QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Tuesday, May 12, 2015

TIN BUỒN - Cố Đại Tá Không Lực Hoa Kỳ - Lê Minh Sơn

 
Cộng đồng Việt Nam vô cùng thương tiếc cựu Đại Tá trẻ Không quân Hoa Kỳ (gốc Việt) 
LÊ MINH SƠN. Ra đi về thế giới vĩnh hằng/Thiên Đường, khi tuổi đời còn qúa trẻ.
Một mất mát lớn lao cho gia đình tang quyến, cho cộng đồng người Việt, cho quân lực
và Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
 Xin PHÂN ƯU cùng tang quyến và Nguyện cầu cho anh linh Phê Rô LÊ MINH SƠN
về cõi Phúc vĩnh hằng THIÊN ĐƯỜNG.

                                  Trúc Giang và gia đình.


From: BTGVQHVN-2
To: BTGVQHVN-2
Date: Mon, 11 May 2015 07:06:58 +0000
Subject: [BTGVQHVN-2] Fw: TIN BUỒN - Cố Đại Tá Không Lực Hoa Kỳ - Lê Minh Sơn [1 Attachment]

 

       THÀNH KÍNH PHÂN ƯU. Phú Vân.

On Sunday, May 10, 2015 11:40 PM, Minh Pham <phammh2010@gmail.com> wrote:


Inline image
 Soldier Saluting Silhouette Soldier salutiSoldier Saluting Silhouette Soldier salutiSoldier Saluting Silhouette Soldier saluti
Thành Kính Phân Ưu
Those we love can never be more than a thought away, as long as
there's an unfading memory
 they always live in our hearts, and so surely to remain forever.
Salute and Farewell to Colonel Lê Minh Sơn
God Bless You and God Bless All!
In Deep Sorrow,
Viet fellow folks from California

Cố Đại Tá Không Lực Hoa Kỳ - Lê Minh Sơn

Colonel Son (Sean) Minh Le (May 23, 1960 - April 25, 2015) was Senior Advisor, Iraq Ministry of Defense International Affairs.

Background and Education
Col Le was born and raised in Saigon, South Viet Nam. He immigrated to the US in 1975 and resided in Northern Virginia. He graduated from VMI in 1982 with a Bachelor of Science in Electrical Engineering. He obtained a Master in Business Administration from National University in San Diego, CA. In 2002, he earned a second Master in Strategic Studies from the US Army War College, in Carlisle, PA. Col Le is the very first Vietnamese Refugee of the 1975 post-war generation to graduate from VMI and first to achieve the rank of Colonel in the US Armed Forces.

Military career
Col Le entered the Air Force in 1982 after graduating from the Virginia Military Institute (VMI). He started as a Space and Missile Officer in his early Air Force career. Company Grade assignments included Cape Canaveral AFS and Los Angeles AFB; other duties were at Vandenberg AFB, Houston Space Flight Center, and Kennedy Space Center. His operational achievement consisted of launches of AF heavy and medium lift vehicles including the Titan 34D, Titan IV, and Delta II. During final years of the cold war, Col Le became the Mission Director of the Strategic Defense Initiative Organization space effort, overseeing the integration and flight of the Infrared Background Signature Survey payload that flew successfully on STS-39 Space Shuttle mission in May 1990. As result of this, he received the prestigious Presidential Manned Flight Award.
Col Le served as Operations Staff Officer during the Field Grade years. His assignments included both Air and Joint Staff. On the Air Staff, he managed the acquisition of the ICBM Minuteman III Guidance Replacement Program. Also on the Air Staff, Col Le was the National Guard and Reserve Equipment Account manager for the Office of the Air Force Reserve.
Col Le worked on the Joint Staff between 2002 and 2007. In J-4, Col Le was the Senior War-Planner, responsible for the deployment and execution of US logistic joint forces in support of OIF and OEF. He held several leadership positions including Chief of Multi-National Division where he participated with the NATO allies to conduct combat support operations in Afghanistan. In 2005, Col Le deployed as part of an Air Expeditionary Force for OIF. He directed all life support elements for over 7,000 airmen as Chief of Staff of the 332nd Air Expeditionary Wing, Balad AB, Iraq.
His last assignment was with the Materiel and Facilities Directorate, the Office of the Assistant Secretary of Defense for Reserve Affairs. While assigned here, he was the focal point for Reserve Affairs on Joint Base matters. During this time, he successfully rescued a Puerto Rico USMCR unit from losing their training and operations facility. In 2009, he was deployed to Kabul, Afghanistan, as the Director of the Armed Contractor Oversight Directorate, HQ US-Forces Afghanistan. There, he created 100% accountability for oversight management of 18K DoD and 6K DoS Private Security Contractors. He partnered with the Afghan National Police and Army leadership for convoy protection missions. He established a Movement Tracking Center within HQ USFOR-A for the daily monitoring of over 40 convoys and 1,900 trucks for logistical movements in support of NATO military and Afghanistan reconstruction efforts.



