đến Hong Kong sau ngày 30/4/1975

 
Về những người Việt đã vượt biển đến Hong Kong sau ngày 30/4/1975

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền


Kính gửi quý vị trên các diễn đàn,
Kính gửi anh Nguyễn Thùy,

Trước hết, tôi xin nói rõ: Anh Nguyễn Thùy, là một người anh đồng hương, anh đã từng chia xẻ những đau thương của riêng tôi. Anh là ân nhân của tôi. Thế nhưng, vì lương tâm, vì những sự thật, bắt buộc tôi phải lên như sau:

Trước hết, tôi biết anh Nguyễn Thùy, là người vượt biển, nhưng anh không đến trại Hong Kong, nên anh không biết gì về những người đã ra đi từ miên Bắc. Tôi không có ý kiến về những điều khác, mà chỉ nói riêng về một đoạn, mà anh Nguyễn Thùy đã viết về những người miền Bắc đã đến Hong Kong. Tôi cũng biết, anh Nguyễn Thùy, không thấy, không biết. Nghĩa là không chứng kiến, nên viết không đúng với sự thật.

Còn tôi, tôi  từng ở trại tỵ nạn Cộng sản Hong Kong như trại Chimawan, trại San Yick,  nên phải lên tiếng về một đoạn anh Nguyễn Thùy đã viết như sau:

“…một số không ít người miền Bắc (dưới chế độ Dân Chủ Cộng Hòa Cộng sản - số người nầy thường vượt biển sang tỵ nạn tại Hồng-Kông) đã 'mười chết một sống' hối hả phải rời Tổ quốc thân yêu, chạy trốn độc tài Cộng sản đến các xứ sờ tự do tìm không gian sống mới”.


Những điều này, hoàn toàn không đúng với sự thật:

1. Những người từ Bắc Việt, họ không hề có cái gọi là “đã 'mười chết một sống' hối hả phải rời Tổ quốc thân yêu, chạy trốn độc tài Cộng sản”, mà họ được đảng CSVN, tạo điều kiện hoàn toàn tự do, để đi đến Hong Kong. Mỗi thuyền họ ra đi, đều chuẩn bị đầy đủ, để mang theo cả gà, vịt... và thức ăn, trên con đường men theo bờ biển đến Hong Kong.

Họ không hề bị bắt lại, không hề có bị tù vì “tội vượt biển” như người miền Nam: VNCH.

2. Đến Hong Kong, mỗi năm đến ngày 30/4, họ đều treo Cờ Đỏ Sao Vàng, để “ăn mừng chiến thắng”. Họ luôn luôn tìm mọi cách để giết chết người dân miền Nam tỵ nạn Cộng sản thực sự. Họ đã dùng những thanh sắt, được tháo ra từ những chiếc giường ngủ, rồi mài thành những vũ khí, để giết chết, đâm, chém, và cắt gân chân, gân tay của người miền Nam. Có khi họ nấu nước sôi, hoặc dùng nước tiểu đem tưới lên những giường ngủ của các gia đình Quân Nhân QLVNCH.

Cũng nên biết, trước đó đồng bào miền Nam: VNCH ở trại Chimawan. Còn những người miền Bắc thì ở trại Heiling Chau, Shamshuipo... họ đông hơn người miền Nam, vì được CSVN cho đi tự do.

Cũng cần nhắc lại, khi chính quyền Hong Kong đã dồn tất cả những người vượt biển, cả Nam lẫn Bắc đến ở chung tại trại San Yick. Từ đó, hàng ngày người miền Nam đã bị người miền Bắc đánh, giết, có người trở thành tàn phế. “Vì bản chất và chiến thuật lấy thịt đè người của họ”.

Chính vì vậy, nên đồng bào miền Nam. Đặc biệt, là các chị phụ nữ, đã tập họp toàn trại miền Nam, để thành lập đội ngũ, thành những nhóm thanh niên thay phiên canh gác ban đêm, để đồng bào được an tâm đi ngủ. Cũng có tổ chức cho các thiếu nữ, để họ chịu trách nhiệm trông nom các trẻ  em, để cho các phụ nữ lớn tuổi đối đầu trong  những lần người miền Bắc tấn công người miền Nam.

Và cuối cùng, họ đồng tâm đứng lên tranh đấu: Từ Văn Phòng Phúc Lợi - Cảnh sát Hong Kong - Ông Trại trưởng - Ông Thống Đốc Chính Phủ Hong Kong. Cho đến cuối cùng là một cuộc tuyệt thực từ sáng sớm đến chiều trước Văn Phòng Phúc Lợi tại trại San Yick, của Thành phần Phụ nữ Đại Diện tầng lớp đồng bào Tỵ Nạn Cộng Sản tại trại San Yick, Hong Kong, để đòi gặp cho bằng được Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc tại Hong Kong, để trình bày những bằng chứng xác thực về những đợt tấn công đẫm máu, kinh hoàng của người miền Bắc.

Và sau một buổi “tranh luận” giữa Phái đoàn cao Ủy Tỵ Nan Liên Hiệp Quốc và Đại diện đồng bào miền Nam tỵ nạn Cộng sản của Thành phần Phụ nữ,  thì Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc đã chấp thuận: Chia đôi hai trại Nam, Bắc trở lại như cũ.

Tôi còn giữ lại những bằng chứng, một ĐƠN THỈNH NGUYỆN, của Thành phần Phụ nữ Đại diện tấng lớp đồng bào tỵ nạn cộng sản tại trại san Yivk, Hong Kong.

Vậy, tôi đưa lên đây, để quý vị hiểu thêm về tình trạng này. Tuy nhiên, tôi phải cắt đi phần chữ ký của hơn 100 (hơn một trăm) các phụ nữ đã ký tên vào Đơn Thỉnh Nguyện, vì ngoài chữ ký, các phụ nữ ấy, đều có ghi thêm tên họ rõ ràng. Mà hiện nay, họ đang tỵ nạn Cộng sản ở nhiều quốc gia, có thể họ đang sống gần những người miền Bắc, đã từng đánh đập, hành hung họ và thân nhân của họ, để tránh những cuộc trả thù, như đã xảy ra tại Hong Kong trước kia.








Một lần nữa, tôi chân thành mong quý vị, nếu muốn viết về những người vượt biển, thì trước khi viết, quý vị nên tham khảo những tài liệu chính xác, để tránh được những sai lầm không nên có, và cũng để trở thành những tài liệu lịch sử, cho hậu thế còn biết đến những cuộc vượt biên, vượt biển đầy máu và nước mắt, tang tóc, đau thương của tất cả những con dân của nước Việt Nam Cộng Hòa sau NGÀY QUỐC HẬN: 30/4/1975 !

Parir, ngày 25/12/2014
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
______________________________________________
  


---------- Forwarded message ----------
From: Chinh Tran 
ChinhNghiaViet@yahoogroups.com>
Date: 2014-12-25 1:54 GMT+01:00

Thưa qúi vị,
Từ ngày “bị gậy” lưu lạc giang hồ, hôm nay  được đọc một bài  của
​  Nguyễn Thùy  đã “thẩm thấu” được tất cả những ý- từ  đã được nhiều người phơi bày từ trước đến nay .
Tại sao người ngọai quốc luôn đồng tình  hay chủ trương “ Xóa bỏ ngày quốc Hận 30-4-1975”​
​
của VNCH ?  Vì đó là nỗI đau, nỗI nhục của nhân lọai, nhất là những quốc gia, thể chế có chữ ký trong Hiệp Định Geneve và Hòa Đàm Paris !  Những chữ ký giết người , những quốc gia bần tiện và độc ác đã lụy theo kẻ giết người chỉ vì “miếng cơm manh áo”, kiếm được lợi nhuận  chiến tranh  chia chác với kẻ cựu thù !

Điều đáng trách hờn hơn cả , là lũ Việt Gian tay sai, đã quên đi nỗI đau nhục cho Quê hương miền Nam - Việt Nam Cộng Hòa  mà phục vụ cho kẻ thù và những bá nhân  độc ác  phản bội và  hèn hạ !

Dưới Thế  này vẫn chưa được Bình An vì thế giới này còn qúa nhiều kẻ (Quốc Gia) Độc ác !
ChinhIrving ./.

