QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Tuesday, March 1, 2016

Mùa Hè 1972 NHẨY DÙ TỬ CHIẾN VỚI BẮC QUÂN TẠI MẶT TRẬN QUẢNG TRỊ



 
Mùa Hè 1972
NHẨY DÙ TỬ CHIẾN VỚI BẮC QUÂN
TẠI MẶT TRẬN QUẢNG TRỊ

 
. Mũ Đỏ Trương Văn Út (Útbạchlan)




Mày cứ viết ra vài trang nhật ký
Đọc nghe chơi coi thử khóc hay cười ?
Tuổi học trò tuổi đời rồi tuổi lính
Tuổi vào tù, tuổi vượt biển ra khơi
(Trạch Gầm)


Chúng ta, những người sinh trưởng tại nước Việt, nhất là ở miền Nam dưới thể chế Việt Nam Cộng Hoà miền nắng ấm ban mai lan toả bao nỗi niềm tự do, hạnh phúc, an bình của những năm 1955 - 1960 và chắc hẳn như bao học sinh ngày ngày cắp sách đến trường khó có thể quên được bài Tôi Đi Học của Thanh Tịnh: “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. 

Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính, lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học….”. Và có tôi trong số những cậu học trò nhỏ đó nữa… Vâng, chính tôi với những ngày xưa còn bé cắp sách đến trường học hành, vui chơi cùng “đám học trò” ngây ngô bắt dế, đá gà, trèo cây hái trái, phá phách dễ thương trong xóm làng bình dị, mộc mạc có tiếng võng đu đưa kẻo kẹt và lời mẹ ru con à… ơi lẫn tiếng chim cu đồng gáy gọi nhau nghe buồn xao xác trong buổi trưa hè oi ả …! 

Cứ mỗi buổi tan trường, chào thầy cô phấn bảng trở về nhà, rồi lớn dần theo thời gian … tôi thường lang thang trên những con đường dưới hàng cây bóng mát, buông lời chọc ghẹo vẫn vơ với những nữ sinh trung học dung dăng tà áo dài phất phơ bay theo cơn gió nhẹ và đem về nhà nỗi tương tư dệt nên dăm đoá mộng diễm tuyệt lung linh và ôi…thời gian đầy hoa mộng đó vội qua mau như áng mây bay qua cửa sổ.! Khi bước chân vào Quân Ngũ phải hành quân miệt mài trên đoạn đường chiến binh, lặn lội đi suốt những con đường dài hun hút gió heo may…Những con đường mòn trên dãy núi rừng Trường Sơn bạt ngàn, lởn vởn những bóng ma trơi và thần chết chực chờ từng giây, từng phút để vung tay tử khí quơ mẽ lưỡi hái đoạt hồn chiến binh trong thâm lâm u ất…! 

Có lúc phải chặt cây choáng chằng chịt vừa đủ chỗ để chui qua dưới những bụi tre già dày đặc um tùm thăm thẳm mịt mùng… Đi ngày chưa tới, phải cố gắng đi đêm…Còn đâu những buổi ráng chiều nắng nhạt, nhàn du dung dăng dung dẽ thơ thẩn dưới những hàng dừa nghiêng ngã nên thơ “sao không thấy em lại để cùng anh thẩn thơ” đâu đấy thoảng nghe văng vẳng có tiếng sáo diều vi vu trên cánh đồng nội cùng với tiếng bao tiếng cười nói rộn rã của những cô học trò nghịch ngợm ở lứa tuổi trăng tròn…!!! Bây giờ là gót giày Sault dẫm lên chông gai, bùn lầy ướt sũng nước đọng mùa mưa, khô héo quắc queo mùa nắng cháy bõng da người trên khắp nẽo đường hành quân lùng và diệt địch trong những “mật khu bất khả xâm phạm” của địch quân…

Còn đâu những bước chân dệt đầy mộng đẹp lứa tuổi học trò, bỏ lại sau lưng những mùa hè có hàng cây phượng trổ hoa nở đỏ thắm rực rỡ với tiếng ve sầu kêu vang và trao vội cho nhau vài hàng lưu bút ngày xanh còn thơm mùi mực mới…! Con đuờng gian khổ, hiểm nguy miệt mài bây giờ là con đường đi biết bao giờ đến đâu và về đâu, đi mãi rồi sẽ “nhỡ” một mai “rách áo” hồn bay vào hư vô với tử thần chực chờ đón tiếp và “anh trở về hòm gỗ cài hoa”…! Sống còn tồn tại hay từ giả cõi đời chỉ trong tích tắt cây kim gió đồng hồ quả thật là như loài phù du trên mặt nước vô tình !

Hạt lệ khô như gió nam Trường Sơn
Qua bao tuổi tác bấy nhiêu buồn…!

alt

. Từ Trí Bửu tới Hạnh Hoa Thôn:

Quận châu thành Mai Lĩnh nằm ở phía Đông- Nam cổ thành, cách non một cây số về hướng Bắc là làng Trí Bửu nằm ngay chính Đông, lên nữa là Hạnh Hoa Thôn, nơi đây là Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 325 của CSBV, các đơn vị trực thuộc của Sư này gồm cả chiến xa, hoả tiển phòng thủ dọc theo con đường Duy Tân…

Vào trung tuần tháng 5 năm 1972. Chúng tôi Lữ Đoàn II Nhẩy Dù (LĐ2ND) gồm có Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù (TĐ7ND), Tiểu Đoàn 9 Nhẩy Dù (TĐ9ND),Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Nhẩy Dù (TĐ1PBND), Đại Đội 2 Trinh Sát Nhẩy Dù (ĐĐ2TSND) triệt xuất Kontum - Chiến Trường Tây Nguyên về hậu cứ, riêng Tiểu Đoàn 11 Nhẩy Dù (TĐ11ND) sau trận “banh xà rong” bi hùng ở đồi Charlie vào ngày 17 tháng 4 năm 1972 Thiếu Tá Lê Văn Mễ Tiểu Đoàn Phó được bổ nhiệm làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù, cũng là ngày TĐ11ND chính thức mang khăn tang Cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo trở về Sài Gòn tái bổ sung, chỉnh đốn quân sĩ và cũng được lệnh tăng cường ra Huế chuẩn bị tái chiếm Quảng Trị, trong khi Lữ Đoàn I 

Nhẩy Dù (LĐIND) và Lữ Đoàn III Nhẩy Dù (LĐIIIND) còn đang vất vả bảo vệ An Lộc. Ra đến Huế, tất cả tập trung ở căn cứ Hiệp Khánh (Sally) chờ lệnh xuất phát. Trong thời gian chờ lệnh và cũng đang chờ Tiểu Đoàn 5 Nhẩy Dù (TĐ5ND) triệt xuất An Lộc trả về LĐIIND cho đủ “bộ tam sên 5-7-11”, các toán viễn thám TS2ND bung ra xa căn cứ thám sát thì phát hiện ngay địch quân đã nằm áp sát ở bên mình với bộ binh và thiết giáp tự khi nào rồi…!!! 

Quảng Trị đâu chưa thấy mà thấy chúng nó trước mặt, không chừng chưa kịp đánh nó thì chúng đã “tapi” đè bẹp mình rồi. Đại Tá Trần Quốc Lịch tính toán quyết định ngay là phải “Tiên Hạ Thủ Vi Cường” ra lệnh cho TĐ11ND thử lửa để phục thù rữa hận sau trận “rách áo” ở Charlie và quả thật không hổ danh “Song Kiếm Trấn Ải” lẫy lừng, TĐ11ND phối hợp với Pháo Binh Dù tác chiến chính xác đã chiến thắng vẻ vang trên đồi Trần Văn Lý với chiến tích là xác 20 xe Tank T54 bị bắn cháy và thi thể Bắc Quân phơi đầy trên chiến địa còn đang khét nóng mùi khói lửa…!!! Không cần tịch thu chiến lợi phẩm vì con đường phải đi trước mặt còn dài xa hun hút… Trận chiến ngoạn mục này đã làm cho tinh thần Quân Cán Chính địa đầu giới tuyến vùng lên theo chiến dịch Lam Sơn 72 trở về mái nhà xưa. 

Chỉ buồn cho ĐĐ2TS vì một Trung Đội giúp đỡ tiếp tế tản thương cho TĐ11ND mà phải banh xác bỡi “dính” một trái mìn chống chiến xa của quân...ta khiến cho Thiếu Úy Nguyễn Văn Oanh, Trung Sĩ Thạch On cùng 6 binh sĩ chết tại chỗ, 17 bị thương nặng nhẹ, số còn lại hồn phi phách tán. Hạ Sĩ Nhất Kim Chơi vừa khóc mếu máo vừa giận giữ chữi thề:” Mẹ,… Trinh Sát Nhẩy Dù không chết rừng chết bụi mà chết trên GMC...”! Buồn cay trên mí mắt đứng tròng đã bao lâu nay khô hóng vì không ngủ và gió cát nóng miền Trung …! Chỉ 5 ngày sau quân số của Trung Đội này được cấp tốc bổ sung đầy đủ với hơn 30 người.

. Ngày N giờ G điểm:

Toàn thể lực lượng quan quân Lữ Đoàn II Nhẩy Dù (LĐIIND) súng đạn mũ sắt ba lô vượt phòng tuyến bên bờ Nam sông Mỹ Chánh do Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên Thuỷ Quân Lục Chiến của Robert Lửa Nguyễn Xuân Phúc (K16VBĐL) đang trấn thủ vào “thăm và viếng” Quảng Trị với 3 Sư Đoàn Chính Qui của CSBV, cùng đại pháo 130ly, hỏa tiễn phòng không, hoả tiễn chống chiến xa của Liên Sô ồ ạt tiếp viện trong vòng mấy tháng qua...chúng đã điều nghiên chiến trường và chuẩn bị chu đáo thế thượng phong đang chờ đón quân “Nhẩy Dù Nguỵ”… 

Lần giở trong ký ức Binh Pháp Tôn Ngô thấy “tức” cười. Muốn tấn công Thành phải dùng lực lượng gắp 5 lần quân phòng thủ, nay toàn thể lực lượng chủ lực phía quân ta chỉ có một mà dám tấn công bên địch mười, thì không bể đầu cũng sức trán, không chột cũng què, ấy vậy mà vì “Nhẩy Dù Cố Gắng” chỉ trong vòng ba ngày đêm từng bước, từng bước thầm đầu đội pháo, chân dẫm lên xác địch, tác xạ lao về phía trước vượt trên quãng đường vài ba cây số ngập tràn máu lửa, đạn bắn như đan lưới địa võng biết nơi nao là không phải là hoả ngục ...?

TĐ1ND1,TĐ5ND cũng đã tiến vào được La Vang, TĐ7ND đã vượt qua ngã ba Long Hưng áp sát vào vòng đai Cổ Thành Đinh Công Tráng, TS2 ND có lệnh theo đuôi TĐ7ND, sau đó đơn độc tách rời, rẽ về hướng Đông để tiên phong xâm nhập vào Quận Mai Lĩnh bằng kỹ thuật dạ hành ngụy trang tối đa, bảo toàn lực lượng để làm đầu cầu cho TĐ7ND của Trung Tá Trần Đăng Khôi (Khôi Nguyên Khóa 16 VBĐL) và Thiếu Tá Nguyễn Lô (Sông Lô K18 VBĐL) “từng bước...từng bước thầm...đi vào hang lang sói...” cuối cùng toàn bộ TS2ND cũng “luồn” vào được mục tiêu “êm ái như mơ” địch không hề hay biết nên không một tiếng súng nổ “chơi”. Tôi và đám “con cái Trinh Thử” loại Chuột với M16, lựu đạn, M72 trang bị tận răng nằm “ém quân” hai đêm ba ngày bất động nằm “ưu ái” trong lòng địch, phải nhiều phen nín thở, nhịn ăn để tránh “đi đồng”, mở banh chong đôi mắt thăm dò trong đêm ngày, vểnh đôi vành tai nghe ngóng âm ba như loài dơi thính dò tìm động tĩnh chẳng khác gì những bóng ma vô hình, theo dõi thật sát từng bước chân của địch quân đang nhởn nha qua lại trên đường phố, đến đêm thứ hai nghe bỗng tiếng thì thào “trọ trẹ” nhẹ như tơ vàng trong máy:
- Út Bạch Lan...! Sông Lô đây?

Tôi trả lời với tiếng nói “thỏ thẻ” như gió thoảng hư không trên PRC25:
- Tôi nghe!
- Tôi sẽ gặp UBL lúc hai (2) giờ sáng đêm nay... chờ !

Tôi vui mừng không thể tả tâm trạng dường như trẻ thơ chờ mẹ đi chợ về, nỗi vui bỗng chốc trấn áp biết bao lo âu, chờ đợi làm căng thẳng thần kinh mấy ngày qua vì nghĩ đã bắt tay được với TĐ7ND tức không còn đơn độc trong lòng địch nữa…! Nhưng không phải như vậy, vì “Ôn” Sông Lô sau 10 phút “bắt tay” hàm thụ xong thì rời khỏi vùng địch ngay, trở về tuyến của Tiểu Đoàn cách xa gần cây số. Tôi xin mở ngoặc để “nói” thêm về “Ôn” Sông Lô Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó TĐ7ND, sau lên Trung Tá là một trong những Sĩ Quan Chỉ Huy kiệt xuất trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà chí cho đến ngày tàn cuộc chiến 30-4-1975… và sau đó Sông Lô với dáng người như cây tùng trước gió bão vẫn anh hùng hiên ngang lừng lững với quần áo Nhẩy Dù rằn ri vượt trại giam, đón xe đò đi về đâu…khi tứ bề địch bủa lưới ?