Phân ưu Cố Đại Tá Không Lực Hoa Kỳ - Lê Minh Sơn

      
Thương mến gửi Đại Gia đình, các anh chị em, bạn hữu trong Không Lực VNCH quý mến,

Con của chúng tôi, Phê-rô Lê Minh Sơn, Cựu Đại Tá Không Lực Hoa Kỳ, (Col. USAF Ret.) vừa được Chúa gọi về ngày Thứ sáu 24 tháng 4, năm 2015, hưởng dương 54 tuổi.

Thánh ý Chúa như vậy, chỉ biết vâng phục, nhưng không khỏi đau đớn vì thấy người thân của mình ra đi quá trẻ, quá sớm, để lại bao nhiêu niềm thương tiếc cho gia đình, vợ con, Cha Mẹ, anh em và bạn hữu.

Sơn chào đời vào ngày 23 tháng 5, năm 1960 tại Sài Gòn, Nam Việt Nam.

Sau biến cố [30] tháng 4, 1975, Sơn cùng gia đình di cư sang Mỹ và định cư tại Virginia.

Năm 17 tuổi được tuyển vào trường Sĩ Quan Virginia Military Institute (VMI) và ra trường Kỹ Sư điện (BS EE). Sau đó đậu bằng Cao học MBA tại National University of San Diego, CA. Năm 2002 lấy được bằng Cao học về Strategic Studies tại USArmy War College (Đại Học Quân Sự, Bộ Binh Hoa Kỳ) tại Carlisle, PA.

Cháu Sơn là người VN đầu tiên sau biến cố tháng 4, 1975 xuất thân trường Virginia Military Institute (VMI) và là sĩ quan Mỹ gốc Việt đầu tiên thăng cấp bậc Đại Tá.

Năm 2005, Sơn tham chiến tại chiến trường Iraq với lực lượng Air Expeditionary Force, khuôn khổ cuộc Hành Quân Operation Iraqi Freedom. Với chức vụ Tham Mưu Trưởng của Không Đoàn 332 Air Expeditionary Wing, Balad AFB, Iraq, Đ/T Sơn chỉ huy 7,000 quân nhân Không Quân Hoa Kỳ.

Năm 2009, được gửi sang phục vụ tại Afghanistan trách nhiệm Director of the Armed Contractor Oversight Directorate, Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ Afghanistan.

Sau khi về hưu năm 2010, cháu Sơn làm Senior Consultant cho một hãng Consulting Firm tên LMI. Sau đó LMI gửi Sơn đi phục vụ tại Iraq như là thành viên của LMI và làm việc cho sở này cho đến khi qua đời.

Ngoài công việc liên quan đến nghề nghiệp, Sơn làm thiện nguyện phụ giúp Giới trẻ, về xây cất sửa sang nhà cửa cho những người nghèo tại Giáo Xứ Công Giáo St. Ambrose và giáo xứ nơi cư trú là GX Corpus Christi, Chantilly, VA.

Cũng để tỏ lòng biết ơn, như khi gia đình định cư tại Mỹ được Cố vấn và Cộng đồng Thiên Chúa Giáo bảo trợ vào năm 1975, Sơn cũng bảo trợ cho một gia đình người Iraq sang Mỹ cách đây 3 năm.