                               
“Ngày Quốc Hận”
hay “Ngày Hành Trình Ðến Tự Do” ?
                                                                                                         
nguyễn thùy
     
      Ngày 30 tháng Tư năm 1975 được mọi người VN tại hải ngoại gọi là ‘Ngày Quốc Hận’. nhưng đã có lần đảng Việt Tân gọi ngày đó là ngày ‘tranh đấu cho Tự do’ (thay vì gọi là ‘ngày quốc hận’) và bị hầu hết người Việt yêu nước phản đối. Mới đây Tiến sĩ Ngô Thanh Hải, thượng nghị sĩ Quốc hội Canada đệ trình dự luật lên Thượng Viện Cananda và được Thủ tướng Harper và Thượng viện đồng ý danh xưng gọi ngày 30/04/1975 là ‘Ngày Hành Trình đến Tự Do’, sự việc nầy cũng bị một số người chống đối đôi khi với lời lẽ thô bạo đối với Thượng Nghị sĩ Ngô Thanh Hải. Thêm một danh xưng khác về tháng Tư năm 1975 là ‘Tháng Tư đen’.
          I- Qua ba tên gọi đó, tên gọi nào đúng đắn nhất ? Người viết xin góp một số ý kiến, sau đó nói rõ quan điểm người viết nên chọn tên gọi nào.

          1/- ‘Ngày Quốc Hận’ . Dùng tên gọi nầy là ta đứng trên cương vị của Dân tộc, Quốc gia. Ngày Quốc Hận có nghĩa ngày nói lên mối hận thù của cả dân tộc, quốc gia, cả toàn thể nhân dân căm thù vì bị mất nước bỡi cường quyền ngoại xâm, ngày đánh dấu sự kiện lịch sử đã đưa toàn thể dân tộc vào thảm họa nô vong. ‘Ngày Quốc Hận’ tên gọi nầy do người Việt tỵ nạn cộng sản nơi hải ngoại dùng nói tên thân phận lưu vong của mình cùng tình cảnh đất nước, nhân dân  bị rơi vào vòng thống trị Cộng sản.

        Người Cộng sản VN căm tức tên gọi nầy vì xóa sạch tất cả công lao tranh đấu của họ cùng lên án họ là xâm lăng. Cộng sản VN xem ngày 30/04/75 là ngày chiến thắng của họ vì họ đã giải phóng và thống nhất đất nước. Như vậy, với Cộng sản VN, không có chuyện ‘mất nước’ vì đất nước VN vẫn còn, được thế giới và LHQ công nhận và vẫn do người VN dù là Cộng sản nắm quyền. Tên gọi ‘ngày quốc hận’ không được thế giới hảo cảm ; thế giới xem ngày đó là ngày cáo chung chế độ VNCH ; sự cáo chung một chế độ không hẳn là mất nước. Chỉ riêng nhân dân Miền Nam VN (từ vĩ ruyến 17 đến mũi Cà-Mau) gồm cả Quân, Dân, Cán, Chính VNCH mới xem ngày đó là ‘ngày mất nước’ và hô hào đấu tranh bằng mọi cách để phục hồi đất nước, thu hồi lại chủ quyền dân tộc cho đất nước và quyền sống tự do dân chủ cho nhân dân VN.
          2/- ‘Ngày Hành Trình đến Tự Do’.  Tên gọi nầy nói lên sự kiện lịch sử hàng ngàn, hàng vạn rồi hàng triệu người VN không riêng ở Miền Nam VN (từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà-Mau) mà còn một số không ít người miền Bắc (dưới chế độ Dân Chủ Cộng Hòa Cộng sản - số người nầy thường vượt biển sang tỵ nạn tại Hồng-Kông) đã ‘mười chết một sống’ hối hả phải rời Tổ quốc thân yêu, chạy trốn độc tài Cộng sản đến các xứ sờ tự do tìm không gian sống mới. Cả trên hàng trăm ngàn người phải bỏ mạng nơi rừng sâu biển cả, không kể bị hải tặc cướp của, hiếp dâm, sát hại, khiến thế giới bàng hoàng, xúc động phải ra tay cứu vớt số nạn nhân nầy do lương tâm, do nhân đạo, do tinh thần nhân bản.

                  Số người nầy phải chứng minh rằng mình là nạn nhân của Cộng sản, ở lại nước sẽ bị Cộng sản đày đọa, sát hại để cơ quan HCR công nhận là ‘tỵ nạn chính trị’ mới được can thiệp với các nước cho định cư. Một số người không được công nhận như thế nên trong các cuộc thanh lọc, đã bị cưỡng bách phải về lại VN khiến nhiều người phải tự tử (sự việc xảy ra ở các trại tỵ nạn tại Hồng-Kông khi chính quyền nước Anh bắt buộc họ phải về lại VN). Gọi là ‘ngày hành trình đến tự do’, thế giới nghe thuận tai hơn là ‘ngày quốc hận’ hay ‘Tháng Tư đen’. Vì các xứ sở tự do đó từ lâu có phải bị ‘mất nước’ đâu và xứ sở họ có bị bóng đêm nào vây phủ. Hơn nữa, họ nhìn vào sự kiện chứ không mấy nghĩ đến tâm trạng của lớp người tỵ nạn chính trị nầy.
          Thực sự mà nói, số người tỵ nạn Cộng sản, trong những ngày đầu phải đành đoạn bỏ nước ra đi chỉ là để chạy trốn chế độ cộng sản, bảo toàn sinh mạng mình cùng gia đình, thân nhân, bà con và để gầy dựng lại cuộc sống chứ chưa hề nghĩ lả để tranh đấu cứu nước, cứu dân . Tuy nhiên, dù chưa nghĩ gì đến nước, đến dân, nơi họ mặc nhiên đã mang chở  cái ‘hồn dân tộc’, cái ‘hồn nước’, cái truyền thống văn hóa bao đời qua lịch sử. Ðến các trại  tỵ nạn, dù tương lai chưa rõ ra sao, cái ‘hồn dân tộc’thao thức đêm dài. Ðến được xứ sở định cư, sau ít năm tìm cách thích ứng với nếp sông xứ người và ổn định phần nào cuộc sống cá nhân cùng gia đình, con cái, cái ‘hồn nước’ trổi dậy mạnh mẽ để thấy ngày 30/04/75 là ‘ngày quốc hận’ làm động cơ cho mọi hành động đấu tranh vì dân, vì nước, vì  đồng bào nơi quốc nội. 

             Từ đó những ‘cộng đồng người Việt tự do’ ra đời khắp nơi tranh đấu chống Cộng sản. Cũng do cái ‘hồn nước’ đó, có thể nói lớp người tỵ nạn cộng sản đã mặc nhiên  hình thành một ‘quốc gia văn hóa VN’ nơi hải ngoại. Gọi là ‘quốc gia văn hóa’ vì chỉ có văn hóa thôi, không có lãnh thổ (lãnh thổ là của người), không có một Chính phủ được mọi người bầu ra, không có một hệ thống pháp luật riêng, không có cảnh sát, công an, không có thuế khóa,…nói chung chẳng có lập pháp, hành pháp, tư pháp gì ráo trọi, (ngoài cái ‘đệ tứ quyền’ được sử dụng để rồi một số người lạm dụng…‘chửi’ nhau, chao ôi !) Và cái ‘quốc gia văn hóa VN’ đó đã có nhiều thành tựu đáng kể : trước tiên hủy bỏ ngày ‘vinh danh HCM, tố cáo tội ác Cộng sản bán nước buôn dân, hèn với giặc, ác với dân, thực trạng  đen tối cùng cực nơi quốc nội (tình trạng tụt hậu thê thảm đến thua cả Cam-Bốt), những sa đọa của xã hội (tham nhũng, hối lộ, mua quan bán tước, bằng cấp giả, ngôn ngữ bẩn thỉu, xem người dân như ngựa trâu, cỏ rác,…), xây dựng những tượng đài tưởng niệm anh hùng, tưởng niệm thuyền nhân, phổ biến văn hóa truyền thống VN (hiếu thảo, hòa thuận với anh chị em, lễ phép với người lớn tuổi, cả vấn đề ẩm thực, y phục vn,…), tự học và gầy dựng con cái thành danh không kém thua gì người nước ngoài, vận động quốc tế buộc Cộng sản VN phải tôn trọng quyền sống tự do của người dân, biểu tình liên tiếp chống các hành động tuyên vận của Cộng sản, chống quan chức  cộng sản công du nước ngoài,..Ðặc biệt là phục hồi lá cờ vàng ba sọc đỏ, biểu trưng cho chính nghĩa tranh đấu, cho hồn nước, cho lý tưởng Dân chủ, Tự do…Cộng sảm căm thù việc nầy, đã phải tốn bao nhiêu tiền bạc, nhân sự cố hủy phá cho bằng được mà kết quả là công cốc., tuy có phá hoại, gây chia rẻ các Cộng đồng người Việt hải ngoại. Ðổi ‘ngày Quốc hận’ thành ‘ngày hành trình đến Tự do’ là phũ nhận, là chối bỏ tất cả những thành tựu đó đồng thời phũ nhận tinh thần yêu nước của họ.