 Khi còn bị giam trong tù (nguỵ danh Trại Cải Tạo) đảng Cộng Sản gian trá đề cử nhân viên đài Truyền Hình Saigòn xuống trại tù thu hình làm phóng sự tuyên truyền, bọn công an bắt Sông Lô cầm cuốc làm cỏ để quay phim, Sông Lô liền dõng dạc từ chối thẳng thừng :”Tôi không chơi được cái trò khỉ đó”! Mặc cho chúng muốn hành hạ bắn giết không hề chi, tất cả bạn đồng tù lo âu tưởng rằng Sông Lô cựu Tiểu Đoàn Trưởng Nhảy Dù danh tiếng lẫy lừng sẽ bị chúng giam cùm hoặc bắn bõ. Sông Lô thời chiến yên hùng lẫm liệt giữa chốn ba quân nay trong thân tù cũng hiên ngang lẫy lừng… đã khiến cho tên sĩ quan trưởng trại thán phục với nhận xét: “Họ là những người Sĩ Quan kiên cường đáng phục…” ! Và xin hãy đọc một trích đoạn trong bài viết của người bạn cùng trại tù ngoài Bắc với Sông Lô đăng trên báo Mạch Sống số 62 tháng 9-2007 do Phan Nhật Nam phụ trách trong mục Lịch Sử Qua Lời Kể:

“Toán tử tội được dẫn đến trước những chiếc cột. Các anh có muốn nói điều gì không? Trưởng trại thoáng bối rối trước sự im lặng bình thản của năm người. Không một ai có dấu hiệu sợ hãi. Không có gì? Nguyễn Lô thay mặt các bạn trả lời (Bởi khi chấp cung, Lô đã xác nhận ông là người trách nhiệm độc nhất tổ chức vụ trốn trại). Nhưng đột nhiên, ông cười nhẹ.. Nếu cho hút điếu thuốc lào thì tốt lắm! Trưởng trại trầm mặt nghĩ ngợi (không hiểu Lô có ẩn ý gì vì yêu cầu quá nhỏ nhoi, bất ngờ) trước khi chấp thuận. Lô biết ý, giải thích: “Tôi có cái điếu mới, gởi ở các anh BK (đọc là Bê-Ka, Biệt Kích), tôi muốn hút cái điếu đó một lần chót!”

-...Có đây! Có đây! Thưa ban (Ban Giám Thị), chúng tôi hiện giữ cái điếu của anh Lô. Viên trưởng toán Biệt Kích mau lẹ đứng dậy từ đám tù ngồi chật hội trường.
Chiếc điếu được đưa tới, Sông Lô cầm lấy ung dung nói:” Mình chơi một điếu nghe mấy ông…?
Những người bạn đưa mắt nhìn nhau. Hạnh nói nhỏ chán nản:
- Hút làm gì Lô?
- Thì cứ hút đi, trước sau cũng chết!

Lô ngồi xuống, cho thuốc vào nỏ điếu, hâm cây đóm, kéo sâu hơi thuốc, thở khói lên trời. Ông cười nhẹ, đứng dậy, trao điếu cho các bạn và mời:”Làm một bi đi”! cựu Trung Tá Nhẩy Dù Nguyễn Lô nhìn quanh hội trường, đến với mỗi người tù, mặt ông không biến sắc..ký ức trận Ắp Bắc 1963,Pleime 1965, Cầu An Hòa - Tết Mậu Thân Huế 1968, Tổng Công Kích Đợt 2, Nghĩa Trang Người Pháp, Ngã Tư Bảy Hiền, Sàigòn 1968, Hạ Lào, Động Ông Đô, Chu Pao, La Vang, Quảng Trị 1972, Long Khánh tháng 4-1975.. .Đoạn đường mười hai năm một đời chiến đấu ông đi qua không một lần yếu đuối. Vậy hãy coi đây như chỉ là trận chiến cuối cùng trong đời, trận chiến không vũ khí, chỉ với những người bạn từng sống-chết và những người bạn tù ngồi im lặng dưới xa kia…. Nguyễn Lô thở hắt như lần trái đạn 57 ly bắn tung chiếc chiến xa và thân hình ông trước Thánh Đường Đức Mẹ LaVang, nơi quê hương Quảng Trị vào buổi chiều tháng 7 Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Ngày ấy cũng có nắng như hôm nay. Nhưng nắng miền Nam ấm, vàng tươi, sáng rỡ hơn…

Có chiếc xe đổ nhanh dưới lưng đồi, trước bộ chỉ huy trại. Bóng người cán bộ VC chạy vội lên hội trường hô to:” Dừng lại! Dừng lại!
Nguyễn Lô bình thản, tỉnh lạnh bảo với Hạnh và Bằng hai người bạn đứng gần kề bên cạnh: “ Cứ hút đi, đừng để ý làm gì”!
Điều đáng nói là phong cách hút điếu thuốc lào cuối cùng của Sông Lô khinh bạt, lãng tử yên hùng của trang “Hảo Hán Lương Sơn Bạc” và hơn thế nữa chính là Kẻ Sĩ Đông Phương xem cái chết nhẹ tựa lông hồng quả thật là không hổ danh Cấp Chỉ Huy trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà…!!!” (ngưng trích).

Trở lại với hiện tiền trời nhá nhem ửng sáng, những tiếng động của xích sắt chiến xa càng lúc càng rõ dần, trước mặt xuất hiện lố nhố nón cối, AK, Đại Liên, B40-41 đang giàn hàng ngang tiến dần đến gần...oành…oành… oành… ầm… ầm… ầm... nhà bung mái ngói, cây cối gãy đôi, đất sỏi tung bay mù mịt. Trung Uý Cố Vấn Mỹ Terry Griswold chân tay run rẩy như thằn lằn đứt đuôi, hồn phi phách tán hét thất thanh trong máy: “Zulu...Zulu...Zulu right away! Right now…”!!! Mẹ, muốn rút lui phải có kế hoạch từng bước, nếu rút lui cái ào hỗn loạn vô trật tự là đưa lưng lãnh đạn chết ráo còn ai để mà rút lui. Tên Trung Úy Cố Vấn mới tốt nghiệp West Point, một năm sau lên Trung Úy được điều sang VN tham chiến trong toán Cố Vấn 162 của Nhẩy Dù. Tôi phải trấn an và chậm rãi bảo hắn:”Terry...listen...You and your man stay here with me, don't move and wait for my order...”! 

Rồi phải “run” thôi, tháo bung “banh xà rong”dzọt lẹ với kỹ năng nhất bộ nhất biến “thao lược” nhuần nhuyễn xuất thần để bảo toàn lực lượng trong trình trạng sinh tử, tránh bị tiêu diệt là nghề của chàng, của TS2ND vốn là hậu thân của đơn vị 81 Biệt Cách Dù Lực Lượng Đặc Biệt với hỗn danh “Dog Run” chó chạy đường mòn. Chạy cũng có kỹ thuật của chạy, chạy tán loạn là táng mạng cả đám, mạnh ai nấy chạy là tự sát, bỏ xác một mình. Trong kỹ thuật tác chiến rút lui khó hơn tấn công rất nhiều, cho nên theo thứ tự rút lui với chiến thuật “nhẩy cóc”, thằng này rút trước rồi ở lại bảo vệ thằng rút sau, từng bước, từng bước thoát ra cái lưới đạn pháo đang phủ chụp lên cả đơn vị. ĐĐ2TS thoát ra được đồng ruộng, thằng què tay cõng thằng què chân, thằng què chân cà thọt lôi thằng không đi đứng được, đành bỏ lại 17 đồng đội đã ra đi nằm im lìm bất động, hơn 30 mạng máu me đầy người được TĐ6ND vừa được tăng cường từ mặt trận An Lộc giúp đở tản thương, thiếu tá Nguyễn Văn Tùng TĐP/TĐ6ND (Khóa 19 VBĐL) tử thương trong mặt trận này, trung tá Nguyễn Văn Đĩnh (Khóa 15 VBĐL) ôm xác khóa đàn em mắt lệ lưng tròng…! 

TS2ND lui về phía sau nghỉ “thở” ba ngày để chỉnh đốn lại hàng ngũ trong khi các Tiểu Đoàn Nhẩy Dù vẫn tiếp tục tiến chiếm từng ngôi nhà, dãy phố và áp sát cổ thành Đinh Công Tráng. TĐ11ND đã vào đến đường Nguyễn Hoàng phía chính Nam đang nới rộng về phía tây tới cầu Thạch Hãn với TĐ1ND và hai Biệt Đội 81Biệt Cách Dù cạnh sườn trái ở thôn Như Lệ Tích Tường. TĐ7ND sau khi bứng hết các hầm hố kiên cố chôn dấu dưới những gốc tre già bằng một cái giá sòng phẳng phải chăng, quần thảo với Bắc Quân để bước vào khu vực bến xe và sân banh Nguyễn Hoàng. TĐ6ND theo lộ trình của TS2ND đã chiếm lại chi khu Mai Lĩnh nới rộng về phía Bắc về hướng Trí Bửu. Như vậy là quân Nhẩy Dù đã kiểm soát hoàn toàn khu vực ngoại thành của thành phố Quảng Trị ở phía Tây-Nam, phía Nam và Đông-Nam. 

TĐ5ND được lệnh triệt thoái phòng tuyến La Vang, bọc sau lưng TĐ7ND song hành với TĐ6ND hướng về Trí Bửu phía chính Đông của Cổ Thành. TS2ND mượn đường TQLC từ hướng chính Đông, dùng thiết vận xa đưa đến điểm xuất phát là sông Nhung để cùng TĐ5ND thành hai mũi giáp công, cố chiếm cho bằng được Trí Bửu để làm bàn đạp đánh phá Cổ Thành Đinh Công Tráng. TS2ND vượt sông Nhung bằng phao dã chiến Poncho, con sông này có thượng nguồn từ trong dãy núi ở phía tây Quốc Lộ 1 chảy ra sông Vĩnh Định chỗ cầu Ba Bến. Sông Vĩnh Định có đầu nhánh phía tây chạy ngang chợ Sãi và thông với sông Thạch Hãn. 

Từ chỗ của tôi vượt sông để tới khu nghĩa địa phía chính Đông bìa làng chỉ cách xa khoảng vài trăm thước, bỗng nghe một tiếng cắc bùm, Thiếu Úy Lã Quý Khâm Tiền Sát Viên của TĐ1PBND đang đứng sát bên vai với tôi, bật ngã ngửa người ra phía sau mắt trợn trừng, môi mấp máy mấy cái rồi...đi! Tôi ngồi thụp xuống bên một mô đất lạ ra lệnh cho tất cả hiệu thính viên, kể cả 5 ông Cố Vấn Mỹ cuốn ngay lá Antenna PRC25 dấu dưới ba lô. Không biết có phải vì biến cố này hay không mà chỉ vài giờ sau toàn bộ Cố Vấn Mỹ được lệnh rời khỏi TS2ND ngay tức khắc. Trước mặt tôi quả là một khúc xương khó nuốt. Bên cạnh sườn trái của tôi TĐ5ND đã chiếm được 1/3 Trí Bửu, bằng mọi giá TS2ND phải trườn hay bò lên phía trước để giữ cạnh sườn phải cho TĐ5ND và hướng mặt về phía Cổ Thành. “Đường đi không khó vì ngăn sông, cách núi” đường chỉ có khoảng vài ba trăm thước… 

Nhưng khó vì đầu đội pháo, ngực đang phơi khơi khơi trước những họng súng Nga – Tàu và đạn đã lên nòng đang hờm sẵn chờ cho mục tiêu là thân thể chúng tôi lọt vào tầm ngắm rồi nhã hằng loạt đạn… ở phía Bắc của tôi chỉ khoảng 500 mét là Hạnh Hoa Thôn, theo tin tức của Phòng 2 Sư Đoàn Nhẩy Dù cho biết là một đơn vị lớn của Sư Đoàn 320B (SĐ320B) Bắc Quân đang trú đóng ở đó, Sư Đoàn nầy do tướng Nguyễn Sùng Lãm làm Sư Đoàn Trưởng và là Tư Lệnh Mặt Trận 7 Quảng Trị thuộc Quân Khu Trị Thiên được đưa vào tăng cường, chịu trách nhiệm khu vực thuộc quận Triệu Phong từ tây bắc Vĩnh Định ra tới Cửa Việt. Trung Đoàn 27 tại vùng Đông Hà, Động Lôn, Quai Vạc, Trung Đoàn 48 (Quang Sơn) của Trung tá Lê Quang Thúy trong Cổ Thành Đinh Công Tráng, Trung Đoàn 64 tại Cam Lộ, Định Xá, Bái Sơn. 

Trung Đoàn này tăng phái Tiểu Đoàn 9/64 cho Trung Đoàn 48 của SĐ320B cùng TĐ3 và TĐ8 địa phương của B4 trấn giữ Cổ Thành cùng khu vực làng Trí Bửu và Hạnh Hoa Thôn... Nếu họ muốn càn quét chúng tôi, chỉ cần một chi đoàn chiến xa T54 với bộ binh tùng thiết, dùng hỏa tập tấn công thì chỉ trong phút chốc chúng tôi sẽ trở thành mây khói, bởi lẽ không yểm của quân ta gần như bất khiển dụng trong việc yểm trợ cận phòng vì lưới đạn phòng không dày đặc đan giăng như Thiên La mắc cửi, pháo yểm cũng không thể diệt được Tank 54 và bộ binh địch chớp nhoáng sẽ tràn ngập….!!!

alt

Nỗi lo âu đó trong tôi hằng phút hằng giờ trong thế bối thủy, tiến không được mà lùi cũng không xong ? Thôi thì phải tử thủ, Triệu Tử Long - Tam Quốc Chí tân thời không thể buông tay chết đứng giữa trận tiền, đành phải liều “bung Dù” tử chiến với giặc trùng điệp hoặc sẽ tan tành rã đàn xẻ nghé…? 