Cháu Sơn có lòng kính mến Đức Mẹ cách riêng. Mỗi ngày chạy bộ 3 dặm trong tay lúc nào cũng có xâu chuỗi Mân Côi lần hạt cầu nguyện riêng cho Mẹ.

Sơn là một người con hiếu thảo, một người anh, em quan tâm đến gia đình, một người bạn tin cậy, một người Cha gương mẫu, và một người chồng trung tín, yêu thương.

Chương trình thăm viếng vào ngày Thứ Hai May 4, 2015 tại Fairfax Memorial Funeral Home từ 3-7 giờ tối.

Thánh lễ an táng Thứ Ba May 5, 2015 tại Giáo Xứ St. Ambrose lúc 11giờ sáng.

Sau đó linh cữu được lưu giữ và sẽ được an táng vào phần mộ cuối cùng tại Nghĩa Trang Quân Đội, National Arlington Cemetery tại Arlington, VA vào mùa Thu 2015.

Xin quý anh chị em cầu nguyện cho linh hồn Phê-rô.

Ghi chú: Cháu Sơn ra đi nhẹ nhàng êm thấm. Đang chờ kết quả khám nghiệm của Bác sĩ.
      ----------------------------------------------------------------------------------------------------------
Annoucement

It is with profound sadness we announce the unexpected passing of Colonel Son ( Sean) Minh Le (Ret. USAF), who was called home to God on Friday, April 24, 2015.
The Le family

****** ||| ******
Một số Hình ảnh về Cố Đại tá Lê Minh Sơn


Huy Hiệu Binh chủng Không Quân Hoa Kỳ



Huy Hiệu Không Đoàn 332d Viễn Chinh
(Air Expeditionary Wing), Không Lực Hoa Kỳ
(phải: huy hiệu ngụy trang)

      
Trường Huấn Luyện Sĩ quan Trừ bị
Virginia Military Institute (VMI), Lexington, Virginia



Chiến tranh vùng Vịnh (Iraq)



Chiến trường A-phú-hãn


Di ảnh Cố Đại tá Lê Minh Sơn

Thư phân ưu do gia đình thực hiện






--


 
Minhhà
       

 


__._,_.___

Posted by: Gia Cao 

Monday, May 11, 2015

Đại Tướng Cao Văn Viên - Những sự kiên lịch sử cận đại chưa được tiết lộ

Đại Tướng Cao Văn Viên - Những sự kiên lịch sử cận đại chưa được tiết lộ

https://www.ttxva.net/doi-binh-nghiep-cua-dai-tuong-cao-van-vien-qua-anh/

============ ===

Đại tướng Đỗ Cao Trí - tư lệnh quân đoàn 3 Biên Hòa (quân lực Việt Nam Cộng Hòa)

  ==== ==

CỐ TT VNCH NGUYỄN VĂN THIỆU TÔI KHÔNG CHỊU KÝ HIỆP ĐỊNH PARIS NẮM 1973


====



Tổng thống ơi Tổng thống,
Tổng thống có linh thiêng xin ngài làm ơn hãy về đây bóp cổ cho chết mẹ hết những thằng phản phúc "Ăn cơm QG chúng ta, thờ ma CS của Già Hồ Già Dịch như lời xưa oan khiên của Tổng Thống. Đám hại nước hại dân: Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Dương Văn Đầy, Tôn Thất Lâp,Nguyễn Hữu Thái, Lê Quang Vịnh, Nguyễn Đình Thi, Trịnh Đình Ban, Nguyễn Công Khế, Huỳnh Ngọc Chênh, Nguyễn Xuân Lập, Hà Đình Nguyên,..."

about:blank

Bài Diễn Văn Đầy Tâm Huyết Của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
Tất cả những thành phần trên sau ngày 30-4-1975 đều đã ngậm cay nuốt đắng tự thú mình trước Quốc dân rằng mình là kẻ vô cùng khờ dại.
Như vậy ngày 30-4-1975 cũng là ngày được mệnh danh là ngày SÁNG MẮT, giáo dục những ai còn u mê trong "thiên đàng cộng sản.
 