          Sở dĩ Thượng Nghị sĩ Ngô Thanh Hải gọi là ‘ngày hành trình đến Tự do’ mặc nhiên phủ nhận những thành tựu trên của người Việt yêu nước ở hải ngoại là do đi theo chủ trương ‘diễn biến hòa bình’ của chính phủ Hoa Kỳ, làm thỏa mãn số người cơ hội như đảng Việt Tân, phe phái Trúc Hồ,..và phần nào chiều theo chủ trương ‘hòa hợp hòa giải’ của Cộng sản. Một số người yêu nước chống Cộng vì thấy quá lâu mà không có thay đổi nào nên rút lui vào cô đơn, đấy là số người gọi là ‘thầm lặng’ hầu mong một thời cơ nào đó, lịch sử VN sẽ đổi chiều, sang trang. 

                  Số khác ‘hồ hỡi’ tán thành vì tham vọng chính trị, vì muốn được về VN dễ dàng du lịch, du hí, du dâm, hoặc cộng tác với Cộng sản dễ có điều kiện làm giàu,…với lý do là ‘quên quá khứ, hướng đến tương lai’,.Tiến sĩ Ngô Thanh Hải là Thượng Nghĩ sĩ Quốc hội Canada nên không thể không tuân phục chủ trương, chính sách của quốc gia nầy, thuận theo chủ trương ‘Diễn biến Hỏa Bình’ của Hoa Kỳ, nghĩ rằng chủ trương nầy vừa hợp lý vừa khả thi. Bao nhiêu người lúc được đắc cử vào vị trí nầy, chức vụ nọ trong guồng máy công quyền xứ sở tạm dung, cũng nghĩ như thế và buộc phải như thế như trường hợp ông Luật sư Hoàng Duy Hùng. Không rõ, nay mai Bà Janet Nguyễn vừa đắc cử Thượng nghị sĩ tiểu bang Californie, Luật sư Nguyễn Tâm vừa đắc cử Nghị viên thành phố San José và bao bao nữa có rơi vào tình trạng nhu Ngô Thanh Hải, Hoàng Duy Hùng để gián tiếp cổ vũ cho ‘hòa hợp hòa giải’ theo ý đồ của Chính phủ Hoa Kỳ và Cộng sản VN, rồi hủy bỏ tên gọi ‘Ngày Quốc Hận’ và ‘Tháng Tư đen’.Vì tin tưởng và chỉ trông cậy vào Hoa Kỳ nên không mấy để ý rằng chủ trương ‘Diễn biến Hòa Bình’ cùng mọi điều được gọi là ‘tranh đấu cho nhân quyền’ của Hoa Kỳ và bao nước khác chỉ là nhằm ‘lôi kéo CS VN tùy thuộc vào Hoa Kỳ’ chứ có thực sự đem lại Tự do, Dân chủ, Nhân quyền cho người dân VN đâu.

                    Những luận điệu đó đã quyến rủ bao người VN chạy theo, nghĩ rằng mình yêu nước để phải biến thành ‘giá trị lợi dụng’, ‘giá trị hàng hóa’ phục vụ quyền lợi nước ngoài . Khi ‘không còn ‘giá trị lợi dụng, ‘giá trị bán buôn đổi chác’ cho quyền lợi của họ thì sẽ bị loại như trường hợp một Nguyễn Cao Kỳ trước đây. Hoa Kỳ luôn luôn ‘đi hàng hai’, bề ngoài chống đối, bên trong lại ‘thỏa hiệp ngầm’ với đối phương vì quyền lợi riêng tư. Cứ xem chính sách ‘xoay trục sang Á Châu’ nhưng Hoa Kỳ đã làm được gì cho các nước Á Châu. Tàu Cộng lấy cớ ‘Hoa Kỳ bao vây’ họ để có lý do tăng trưởng quốc phòng, hiện đại hóa quân đội, chế tạo và mua thêm vũ khí, đe dọa thêm vùng biển Ðông,..Hoa Kỳ lấy cớ ngăn chặn Tàu Cộng đe dọa biển Ðông để chế tạo thêm vũ khí và bán vũ khí cho nhiều nước, kể cả Nhật Bản, Ấn Ðộ, Ðại Hàn, Ú châu,.. Chính trị và Kinh tế, cả hai mặt nầy luôn luôn đi đôi, nhân quả cho nhau. Tùy tình hình, tùy theo thái độ và chủ trương của đối phương mà ‘chính trị hóa’ kinh tế’ (dùng áp lực chính trị để mưu lợi kinh tế) hay ‘Kinh tế hóa chính trị’ (dùng áp lực kinh tế để thực hiện ý đồ chính trị), mọi vấn đề khác  -Tự do, Dân chủ, nhân đạo, đạo đức, văn hóa- chỉ là chiêu bài phục vụ cho Kinh tế và Chính trị thôi.

          3/- Gọi Tháng Tư 75 là ‘Tháng Tư Ðen’ có tính cách văn chương là chỉ nói lên một trạng thái tâm lý hơn là nói lên một sự kiện lịch sử. cùng hậu quả của sự kiện đó. Thượng Nghị sĩ Ngô Thanh Hải cho rằng gọi ‘tháng tư đen’  (Black April) quá ‘nhạy cảm’ đối với người ngoại quốc nhưng ông không nói rõ tại sao và nhạy cảm như thế nào. Ðen là màu đen, là bóng  tối mà các nước dân chủ tự do có màu đen, bóng tối nào đâu (?). Thượng Nghị sĩ Ngô Thanh Hải không để ý rằng ngày 11 tháng 09 năm 2001, sau khi bọn khủng  bố đánh sập hai tòa tháp tại Nữu Ước, cả nước Mỹ và thế giới tự do bàng hoàng, sững sốt, lên án bọn khủng bố và thuơng tiếc hàng ngàn người phải chết vì sự kiện đó. Rồi chính phủ Mỹ đơn phương tấn công Irak, cho rằng nước nầy là sào huyệt của khủng bố. Và mỗi năm dân Mỹ đều tưởng niệm ngày đen tối đó. Như thế, có thể gọi tháng chín năm 2001 là ‘tháng chín đen’ cũng được lắm chứ ?  

            Ta thường thấy mỗi khi có một sự vụ chết người rất bất thường (như vụ một tên giết người đã bắn chết một số giáo viên và học sinh tại nơi nào đó trên đất Mỹ, hoặc cả xứ Na-Uy treo cờ rủ sau khi một tên cuồng tín dân tộc bắn chết bao nhiêu sinh viên đang camping –và bao nhiêu vụ khác, người viết không nhớ rõ sự kiện cùng năm tháng) thì cũng có thể gọi ngày giờ tháng đó là ‘đen’ chứ. Tiếng Pháp thường dùng từ ‘en deuil’ được gọi là ‘tang chế’ nghe ra còn nặng nề gấp bao lần từ ‘đen’ của VN. Người Việt chống Cộng gọi tháng Tư/1975 là ‘tháng tư đen’ để nói lên thảm cảnh của đất nước, dân tộc vì kể từ ngày đó, bóng đêm tăm tối phủ trùm dày đặc lên thân phận đất nước và nhân dân từ Bắc đến Nam hàng mấy mươi năm trời và còn bao năm nữa do chế độ Cộng sản tàn ác, phi nhân.