Tôi xin tăng viện khẩn cấp M72, buổi sáng ngày hôm sau TĐ5ND tăng cường cho tôi 50 hoả tiễn, buổi chiều Lữ Đoàn cung cấp thêm 100 súng M72 để thủ sẵn. Các toán viên Viễn Thám ngụy trang như những cây di động nằm yên tại chỗ, chỉ di chuyển ban đêm khi trái sáng phụt tắt, rồi tiếp tục nằm yên khi trái sáng bục nở trên bầu trời, tất cả M72 kéo nòng, mở khóa an toàn, áp sát một căn nhà nào đó ẩn thân rồi nhanh nhẹn như một tên đạo chích đột nhập vào trong nhà, dùng lưởi lê “thích khách” Bắc Quân “êm re” không một tiếng động…và có lẽ mấy cán ngố Đặc Công, Tiền Sát Viên đã âm thầm gặp diêm vương nên cường độ pháo tập 130ly giảm dần và cũng vì tình trạng trộn trấu giữa ta với địch cùng ẩn náo, sống chung một nhà “người ơi mau về đây, cùng chung mái nhà” chẳng thằng nào nhận ra thằng nào và cũng vì các toán viên Viễn Thám mặc quân phục của VC và xử dụng súng AK47, dùng ám hiệu mật mã trên PRC25 đều bằng những con số y chang như Bắc Quân thì làm sao chúng có thể phân biệt trong thế tranh tối, tranh sáng mờ mờ nhân ảnh… cho nên chúng nó lần lượt bị “đâm sau lưng chiến sĩ” rồi trở thành liệt sĩ mà không biết tại sao và vì sao “em” đã vội “chia tay hoàng hôn” …?!... và cứ thế các Trung Đội Trinh Sát trám chỗ để các Toán Viễn Thám tiếp tục truy lùng và diệt địch, cho đến khi song hành với TĐ5ND chỉ còn cách bờ thành Đinh Công Tráng cửa Đông Quan khoảng 100 mét nằm trong tầm đạn đạo súng cối và đại liên 12ly7 từ trên cao của bờ thành rải như mưa xuống đầu chúng tôi…

Bên trái là ĐĐ51ND của Trương Đăng Sĩ và ĐĐ52ND của Hồ Tường, tất cả lực lượng gọi là “Tiền Phương” này đều dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Tố Quyên (Thiếu Tá Bùi Quyền Thủ Khoa K16 VBĐL). 

Bên phải của TS2ND là trùng trùng điệp điệp bóng dáng Bắc Quân…Bấy giờ lực lượng trừ bị hùng hậu Thuỷ Quân Lục Chiến còn ở xa chưa tới áp sát vì lệnh ở trên ! Chúng tôi trên đầu thì phải đội đạn 130ly sơn pháo, hoả tiễn 122ly, cối 82ly…từng giây phút, hằng giờ, trước mặt là một dãy hào sâu ngập nước với bức tường Cổ Thành dầy đặc kiên cố cao khoảng 12 mét.

- Út Bạch Lan...Tố Quyên.
- Tôi nghe Đích Thân.
- UBL nghiên cứu thử xem có thể gửi hai con vịt tiềm (Viễn Thám) vào trong được không ?
- Nhận 5 trên 5 Đích Thân.

“Mission Impossible” !!! Xâm nhập vào mật khu rừng núi hay vào căn cứ địa của địch không mấy khó khăn, nhỡ bị phát hiện thì trổ tài...”dzọt”, sống còn hay tử vong mất xác là do số mạng, còn như nhận lệnh thi hành nhiệm vụ này chẳng khác gì Kinh Kha sang sông Dịch một đi không trở lại, không có đường về, cũng không có cơ may trở lại để kiếm đường về…! Tôi gọi Thiếu Úy Thông và Thiếu Úy Hiền hai Sĩ Quan trưởng toán vừa được bổ sung sau Mặt Trận Kontum, cả hai chưa có một chút kinh nghiệm gì về thoát hiểm mưu sinh để tôi “ban lệnh hành quân”. Nhìn hai đôi mắt đăm chiêu tư lự của hai Sĩ Quan trẻ độc thân này, lòng tôi bỗng chùng xuống không thể “hạ lệnh” một cách mạnh mẽ và dứt khoát được, vì biết rồi ta sẽ đưa họ vào cõi chết một cách oan uổng và phi lý cho dù “chuyên qua sông Dịch” là nghề của chàng…! 

Muốn tới được chân bờ thành đã khó vạn nan, rồi còn tìm cách nào để lên được tường thành rồi xâm nhập vào trong thì quả thật là liều lỉnh để tự sát, chỉ có cách duy nhất là làm sao đục thủng một lỗ tường thành thì họa may có thể …? Hiện tại TankM48 không có, pháo binh thì ở xa, phi cơ thả bom cũng chỉ đánh phá từ trên xuống không thể phá ngang hông được, đạn M72 hay 75 ly không giật công phá tường thành dầy 5-6 mét không hề hấn gì…! Tôi thật bối rối không biết phải tính toán như thế nào để xâm nhập qua bức tường thành chắn lối thật là “đá dựng ngàn năm hoang đường khói độc”…? Nếu liều lỉnh nhắm mắt xua lính cảm tử thi hành lệnh lúc này đồng nghĩa với cái chết, thì lòng can đảm chỉ là thể hiện tính chất cường bạo và vô trí tuệ mà thôi chẳng có ích gì…? Không thi hành thì lại mang tiếng hèn nhát trước địch quân đâu phải là Trinh Sát 2 Nhẩy Dù vốn xuất thân từ Lực Lượng 81Biệt Cách Dù ? Tôi gọi Tố Quyên trình bày những khó khăn trở ngại nói trên và xin cung cấp cho 6 sợi dây tuột núi cùng với móc câu.

- UBL...tôi sẽ cố gắng...nhưng không hứa !

Như vậy là tôi phải chờ ! Tình hình biến chuyển từng phút, từng giờ, ĐĐ51ND (Trương Đăng Sĩ), ĐĐ52ND (Hồ Tường), ĐĐ54ND (Nguyễn Vũ Dương) và ĐĐ111ND (Đinh Viết Trinh) tăng phái dưới quyền điều động chỉ huy hành quân của Tố Quyên đã áp sát bờ thành đang chờ những phi tuần Không Quân Bảo Quốc Trấn Không “bay không ai tìm xác rơi “đang vần vũ trên bầu trời giáng sấm sét từng đợt đánh bom hạng nặng làm sập một góc tường thành thì may ra chúng tôi mới cảm tử chiến cho dù phải hy sinh nhiều chiến sĩ là phải đánh đổi bằng một cái giá rất đắt, nghĩ tới thâm tâm sinh nỗi bất nhẫn, nhưng rồi buột miệng: “chiến tranh mà” lẫn trong tiếng gầm rú của phi cơ và tiếng bom đạn nổ bùng vỡ xé trời xanh… và TS2ND chúng tôi đang trụ thế “nhất kiếm công thành” trước tuyến trận, đứng đầu sóng ngọn gió chịu áp lực từ phía Bắc càng lúc càng nặng nề. 

Quân số càng ngày càng hao hụt nhưng cũng phải cố gồng mình chịu đựng, vì nếu TS2ND bị chọc thủng thì Bộ Chỉ Huy Tiền Phương của TĐ5ND bị đe dọa chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ. Đây là một điều ưu tư lo lắng từng phút từng giờ của Ông niên trưởng Tố Quyên (Bùi Quyền) Thủ Khoa Khóa 16 Võ Bị Đà Lạt lúc nào cũng 24/24 trên máy PRC25 với tôi và Chí Bệu (K20VBĐL) trưởng Ban 3 Hành Quân của Tiểu Đoàn. Chúng tôi tiên liệu Bắc Quân sẽ có một trận pháo cường tập và tấn công biển người và chờ đợi tới đâu hay tới đó…? Tố Quyên điều động ĐĐ54ND lo bảo vệ khu vực Đông Bắc Trí Bửu và tải thương, ĐĐ51ND và ĐĐ52ND nhào vào Cổ Thành…Không Quân Việt Nam với những phi tuần Khu Trục (Skyraider AH-1) do những Phi Công dày dạn chiến trường, tài trí siêu xuất đánh bom vào chỗ kỳ đài rất chính xác như “thảy lỗ”, thì lúc đó bỗng có 2 phi tuần Jet của Mỹ ở đâu bay vào vùng để yểm trợ thêm cho quân Nhẩy Dù công phá Cổ Thành, Cố Vấn Mỹ hỏi Tố Quyên có muốn xử dụng không ? Tố Quyên OK và chỉ cho Jet nó đánh ngay vào mục tiêu cùng chỗ phi tuần Việt Nam vừa đánh. Nhưng than ôi… “điều động tại nhân mà tai hoạ tại thiên” khói bụi từ chỗ mới bị bom đánh tỏa ra bị gió thổi bạt đưa về phía ĐĐ51ND và ĐĐ52ND thế là Pilot Mỹ chơi 2 pass Smart Bomb vào Smoke Targets đó, thành ra bom bên Mỹ mình giáng xuống quân ta tan tành “banh xác pháo”…!!!

http://hoiquanphidung.com/Pictures/UBL4.jpg

. Ngày N+21:

- Út Bạch Lan...207. (Đại Tá Trần Quốc Lịch LĐT/LĐIIND)
- Tôi nghe 207.
- Qua bên kia.
- Tôi hiểu ngay là qua tần số khẩn cấp đặc biệt của Lữ Đoàn.
- Cố giữ cạnh sườn cho Tố Quyên và Minh Hiếu, trễ lắm trong vòng 48 tiếng đồng hồ sẽ có tăng viện thay thế.

Lệnh này Minh Hiếu và Tố Quyên cũng biết, nhưng chỉ biết là sẽ có tăng cường lực lượng, nên kế hoạch mạo hiểm xâm nhập cổ thành hủy bỏ. Hai ngày sau tôi được lệnh chuẩn bị bàn giao phòng tuyến cho hai Biệt Đội 81 Biệt Cách Dù, dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Phạm Châu Tài.

Tại chão lửa Quảng Trị nầy gặp lại những bạn cũ dưới cơn mưa pháo như Đại Úy Dương Thiện Ngộ (BĐ3BCD), Đại Úy Lê Đắc Lực (BĐ4BCD), Đại Úy Nguyễn Sơn (BĐTS/BCD-Biệt Đội Thám Sát) lòng vui mừng trộn lẫn nỗi lo buồn vì đã bỏ lại hằng chục đồng đội chưa mang được xác của họ về cho vợ con gia đình, mà đơn vị đang xác xơ chỉ còn trên dưới 40 người, tinh thần mệt mỏi rã rời sau 21 ngày đêm chống đỡ xa luân chiến với một lực lượng địch quân đông gấp chục lần quân ta…! 

Sau khi giao lại chiến trường cho BĐ81BCD, đám thiên lôi TS2ND chúng tôi được lệnh rút về phía sau lưng bọc hậu cho TĐ5ND giữ đường tiếp tế tản thương đến sông Nhung, nơi đây chúng tôi gọi là “Bến Đò Đưa Xác”. Vừa rời khỏi phòng tuyến chừng 200 mét thì bị một cơn bảo táp tiếng súng lớn nổ vang rền đạn bay phủ chụp lên TS2ND như một mẽ lưới tử thần, chúng tôi nằm bẹp dí như những ngọn cỏ tại chỗ chịu trận…!!! Tôi hét lên trong máy:”Tố Quyên...Tố Quyên...bảo mấy đứa con của đích thân ngưng bắn ngay, nó đang bắn lên đầu chúng tôi...Tố Quyên...Tố Quyên…”! Hai phút sau.

- UBL...check lại xem cho tôi biết ngay. Không có đứa con nào phía sau lưng của tôi nổ súng trong khoảng một giờ trước đây…?

Lúc này là ĐĐ54ND đang bảo vệ Bộ Chỉ Huy của Tố Quyên. Hoàn hồn, lấy lại bình tĩnh phán đoán, tôi nhận ra ngay, tiếng nổ là B40,B41 và phòng không 12ly7 của Bắc Quân... Tôi vỡ lẽ và buột miệng:”thôi chết rồi …” TĐ5ND đã bị chặn hậu, đường giây tiếp tế cũng bị bít kín, như vậy TS2ND cũng không còn “đường xưa lối cũ có bóng tre che thôn làng” rồi, bây giờ là là con đường tử địa ! Tôi nghĩ chắc có thể Hổ Xám Phạm Châu Tài 81BCD cũng sẽ bị “gombi” không còn một mống nào thoát được khi bị tấn công cường tập với đại pháo 130ly, Tank T54, 12ly7, cối 82… và bộ binh của Bắc Quân…?! Cả đám chúng tôi tiến không được, thối cũng không xong, chỉ còn sự lựa chọn duy nhất là trực diện xông vào cửa tử để tìm sinh lộ với thân thể tàn tạ sức mòn lực kiệt, “chiến bào” rách bươm tơi tã…nhưng phải đồng thời “cứu chúa phò nguy”, chết vinh còn hơn bị hốt hết rồi sẽ bị sống nhục…! 