Riêng Thầy Tổng Thống NGUYỄN VĂN THIỆU luôn luôn nhận định sáng suốt về phía bên kia trong bài diễn văn của THẦY cách đây đã 43 năm nhưng đến nay bài giảng nầy vẫn còn rất phê và như mới toanh.
Triệu Hoa Hoàng.

 
Xin mời nghe ông Thầy Tổng Thống giảng dạy bài học để đời:

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu:  "Có hai lối có tên trong lịch sử"...




"Tôi thiết tha kêu gọi những ai, ở miền Nam này, đang ăn cơm miền Nam, đang thở không khí miền Nam, đang được sự che chở của xương máu Dân Quân miền Nam, mà đến ngày nay, còn âm thầm tiếp tay với Cộng sản, còn lén lút đi đêm với Thực dân, Ngụy hòa, còn tính đâm sau lưng chiến sĩ đồng bào…Tôi kêu gọi lương tri của mấy người, vì đất nước, vì dân tộc, hãy dừng chân lại, hãy dừng tay lại, hãy từ bỏ ý định đó đi mà cùng với 17 triệu rưỡi Dân Quân miền Nam chiến đấu chống kẻ thù Cộng sản. Tôi kêu gọi mấy người hãy suy nghĩ, nếu thích Cộng sản thì hãy có can đảm ra ngoài Bắc ở với Cộng sản, như vậy Cộng sản còn ít khinh rẻ mấy người hơn là làm tay sai cho chúng ở miền Nam này.

Có thể không ai ở miền Nam tự do này giết mấy người đâu, nhưng chính Cộng sản sẽ giết mấy người.

Mấy người nếu muốn có tên trong lịch sử, thì cũng có hai lối có tên trong lịch sử. Một đàng khi nhắc đến, thì toàn dân cúi đầu khâm phục, con cháu lại ngẩng đầu lên hãnh diện. Một đàng khác, khi nhắc đến, thì toàn dân ngẩng đầu lên nguyền rủa, còn con cháu mấy người lại cúi đầu tủi nhục. Tôi chắc mấy người sẽ được lịch sử ghi tên vào hạng  thứ hai này.

Nếu mấy người không cầm súng xông pha lửa đạn để chiến đấu, nếu không làm được một việc gì hữu ích cho hậu phương thì mấy người đừng làm gì hại dân bán nước.

Một hành động ngu xuẩn, phản bội Tổ Quốc, Chiến Sĩ và Nhân Dân, dù có gạt được ai 5, 3 tháng, 5, 3 năm, rồi cũng sẽ bị lịch sử lôi ra chứng minh và cũng sẽ bị trừng trị nghiêm khắc."
__._,_.___

Posted by: VietHai Tran 

Sunday, May 10, 2015

Những quy tắc giao chiến của Không lực Hoa Kỳ tại Việt Nam



Sent from my iPad


From: maivkhanh
Date: 9 May 2015 9:24:56 PM AEST
To:
Subject: [acdieu] Fwd: FW: [lk65kqvn] Nhung quy tac giao chien cua Khong luc Hoa Ky tai Viet Nam.