          II.- Quan điểm người viết. Trình bày đại lược như trên, người viết không đồng ý tên gọi ‘Ngày Hành trình đến Tự do’ mà giữ nguyên hai tên gọi ‘Ngày Quốc hận’ và ‘Tháng Tư đen’ vì nhũng lý do sau.

          a) Ngày 30/04/1975 là ngày Quốc Hận, ngày tang chung cho cả nước chứ không riêng cho thành phần Quân, Cán, Chính VNCH và nhân dân Miền Nam từ Bến Hải đến Cà-Mau. Bằng cớ, sau 30/04/75 một số người Miền Bắc dưới chế độ Cộng sản cũng đã vượt biển, phần lớn qua ngã Hông-Kông. Và trong những năm gần đây, đã sống dưới chế độ CHXHCN Cộng sản mấy chục năm vẫn còn một số người vượt biển tìm đến một xứ sở tự dô nào đó như Úc châu. Bỏ nước ra đi, lưu vong nơi xứ người, sự việc nầy, đối với hàng triệu nguời đó không là do ‘bị mất nước’ sao ? Cái tâm thức đó tạo nên ‘hận thù’ nơi họ, do từ cái ngày oái oăm đó họ gọi là ‘ngày quốc hận’ và hình thành nơi họ ý chí đấu tranh cứu nước để có được ngày về sáng lạng cho non sông.

          b) Sau ngày 30/04/75, người miền Bắc vào miền Nam đã ngỡ ngàng trước cảnh trù phú của miền Nam. Nhà văn Dương Thu Hương đã ngồi khóc nơi đường Catinat , ngậm ngùi than thở ‘man rợ đã thắng văn minh’, nhận ra bao năm trời đã bị chế độ Cộng sản bưng bít, dối trá, bịp lường…Tiếp theo, cho mãi đến nay, bao bao người sống nơi Miền Bắc trước đây và  bây giờ trên cả nước, cũng cùng tâm trạng đó như Dương Thu Hương, vừa tiếc thương cảnh sống trù phú, êm ả của Miền Nam dưới chế độ VNCH, vừa căm thù chế độ Cộng sản bán nước, buôn dân. Một du sinh nào đó đã viết một bài dài nói rõ :’còn lá cờ đỏ sao vàng thì không bao giờ có độc lập, tự do, hạnh phúc’. 

           Gần đây, nhà báo Ðặng Chí Hùng đã ca ngợi lá ‘cờ vàng ba sọc đỏ’, xem đấy là biểu tượng của chính nghĩa đấu tranh cứu nước (nguời viết chỉ nhớ đại cương như thế). Rồi bao nhà trí thức trong nuớc hiện nay, bao đảng viên Cộng sản đã về hưu, về già dù không đề cập đến lá ‘cờ vàng ba sọc đỏ’, dù không dám nói đến việc lật đổ chế độ Cộng sản, đã liên tiếp kiến nghị yêu cầu, đòi hỏi Ðảng và nhà nước Cộng sản phải cải tổ  chế độ, vì thấy đất nước tang thương, nhân dân lầm than, điêu đứng. Cái tâm trạng của bao người miền Bắc như một Dương Thu Hương và bao trí thức cùng đảng viên Cộng sản nói trên không do từ những thảm nạn của dân nuớc khởi đi từ cái ‘tháng Tư đen 75’  sao ?  
       
          c) Sau 30/04/75, một số người dân miền Bắc, trong đó một số giáo chức  (người viết có tiếp xúc vì cùng nghề dạy học), trong đôi lần trao đổi kín đáo, cởi mở thành thật cho biết rằng nhân dân miền Bắc trông chờ miền Nam ra ‘giải phóng’ họ, đâu ngờ sự việc lại ngược lại. Người viết đã phản ảnh tâm trạng đó qua đôi đoạn thơ  (trích trong tập ‘VN tân huyết sử diễn ca’,trên 7000 câu Song Thất Lục Bát nhưng chưa hoàn thành, viết lén lút tại Sài-Gòn từ 1979 đến 1987, không mang theo được trong lần vượt biển cuối năm 1988) :
                         ….
                     Bao năm đã thân tàn xơ xác
                     Bao năm rồi tan tác áo cơm
                     Bao năm xác chẳng còn hồn
                     Bao năm lệ máu cuộn tròn chiếu chăn
                     Những ngỡ được miền Nam giải phóng
                     Cuộc đời đen, kiếp sống nô vong
                     Chao ôi ! Muôn tủi nghìn hờn
                     Nghe tin thống nhất mà lòng ngẩn ngơ…
                     ….
                     Trách miền Nam đơn sai lời hẹn
                     Chẳng giữ mình, chẳng vẹn tình dân
                     Bấy lâu nửa nước tìm bầm
                     Giờ đây cả nước đen sầm bóng đêm….

          Tâm trạng đó không phải khởi đi từ cái ‘Tháng Tư đen 75’ mà nẩy sinh sao ?

           d) Từ 75 đến nay, bốn mươi năm qua (liệu còn bao năm nữa ?), Ðảng Cộng sản và cái Nhà nước CHXHCN của họ đem lại gì cho dân tộc, đất nước và nhân dân VN ? Toàn là đổ nát, điêu linh, thống khổ ngoài bọn Cộng sản nắm quyền. Công hàm 1958 của Phạm Văn Ðồng cùng các hiệp nghị bí mật tại Thành Ðô năm 1990 đã tạo cho Tàu cộng một số cơ sở ‘hợp pháp’ (!) để chúng có ly do bành trướng thế lực ra biển Ðông cùng gặm nhắm da thịt VN qua cái chủ trương ‘xâm lăng mềm’, không cần phải ồ ạt vũ trang. Cộng sản VN đã nhường hàng vạn cây số vuông ở biên giới miền Bắc cho Tàu Cộng. Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, bãi Tục lãm, trở thành đất đai của Tàu cộng. Bao nhiêu cơ sở chiến lược, chiến thuật nằm trong tay Tàu cộng.

                 Cả dọc dài duyên hải cũng bị Tàu cộng khống chế đến nỗi ngư dân chài lưới trên lãnh hải nước mình cũng bị tàu Trung cộng bắn chìm, tịch thu tài sản, mắng nhiếc, chửi bới, đánh đập, thậm chí thủ tiêu hay bắt giam, đòi tiền chuộc mà Cộng sản VN không dám có một thái độ, hành động chống đối, lại còn bảo là ‘tàu lạ’, quả ươn hèn, khiếp nhược hết chỗ nói. Bao nhiêu khu biệt lập do dân Tàu công cùng công nhân của chúng chiếm giữ khắp nơi, sống hoàn toàn theo tàu, còn cấm người VN, ngay cả các bộ phận cầm quyền địa phương của VN léo hánh đến, càng lúc càng nhiều như ở Bình Dương, Ðà Nẵng, Vũng Áng và sắp sửa đến nhiều vùng nữa. VN đang ‘mất nước’ dần dần để đến năm 2010 trở thành một Huyện, một Quận của Tàu cộng như đôi tiết lộ về các mật nghị ở Thành Ðô. Với các chủ trương ‘công an trị, hộ khẩu trị, ngu dân trị, bần cùng hóa trị’, Cộng sản VN đang bán nước cho Tàu cộng, đưa cả dân tộc ; nhân dân vào vòng nô lệ giặc Tàu. Rồi lãnh thổ VN thuộc Tàu, nhà nguời VN Tàu ở, con gái VN Tàu chơi, con trai VN Tàu dùng làm lao nô, (nói theo lối của Cộng sản VN đối dân nước miền Nam VNCH trước đây)..Thảm cảnh đó của dân, nước không do khởi đi từ cái ‘ngày quốc hận’, từ ‘tháng tư đen 75’ sao ?

          e) Cộng sản VN còn ngày nào cầm quyền cai trị đất nước thì, dù không bị Tàu cộng chiếm cứ, đất nước càng ngày càng lụn bại, thoái hóa, tụt hậu thảm thương và dân tộc, nhân dân VN càng ngày càng không còn ‘sinh khí sống’ chứ đừng mong ‘ngóc đầu’ lên cùng thế giới năm châu. Giả sử Tàu cộng chiếm được toàn bộ VN thì bộn Cộng sản VN đang nắm quyền trị nước sẽ ra sao ? Một là chúng tiếp tục làm đầy tớ, tay sai cho Tàu ; hai là chúng sẽ bị Tàu cộng hất cẳng vì ‘giá trị lợi dụng’ của chúng không còn. Lúc bấy giờ -và chúng đã sửa soạn từ lâu- chúng sẽ ồ ạt chạy ra nước ngoài, xin hay ‘mua’ mộ thẻ tỵ nạn chính trị để sống ‘vương giả’ vì chúng đã mua nhà, mua đất và với số tiền của, quí kim do tham nhũng, hối lộ, làm giàu bất hợp pháp lâu nay mà  chúng đã gởi vào các ngân hàng ngoại quốc. Nhưng liệu chúng có an toàn như chúng toan tính ?. 