Tôi ra lệnh như hét:” Tất cả bõ Balô xuống, đưa M72 dồn cho Trung Đội 1 (chỉ còn 12 mạng), mỗi người 5 quả M72, kéo nòng, rút chốt an toàn sẵn sàng súng trên vai, nhắm vào căn nhà ngói nền cao phía trước khoảng 50 thước, quỳ dàn hàng ngang chờ lệnh…”. Trung Đội 2 và Trung Đội 3 cũng còn trên dưới 10 mống, cùng với tôi và ban Chỉ Huy Đại Đội, súng cá nhân và lựu đạn sẵn sàng… khi nghe loạt M72 đầu tiên thì phóng như bay khoảng chừng 20 mét rồi nắm bẹp xuống, chờ loạt thứ hai và thứ ba cứ tiếp tục nhào lên cho đến khi đến sát những khung cửa sổ nhà đỗ nát, khi tiếng nổ M72 của Trung Đội 1 chấm dứt tác xạ đợt 4, thì Trung Đội 2 và Trung Đội 3 bắt đầu dùng lựu đạn tung vào trong. 

Bắc Quân như lũ chuột: chuột cống, chuột chù, chuột nhắt…kinh hoàng tháo thân chạy bung ra ngoài, nón cối rơi rớt vung vãi dưới những họng súng M16 thiện nghệ của Trinh Sát 2 Nhẩy Dù, thây người ngã vật xuống, không một tên nào chạy thoát. Mày là Đặc Công hả? Tao là Trinh Sát Nhẩy Dù đây, mày là “giặc từ ngoài Bắc vô đây bàn tay bắn giết đồng bào” miền Nam, bàn tay đồ tể chúng mầy nhuốm máu anh em cùng dòng máu đỏ, da vàng Việt Nam của mày, thì làm sao tao có thể tha cho mày lúc này được..? Chúng mày chủ trương thà giết lầm còn hơn bỏ sót, còn tao thì chắc chắn không giết lầm cho nên không có cái vụ bỏ sót và lệnh của tao là:” Không để sót một thằng nào chạy thoát trong trận này” mặc dầu tao đã kiệt sức gần như muốn ngã quỵ…! Và chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ đánh xáp lá cà như tia chớp, nhoáng TS2ND đã quét sạch Đại Đội Đặc Công của Sư Đoàn 320B, xác chết quân địch và vũ khí ngỗn ngang chẳng cần thu nhặt dọn dẹp… Tố Quyên mừng lắm gọi tôi:”Thank you UBL...tôi sẽ cho 54 thay chỗ ngay bây giờ, UBL trở về bến đò đưa xác giúp cho tôi cõng thương binh và đem xác anh em “rách áo” về …” ! Ôi,.. đâu rồi “Con đường xưa em đi, vàng lên mái tóc thề, ngõ hồn dâng tái tê” em ơi… TS2ND nay còn đâu mái tóc thề, rách bươm tơi tả, te tua sau 21 ngày đêm sống trong bão lửa khốc liệt như trời long đất lỡ, súng nổ vang rền tứ phương, đạn bay lấp loáng vung vãi phủ chụp, cày bung thớ đất và trong nón sắt còn âm vang vọng lại như vỡ bung màng nhĩ, nay trở về như lạc lõng nẻo tâm hồn nào vương theo lối cũ…? Tôi ngồi nhìn dòng nước con sông Nhung hiền hòa cứ lững lờ trôi với tâm tư:
Sông và nguồn có bao giờ tịch lặng…?
Con nước xuôi dòng chuyển chở bao niềm…

Tôi bỗng chạnh thương con sông Nhung vì trong dòng nước phù sa đầy vơi êm trôi kia có pha lẫn máu của Anh Em tử sĩ và thương binh nhỏ xuống hoặc thấm ướt qua làn vải áo trận bê bết đã tơi tã mấy ngày qua …! Nhìn những chiếc bè kết bằng thân chuối, bập dừa thay thuyền chở đưa xác tử sĩ qua sông, bên cạnh tôi còn hằng chục cái Poncho gói kín thân xác anh em chờ tiếp tục qua sông …Chúng tôi vừa khiêng, vừa cõng, vừa dìu dắt những đồng đội bị thương máu me đẫm ướt quần áo trận với tâm tư trĩu nặng, thần trí như con ốc hoang trôi dạt muốn bám vào những gốc cây bần, đám lau sậy hoang ven sông mà tìm nơi trú thân bình yên tạm trong giây phút…! Trong những Poncho đó là binh lính của TS2ND được Biệt Đội Thám Sát 81Biệt Cách Dù của Nguyễn Sơn “săn sóc” gói ghém cẩn thận trao lại cho tôi, còn những thương binh sẽ có “diễm phúc” ngồi chờ trực thăng tải thương có khi Pilot phải cắt giảm Throttle, hạ Collective để cho tàu OA (Overhead Approach) nếu bị 12ly7 đan lưới đạn đón chào và “may mắn” anh em sẽ được bốc về Nguyễn Tri Phương, Huế hay Duy Tân hoặc Đà Nẵng, rồi sau đó về Tổng Y Viện Cộng Hoà…và rồi anh sẽ trở thành “bại tướng cụt chân” tập làm quen với xe lăn, nạng gỗ hoặc mắt không còn thấy ánh sáng của cuộc đời…! Tôi tạm tiếp tục nhiệm vụ làm “tư lệnh” Bến Đò Đưa Xác như thế cho TĐ5ND và BĐ81BCD, đến khi không còn sức lực để khiêng, để cõng xác tử sĩ và thương binh nữa ...!!! Tôi yêu cầu Lữ Đoàn tăng phái khẩn cấp cho TS2ND một tiểu đội Quân Y với 50 Poncho và 20 băng ca dã chiến, đồng thời ưu tiên bổ sung quân số. Chúng tôi rất cần những Poncho mới để gói lại những xác lâu ngày đã sình thối, chương phình làm bung rách nát lớp Poncho cũ, băng ca để khiêng những người bị thương nặng đem ra xa khoảng 500 mét, chất lên M113 chở ra Bộ Tư Lệnh SĐND ở Phong Điền. Hai ngày sau được bổ sung thêm 2 Sĩ Quan, 8 Hạ Sĩ Quan và 30 Binh Sĩ được lấy từ Quân Cảnh, Quân Lao, Lao Công Đào Binh, Hồi Chánh Viên tình nguyện trong QLVNCH…thôi thì có còn hơn không ! Trong những giờ phút và ngày tháng ở đây TS2ND chúng tôi bỗng trở thành lao công đào binh khiêng Poncho bọc xác đồng đội TĐ5ND và BĐ81BCD tiếp tục chất lên những chiếc bè kết bằng bập dừa “đưa anh sang sông” mà như dậy sóng ở trong lòng …! Ở Bến Đò Đưa Xác nầy tương đối bình yên, không còn những trận bão lửa, đạn nổ ầm vang tiếng 130 ly, B40, B41, AK47 với tiếng gào thét xung phong đằng đằng sát khí của kẻ thù như năm bảy ngày trước đây…Nhưng lại là những đợt sóng thương tâm dậy lên lao xao đau xót vô cùng khi cõng những đồng đội thân thể đẫm máu đang ngất ngư bơi qua bên kia sông Nhung, và rồi đêm nay, hay ngày mai không biết họ còn sống hay chết…! Chiến tranh mà! Cuộc chiến nào không có máu đổ thịt rơi, không có hủy diệt tàn phá, nhà cửa ruộng vườn mồ mả cha mẹ, ông bà, tổ tiên bị cày sới tung lên rơi rớt xuống từng mảnh vụn huống chi thân xác con người bằng da, bằng thịt sao không nát tan bởi một mảnh đạn sắt thép vô tình xuyên phá .

- Út Bạch Lan...207.
- Tôi nghe đích thân.
- Vào tần số này để liên lạc với TĐ3TQLC.

Dĩ nhiên cuộc đàm thoại nào với 207 cũng bằng ám số truyền tin. Như vậy là nguồn tin Thuỷ Quân Lục Chiến sẽ tăng cường cho mặt trận Trí Bửu là có thật. Nhưng không phải tăng cường mà là TQLC sẽ thay thế toàn bộ lực lượng Nhẩy Dù trong nhiệm vụ tái chiếm Cổ Thành Đinh Công Tráng. Trung Tướng Dư Quốc Đống TL/SĐND có lần đã nói với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng Tư Lệnh Quân Đoàn I rằng :”…Bảo tôi đánh giặc mà đánh như thế này thì làm sao tôi đánh..” và sau đó trên hệ thống liên lạc siêu tần số cơ hữu của Sư Đoàn Nhẩy Dù, sĩ quan truyền tin Võ Trung Tín đã nghe cuộc điện đàm giữa Trung Tướng Dư Quốc Đống và Trung Tướng Ngô Quang Trưởng như sau:
- Trung Tướng Đống:”Trưởng có thấy không, trước khi tấn công vào mục tiêu, Tổng Thống Thiệu ra lịnh tuyệt đối không cho phá hủy Cổ Thành, đến khi vừa vào được trong thành thì bom dội xuống trên đầu như thế nầy thì đánh giặc cái gì đây? Đánh giặc như thế nầy thì tôi không đánh nữa, Trưởng cứ cho ai vào đánh thì đánh đi”.

- Trung Tướng Trưởng:”Thưa Trung Tướng được rồi, để sáng ngày mai tôi bay ra Sally gặp Trung Tướng sẽ bàn định lại”…

Phía Đông Bắc của Nhẩy Dù hoàn toàn bỏ ngỏ, đại quân Thuỷ Quân Lục Chiến còn đang mở đường từ Cửa Việt ở xa khoảng gần hai cây số, nếu phòng tuyến của TS2ND tan vỡ thì TĐ5ND cũng vỡ, và theo vết dầu loang xuống phía Nam với TĐ6ND sẽ ảnh hưởng trầm trọng đến các lực lượng vòng đai phía chính Nam của Thành Phố Quảng Trị. Kế hoạch chiếm lại Cổ Thành Đinh Công Tráng như công dã tràng, mặc dù ĐĐ51ND của Đại Úy Trương Đăng Sĩ đã lên được bờ thành, nhưng liệu hai Biệt Đội 81BCD có chịu đựng nổi hay không khi phải tam đầu thọ địch…? 

Nếu hướng về tường thành là mục tiêu phải đến thì bên trái được “ấm lòng” vì dựa vào TĐ5ND, bên phải bị áp lực nặng nề với quân số chênh lệch như trứng chọi đá, phía sau lưng trống trơn, trong thế gọng kìm đó chỉ có thủ cầm hơi may ra chờ tăng viện, còn công thì bất khả thi chỉ biết ngạo nghễ ca vang “trên đầu súng Bắc Quân, Ta vì tổ quốc phải quên mình”. Hơn ai hết, Tướng Dư Quốc Đống đã thấy và biết điều đó, Ông không muốn những đứa em “đứa con” của Ông bị chết một cách oan uổng để được Tổ Quốc Ghi Ơn vì sự phối hợp hành quân, hợp đồng tác chiến một cách lỏng lẻo sơ hở tắt trách của cấp trên. Do đó mới có lệnh hoán chuyển toàn bộ phía Bắc,phía Đông, phía Tây cho Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến là lực lượng hùng hậu chưa sứt mẻ, quân số mỗi TĐ/TQLC trên dưới 800 người với chiến xa Tank M48 và đặc biệt được ưu thế không yểm trực tiếp cận phòng của Không Lực Hoa Kỳ. Hợp đồng tác chiến dưới quyền chỉ huy duy nhất với 3 Lữ Đoàn gồm có 9Tiểu Đoàn, 3Tiểu Đoàn Pháo Binh, 1 Thiết Đoàn Kỵ Binh...thì Thành Phố Quảng Trị đã nằm trong tay của Tướng Tư Lệnh Bùi Thế Lân rồi…?!!! Sư Đoàn Nhẩy Dù dạt qua hướng Tây Nam Thành Phố Quãng Trị nối vòng tay với Sư Đoàn 1Bộ Binh để giữ tuyến từ La Vang xuống Ba Lòng kéo dài tận phía tây Huế. Lúc nửa đêm về sáng tôi nghe tiếng gọi lạ trên PRC25 tần số Lữ Đoàn:
- Út Bạch Lan...909 đây.

909 có một ám danh khác là Chương Thiện,Thiếu Tá Nguyễn Văn Cảnh (K16ĐL TĐT/TĐ3TQLC)

- Tôi nghe 909.
- Thằng con đầu của tôi sẽ gặp UBL khoảng nửa giờ sau, đón nó giùm ?
- Nhận 5/5...tôi đang chờ.

Thằng con đầu của TĐ3TQLC là “thằng”...Đại Úy Nguyễn Kim Chung (ám danh C18) bạn cùng Khóa 22 Đà Lạt (K22ĐL) với tôi. Ba giờ sáng nó tới gặp tôi dưới ánh đèn pin quét qua quét lại, tôi nói với nó:”Chỗ này của tao, mày lo phối trí cho con cái nghỉ ngơi và đón Tiểu Đoàn rồi sáng nói chuyện”.

Tờ mờ sáng ngày hôm sau, ngồi trước căn nhà lá nghiêng ngả đổ nát cạnh bờ sông, phía trước là sân gạch phơi lúa với Poncho sắp thứ tự (get line) để chờ chuyển về đi phép miên viễn nơi cõi vĩnh hằng, chung quanh đâu đó bên hiên nhà, dưới gốc cây lố nhố những “cây” bông băng trắng xóa, kẻ ngồi,người nằm, vài ba “ông thần” còn tỉnh táo lần mò trong ba lô lôi ra Beret đội lên đầu, mũ đỏ Nhẩy Dù, mũ xanh lá cây Biệt Đội 81Biệt Cách Dù chen lẫn nhau trong đám mũ xanh dương Thuỷ Quân Lục Chiến vừa mới tới còn khoẻ mạnh pha cà phê, mồi thuốc lá cho hai màu mũ thương binh đang nằm ngồi la liệt…! Định mệnh cũng có những trò chơi oái oăm lạ kỳ đun đẩy tôi vào hoàn cảnh cười không ra cười, khóc không ra khóc, tôi đang làm “giám đốc” bệnh viện dã chiến kiêm luôn “giám đốc” nhà xác mà thân chủ của tôi lại là gốc gác, cội rễ xuất thân binh nghiệp của tôi “một đời binh nghiệp hai màu mũ” 81BCD và ND…!!! Với ba ca cà phê dã chiến, Thiếu Tá Cảnh mắt đang dán chặt vào phóng đồ hành quân,thằng Chung cất tiếng hỏi tôi:
- Trời ơi,…sao mày vầy nè Út…”?!
- Vầy nè là vầy làm sao…?