Mark Berent           
Share  Save   [ Subscribe]        
Mark Berent is a retired USAF fighter pilot who had three voluntary tours in Vietnam. His five "Wings of War" historical fiction novels vividly depict how the crippling influence of politics cost thousands of lives of aircrews and soldiers.
Những quy tắc giao chiến của Không lực Hoa Kỳ tại Việt Nam
Tác Giả: Mark Berent - Phi công phản lực tham chiến tại Việt Nam 1965-1973
Chuyển Ngữ: Thái Dương
(Tựa đề bài chuyển ngữ do tác giả thêm cho rõ ý nghĩa của bài viết)
(Phi công Mark Berent cho rằng Mỹ và đồng minh Việt Nam có thể đã chiến thắng tại chiến trường Việt Nam vào những năm 67, 68. Nhưng qua những vụ ngưng ném bom trên đường mòn Hồ Chí Minh và miền Bắc Việt Nam, đã giúp cho Cộng Sản Bắc Việt mang quân và vũ khí vào miền Nam để đi đến chiến thắng cuối cùng vào tháng Tư 1975. Những phi công như ông đã bi trói tay và bịt mắt trước những cuộc di chuyển ồ ạt của cộng quân.
Hãy nghe Mark Berent tâm sự… Nguyên tác là bài viết với tựa đề Rules Of Engagement, được in trong tác phẩm “To Bear Any Burden của Al Santoli".
Lần đầu tiên tôi tham chiến tại Việt Nam là vào năm 1965. Ðơn vị của tôi đóng tại căn cứ Không Quân Biên Hòa. Tôi bay phản lực cơ F-100s, tổng cộng hơn 200 phi vụ. Lần thứ  hai tôi tham chiến ở Việt Nam là vào năm 1968,  lúc đó tôi bay phản lực cơ F-4s cất cánh từ căn cứ Ubon, Thái Lan. Tôi thuộc phi đoàn Cú Ðêm (Night Owls), có nhiệm vụ bay trên đường mòn Hồ Chí Minh trong vòng 7 tháng. Cuối cùng, 5 tháng chót tôi được chỉ định chỉ huy Woff FAC (Lực Lượng Không Kiểm Tiền Phương (Forward Air Control)). Lực lượng này bao vùng đường mòn Hồ Chí Minh từ Lào đến suốt Bắc Việt Nam. Ðó là thời điểm mà Tổng Thống Johnson ra lệnh ngưng ném bom. Do đó, có lúc  các phi vụ được chấp thuận ném bom, có lúc phi vụ không được chấp thuận. Chẳng cần dấu diếm, nhiều lần một  số anh em phi công chúng tôi tự thi hành nhiệm vụ thả bom đường mòn, mà không cho ai biết.

Tại Việt Nam, có vài điều rất đỗi ngạc nhiên. Thứ nhất là tôi được tưởng thưởng  nhiều huy chương. Nhưng có một trường hợp tôi từ chối nhận một huy chương cao quý của Hoa Kỳ là Purple Heart, Lý do là vì một người bạn Lực Lượng Ðặc Biệt của tôi vừa mới trốn được Việt Cộng bằng cách đi bộ 26 cây số trong đêm tối, với viên đạn 51 ly còn nằm trong một cánh tay và tay kia dìu một người lính Việt Nam Cộng Hòa đang bị thương. Do đó, đối với tôi, cái huy chương cao quý Purple Heart không có một giá trị gì cả, tôi không xứng đáng để nhận!

Tôi  hết nhiệm kỳ tại Việt Nam và được chỉ định về phục vụ tại một căn cứ không quân tại California. Không Quân Mỹ muốn xử dụng tôi hết mình và để tôi thăng tiến hơn, họ gửi tôi đi học để  lấy bằng kỹ sư tại một đại học dân sự. Sau khi tốt nghiệp, tôi được bổ nhiệm một chức vụ khả quan về tiền bạc và tương đối nhàn hạ tại Phi Ðoàn 69 Chiến Thuật, sống cuộc đời thoải mái. Nhưng khốn nỗi, mỗi lần tôi cầm tờ báo thì lại được tin một người bạn thân của tôi bị bắn hạ và tử trận tại chiến trường.
Không chịu nổi nữa, tôi xin với thượng cấp để được bay F-4s, một phản lực cơ tân tiến hơn so với F-100s và tôi đã được chấp thuận để trở lại chiến trường Việt Nam.