          Trước tiên, chúng sẽ bị khinh khi, phỉ nhổ bỡi người Việt hải ngôại, kể cả người dân bản xứ. Tiếp theo, cái Chính phủ do Tàu cộng thành lập lúc đã chiếm trọn VN có tha cho chúng không hay lại truy tố chúng, sẽ dùng áp lực về kinh tế tài chánh bắt chúng phải ‘quy hoàn’ những gì chúng sở hữu ở ngoại quốc cho Chính phủ do Tàu cộng thành lập lúc bấy giờ. Chắc chúng không nghĩ đến điều nầy. Chúng yên tâm nghĩ rằng các chính phủ nước ngoài sẽ bảo vệ chúng vì chúng đã phần nàô ‘làm giàu’ cho các nước đó. Chúng không nghĩ rằng, khi chiếm được toàn bộ VN, Trung Cộng trở nên mạnh hùng gấp bội, các nước dại gì ham một số tiền chừng một hai trăm tỷ mỹ kim của chúng mà phải mất đi hàng tỷ tỷ mỹ kim nếu gây hấn hoặc không bang giao với Tàu cộng. Ðất nước tụt hâu, nhân dân không còn sinh khí sống,  kể cả cái thân phận bi đát của tập đoàn Cộng sản VN như vừa nói, chẳng đã do từ ‘ngày quốc hận’, chẳng đã khởi đi từ ‘Tháng Tư đen 75’ sao ?  (Ước mong những dòng vừa viết được tập đoàN Cộng sản VN đọc hầu lo liệu cho số phận của họ mà sớm ‘hồi đầu’ quay về với dân tộc, nhân dân, sớm dân chủ hóa chế độ, bãi bỏ mọi thứ luật rừng lâu nay, bãi bỏ chủ trương ‘ công an trị, hộ khẩu trị, bần cùng hóa trị, ngu dân trị’, bãi bỏ việc bưng bít truyền thông để toàn dân cả nuớc phát huy tinh thần bất khuất chống lại mộng bành trướng, xâm lăng của Tàu cộng)..

          g) Có người  gọi là ‘Ngày thuyền nhân’, nghĩ ra không đúng vì bao kẻ đi bộ, xuyên rừng đến các trại tỵ nạn tại Thái-Lan. Một số khác sau nầy ra nước ngoài theo diện H.O. hay ‘đoàn tụ gia đình’ nào có phải đi ghe, đi thuyền mỏng manh, bé tí. Cũng không nên gọi là ‘Ngày Quốc Nạn’ vì quốc nạn nhiều khi chỉ một tai nạn của đất nước như cơn bão Katrina tại  Mỹ, cơn sóng thần tại Nhật năm 2013, cơn bão Hải Yến tại Phi-Luật Tân vừa qua,…Cũng không nên gọi là ‘Ngày quốc nhục’ vì gọi như thế nghe ra tiêu cực, có vẻ cam chịu, đành lòng chịu đựng, không động viên được ý chí đấu tranh rửa hận, phục thù. Kể ra suốt lịch sử trên 4000 năm, dân tộc ta, nhân dân ta đã phải trải chịu bao ngày ‘quốc hận’ : các triều đại phong kiến phương Bắc đã xâm lăng, thống trị dân tộc và đất nước ta, thì cái ngày họ hoàn thành việc chiếm cứ nước ta cũng phải xem là ‘ngày quốc hận’ ; rõ ràng nhất là ngày tên tướng Mã Viện đánh thắng hai Bà Trưng rồi trồng cây trụ đồng, khắc dòng chữ ‘đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt’ (Cộng sản VN đã bôi nhọ, đã nhục mạ lịch sử qua cuốn phim ‘Nghìn năm Thăng Long’ và cuốn vidéo trong đó cho bao nhiêu phụ nữ VN đóng vai hai bà Trưng cùng tướng tá của hai Bà phục dịch, hầu hạ Mã Viện trong ngày Tàu Cộng ‘vinh danh’ (!) tên tướng nầy.

           Ðây là thủ đoạn Tàu Cộng bày ra để bắt buộc Việt Cộng phải làm như thế hầu hạ nhục dân tộc VN vả khoa trươg sức mạnh của chúng). Ngày triều đình Huế phải ký hiệp ước Patenotre  để thực dân Pháp thống trị cả ba miền Nam Trung Bắc cũng là ‘ngày quốc hận’. Ngày 20/01/1954, quốc tế qua phân đất nuớc ta theo Hiệp định Genève cũng có thể xem là ‘ngày quốc hận’. Tuy nhiên, trong những ngày đó trước nay không được gọi là ‘ngày quốc hận’ mà chỉ có thể xem là ‘ngày quốc nạn’. Những ngày đó là do bên ngoài gây nên và cũng chẳng có người dân VN nào bỏ nước ra đi, xin tỵ nạn chính trị, ngoài số người làm Cách Mạng nhưng không là tỵ nạn chính trị. Ngày 20/07/54, hơn nửa triệu dân miền Bắc di cư vào miền Nam nhưng không là bỏ nước vì miền Nam vẫn là đất nước VN và chẳng ai ra ngoại quốc trừ đôi người có thân nhân ở ngoại quốc, nhất là ở Pháp, bảo lảnh họ. Chỉ ngày 30/04/75 mới thực sự được goi là
​​
‘ngày quốc hận’  vì ngày nầy không phải hoàn toàn do bên ngoài mà do chính cả tập đoàn Cộng sản VN đang nắm quyền ở nửa nước xua quân xâm lăng nửa nước còn lại rồi thống trị hà khắc, dã man nên mới có hàng triệu người bỏ nước ra đi, xin tỵ nạn chính trị nơi nước ngoài rồi khởi động cao trào đấu tranh chống Cộng để ‘rửa hận’ cho dân tộc, quê hương, cứu nguy đất nước, cứu nguy đồng bào thoát cái bóng đêm u ám, triền miên nghiệt ngã. Một nhà thơ (Phương Hà) gọi ngày Quốc Hận cũng là ngày Quốc Kháng, kêu gọi phải kháng Cộng để rửa hờn cho dân tộc, quốc gia.

          Vì những lẽ trên nên, theo người viết, phải gọi ngày 30/04/75 là ‘ngày quốc hận’, là ‘ngày tháng Tư đen’. Những ai gọi ngày đó bằng những cách gọi khác, thì, theo người viết chỉ là ‘mập mờ đánh lận con đen’ mong nhờ dựa vào các thế lực quốc tế và sự mua chuộc của Cộng sản để cầu tiền, cầu quyền, cầu danh, cầu lợi cho cá nhân, gia đình, phe phái. Chỉ những người thực sự yêu nước, yêu dân mới mới gọi ngày đó là ‘ngày quốc hận’ và mới thực sự đấu tranh rửa hận cho dân, cho nước.