Mặt tôi râu ria xồm soàm, mắt sâu má hóp, quần áo rách bươm bê bết loang lỗ đầy vết máu sậm mầu khô, tươi còn bốc mùi ngay ngáy tanh hôi trong cơn gió nóng nhẹ thổi qua, thần khí tiêu tan, oai phong rũ liệt, chẳng có còn gì để nói, để cười, người về từ cõi chết, bây giờ đang sống ở địa ngục trần gian, chỉ cần định mệnh run rủi một quả đạn 130ly trúng ngay chỗ ngồi thì Thiên Thần Nhẩy Dù hay Lính Nhẩy Dù ngã xuống có mặt đất hướng dẫn đường lên Thiên Thai ngay…Viễn du trên thiên đường để đầu thai kiếp khác…?! Thằng Chung bật cười, cái cười đầy tự tin, nhưng có chút méo mó vì nó biết rồi chính “đương sự” sẽ cũng đi vào “con đường xưa em đi” của tôi đã đi qua, làm sao nhớ và có lối về không…?

 Nó tiếp tục hỏi nữa:
- Tao nghe nói mày bị thương nặng, rồi bây giờ mày có sao không…?!
- Có sao thì tao đâu có ngồi đây để đón mày, hay không bằng hên, đạn tránh tao chứ tao tài cán gì như Đoàn Dự mà lăng ba vi bộ để tránh được đạn chứ …? Nhưng đau ở chỗ đạn tránh tao để sơi tái thằng đứng bên cạnh mới buồn xót xa chứ…!

Thiếu Tá Cảnh hỏi tôi:
- Út cho tôi biết sơ sơ tình hình trong đó ra sao? Tôi nhận lệnh vào thay thế TĐ5ND và hai biệt đội 81BCD…?
- Thưa Thiếu Tá...chua và cay và cam go lắm… ! Vì phía Bắc trống trơn, nên cứ lo sợ nó chơi xả láng một cú là mình mặc quần xà lỏn sáng về sớm…!!!

Thiếu Tá Cảnh bật cười:
- Tôi cũng chịu thua và sợ ông luôn, trạng huống này mà ông còn “tếu ngạo giang hồ” được…!!! Nhưng cứ yên tâm vì chúng tôi sẽ vào đó với thế liên hoàn của 3 Lữ Đoàn (LĐ147TQLC, LĐ369TQLC, LĐ258TQLC) cùng giờ phát xuất, Đông, Bắc và dần qua Tây, phía Tây thì nhẹ hơn vì có sông Thạch Hãn làm rào cản, chỉ có lo pháo từ Ái Tử thôi, còn cua (TankT54) của chúng nó, chúng tôi rang muối cũng khá nhiều rồi trên đường đổ bộ từ bờ biển đến đây. Thôi,… 9 giờ chúng tôi bắt đầu qua sông...để tôi gọi ngay cho Tố Quyên, chắc hắn mừng lắm.

TS2ND chúng tôi được lệnh di chuyển về làng Vân Xá cách Huế 10 cấy số, hai ngày sau được lệnh ra phi trường Phú Bài để lên C130 bay về hậu cứ SàiGòn nghỉ phép xả trại 100% 15 ngày, để đi hớt tóc cạo râu, thay quần áo mới, tẩm bổ với những thang thuốc “hoàn hồn linh dược”, viếng mộ, thăm thương binh, cô nhi quả phụ… Trong khi chờ máy bay ở phi trường Phú Bài thì tôi thấy “thằng” Nguyễn Kim Chung mặt mũi băng trắng kín mít với đôi mắt còn tinh ranh. Chỉ mới hai ngày trước “tôi đưa em sang sông bằng Poncho hay bập dừa” mà bây giờ nó lại lội qua sông ở “Bến Đò Đưa Xác” theo tôi ra đây cùng về và ôi …” Anh về thủ đô gò má anh băng đầy bông” ở phiá gò má bên trái của nó ăn một viên “kẹo” AK47 làm thủng “dớt” cái quai hàm máu còn thấm ướt qua lớp band gaz quấn quanh. Tôi đùa lập lại câu hỏi mà nó hỏi tôi hai ngày trước đây khi “hội ngộ” ở Bến Đò Đưa Xác:
- Trời ơi sao mày vầy nè Chung…?
- Vầy nè là vầy làm sao …? Mẹ...tại tao không chịu luyện nội công lăng ba vi bộ như mầy, nên bị thằng Mộ Dung Phục nó chơi một phát vào mặt, may là không bị mất mặt chỉ bể má thôi…!!!

Tôi và nó là hai thằng bạn thân cùng Khoá 22 Võ Bị Đà Lạt ôm nhau lăn ra đất cười ngặt nghẽo, méo mó bên cạnh một đám thương binh bốn màu mũ: Đỏ, Nâu, Xanh Lá Cây, Xanh Dương …!!! Sách Giáo Khoa Thư Tiểu Học: “thân thể người ta chia ra làm ba phần, đầu, mình và chân tay “…thì quan quân chúng tôi tay chân, đầu ngực băng bông trắng xóa, máu tươi thấm ướt “chiến bào” bao nhiêu ngày không được tắm rữa giặt giũ mùi “hương” máu còn thoang thoảng “riêng một góc trời”…!!! 

Nhưng ở đây nơi bình yên, tôi thấy trong ánh mắt của họ như không còn lưu lại một chút gì dù chỉ mõng mõng một tí thôi nét kinh hoàng lửa khói “thời qua” để “làm tan nát lòng nhau”, thay vào đó là niềm vui hân hoan “hôm nay đây còn vui trông thấy nhau” và rạng ngời lên một thứ tình cảm đồng đội chiến trường đã cùng vào sanh ra tử trong suốt một tháng trời lửa đạn vừa qua…!!! Họ vẫn còn sống và sắp sum họp với gia đình một thời gian dù dài hay ngắn để không còn nghe những tiếng gào thét tử thần của bom đạn, lửa khói bất chợt phủ chụp lên đầu và nín thở lắng nghe, chong mắt trong đêm đen dõi theo những tràng đại pháo của Bắc Quân cày sới mặt đất, hất tung những bạn đồng đội lên cao, rớt xuống rồi nằm im bất động. Họ sẽ hưởng được những ngày dưỡng thương, nghỉ phép trong an bình với gia đình vợ con… !!! Tôi chợt nghĩ đến những cán binh Bắc Quân “sinh Bắc tử Nam” tuổi đời còn non dại, bị bắt buộc hay bị khích động bởi những giáo điều láo lếu của Mao - Hồ rồi bị đưa đẩy vào chiến trường khốc liệt miền Nam như con thiêu thân lao vào ánh đèn sáng nóng 1000 watt, để rồi ngã gục, thịt nát, xương tan trên con đường đi không đến và chẳng có nẻo về…! Họ có cùng máu đỏ như tôi, da vàng mũi tẹt, cùng Lịch Sử một Mẹ Âu Cơ sinh ra một bọc trăm con nên gọi nhau là “Đồng Bào”, cùng sinh trưởng trên mảnh giang sơn hình cong chữ S này… rồi truy tìm bắn giết lẫn nhau có gì vui làm hạnh phúc…?

Đơn vị về đến hậu cứ, tôi giao hết cho Trung Úy Tài chỉ huy hậu cứ lo hết mọi thủ tục như sau mỗi cuộc hành quân, tôi vội vã ký giấy phép cho tất cả quân nhân trong đơn vị ngoại trừ nhân viên hậu cứ, nói với Hạ Sĩ Quan kế toán và tiếp liệu xoay sở tiền nong ứng trước cho mỗi người 10 ngàn để làm lộ phí về thăm gia đình, thăm cô nhi quả phụ rồi chờ tôi trở về cùng nhau ra Nghĩa Trang Quân Đội viếng mộ Tử Sĩ, thắp nén nhang cầu siêu hương linh quí Anh – Em là Hồn Thiêng Sông Núi hiển linh và siêu linh nơi cõi an lạc hạnh phúc…!!!

Máu đã từ chối không chảy về tim nữa
Thì thôi anh tìm một chỗ để yên nằm
(The soldiers never die, they just fade away)

Sau 15 ngày phép qua đi như một cơn gió thoảng, bây giờ nào là vợ con, thân nhân, bằng hữu…quyến luyến giữ chân muốn không rời xa ! Một ngày đêm trong vùng địch dài như bách nhật, 15 ngày phép với thân tình ngắn ngủi như chạy nước rút 100 mét ở thao trường. Trở ra vùng hành quân, TS2ND được lệnh tăng phái cho LĐIND làm lá bùa trấn yểm Thôn Như Lệ Tích Tường với TĐ1ND, sau đó tăng cường cho TĐ8ND lên Động Ông Đô, Đồi Gió Hú, tương đối dễ thở hơn Trí Bửu, Hạnh Hoa Thôn, bởi lẽ tất cả nỗ lực của hai bên đều dồn vào Quãng Trị để rút lá bài cuối cùng trên cái bàn thương thuyết bốn bên hình ôn hoàng hột vịt lộn ở Paris ! Đầu tháng 9 năm 1972 TQLC đã kiểm soát hoàn toàn thị xã Quãng Trị, chỉ còn cái nhân bánh chưng Cổ Thành ngày giờ cắm cờ đếm trên đầu ngón tay, Tướng Bùi Thế Lân Tư Lệnh TQLC có thể khui sâm banh ăn mừng được rồi. Ngày 16 tháng 9 năm 1972: “cờ bay, cờ bay trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại đêm qua bằng máu...cờ bay...” do Đại Úy Giang Văn Nhân (K22VBĐL) thuộc TĐ3TQLC cắm trên một điểm cao nhất trong nội vi Cổ Thành, điểm cao nhất trên một đống gạch vụn, bởi thành phố giờ thành bình địa, không còn một ngọn cây, một nóc nhà nào nguyên vẹn, từ Trí Bửu có thể nhìn thấy dòng sông Thạch Hãn không cần phải leo lên cao, và từ Hạnh Hoa Thôn có thể thấy tháp chuông nhà thờ La Vang khi đi bộ trên đường Duy Tân vừa chiếm lại đêm qua bằng Máu! Máu của ai? 

Máu của cả hai bên Nam Quân và Bắc Quân, máu vương vãi khắp thôn làng thị trấn, ai có thể lấy thước đo bề dầy của máu đã đổ xuống thấm vào từng thớ đất quê hương à …ơi…”quê tôi nghèo lắm ai ơi, mùa Đông thiếu áo Hè thời thiếu ăn” này…! Để những lãnh tụ, lãnh đạo ngồi ở phủ, ở huyện và cả cái mảnh giấy “lộn” khốn nạn gọi là “Hiệp Định Paris” tháng giêng 1973 chỉ là thành quả, hệ quả đẩy đưa dìm chết toàn thể Quân - Dân miền Nam vào địa ngục dưới bàn tay cai trị ngu xuẩn và trả thù tàn bạo của tập đoàn Cộng Sản Bắc Việt và đây là lời nói uẩn lương của cố Tổng Thống Ronald W. Reagan Mỹ Quốc:”Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho hòa bình là ngàn năm đen tối cho các thế hệ sinh tại Việt Nam về sau”.

Trước khi TQLC vẻ vang dựng lên lá cờ vàng ba sọc đỏ, thì ai đã trãi bao nhiêu xương máu lót đường…? đã có biết bao nhiêu thân xác Quân Dân Cán Chính vùng địa đầu giới tuyến ngã xuống chôn bờ, lấp bụi, lớp nhựa đường “Đại Lộ Kinh Hoàng” đã được phủ thêm độ dầy bằng lớp da thịt mỡ người chết phân huỷ dính khằn hong dưới trời nắng quái và mùa gió khô hóc quắc queo thổi qua, đâu đấy còn lặt lìa tử thi quân nhân vương vít đong đưa vạt áo trận trên quân xa hư hỏng vì đạn đạo pháo Bắc Quân…!!! Ôi,… tang thương ngất trời và tôi biết chắc chắn trong niềm hân hoan đại quân Thuỷ Quân Lục Chiến kéo vào Quãng Trị chiến đấu đem chiến thắng về cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã có Máu của chính đồng đội Thuỷ Quân Lục Chiến, Nhẩy Dù, Biệt Cách Dù, Biệt Động Quân, Thiết Giáp, Không Quân, Hải Quân, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Nhân Dân Tự Vệ, Cảnh Sát, An Ninh và cả quân xâm lăng Bắc Việt đã đỗ xuống thấm sâu vào lòng Đất Nước Việt thân yêu làm nên mầu mỡ cho mai hậu chăng ?.

Chỉ có máu mồ hôi và nước mắt
Nhỏ xuống thấm lòng đất tổ quê cha
Tôi và Anh ai bảo vệ sơn hà ?
Ai hại nước, lừa ai mà vẽ mặt …?