Trong 7 tháng đầu khi bay F-4s cất cánh từ căn cứ Ubon, Thái Lan. Tôi vẫn thuộc Phi Ðoàn Cú Ðêm (Night Owls). Lệnh ngưng thả bom của Johnson bắt đầu có hiệu lực một tháng trước khi tôi trở lại chiến trường. Do đó, phi công chúng tôi không có cơ hội ném bom miền Bắc Việt Nam. Chúng tôi chỉ còn biết bay ầm ì, rồi nhào lên lộn xuống trên đường mòn Hồ Chí Minh bên ranh giới nước Lào. Ðó là dọc theo vùng rừng núi cao Karst Mountains (Lào). Và nếu chúng tôi lợi dụng ngưng thả bom để bay xuống phía Nam thuộc lãnh thổ Việt Nam để phá hủy những đoàn xe tiếp liệu của Cộng Sản Bắc Việt dọc theo đường mòn, thì thực sự với F-4s không đủ khả năng này, vì chúng tôi phải bay trong bầu trời dầy đặc sương mù và mây thấp che kín tầm mắt quan sát. Nhiều lần chúng tôi cho một phản lực thả trái sáng và sau đó phản lực khác theo sau thả bom.

Nhưng khi trái hỏa châu vừa thả ra là mấy tên lái xe Việt Công đều chửi thề: “Mấy thằng phi công Mỹ ngu xuẩn đang sắp ném bom. Hãy ngừng xe lại và táp vào lề đường. Trước sau gì chúng cũng đâm vào dãy núi Karst…”  Và đúng như thế, nhiều phi công của chúng tôi đã đâm máy bay vào dãy núi này mà chẳng thả trúng một xe tiếp liệu nào, chỉ vì tầm nhìn quá hạn chế do thời tiết.
Mãi đến khi Mỹ mang máy bay Spectre–AC130 có trang bị vũ khí và có trang bị cả dụng cụ quan sát ban đêm như màn hình TV và những dụng cụ điện tử có thể cảm giác được khói bay ra từ ống khói của xe vận tải, đồng thời máy bay này có khả năng nhìn qua đêm tối và mây mù.
Chúng tôi liên lạc chặt chẽ với Spectre-AC130 để thực hiện 2 nhiệm vụ: Một là áp lực những ổ súng phòng không của địch ngõ hầu chúng tôi có thể bắn hoặc thả bom trúng mục tiêu. Thứ hai là hướng dẫn chúng tôi tới mục tiêu cần tiêu diệt. Và kể từ đó, chúng tôi đã phá hủy rất nhiều xe vận tải tiếp liệu của địch. Tôi nhớ rõ, một lần, trong một đêm tôi bắn trúng 14 xe tiếp liệu của địch.
Mỗi khi máy bay Spectre-AC130 nhìn thấy đoàn xe, những phi công này sẽ đánh dấu cho chúng tôi bằng nhiều cách. Họ tác xạ vào mục tiêu bằng súng liên thanh 20 ly và cho chúng tôi biết đó là mục tiêu cần tiêu diệt. Hoặc giả họ ném hỏa châu để soi sáng cả đoàn xe phía dưới và chúng tôi cứ theo đó mà thả bom. Ngoài ra, họ còn có thể ném một khối hỏa châu nặng, có khả năng cháy sáng tới 20 phút. Họ ném một khối hỏa châu này trước đoàn xe và một khối  khác phía cuối đoàn xe, và cho chúng tôi biết cứ thế mà ném bom trong đoạn đường giữa hai khối ánh sáng. Vì vậy, chúng tôi đã phá hủy được nhiều đoàn xe tiếp liệu của cộng sản. Ðường mòn Hồ Chí Minh đã bị cầy nát làm trở ngại cho việc cộng sản chở tiếp tế vào miền Nam Việt Nam. Thiển ý của phi công chúng tôi, chiến tranh đã có thể chấm dứt bằng quân sự!
Nhưng thật đau lòng, trong khi lệnh ngưng ném bom bắt đầu vào tháng 11 năm 1968, tất cả chúng tôi đau điếng! Anh em phi công chúng tôi đã trải qua bao nhiêu lần được lệnh ngưng thả bom và mỗi lần như thế chúng tôi cảm thấy như bị một quả đấm vào mặt, vì người ta đã phá tan đi những gì chúng tôi đang thắng thế.