          Những việc làm dù nhỏ bé đến đâu mà xuất phát từ lòng yêu nước thực sự cũng nên làm, phải làm. Làm một bài thơ chống Cộng, viết một bài xã luận hay truyện ngắn, truyện dài tố cáo tội ác Cộng sản, nêu ra những thảm nạn của người dân dưới chế độ Cộng sản, một bản nhạc đấu tranh chống Cộng, biểu tình liên tục chống Cộng dù chỉ năm ba người (trường hợp Ðại Tá trương Như Phùng ở Houston), gởi kiến nghị, thỉnh nguyện thư đến tập đoàn chóp bu Cộng sản trong nước, đến Chính Phủ các nước, đến Liên Hiệp Quốc (như các nhà trí thức, các đảng viên Cộng sản, các tổ chức dân sự trong nước ; các thỉnh nguyện thư của Tiến sĩ Nguyễn Ðình Thắng, của Trúc Hồ, của một số đảng phài, đoàn thể người Việt hải ngoại,..) và cả những cách chống Cộng mà một số xấu miệng gọi là ‘chống Cộng bằng mồm’, miển là xuất phát từ lòng yêu nước chân thành đều đáng quí vì đấy là những việc làm Văn hóa nên làm, phải làm dù chẳng thu đạt thành quả nào. (Còn nhớ Nguyễn Thái Học, trong Hỏa lò Hà Nội, biết ngày mai phải lên đoạn đầu đài, thế mà đêm đó đã viết thư gởi toàn quyền Pháp yêu cầu mở rộng giáo dục, cai sửa chế độ chính trị. Ông biết chẳng có hiệu quả nào nhưng vẫn làm vì đấy là việc làm văn hóa, phát xuất từ tấm lòng vì nước, vì dân).

          Tóm lại, theo người viết, với những ai chân thành yêu nước, thực lòng nghĩ đến nước, đến dân thì vẫn luôn luôn xem ngày 30/04/75 là ngày Quốc hận. Mặc kệ ai đó gọi bằng tên nào, ‘dù ai nói ngã nói nghiêng thì ta vẫn vững như kiềng ba chân’ vì ta kiên trinh với tấm lòng  yêu nước, yêu dân. (VN có phải mất nước về tay Tàu Cộng hay không, người viết không tin điều đó xảy ra nhưng xin không nói trong bài viết này).
                                                                                                       
Nguyễn Thùy
France 24/12/2014
ChinhIrving

__._,_.___

Posted by: Ngoc Hoa

Giáng Sinh 1991, ngày cuối cùng của chế độ CS Liên Xô Quan điểm của Điếu Cày và Cù Huy Hà Vũ


Giáng Sinh 1991, ngày cuối cùng của chế độ CS Liên Xô

Quan điểm của Điếu Cày và Cù Huy Hà Vũ

















Trần Trung Đạo (Danlambao) - “Merry Christmas!” Một viên chức trong đoàn tùy tùng của Tổng Bí Thư Mikhail Gorbachev chào Ted Koppel và nhóm phóng viên của hệ thống ABC đang đứng chờ trước bậc thềm điện Kremlin. Ted Koppel chào lại nhưng anh chàng Rick Kaplan, phụ tá của Ted Koppel phản đối “Với tôi anh phải chúc là Happy Hanukkah mới phải”. Rick Kaplan nói thế chỉ vì anh ta gốc Do Thái. Viên chức Liên Xô không hiểu Hanukkah nghĩa là gì và tưởng là Honecker nên hỏi ngược “Tại sao tôi phải chào Happy Honecker nhỉ?”

Thật ra, thắc mắc của viên chức Liên Xô không phải là không có lý do. Ngày 25 tháng 12 không chỉ là ngày cuối cùng của hệ thống CS Liên Xô mà có thể cũng là ngày cuối của Erich Honecker nữa. Tên lãnh tụ CS Đông Đức này bị truy tố tại Đức và được Gorbachev cho phép tỵ nạn chính trị tại Liên Xô. Erich Honecker sợ bị Boris Yeltsin tống cổ về Đức nên hôm qua đã chạy sang tòa đại sứ Chile ở Moscow xin tỵ nạn. Báo chí loan tin sáng hôm đó Erich Honecker vừa xin tỵ nạn chính trị lần nữa nên viên chức trong đoàn tùy tùng Gorbachev liên tưởng đến y khi nghe “Happy Hanukkah”.

Ngày 25 tháng 12 là ngày nhiều tỉ tín đồ Thiên Chúa Giáo trên thế giới kỷ niệm ngày Chúa Cứu Thế giáng trần nhưng tại Moscow, ngày 25 tháng 12, 1991 là ngày chính thức cáo chung của chế độ Cộng Sản. Thật khó tin nhưng đang diễn ra trước mắt nhân loại. Ngày cuối cùng của chế độ CS Liên Xô được tường thuật theo từng giờ trong tác phẩm Moscow, December 25, 1991, the last day of Soviet Union của Conor Óclery mà người viết tham khảo.

Tối ngày 24

Thời tiết Moscow lạnh xuống gần 0 độ F. Những lớp tuyết dày trên dưới chân tường điện Kremlin dấu vết của cơn bão tuyết ba ngày trước. Nửa đêm 24 tháng 12, một đoàn hành hương đến cầu kinh dưới chân tháp Thánh Nicholas. Từ khi chính sách Glasnost ra đời, việc tiếp xúc tôn giáo có phần cởi mở. Nhiều đoàn hành hương có cơ hội đến thăm viếng các nhà thờ lớn ở Liên Xô. Phần đông người trong đoàn đến từ Mỹ. Dù Giáng Sinh theo lịch Julian do Giáo Hội Chính Thống Giáo Nga dùng là ngày 7 tháng Giêng những người hành hương này muốn đón Giáng Sinh theo lịch Mỹ ở Moscow. Những ngọn đèn cầy được thắp lên trong đêm đông tại quốc gia CS hàng đầu thế giới. Những người hành hương không biết một cách chi tiết những gì sắp xảy ra trên đất nước này trong vài giờ nữa.

Sáng sớm ngày 25

Mikhail Sergeyevich Gorbachev, Tổng Bí Thư đảng CS kiêm Chủ tịch Cộng Hòa Liên Bang Sô Viết thức dậy sớm. Ông ta ý thức ngay rằng, tất cả những gì ông sắp sửa làm từ bữa ăn sáng do đầu bếp Shura phục vụ và cả biệt điện nguy nga mà vợ chồng ông ta nghĩ trước đó sẽ ở cho đến chết đều sẽ là lần cuối. Chiếc xe đặc biệt ZiL-41047 chờ ông. Hai viên đại tá có khuôn mặt lạnh như tiền ngồi trên chiếc Volga theo sau xe của Gorbachev. Họ không phải là cận vệ nhưng là người mang chiếc cặp trong đó chứa các thông tin tuyệt mật để phát động chiến tranh nguyên tử. Hai đại tá này biết chiều tối nay họ sẽ chào từ biệt Mikhail Gorbachev để phục vụ lãnh đạo Cộng Hòa Nga Boris Yeltsin.

Mikhail Sergeyevich Gorbachev được thế giới ca ngợi như là người đã thổi vào không khí chính trị Liên Xô làn gió mới và được trao tặng giải Nobel Hòa Bình 1990 nhưng trong nước dân chúng đổ hết công phẫn lên ông ta. Tên Gorbachev đồng nghĩa với suy thoái, thất nghiệp, vật giá leo thang, tem phiếu. Người dân thường dĩ nhiên không biết và cũng không cần biết, Gorbachev là lãnh đạo CS thứ bảy từ Lenin và cũng là người kế thừa một gia sản lạc hậu, ung thối từ trong máu của chế độ.

Nhiều câu chuyện cười ở Moscow về thái độ bất mãn của người dân đối với Gorbachev. Ví dụ, trong một tiệm rượu, một người khách đứng dậy bỏ đi, các bạn anh ta hỏi đi đâu, anh chàng đáp đi giết Gorbachev chứ đi đâu, anh ta mở cửa ra đi thật nhưng trở lại ngay, bạn bè hỏi sao giết Gorbachev mà nhanh thế, anh chàng đáp không giết được vì phải sắp hàng dài quá.

9 giờ sáng ngày 25

Mikhail Gorbachev và đoàn tùy tùng đến dinh chủ tịch ở điện Kremlin hơi trễ hơn thường lệ chút ít. Hãng tin Mỹ ABC gồm Ted Koppel và Rick Kaplan có mặt ngay tại chỗ dừng xe. Họ được Gorbachev cho phép tường thuật biến cố lịch sử này. Theo lời kể lại của Ted Koppel, Gorbachev rất trầm tĩnh. Nhân viên làm việc trong điện Kremlin vẫn tới đủ nhưng không có việc nào làm khác hơn là dọn dẹp. Thời khóa biểu tiếp khách trước đây được tính từng phút hôm đó trống không. Mặc dù theo thỏa thuận, Gorbachev có đến cuối năm để dời ra khỏi điện nhưng thực tế Yeltsin đã tóm thu hết quyền hành và các phương tiện thông tin. Đơn vị phòng vệ điện Kremlin vẫn túc trực nhưng không đặt dưới quyền chỉ huy của Gorbachev mà trực thuộc thẳng Yeltsin. Chiếc điện thoại màu trắng trên bàn làm việc của Gorbachev còn hoạt động nhưng không ai gọi vào.