Chiến thắng hay chiến bại đều phải trả một cái giá của nó. Sau Kontum Kiêu Hùng, Bình Long Anh Dũng, Quảng Trị Vùng lên...không biết các vị Tướng Tư Lệnh “khạc ra lửa, mữa ra khói”có ngồi độc ẩm Bồ Đào Mỹ Tửu Dạ Quang Bôi để nhớ câu “Cổ Lai Chinh Chiến Kỷ Nhân Hồi” ? Sau năm 1975, không biết các Tướng hai sao, ba sao và ba xạo của Bắc Quân vốn trở thành quán tính quen ngồi xổm ở cánh đồng Nông Cống ngập nước, hay khệnh khạng vung vít thế tiểu nhân đắc chí tự cười vang hô hố để quên câu:”Nhất Tướng Công Thành Vạn Cốt Khô”…?! 

Vì theo tài liệu đã được phổ biến từ những xung đột nội bộ lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam phía “Bên Thắng Cuộc” đã tiết lộ: Chính Tổng Bí Thư Lê Duẫn đã cho Tướng Văn Tiến Dũng lên thay Tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy Chiến Dịch Xuân Hè 1972 vì chính Võ Nguyên Giáp đã khuyến cáo Chính Trị Bộ không nên tiến đánh Nam Việt Nam vào năm 1972 vì Quân Lực Miền Nam rất mạnh. Đúng như Giáp đã nhận định và kêu than sau thất bại Chiến Dịch Hè Xuân 1972 rẳng:” hơn 10 000 (mười ngàn) bộ đội ta đã bị chết ở Mặt Trận Trị Thiên không có được mấy ai trở về …”!
Đêm đã khuya, người người an giấc, còn ta Viết như nhắn gởi với mười phương bằng hữu Huynh Đệ Chi Binh thân tình rằng ta nhớ lắm và mơ một ngày về…?

Các anh đi, ngày ấy đã lâu rồi
Các anh đi, đến bao giờ trở lại
Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ trông
Các anh về, mái ấm nhà êm
Câu hát tiếng cười rộn ràng trong xóm nhỏ
Các anh về, tưng bừng trước ngõ
Xóm làng tôi còn nhớ mãi
Hỡi đoàn người trai trẻ đấu tranh
Các anh đi, đến bao giờ trở lại
Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ trông…
(Các Anh Đi – Văn Phụng)

Nhưng cuộc chiến nầy vẫn chưa kết thúc ! Chúng ta, những người bị gọi là chiến bại vẫn còn cơ hội để giành lại đất nước. Thua một trận chiến (a battle) không có nghĩa là thua một cuộc chiến (a war). Điều kiện tiên quyết để thắng kẻ thù Cộng Sản Bắc Việt là chúng ta phải có quyết tâm tranh đấu và học hỏi, để tích cực tham gia thực hành. Quyết tâm sống và bảo vệ những điều mình yêu, tin và lý tưởng. Phải thắng chính bản thân trước khi thắng kẻ thù. Phương thức để chiến thắng Cộng Sản là: Chúng Ta không được hèn ngu, tất là phải có sự hiểu biết tròn đầy viên mãn về mọi mặt, phải có hệ thống tư tưởng làm căn bản cho sự nhận định, thông suốt đại biện chứng thế giới,phải có ý thức hệ, chủ thuyết giải quyết được vấn đề một cách triệt để, toàn diện và hướng thượng. 

Không được hèn, tất phải có lòng can đảm hơn người, đại đởm, không quản ngại gian nan khổ cực, quyết tâm là dám chết để tìm đường sống (kinh nghiệm trong trận chiến Quãng Trị). Nhưng không phải là liều lĩnh, vọng động quờ quạng, lấy sự can đảm mà thi hành theo sách lược bỡi hiểu biết Chu Tri cao hơn và đẹp hơn phù hợp với Nhân Bản, phát huy được Nhân Tính để đạt tới mức Nhân Chủ như một lý tưởng vươn tới tất yếu của loài Người. Chúng tôi tin rằng trước thời thế nầy, hầu hết người Dân Việt chúng ta ở trong cũng như định cư ở các quốc gia Tự Do – Dân Chủ trên thế giới trong đáy lòng ưu tư đến Dân Tộc - Đất Nước đều có cảm giác sâu sắc là chúng ta cần phải mạnh dạn hành động quyết liệt để đánh đỗ, tháo cởi gông cùm, xích xiềng do đảng Cộng Sản ngu dốt, tàn hại áp đặt cho Dân Ta ? Nhẩy Dù cố gắng .


. Mũ Đỏ Trương Văn Út (Útbạchlan): Viết và tham khảo với cựu Trung Tá Bùi Quyền (Tố Quyên) Thủ Khoa Khóa 16 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, Lữ Đoàn Phó Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù hiện đang cư ngụ tại San Jose, California USA. Houston Ngày 28 Tháng 2 Năm 2016



__._,_.___

Posted by: truc nguyen <

Sunday, February 28, 2016

Công ơn cố Tổng Thống Ngô đình Diệm.




---------- Forwarded message ----------
From: NhanNguyen
            Một tài liệu xác thực và quý báu của một thời vàng son VNCH
                                                      chưa mấy ai biết
----- Original Message -----
From: lan dong
To: undisclosed-recipients
Subject:              Công ơn cố Tổng Thống Ngô đình Diệm.
                              
                                 Công Ơn cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm

          Những ai đã sống dưới thời đệ  I  Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1955 đến năm 1963 ,  cần  khách quan mà nhận thấy đó là thời kỳ miền Nam Việt Nam hưng thịnh nhất, đã bỏ xa các nước Thái Lan, Mã Lai..v..v.. Sân bay Tân Sơn Nhất Saigòn thời đó đã là phi cảng rộn rịp  nhất miền đông nam Á và Saigòn đã được mệnh danh là hòn ngọc Viễn Đông.

          Tưởng nhớ lại : năm 1954 Thủ Tướng Diệm đã chấp chánh trong một tình thế rối ren và khó khăn nhất ,  nhưng đã lấy lại được  nền độc lập  từ tay người Pháp mà không  phải  đổ máu, đã  đòan kết và thống nhất  được các lực lượng  vũ trang  địa phương, đánh tan được lọan quân  Bình Xuyên và trở nên vị Tổng Thống đầu  tiên của nền đệ I Cộng Hòa Việt Nam, sau cuộc  trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955.

         - Người đã ổn định đời sống ấm no cho gần 1 triệu dân di cư năm 1954-1955, mà họ đã trở nên  phồn thịnh sau này,  tại các vùng Bà rịa , Vũng Tàu ,  Long Thành ,  Cù Mi,  Cái Sắn , Rạch Gía,  Biên Hòa, Hố Nai, Long Khánh, Đà Lạt..v..v..

        - Người đã sáng lập ra chính sách dinh điền năm 1958 ,  thành lập  10  tỉnh mới  như Bình Tuy, Long Khánh, Quảng Đức, Phước Thành, Phước Long, Bình Long…vv.. giúp cho gần 1 triệu dân  nghèo từ các tỉnh miền Trung  đi lập  nghiệp,  có  nhà cữa ruộng vườn phì nhiêu, cụ thể như các
        dinh điền Võ Đắt, Võ Xu, Chính Tâm  vùng Tánh Linh Bình Tuy.

        - Mỗi dinh điền cũng như trại định cư : khởi đầu do  một  tóan nông cơ có khỏang 5 chiếc xe ủi ,  mất độ chừng  2-3 tháng để ủi rừng gom cây ,  cho mỗi gia đình có khỏang 1 mẫu tây đất trồng .

        Sau đó xe ủi sẽ làm đường ngang, đường dọc . Trắc lượng viên sẽ cắm cọc phân lô vườn  ở  cho  mỗi  gia đình, ấn định  vị trí  các nhà công sở, để các nhà thầu tới xây cất văn phòng hành chánh , trường học  6 phòng, trạm y tế , nhà hộ sinh ,  cư xá  đủ cho 4 cán bộ dinh điền , 1 y tá , 1 nữ hộ  sinh , 5 giáo viên, ( mỗi người 1 căn ), một nhà kho lớn để chứa gạo  phát  cho  dân  hàng tháng .  Các giếng nước  được đào theo vị trí ấn định. 

        Tất cả những công trình nói trên được làm theo bản đồ đã được vẽ  sẵn do  chuyên viên của Phủ  Tổng Ủy Dinh Điền đã nghiên cứu cẩn thận , và thi hành do một Ban Dinh Điền gồm có 1 Đỉa  Điểm Trưởng, 1 Phụ tá, 1 Thư Ký‎‎ và 1 Quản Kho.

        Sau khi các tiện nghi nói trên đã sẵn sàng, Ban Dinh Điền báo về Phủ Tổng Ủy tại Saigòn để gửi  tới một số nhà lều vài và ván gỗ làm giường tạm, để tiếp nhận đồng bào di dân tới tạm trú, trước khi làm xong nhà ở .  

              Rồi Phủ TUD Điền cho chở  một số di dân tới ,  từng đợt một tùy theo khả năng dung chứa của nhà lều vải, mà đợt cuối cùng là cho vừa đủ số dân đã dự trù  cho  mỗi dinh  điền , tùy nơi  :  từ 2000  người cho tới 5000 người. Sau khi tới dinh điền, mọi  người  được  săn sóc y tế ngay,  sẵn sàng thuốc men, giếng nước, được cấp dao, rựa, cuốc, xèng..v..v..mùng, mền,
        chăn, chiếu.   

           Riêng gạo, bột mì và tiền  thì được cấp phát ít nhất là 1 năm hoặc hơn, tùy theo hoa  lợi thu hoặch, có nơi là 1 năm rưỡi, mà có nơi chỉ một năm là dư giả như dinh điền Võ Đắt vùng Tánh Linh Bình Tuy.

        Đồng bào  di dân  chia thành từng  nhóm nhỏ để giúp nhau cất nhà bằng cây cắt ở  rừng, mái lợp  bằng lá kè do nhà thầu cung cấp .  Mỗi căn nhà được TỦ. Dinh Diền cấp một số tiền .  Nhà làm xong sẽ được đồng bào bắt thăm . Sau khi  ổn định nơi ăn chốn ở, đồng bào được cấp một diện tích đất trồng cũng theo cách bắt thăm.       

        Ngày nay những nơi đó là những vùng giàu có với cà phê, cao su , hạt điều,  hoặc gạo lúa, như  miền Banmêthuật, vùng Đức Lập ở tỉnh Quảng Đức, Võ Đắt  ở  Bình Tuy , dinh điền Cà Mau,  Rạch Gía ..v.v..
 
       - Lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới chưa hề có vị lãnh tụ  nào  đã  làm  nên những việc  thần kỳ vĩ đại cho dân nghèo như vậy chỉ trong 9 năm cầm quyền.
 
       - Ngòai ra, Tổng Thống Diệm đã đem  lại  thái  bình  thịnh vượng cho đồng bào miền Nam VN.  vể mọi mặt, ưu tiên nhất là xây dựng hạ tầng cơ sở  nông thôn, dân nghèo được chăm lo trước  hết. Năm 1960 tờ Paris Match của Pháp trang bìa đã in hình Ngô đình Diệm với chú thích : ’’ 
         ''Ngo dinh Diem l’âme de 1960 ‘’  Đặc biệt  năm 1961 là năm đầu  tiên và có thể là  năm  duy  nhất VN. có thặng dư mậu dịch .
        
         - Cũng xin nói thêm :  
        * Thời kỳ đó, học sinh   sinh viên  từ Tiểu Học  đến  đại học không hề phải đóng học phí.  Bệnh nhân vào bệnh viện cũng không hề phải đóng tiền.
       * Một số đồng bào gốc Tàu  Chợ Lớn tự nguyện  đi dinh điền Xóm Cạn (X), thuộc  tỉnh  Phước  Thành, một số người Việt  ở Gia Định cũng xin  đi dinh điền ở  Võ Đắt  tỉnh  BÌnh Tuy :  Nghĩa  là thời  đệ I  VNCH  một số dân thành phố dãn  ra vùng  nông thôn, thay vì ngày nay, dân  nông  thôn phải thóat vào thành phố để mưu  sinh một cách khổ cực. Vì thế, Saigòn thời đó rất thanh  thóang, êm đềm, sạch sẽ,  không ồn ào đông đúc náo nhiệt như ngày nay..

        (X) :  Dinh điền Xóm Cạn gồm hơn  3000 dân ,  gồm  có người Tiều ,  người  Quảng  Đông , người  Hẹ, đều là gốc Tàu Chợ Lớn và một số người Thái Bắc Việt. Các Dinh diền Xóm Cạn, Xóm Sình,  Bàu Cá Trê, nằm phía sau đồn điền cao su Nguyễn đình Quát, khỏang giữa dường từ Tân Uyên   Biên Hòa  đi Phú Giáo, quẹo phải vào độ 4km.
  
       - Phải nói rằng :  Tuyệt đại đa số dân miền Nam thương tiếc Tổng Thống Ngô đình Diệm, chỉ có rất thiểu số cá nhân vì bất mãn, ganh tỵ, đảng phái, đòi quyền lợi chức vị hoặc bị mua chuộc, mà  hãm hại hoặc đặt đều bịa chuyện nói xấu ông Diệm.

      - Những thành quả của Tổng Thống Diệm nói trên là những chứng tích cụ thể rõ ràng vĩ đại, tòan  dân tòan quốc ai ai cũng có thể kiểm nghiệm hoặc thấy được, còn những điều bịa đặt của mấy tên  vong ân bội nghĩa thì y như thằng mù rờ đít voi, chỉ hùa nhau nói theo mà vô chứng cớ và chính  
       họ cũng không hề biết đích xác. ( Cụ thể như tên Võ văn Sáu, chẳng hạn ). Một kẻ bịa đặt, mười  người trích theo, rồi nói đó là chứng cớ, tòan là chứng cớ cuội.
   