Thi dụ, trong giai đoạn 1966-67, bạn bè chúng tôi, những phi công can trường, đang bay các phản lực cơ  F-105s và F-4s trên lãnh thổ Bắc Việt, một nơi đầy nguy hiểm vì hỏa tiễn địa-không tối tân nhất SAM và màng lưới ra-đa của Nga đầy rẫy dưới đất. Nhưng vì  Những Quy Tắc Giao Chiến (Rules Of Engagement), chúng tôi đã chiến đấu một cuộc chiến mà tay chúng tôi đã bị trói chặt, mắt chúng đã bị chọc thủng mù lòa và một nửa đạn dược trang bi đã bị cắt giảm.
Nhưng những viên chức chính phủ như Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara thì lại tuyên bố với công chúng rằng các phi cơ Mỹ không có bi cắt giảm bom đạn và bom đạn Mỹ không bao giờ thiếu?. Nhưng thực tế, chúng tôi đang chứng kiến bom đạn Mỹ ở Việt Nam đã bị cắt giảm nhiều, nhất là của không Lực Mỹ! Chúng tôi đã chứng kiến bạn chúng tôi bay ra Bắc với trang bị kém hơn thời Ðệ Nhị Thế Chiến, chỉ vỏn vẹn với  2 trái bom: 250 và 500 cân và 2 thùng bom lửa (Napalm) trong một phi vụ phá hủy đường rầy xe lửa. Ðiều hiển nhiên là chúng ta không thể cắt đường rầy xe lứa bằng bom lửa, mà thực ra bom này chỉ làm cháy cỏ và cây cối chung quanh đường rầy!. Chúng tôi cho rằng quyết đinh ngưng ném bom và cắt giảm đạn dược là MỘT TỘI PHẠM của những người có thẩm quyền. Nhiều khi chúng tôi đã đối đầu với một số hoa tiêu từ chối lệnh bay ném bom, dù họ có phải ra toà án quân sự!

Các quan chức này lại nói loanh quanh rằng không có thiếu bom tại Việt Nam. Nhưng tại Sài Gòn, những tầu thương mại chuyên chở bom đạn bị tắc nghẽn tại các hải cảng, vì hải cảng không đủ rộng để có thể đem xuống những bom và vũ khí lớn quá tầm trưc tiếp vào bờ. Trong khi đó, vũ khí nhỏ và dụng cụ y khoa thì được Việt Cộng hối lộ và chở về mật khu.
Vào thời điểm đó, tôi vẫn còn nghĩ rằng với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, chính phủ Sài Gòn biết phải làm gì để chiến thắng. Nhưng một thời gian sau đó, tôi nhận thức được rằng: “Hình như người ta (Mỹ) không muốn và không cho phép để thắng cuộc chiến tranh này!” chỉ vì Hoa Thịnh Ðốn đã áp đặt cái “Nguyên Tắc Giao Chiến “ oái oăm này!?
Chúng tôi đành phải bay lên phía bắc Lào để yểm trợ cho Vang Pao, người lãnh đạo của lực lượng H’mong, một bộ lạc sống trên đồi núi, đang chiến đấu với quân cộng sản Bắc Việt và cộng sản Lào (Pathet Lào). Nhưng tại đây, lại có lệnh không được thả bom gần các chùa chiền. Trong khi ai cũng biết cộng sản Lào đang đóng quân đầy trong các chùa chiền ở Lào với đầy đủ vũ khí. Nhiều lần chúng đã bị bắn từ chính trong các chùa. Có lần chúng tôi không chịu được, đã  bay qua chùa và thả một trái bom vào chỗ có súng bắn lên, và ầm ầm kho đạn của địch nổ vang và cháy suốt mấy tiếng đồng hồ.
Có một câu chuyện ai cũng biết là ở Trung Tâm Văn Hóa Trung Hoa (Chinese Cultural Center) tại Plaine des Jarres (Lào) như sau: Chúng tôi không được lệnh ném bom trong vòng 3 cây số chung quanh trung tâm này. Vào một đêm, một phi công tức khí lén thả một trái bom vào trung tâm này và kho đạn ở đây đã nổ trong suốt một tuần lễ!