10 giờ sáng ngày 25

Trong lúc điện Kremlin chìm trong im lặng, Tòa Nhà Trắng Nga lại sôi nổi với hàng loạt chương trình trong ngày mới của nền Cộng Hòa. Tòa nhà quốc hội Nga này là biểu tượng của trận chiến chống chế độ toàn trị khi Yeltsin đứng trên xe tăng thách thức đám lãnh đạo CS cực đoan hồi tháng Tám trước đó. Boris Yeltsin lãnh đạo Nga đến văn phòng làm việc. Ông lên văn phòng đặt trên tầng thứ năm bằng cầu thang riêng phía sau. Trên bàn làm việc hàng loạt sắc lịnh chờ ông ký. Một chế độ hình thành bằng máu, dao búa và súng đạn đang được giải thể bằng sắc lịnh. Một trong những sắc lịnh ông phải ký hôm nay là giải tán cơ quan KGB và thay bằng Federalnaya Sluzhba Bezopasnosti gọi tắt là FSB tức Cơ Quan An Ninh Liên Bang Nga. Không chỉ trong ngành an ninh, mật vụ mà cả sắc lịnh về các hí viện, nhạc viện, các viện hàn lâm, trường đại học, viện bảo tàng v.v... từ ngay đều trực thuộc Cộng Hòa Nga.

Các cơ quan ngoại giao quốc tế cũng vậy. Bộ trưởng Ngoại Giao Eduard Shevardnadze nổi tiếng thời Gorbachev bị trục xuất ra khỏi nhiệm sở và thay bằng Bộ trưởng Ngoại giao Nga Andrey Kozyrev. Tại tất cả nhiệm sở ngoại giao khắp các múi giờ trên toàn thế giới, cờ Liên Xô bị hạ xuống và cờ Cộng Hòa Nga ba màu được kéo lên. Nhiều đại sứ vội vã đánh điện cho Yeltsin tuyên bố trung thành. Tòa đại sứ lớn nhất của Liên Xô là tòa đại sứ tại Washington DC với hơn 300 nhân viên thuộc nhiều sắc tộc. Các nhân viên chia thành nhiều nhóm theo sắc dân và tự tuyên bố họ là đại diện cho cộng hòa của họ tại Mỹ.

Gần 11 giờ sáng Tổng thống Nga Boris Yeltsin qua phòng họp quốc hội Nga ở lầu 1. Tổng cộng 252 đại biểu quốc hội đang tập trung để chứng kiến ngày lịch sử. Nhân dịp này, Boris Yeltsin thông báo tin vui rằng 11 quốc gia cựu Liên Xô trong phiên họp tại Kazakhstan đã đồng ý thành lập Khối Thịnh Vượng chung.

12 giờ trưa ngày 25

Mikhail Gorbachev ăn trưa xong. Phía sau phòng ăn có một phòng nhỏ bỏ trống. Tổng bí thư CS Liên Xô vào, đóng cửa lại và nằm nghỉ. Các phụ tá của ông hớt hải đi tìm. Gorbachev phải có mặt để ký thư từ biệt gởi các lãnh đạo thế giới mà ông có quan hệ tốt. Một danh sách khá dài từ Tổng thống Mỹ George H. W. Bush cho đến Thủ tướng Anh John Major và cả các ông hoàng như Vua Juan Carlos và Nữ Hoàng Sofia của Spain.

Bài bình luận trên báo Nga buổi sáng hôm đó chẳng tốt lành gì cho lãnh tụ CS Mikhail Gorbachev. Tờ Rossiyskaya Gazeta tiết lộ các cam kết mật Yeltsin dành cho Gorbachev khi về hưu bao gồm số phụ cấp bằng với mức lương hiện nay của ông ta có điều chỉnh theo mức lạm phát, hai chiếc xe riêng và một đoàn tùy tùng 20 người kể cả tài xế và an ninh. Đây là thỏa thuận kín giữa Gorbachev và Yeltsin nhưng đã bị cánh Yeltsin tiết lộ cho báo chí biết. Các báo còn cho rằng Gorbachev đòi hỏi một đoàn phục vụ lên đến 200 người. Thật ra, theo Chernyaev, phụ tá của Gorbachev, ông ta chưa bao giờ đòi hỏi một số lượng nhân viên phục vụ đông như thế. Phe Yeltsin chỉ bịa ra để làm nhục Gorbachev.

4 giờ chiều ngày 25

Gorbachev và phụ tá Andrei Grachev xem lại diễn văn mà 4 giờ nữa ông sẽ đọc và quyết định thay chữ “từ chức” bằng chữ “ngưng các hoạt động” trong chức vụ chủ tịch Liên Bang Sô Viết. Diễn văn được sửa tới sửa lui nhiều lần chung quanh các điểm xung khắc giữa Yeltsin và Gorbachev.

Cũng trong buổi chiều cuối cùng này, Gorbachev gọi điện thoại chào từ giã tổng thống Mỹ George H. W. Bush. Buổi điện đàm được truyền hình ABC thu. Gorbachev mở đầu trước bằng gọi một cách thân mật “George thân mến, chúc mừng Giáng Sinh đến anh và Barbara!” và nói tiếp “George, tôi muốn báo anh biết một tin quan trọng. Trước mặt tôi là diễn văn từ nhiệm. Tôi sẽ rời khỏi chức vụ tổng tư lịnh và chuyển giao quyền sử dụng vũ khí nguyên tử sang tổng thống Liên Bang Nga”. Buổi điện đàm diễn ra trong không khí rất thân mật và tổng thống Mỹ mời Gorbachev viếng thăm Mỹ lần nữa. Cả hai đều tránh nhắc tới tên Yeltsin.

Trời đã về chiều. Gorbachev và hai phụ tá thân cận nhất của ông ngồi quanh nhau bên ly cà phê cuối cùng. Cả ba đồng ý, sau khi đọc diễn văn, Gorbachev sẽ ký quyết định từ nhiệm thay vì ký trước như dự tính. Trong lúc nhắp cà phê, câu chuyện về số phận Nicolae Ceausescu của Romania được nhắc đến. Mặc dù Gorbachev ví Ceausescu như là Hitler của Romania, cả hai đã duy trì một quan hệ lãnh đạo các quốc gia trong khối CS. Chỉ ba tuần trước khi vợ chồng Nicolae Ceausescu bị xử bắn, Gorbachev đã tiếp y tại điện Kremlin. Trong dịp đó Gorbachev khuyên Ceausescu đừng ngại thực hiện các cải cách dân chủ và tiên đoán “đồng chí sẽ còn sống trong dịp hội nghị các lãnh đạo CS Liên Xô và Đông Âu” tổ chức ngày 9 tháng Giêng. Ngày đó không bao giờ đến và Nicolae Ceausescu cũng đã chết rồi.

7 giờ tối ngày 25

“Kính thưa toàn thể nhân dân”, giọng Mikhail Gorbachev hơi lạc đi vì xúc động, gò má ông rung lên. Trong chốc lát, ông lấy lại bình tỉnh và đọc tiếp “Số phận đã quyết định rằng, khi tôi trở nên lãnh đạo đất nước, hiển nhiên đã có những sai trái trầm trọng trong quốc gia này. Chúng ta có đầy đủ mọi thứ, đất đai, dầu khí, tài nguyên thiên nhiên và Tạo Hóa đã ban cho chúng ta trí tuệ và tài năng - Tuy nhiên, mức sống của chúng ta tệ hại hơn nhiều so với các quốc gia kỹ nghệ khác và khoảng cách mỗi ngày rộng thêm. Lý do rõ ràng vì xã hội bị bóp ngặt trong tay của một hệ thống quan quyền được tạo ra để phục vụ một ý thức hệ, và phải chịu gánh nặng chạy đua vũ trang, căng thẳng tột cùng. Tất cả cố gắng để thực hiện các cải cách nửa vời đều lần lượt dẫn đến thất bại. Đất nước không còn hy vọng gì nữa.”