     - Cá nhân người viết, nguyên là  Địa diểm trưởng dinh điền 9 nơi, hồi đó chỉ có 2 vợ chồng và 2  con là 4 người , mà bây giờ cả đại gia đình đã có 36 nhân khẩu, tức là đã gấp lên 9 lần, vậy thì 2  triệu dân di cư và dinh điền hồi đó , nay cũng  có thể  nhân lên 9 lần, thành ra 18 triệu. Số người  này không những thương tiếc TT. Diệm mà còn mang ơn sâu sắc đời đời TT. Ngô đình Diệm.

     - Cá nhân kẻ hèn này còn nhớ thêm một ơn sâu sắc của cụ Diệm nữa là: Nhờ cócụ Diệm làm Thủ  Tướng miền Nam năm 1954 thì kẻ hèn này mới dám di cư vào Nam năm 1955 để hưởng cuộc đời  sung sướng 20 năm tròn, với con cái học hành tử tế, lại có nơi dung thân để sau năm 1975 có thể
      bay qua sống nơi miền đất hứa mà nay coi đất nước tự do này như thiên đàng hạ giới. 

      Tóm lại : Nếu không có cụ Diệm, đại gia đình tôi không được có mặt nơi miền hạnh phúc này. ( Từ thủa  còn bé 1942, tôi đã thuộc lòng câu : Đày vua không Khả, Đào mả không Bài, Hại dân không Diệm, nên đã dám tin vào cụ Diệm mà di cư từ Nghệ Tĩnh vào miền Nam ).

      Mà có thể nói được rằng, nếu không có  20  năm  VNCH  thì  đại  đa số người Việt hải ngọai đã  không có cơ hội bỏ cọng sản ra đi ,  mà chúng ta đã bị nhốt  trong  nhà  tù  lớn CSVN, chỉ hai  năm sau hiệp Định Genève 1954 rồi. 
                   
                                Toronto, 10-6-2014         Nhân Chí



__._,_.___

Posted by: truc nguyen 

Nhớ đến Bà Ngô Đình Nhu

 

Bà Trn L Xuân nguyên là mt Pht T và là cháu ngoi ca Vua Thành Thái.

Tháng 6-1963 bà qua M nhm gii đc cho TT Dim v v Pht Giáo . Khi báo chí M hi bà v v " T Thiêu " ca TT Thích Qung Đc , thì bà tr li không được tế nh , không km hãm nóng gin - cho biết rõ đây là mt cuc  " barbecue -- tc là " Nướng Sư " do TT Thích Trí Quang toa rp vi CS dàn dng màn kch dã man đ lt đ TT Ngô Đình Dim. Không ai tin.

   Mãi đến sau ngày 30-04-75 người ta mi biết bà Nhu  nói  đúng khi các báo chí ngoi quc tung ra các Video .
 Video quay li cnh mt Nhà Sư to ln mc áo cà sa vàng cm mt  thùng  xăng to màu trng ...  Đ xăng t phía trước ri t t đ tiếp lên  đu Thy TQD  ướt đm hết b áo cà sa ...tiếp tc đ ra sau thêm gn hai mét .

Mt ngn la t phía sau , lun qua bên phi ti đt cháy Thy .
  .Video không biết nói di .
  Dù Thy TQD có mun ly diêm ra qut cũng không th được vì tt c ao quân đã ướt đm.
  Nhng năm cui đi bà Trn L Xuân sng ân dâ.t không tai hôn ( sau khi hc giáo lý và ra ti theo Đo Công Giáo ), người ta thường thy bà đi xem l hàng ngày ti Nhà Th Notre Dame De Paris.

          ĐN CHT PT TRN L XUÂN KHÔNG MUN TR V PHT GIÁO  ?  TI SAO  ?

Đã nhiu ln người ta hi bà có mun gia đình và con cái bà tr li Pht Giáo không , thì bà đu t chi tr v .
  Phi chăng TT Thích Trí Quang đã làm tan hoang quê hương dân tc nên bà gi ý đnh đó  ?


On Saturday, February 27, 2016 3:41 PM, "truc nguyen > wrote:

 




          Nhớ đến Bà Ngô Đình Nhu

Luật sư Trương Phú Thứ

Bà Ngô Đình Nhu

Mùa Phục Sinh lại đến.  Chúa sống lại trong niềm hoan lạc của con cái Chúa và vì Chúa sống lại cũng để cho chúng con được sống lại trong vinh quang.  Buổi sáng lễ Phục Sinh năm 2011, Bà Ngô Đình Nhu đã trút hơi thở cuối cùng tại một bệnh viện ở La Mã trong khi mọi người đang rộn ràng mừng lễ Chúa Phục Sinh.  Bà đã chết đi trong ánh sáng của Chúa Phục Sinh.  Bà đã âm thầm và lặng lẽ trên đường đi về Nhà Cha như mỗi buổi sáng bà lủi thủi đơn côi đi dâng thánh lễ bắt đầu cho một ngày mới.  Bà đã sống lại trong niềm tin yêu vô cùng nơi Thiên Chúa là nơi bà đã ngày đêm cậy trông và nương tựa trong những tháng ngày đau khổ nơi trần gian.
.
Rất nhiều người đặt câu hỏi rằng trước khi lìa trần bà Ngô Đình Nhu có trăng trối qua tiếng nói hay bút tích không.  Câu trả lời là có và đây là lời trăng trối ngắn gọn được bà viết bằng tiếng Pháp:
.
"Tôi Trần Lệ Xuân, Dân biểu lập Hiến Pháp,  Dân biểu quốc Hội, Chủ tịch Phong trào Phụ Nữ Liên Đới, Vâng lệnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm,với sự đồng ý của chồng tôi, ông cố vấn Ngô Đình Nhu, rời Viêt Nam sang các nước Tây Phuơng tranh đấu cho sự thật và độc lập của đất nước tôi, trong lúc tôi rời đất nước các thế lực Tây Phương đã dùng nhóm phản loạn, phản bội lại chính quyền Dân Chủ và Độc Lập Việt Nam Cộng Hoà, đã sát hại Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Gia tộc của Tổng Thống và chồng tôi,  sứ mệnh của tôi càng trở nên khó khăn hơn, khi con gái của tôi Ngô Đình Lệ Thủy bị sát hại vì muốn nói lên tiếng nói sự thật, sứ mệnh của tôi chưa hoàn tất, tôi vẫn là con dân Việt Nam Cộng Hoà, vẫn là Sứ Giả của nước Việt đến hơi thở cuối cùng với Sự Vụ Lệnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm... "
.
Bà Ngô Đình Nhu được Tổng Thống Ngô Đình Diệm trao phó một sứ vụ vô cùng khó khăn và nặng nề. Thân nhi nữ cô độc  gánh vác sứ vụ đội đá vá trời chống đỡ lại những mưu mô và kế hoạch thâm độc của Hoa Kỳ và các tổ chức quốc tế được sự thông đồng của Mỹ để triệt hạ chính thể Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà.  Bà đã vẫy vùng trong một vũng lầy của những gian manh xảo quyệt của các hệ thống truyền thông quốc tế và ác tâm của một đường lối vô nhân đạo mà chánh quyền Hoa Kỳ đương thời chỉ với một mục đích phục vụ quyền lợi của một nhóm tư bản đứng sau toà Bạch Cung đã tàn nhẫn xuống tay đưa cả dân tộc Việt Nam vào vòng điêu linh thống khổ.  Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người đặt quyền lợi và danh dự quốc gia hơn cả mạng sống mình đã bị thảm sát vô cùng dã man. Bà Ngô Đình Nhu cũng bị tắt tiếng sau cái chết đau thương của vị nguyên thủ quốc gia.
.
Bà Nhu được giao phó nhiệm vụ “tranh đấu cho sự thật và độc lập của đất nước”.  Bà lên đường với một sự vụ lệnh của Tổng thống và bà đã vô cùng dũng mãnh quyết liệt chống chọi với bọn truyền thông gian manh quốc tế và những xảo quyệt của chính quyền Hoa Kỳ.  Mùa Thu năm 1963 cả thế giới đã kinh ngạc nghe và nhìn bà Nhu mạt sát và lên án những người được gọi là bạn, là đồng minh Hoa Kỳ ngay tại một địa điểm chỉ cách Toà Bạch Cung mấy con đường. Nhiều người cho đó là một hành vi thiếu khôn ngoan nhưng có ai thấu hiểu đó chỉ là những tiếng kêu tuyệt vọng của một người lương thiện trước khi bị bọn gian manh thổ phỉ hành quyết!

.Đọc những dòng chữ trăng trối của bà Nhu thì không ai có thể phủ nhận được tâm huyết của bà với non sông đất nước.  Năm trên giường bệnh trong giờ phút lâm chung nhưng bà không nghĩ đến những oan cừu khổ nạn mà bà và cả gia đình bà phải thống khổ chịu đựng.  Bà không thù oán những người đã cầm súng bắn vào chồng bà bởi vì bà nói “đó là một bọn ngu dốt” không đáng đếm xỉa đến.  Nhưng hơi thở cuối cùng của bà vẫn trông về quê hương yêu dấu mà bà đã can đảm dự phần trong công trình xây dựng một quốc gia thanh bình thịnh vượng,toàn dân sống trong tự do no ấm.  Bà tiếc nuối vì sứ mạng đã bị trù dập và không hoàn thành nhiệm vụ được giao phó. Bà vẫn tự gánh vác trọng trách đó cho đến hơi thở cuối cùng trong đơn côi lặng lẽ cho dù đó chỉ là những ước vọng của những giây phút tàn hơi.  Một "lãnh tụ chánh trị" khoe đã gặp bà Nhu và nghe than thở “thời của tôi đã hết rồi”.  Đây cũng chỉ là một tưởng tượng nghèo nàn của vị "lãnh tụ" này mà thôi.  Bởi vì những giây phút cuối đời thì bà Nhu khẳng định: vẫn là Sứ Giả của nước Việt đến hơi thở cuôi cùng với Sự Vụ Lệnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm...

.
Bài viết này đến tay độc gỉả nhân ngày giỗ thứ năm bà Ngô Đình Nhu.  Từ sau ngày Đệ Nhất VNCH sụp đổ, bà Nhu  sống đơn độc nơi đất khách quê người gần như hoàn toàn cách biệt với những sinh hoạt chộn rộn của một con người.  Người yêu kẻ ghét với những lời khen tiếng chê đã không lọt qua bức tường căn phòng nhỏ hẹp của một người muốn rũ bỏ tất cả những oan cừu trần gian. Bà sống khổ hạnh như một nữ tu ngong ngóng trông chờ giây phút “đoàn tụ” với ông chồng mà bà hết lòng yêu thương và kính phục.
.
Gần đây có một quyển sách viết về bà Nhu bằng tiếng Anh với tựa đề FINDING THE DRAGON LADY của tác giả Monique Demery và vừa được dịch sang tiếng Việt Nam với một loại chữ nghĩa văn thể rất kệch cỡm : MADAM NHU TRẦN LỆ XUÂN QUYỀN LỰC BÀ RỒNG. Tác giả Demery đã có một thời gian “học tập” ở Hà Nội, nói tiếng Việt thành thạo giọng đặc Hà Nội. Tôi có xem qua quyển sách này, không có gì gọi là tư liệu hay lịch sử.  Từ đầu đến cuối chỉ là những sao chép vụng về  chẳng có một giá trị nào dù rất nhỏ nhoi. Vào Google đánh chữ Bà Ngô Đình Nhu thì có đến gần 4 triệu tài liệu và bài viết nói về bà Nhu được đăng tải rải rác trên nhiều mạng lưới vi tính từ nhiều quan điểm khác nhau đã được bà Demery vơ vét làm của riêng mình rồi nặn óc sáng chế ra một cái tựa sách nghe ra cũng độc mồm độc miệng. Bà Demery viết và đọc tiếng Việt Nam thành thạo nên đa số những cái gọi là “tài liệu hiếm qúy” trong quyển sách này đã từ lâu xuất hiện trên các mạng lưới vi tính Việt ngữ. Tựa đề của cuốn sách trong bản dịch tiếng Việt với mấy chữ QUYỀN LỰC BÀ RỒNG có thể làm người đọc hình dung ra hình ảnh của một “bà rồng” mặt sắt đen xì dữ tợn hung ác nhưng trong cả cuốn sách chỉ toàn là những nhai đi nhai lại nhàm chán trên các mạng lưới vi tính Việt ngữ chứ chẳng thấy “bà rồng” đâu.

Tác giả Demery sẽ biện minh như thế nào khi gán ghép cho “bà rồng” một giai thoại như sau:

When her brother-in-law, President Ngo Dinh Diem, had once questioned the modesty of Madame Nhu’s slim-fitting tunics, referring to their décolletage, she is said to have silenced him with a withering reply: “It’s not your neck that sticks out, it’s mine. So shut up” (P.18)

Một dịch giả dễ tính có thể chuyển dịch những dòng chữ này một cách giản lược như sau:
Tổng Thống Ngô Đình Diệm tỏ vẻ không được hài lòng vì cái áo dài hở cổ của bà Nhu.  Nhưng bà em dâu đã xấc xược trả lời ông anh chồng: “Cái cổ tôi hở ra chứ không phải cổ của ông.  Vậy thì ông câm mồm đi.”

Đọc những dòng chữ bặm trợn này thì ai cũng có thể lượng giá được khả năng viết lách của tác giả và giá trị của quyển sách.