Sau khi lệnh ngưng ném bom trên lãnh thổ Bắc Việt vào tháng 11 năm 1968, chúng tôi chỉ được phép ném bom khi xe tiếp tế của Việt Cộng ở đường mòn Hồ Chí Minh trên phần lãnh thổ nước Lào mà thôi, và chỉ được ném bom vào ban đêm. Như vậy là chúng tôi gần như tự tử rồi! Ban đêm không thấy đường, súng phòng không bắn như sao, chúng tôi chỉ còn cách  đâm máy bay vào dãy núi Karst là xong! Có một ngày quang đãng, tôi đếm được 100  xe tiếp tế nối đuôi nhau tại Ðèo Mụ Giạ thuộc Bắc Việt Nam. Những chiếc xe này đậu sẵn để đợi đêm tối di chuyển vào đường mòn. Và dĩ nhiên chúng tôi được lệnh cấm chỉ thả bom đoàn xe. Ðó là quy tắc giao chiến đấy!!
Chúng tôi cũng không thể thả bom đường xe lửa tiếp tế từ Trung Cộng vào Bắc Việt. Mỹ cũng không thể phong tỏa hải cảng Hải Phòng… Tất cả những gì Nixon làm năm 1972 là để Bắc Việt có cơ hội mang tiếp tế vào miền Nam. Ðáng lẽ chúng ta phải chặn đứng việc cộng sản Bắc Việt tiếp tế vũ khí cho chiến trường miềân Nam mới phải?

Vai trò ưu tiên của Không Lực Hoa Kỳ là chặn đứng khả năng tiếp tế vũ khí đạn dược vào chiến trường Miền Nam. Ðây là một sự “tuyệt đối phải ngăn chặn.” Ðó là mục tiêu duy nhất của Không Lực hầu yểm trợ lực lượng Mỹ và đồng minh tại Nam Việt Nam. Chúng ta phải ném bom các cơ sở chế tạo đạn dược và vũ khí, vì chính nơi này sản xuất phương tiện để giết những người lính Mỹ. Lý do nữa là Không Lực phải giúp lính tiêu diệt kẻ thù dưới đấtø. Tất cả Không Lực làm, từ chuyên chở, đến chiến đấu đều chung mục đích giúp cho toàn quân đội Mỹ ngoài chiến trường tại miền Nam Việt Nam.
Nhưng buồn thay, tại Việt Nam, chúng tôi đã không được phép thực thi những sự “tuyệt đối phải ngăn chặn” này. Thử nghĩ xem Tù Binh Chiến Tranh Mỹ (POW) do đâu mà có.  85% POW là hoa tiêu và phi hành đoàn. Họ bi bắn hạ chung quanh những vị trí có hỏa tiễn SAM và phi cơ MIG. Nơi mà những hoa tiêu này đã thấy từ khi cộng sản Bắc Việt và Nga Sô lúc còn dang xây cất. Còn tại chiến trường Miền Nam, lính Mỹ chết bởi những vũ khí, đạn dược và tiếp liệu do Bắc Việt chuyên chở vào Nam, mà chúng ta không ngăn chặn được hay chúng ta không muốn ngăn  chặn?!.

Chúng tôi đã từng thấy từng đoàn xe vận tải nối đuôi nhau ngay ban ngày. Những xe này thuộc Lực Lượng Chuyên Chở 559 từ Hà Nội đổ vào.
Chúng tôi bay trên đầu đoàn xe và đôi khi chỉ cho chúng một chút sợ hãi bằng cách ném xuống vài thùng xăng phụ hay một vài trái hỏa tiễn gọi là. Vì chúng tôi không được phép mang cả phi đoàn phản lực đến đó để ném bom, chỉ vì lệnh cấm.
Tôi đã từng chứng kiến một làng người Thượng ở Nam Việt Nam bị Việt Cộng ném lửa đốt cháy cả làng. Chúng đốt sống cả trẻ thơ, phụ nữ và tất cả những gì còn sống, chỉ vì dân làng  không chịu phục tùng lệnh của chúng.
Thật là đau lòng cho một cuộc chiến mà chúng ta không muốn thắng!
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
- Rules Of Engagement- Mark Berent
- To Bear Any Burden - Al Santoli
                                                                           ~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

-- Posted by: ducvnaf 

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List