Gorbachev tiếp tục nói về các cải cách ông thực thi từ 1985, dù sao, đã là những viên gạch cần thiết lót lên con đường dẫn đến chế độ dân chủ và theo ông “xã hội đã đạt được tự do, tự do về chính trị và tự do về tinh thần”. Gorbachev chấm dứt diễn văn lúc 7:12 phút tối. Ông nhìn lên ống kính truyền hình và thêm vào câu nữa“Chúc quý vị mọi điều tốt đẹp”.

Các lý do làm Liên Xô sụp đổ là nguồn thúc đẩy sự nghiên cứu của nhiều sử gia, nhà nghiên cứu, nhà phân tích và vẫn còn đang được nghiên cứu, phân tích. Tuy nhiên, như nhiều người đồng ý, nguyên nhân sâu xa vẫn là những mâu thuẫn có tính triệt tiêu trong bản chất của chế độ CS độc tài toàn trị, sự chuyển hóa không ngừng của xã hội và các nguyên nhân trực tiếp gồm tình trạng tham nhũng thối nát, chạy đua vũ trang và trung ương không giữ được địa phương.

Mâu thuẫn có tính triệt tiêu của chế độ CS. Nếu chỉ nhìn từ bên ngoài, chế độ CS Liên Xô không thể nào sụp đổ. Sau thế chiến thứ hai, Liên Xô có một đạo quân khổng lồ gồm 500 sư đoàn trong đó 50 sư đoàn thiết giáp. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh với Mỹ và Tây phương, Liên Xô duy trì một đạo quân từ 3 triệu người đến 5 triệu người. Khoảng thời gian Liên Xô sụp đổ, Liên Xô có 210 sư đoàn với một phần tư là các sư đoàn thiết giáp. Kho vũ khí hạt nhân Liên Xô có 27 ngàn đầu đạn nguyên tử trong đó 11 ngàn đầu đạn có tầm bắn xa đến tận nước Mỹ. Mỗi đầu đạn nguyên tử có thể tàn phá một thành phố Mỹ.

Bên ngoài hùng mạnh, nhưng bên trong, Liên Xô là một cơ chế chính trị chứa đựng các mâu thuẫn nội tại dẫn đến thối rửa. Chủ nghĩa Marx-Lenin đề cao “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” nhưng thật sự từ Cách mạng CS tại Nga, Trung Cộng, Cu Ba, Bắc Hàn, Việt Nam v.v... đều phát xuất từ một nhóm nhỏ cán bộ CS biết vận dụng các lý do lịch sử và bất đồng nhất thời trong xã hội để phát động chiến tranh và sau đó tiếp tục cai trị nhân dân bằng súng đạn, nhà tù, sân bắn. Người dân không có quyền chọn lựa. Mâu thuẫn đối kháng mang tính triệt tiêu nhau giữa chế độ độc tài toàn trị và quyền sống, quyền tự do chọn lựa của con người vì thế đã bắt đầu ngay khi cách mạng CS thành công và sâu sắc dần theo thời gian.

Sự chuyển hóa tri thức xã hội. Như người viết đã có dịp phân tích bài Trung Cộng không đáng sợ, sự chuyển hóa tri thức của xã hội là nguồn lực chính thúc đẩy cách mạng dân chủ tại các quốc gia CS. Nguồn lực đó nhanh hay chậm tùy theo điều kiện mỗi nước nhưng là một tiến trình không thể bị ngăn chận bởi bất cứ một cơ chế độc tài nào. Những nguồn đối kháng từ bên trong các nước CS đã âm thầm lớn mạnh chỉ chờ cơ hội là bùng vở. Sức sống của đất nước cũng như của xã hội là một dòng chảy không bao giờ ngừng nghỉ, các thế lực cầm quyền độc tài chỉ là những khe đá, có thể làm chậm dòng thác văn minh nhưng không thể ngào ngăn chận được.

Khi nhận thức con người được mở rộng sự sợ hãi sẽ giảm dần. Điều này thể hiện không chỉ ở người dân Liên Xô lúc đó mà cả các cấp lãnh đạo CS Liên Xô cũng không còn sợ các biện pháp chế tài của trung ương đảng. Chưa bao giờ trong lịch sử đảng CS Liên Xô có một ủy viên bộ chính trị từ chức. Không cần phải tìm hiểu cũng biết điều gì sẽ xảy ra cho Boris Yeltsin nếu ông ta từ chức trong thời kỳ Lenin, Stalin.

Yếu tố chính tác động vào sự sụp đổ của Liên Xô, hệ thống CS tại châu Âu và sẽ diễn ra tại Trung Cộng cũng như Việt Nam chính là nội lực phát xuất từ xã hội, kết quả của các phong trào xã hội và sự chuyển hóa không ngừng của xã hội. Các quốc gia CS còn lại như Trung Cộng, Việt Nam tìm mọi cách để ngăn chận sự phát triển tự nhiên của văn minh con người, cố tình che đậy, bưng bít thông tin nhưng chỉ làm chậm lại tiến tình cách mạng dân chủ một thời gian ngắn mà thôi. Cuộc chiến tranh xoi mòn từng mảnh nhỏ này đang diễn ra từng giờ, từng phút và phần thắng đang nghiêng dần về phía người dân.

Tham nhũng thối nát, chạy đua vũ trang và trung ương không giữ được địa phương. Thập niên 1970 Liên Xô có vẻ trong vị trí ổn định và có ảnh hưởng quốc tế nhất. Vị trí của Liên Xô lên cao tại Phi Châu, Trung Đông và Á Châu. Tuy nhiên sau thượng đỉnh Vladivostok giữa Leonid Brezhnev và Tổng thống Mỹ Gerald Ford tình hình bắt đầu đổi khác. Nền kinh tế Liên Xô suy sụp dần vì hơn 30%, nhiều phân tích cho rằng hơn một nửa, ngân sách quốc gia phải đổ vào cuộc chạy đua vũ trang với Mỹ. Giống như đòn kinh tế Mỹ đang áp dụng hiện nay đối với Vladimir Putin, thập niên 1980, Mỹ cũng thỏa thuận với Saudi Arabia để giữ giá dầu thấp nhằm đánh vào nền kinh tế sống nhờ xuất cảng dầu khí của Liên Xô.

Gorbachev kế thừa một “sự nghiệp cách mạng” nhưng trong thực tế một gánh nặng của chủ nghĩa độc tài toàn trị kéo dài từ 1917 cho đến tháng 3 năm 1985, thời gian ông được chọn làm tổng bí thư đảng. Cơ chế chính trị trung ương không giữ được các cộng hòa địa phương. Trước Giáng Sinh 1991 vài ngày, 11 nước cộng hòa Sô Viết gồm Ukraine, Liên Bang Nga, Belarus, Armenia, Azerbaijan, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Moldova, Turkmenistan, Tajikistan và Uzbekistan tuyên bố họ không còn là những tiểu quốc trong liên bang Sô Viết. Bốn nước Estonia, Lithuania, Latvia, Georgia chọn nghiêng hẳn về phía Tây thay vì theo Nga.

Không có con đường nào khác dành cho các lãnh đạo CS

Chế độ CS, một chế độ đi ngược dòng phát triển văn minh nhân loại và quyền con người như Mikhail Sergeyevich Gorbachev xác nhận trong diễn văn từ chức “hệ thống toàn trị đã ngăn chận một quốc gia để trở nên giàu có và thịnh vượng, hệ thống đó phải bị giải thể.” Điều đó đã xảy ra tại Nga, Đông Âu, Phi Châu và đương nhiên sẽ xảy ra tại Trung Cộng và Việt Nam. Cách mạng dân chủ là một tiến trình không thể nào đảo ngược. Các lãnh đạo CS chỉ có một trong hai chọn lựa, hoặc như Mikhail Gorbachev hoặc như bị lật đổ như Nicolae Ceausescu, Erich Honecker chứ không có chọn lựa thứ ba nào.




Popular Posts

Popular Posts

My Blog List