Đã rất lâu tôi có xem một phim tài liệu của hai nhà nữ nhân chủng học người Mỹ làm công việc khám phá một bộ lạc gần như tuyệt chủng ở trong rừng rậm Phi châu và chưa hề có bất cứ một tiếp xúc dưới bất cứ hình thức nào với thế giới bên ngoài.  Hai nhà nữ nhân chủng học này đã lặn lội trong những điều kiện vô cùng gian khổ và đã đến được nơi muốn đến.  Hai cô gái xinh đẹp này đã sống với hai người đàn ông hiếm hoi còn lại của bộ tộc này như vợ chồng trong thời gian một năm.  Họ học tiếng nói cũng như ăn uống sinh hoạt như một thành viên của bộ tộc và như là những người vợ của hai người đàn ông còn lại của bộ tộc trước ngày bị hoàn toàn diệt chủng.  Hai cô gái trở về Mỹ đã cống hiến cho thế giới một tài liệu phong phú và những thước phim chân thực sống động vô cùng qúy giá. Họ đã tự mang cả thân mình ra để làm một công việc mà họ say mê và bằng mọi cách phải đạt đến mục tiêu tuy rằng phương cách làm việc của họ không đáng được khuyến khích và đề cao.
.
Tác giả Demery cũng chỉ nghe và biết đến bà Nhu qua báo chí và những bài viết trên các mạng lươí vi tính mà thôi.  Trong cuốn sách, bà Demery xác nhận có hẹn gặp bà Nhu hai lần nhưng cả hai lần bà Nhu đều thất hẹn.  Mặc dù bà Nhu sống đời ẩn dật tự giam hãm mình trong một căn phòng nhỏ nhưng bà Nhu cũng có những chọn lựa và suy tính trong các giao tiếp rất hiếm hoi.  Bà Demery hẹn gặp bà Nhu ở nhà thờ Saint Leon là nơi bà Nhu đi lễ hàng ngày.  Thế nhưng đến ngày giờ hẹn thì bà Nhu lại không đến.  Lần sau thì bà Nhu hẹn gặp tại nhà, bà Demery đến đúng hẹn nhưng bà Nhu lại không mở cửa. Bà Nhu cũng chẳng mặn mà gì với những gặp gỡ này và cố tình hủy bỏ cuộc hẹn.

Vậy thì ngoài những sao chép trên các mạng lưới vi tính và chưa một lần được gặp bà Nhu thì bà Demery lấy gì và biết gì để viết về cả một cuộc đời cay đắng nghiệt ngã của bà Nhu.
.
Rất nhiều người có chung một quan điểm là nếu bà Nhu có mặt tại dinh Gia Long vào ngày 1 tháng 11 năm 1963 thì cục diện của vụ phản loạn chắc chắn đã không xẩy ra như vậy.  Là thân nữ nhi nhưng bà Nhu lại có một dũng chí và rất quyết liệt trong những tình huống dầu sôi lửa bỏng.  Thưở sinh thời, Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ nhiều lần tiếc nuối nói nếu như bà Nhu không đi ra nước ngoài thì chắc là vụ phản loạn đã bị dẹp tắt ngay từ những tiếng súng lạch cạch của mấy chú tân binh quân dịch từ trung tâm huấn luyện Quang Trung.  Ông Duệ nói rằng bà Nhu rất kính trọng và phải nói là rất sợ ông anh chồng Tổng Thống nhưng lúc cần phải lên tiếng thì bà cũng rất mạnh bạo.  Nhiều người truyền miệng câu chuyện bà Nhu bị Tổng Thống Ngô Đình Diệm giận dữ ném cái gạt tàn thuốc lá vào người thì đó cũng chỉ là một bịa đặt nhảm nhí.  Nghị sĩ Lê Châu Lộc nguyên là tùy viên của Tổng Thống Diệm xác nhận là bà Nhu cũng như tất cả những người khác muốn gặp Tổng Thống thì đều phải đi qua một lịch trình xếp đặt của Chánh văn phòng Phủ Tổng Thống. Rất ít khi bà Nhu xin gặp Tổng Thống và những lần diện kiến ngắn ngủi dăm ba phút đó thì bà Nhu ăn mặc rất chỉnh tề, cánh cửa văn phòng Tổng Thống mở rộng và bên ngoài là các sĩ quan tùy viên và nhân viên văn phòng.  Nếu bà Nhu là một loại đàn bà đanh quánh hỗn láo thì chắc hẳn là thiên hạ sẽ được nghe và nhìn thấy những hoạt cảnh ồn ào chợ búa trong những ngày tháng nơi xứ lạ quê người.
.
Tổng Thống Diệm đặc biệt qúy mến bà Nhu vì đã mạnh bạo hoàn thành bộ luật gia đình và nhất là bà Nhu đã sinh ra hai người con trai để nối tiếp dòng họ Ngô Đình.  Ông Ngô Đình Luyện có hai đời vợ nhưng cũng chỉ có một binh đội đến mười cô con gái, mãi đến người con út mới được một mống con trai. Con trai lớn của bà Nhu là Ngô Đình Trác lấy vợ người Ý và bây giờ cũng có cháu gọi là ông nội rồi.  Người con trai nhỏ là Ngô Đình Quỳnh làm việc ở nước Bỉ và không lập gia đình cũng đã trên sáu mươi tuổi.  Từ sau năm 1963, ông Ngô Đình Trác sống ở Roma và chưa một lần đi ra khỏi nước Ý.  Câu chuyện đồn thổi "bà Nhu cho ông Trác sang Mỹ để xin lỗi" người này người kia cũng chỉ là một bịa đặt láo khoét mà thôi.
.
Các tài liệu về vụ phản loạn 1 tháng 11 năm 1963 do Hoa Kỳ điều động đã được hoàn toàn giải mã.  Đám quân nhân và các tổ chức liên hệ chỉ thi hành những mệnh lệnh từ một bọn kiêu binh tác oai tác quái lợi dụng sự nhu nhược của một ông tổng thống tồi tệ nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.  Bà Nhu biết và hiểu rõ phương cách điều hành của các cơ chế chánh trị Mỹ.  Tất cả đều bị sai khiến bởi các thế lực đứng sau toà Bạch Cung. Nói một cách rõ ràng là những thế lực đó được điều hành và nhận chỉ thị từ những nhóm Do Thái có thực lực nắm giữ huyết mạch chánh trị và tài chánh của nước Mỹ.  Cũng chính những thế lực này, qua bàn tay của Henry Kissinger đã dâng hiến nước Việt Nam Cộng Hoà cho khối cộng sản quốc tế..

Khi nói về cái chết thảm thương của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn thì bà Nhu cũng chỉ nhỏ nhẹ nói “ Tổng thống của nó mà nó còn giết thì tổng thống của mình nó coi ra gì”.  Chữ “nó” đây bà Nhu cố ý nói về các thế lực Do Thái trong chính trường Hoa Kỳ.  Tổng Thống Kennedy đã bị bắn chết trước mắt hàng triệu dân Mỹ mà cho đến nay hơn một nửa thế kỷ sau vẫn không một cá nhân hay tổ chức nào dám phanh phui ra tên tuổi của đứa đã cầm súng bắn vào đầu Tổng Thống Kennedy.  Những thế lực này mạnh đến nỗi ngay khi ông Obama được đảng Dân Chủ đề cử cũng đã vội vàng bay sang Do Thái “trình diện”.  Trong suốt gần hai nhiệm kỳ tổng thống, ông Obama chưa hề có một lời nói hay hành động nào làm mích lòng Do Thái.  Đôi khi cũng có tiếng bấc tiếng chì nhưng đó chỉ là những trình diễn có xếp đặt mà thôi.  Bà Nhu rất căm thù những nhóm quyền lực Do Thái đứng sau toà Bạch Ốc.  Cũng chính bọn này đã mua chuộc được hầu như tất cả giới truyền thông quốc tế để cùng toa rập với nhau triệt hạ Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà rồi sau đó dâng hiến cho cộng sản quốc tế.  Khi nói về cái chết của cô trưởng nữ Ngô Đình Lệ Thủy, bà Nhu vẫn có những câu hỏi về vai trò của tổ chức tình báo Do Thái trong tai nạn giao thông thảm khốc này.

Ai cũng biết là từ ngày tủi nhục vất vưởng nơi quê người, bà Nhu sống rất nghèo khổ, nhiều năm sống trong cơ hàn.

Trong một bài viết, tôi có đề cập đến nhà bà Nhu là một đơn vị gia cư trong một chung cư bề thế ở thủ đô Paris.  Địa chỉ của chung cư đó là số 24 Rue du Suffrene, Paris 15.  Tôi viết một cách lập lững rằng một tỷ phú người Ý vì thương cảm nên đã cho bà Nhu một số tiền kếch xù để mua một lúc hai đơn vị gia cư, một để ở và cái khác cho thuê lấy tiền sinh sống.  Sự thật không phải như vậy.  Vị tỷ phú này có lòng từ tâm và rất thương cảm hoàn cảnh của bà Nhu. Tuy nhiên vị tỷ phú này biết sử dụng và đầu tư đồng tiền một cách rất khôn ngoan bên cạnh lòng nhân ái cứu giúp người hoạn nạn.  Bà Nhu được vị tỷ phú này nhờ mua một lúc hai đơn vị gia cư của một chung cư ở vị trí rất đẹp ở thủ đô Paris bởi vì bà Nhu vẫn còn những liên lạc với một số chính khách Pháp và có thể nhờ cậy các vị này trong việc thương thảo mua bán.  Bà Nhu đã nhờ một vị cựu bộ trưởng thời chính phủ De Gaulle giúp mua hai đơn vị gia cư.  Không ai biết những cam kết và hợp đồng giữa bà Nhu và vị tỷ phú người Ý như thế nào nhưng ai cũng biết là lúc còn sống thì bà Nhu sinh sống ở một đơn vị và cái khác cho một nhà ngoại giao Nhật Bản thuê mướn để có tiền chi tiêu. Chỉ một thời gian ngắn sau khi bà Nhu từ trần thì các con của vị tỷ phú này đã tiến hành thủ tục pháp lý lấy lại hai đơn vị gia cư này.  Việc chuyển giao đã tiến hành một cách âm thầm và êm đẹp.  Tất nhiên trị giá của hai đơn vị gia cư này đã cao hơn nhiều lần lúc mua.

Trong một lần tôi đang nói chuyện với bà Nhu thì chuông điện thoại reo, bà Nhu đứng lên cầm ống điện thoại nhờ người gọi lấy dùm cái chụp đèn ở ngoài tiệm về.  Bà Nhu nói với tôi là rất thích cái chụp đèn bằng vải này nhưng vì quá cũ nên có chỗ bị rách.  Bà nhờ người mang ra tiệm sửa lại nhưng tiền công sửa quá đắt, đến cả gần một trăm euros nên thôi không sửa nữa.  Nếu bà Nhu có mười bẩy tỷ Mỹ kim như một vài “sử liệu” tiết lộ thì đâu có phải tính toán đắn đo gì với số tiền công sửa cái chụp đèn này.

Sau ngày phản loạn 1-11-1963, để lấy điểm với một vài phe nhóm và bọn tay sai nằm vùng của cộng sản Bắc Việt thì những người nắm quyền đương thời cũng trình diễn ra những cái gọi là "ủy ban điều tra tội ác và tài sản nhà Ngô".  Cuối cùng thì những ủy ban này với bao nhiêu hận thù và điêu ngoa gian dối sau khi vắt cạn kiệt ác tâm cũng đã chế tạo ra được hai cái “sử liệu” rất "hoành tráng" để đưa vào “chính sử”.  Thứ nhất là "bà Nhu có mười bẩy tỷ Mỹ kim, hai thương xá ở Paris và một đồn điền ở Ba Tây". Thứ nhì là "Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã tàn sát ba trăm ngàn Phật tử ở miền Trung".  Các “sử gia chân chính” đã xác nhận như vậy thì chắc hẳn phải là “chính sử”.!!!
.
Chung cư 24 Rue du Suffren Paris 15

Nói và viết về bà Ngô Đình Nhu thì toàn là những chuyện buồn phiền đau khổ.  Vậy xin kể một chuyện vui vui.  Một thanh niên người Ý bảnh trai con nhà gia thế cùng cha mẹ thưa chuyện với bà Nhu xin cưới cô con gái út Ngô Đình Lệ Quyên, tiến sĩ Luật Khoa Roma.  Trong lúc vui vẻ chuyện trò thì bà Nhu nói với chàng rể tương lai rằng mỗi tuần lễ bà chỉ ăn hai hay ba lần thôi,nếu anh có thể ăn uống được như vậy thì tôi sẽ gả út cưng cho. Anh chàng này vẫn có lòng kính phục bà mẹ vợ tương lai nên xin hai tháng để thử thách.  Sau hai tháng nhịn ăn nhịn uống, rồi cũng quen dần.  Bởi vậy anh chàng gầy đét như con mắm khô, chỉ thấy da bọc xương. Cho đến bây giờ, mặc dầu cô vợ yêu qúy đã chết vì một tai nạn xe cộ nhưng anh này vẫn giữ thói quen ăn uống như vậy.
.
Con người ta ai rồi cũng sẽ trở về cát bụi.  Nhớ bà Ngô Đình Nhu với hình ảnh của một người phụ nữ xinh đẹp, tài giỏi, đức hạnh và hết lòng vì quê hương đất nước.  Nguyện cầu hương hồn bà an vui nơi cõi Hằng Sống...

25/02/2016
Luật sư Trương Phú Thứ
__

__._,_.___

Posted by: le huong 

Featured Post

Tên các Quốc gia mà người Sài Gòn hay gọi trước năm 1975

https://www.facebook.com/groups/miennamvietnam/posts/1953798441526381/ https://www.facebook.com/buianhhuy095096/posts/t%C3%AAn-c%C3%A...

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List