QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Saturday, February 22, 2014

Đỗ Thái Nhiên Vạch Mặt Đặc Công Truyền Thông Lũ Gian Tú Gàn...



From: quatloiphong
Date: Mon, 17 Feb 2014 15:02:18 -0800
Subject: Đỗ Thái Nhiên Vạch Mặt Đặc Công Truyền Thông Lũ Gian Tú Gàn...

 


 


lũ gian tú gàn =>


ĐẶC CÔNG TRUYỀN THÔNG
Đỗ Thái Nhiên
Chế độ dân chủ là chế độ đối thoại. Đối thoại giữa người dân với người dân, giữa ngươi dân với cơ quan công quyền và giữa các cơ quan công quyền với nhau. Đối thoại dân chủ không chấp nhận mọi hình thức vu khống hay nhục mạ những người có ý kiến dị biệt. Đối thoại dân chủ có chủ đích giúp cho người dân tìm ra giải pháp tốt đẹp nhất cho từng tình huống xã hội. Căn cứ vào ý nghĩa của đối thoại dân chủ, bài viết này trân trọng kính mời bạn đọc theo dõi cuộc thảo luận có chủ đề "Cộng Sản Việt Nam Dâng Đất Cho Trung Quốc". 

 Chủ đề này đã làm dư luận Việt Nam vô cùng sôi nổi. Hầu hết người Việt Nam đều cực lực phản đối Việt Cộng bán nước. Thế nhưng giữa những lời lẽ phản đối gay gắt kia, đôi khi chúng ta bắt gặp một vài luận cứ khác thường. Khác thường ở chỗ sự thật và sự không thật được pha trộn lẫn vào nhau theo một liều lượng có tính toán với ý đồ bóp méo tin tức một cách tinh vi. 

Một trong những tác giả viết theo liều lượng vừa kể là ông Tú Gàn. Trên báo Saigòn Nhỏ số phát hành ngày 15/02/02 và 01/03/02 Tú Gàn viết hai bài mang tựa đề "Bạch Thư Về Biên Giới" và "Một Chuyến Đi Nam Quan". Hai bài này có ba sai lầm căn bản sau đây :
1.) Sai Lầm Lịch Sử:
Mở đầu bài "Bạch Thư Về Biên Giới", nhân câu chuyện nói với một độc giả về vụ Việt Cộng bán đất, Tú Gàn cho rằng Ải Nam Quan là của Tàu. Tiếp đó, ông khẳng định : "Nó dám bán ải Nam Quan của Tàu cho Tàu lấy tiền chơi gái là nó ngon lắm đấy".
Tại phần cuối của Bạch Thư, một lần nữa Tú Gàn quả quyết : "Như vậy, không có vấn đề tranh luận ải Nam Quan thuộc quyền sở hữu của ai, vì sử đã ghi rõ ải đó của Trung Hoa".

Câu hỏi được đặt ra là : cổ sử đã ghi chép những gì về ải Nam Quan. Bộ cổ sử Đại Nam Nhất Thống Chí (1847 - 1883) tại tập 4, trang 384 - 385 ghi chép như sau:
“Đại Nam Quan ( tên cũ của Ải Nam Quan) phía Đông là một dãy núi đất, phía Tây là một dãy núi đá đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường... phía Bắc cửa có Chiêu Đức Đài, đàng sau đài có Đình Tham Đường (nhà nuôi ngựa) của nước Thanh. Phía Nam có Ngưỡng Đức Đài của nước ta. Bên tả bên hữu đài có hai dãy hành lang. Mỗi khi xứ bộ đến cửa quan thì dùng chỗ này làm nơi tạm nghỉ".

Xét : trấn Nam Quan (tức Ải Nam Quan) không rõ bắt đầu từ triều đại nào, trong Nam sử và Bắc sử đều không có minh văn. Khoảng đời Lê Cảnh Hưng, đốc trấn Lạng Sơn Nguyễn Trọng Đang sửa lại Ngưỡng Đức Đài, lập bia ghi việc đại lược nói : “nước Việt ta có Ngũ Lĩnh, quan ải trước ở đâu không rõ là vì diên cách thế nào không ghi đủ. Gần đây lấy địa giới châu Văn Uyên, trấn Lạng Sơn làm cửa quan (tức cửa ải) Cửa quan có Ngưỡng Đức Đài không rõ dựng từ năm nào, có lẽ bắt đầu từ đời Gia Tĩnh nhà Minh ( 1522-1566)".

Mặt khác, bộ Phương Đình Địa Dư Chí của Nguyễn Văn Siêu xuất bản năm 1900 (Tác gỉa Nguyễn Văn Siêu là nhà thông thái bên cạnh Cao Bá Quát được người đời truyền tụng là “Văn như Siêu Quát, vô tiền Hán”) . 

Khi nhắc tới Ải Nam Quan, Phương Đình Địa Dư Chí có xác nhận sự hiện diện của Ngưỡng Đức Đài và viết thêm : "Khi trước (đài này) lợp cỏ, năm thứ 34 niên hiệu Cảnh Hưng, quan đốc trấn là Nguyễn Trọng Đang sửa lại, có văn bia như sau : Đài (Ngưỡng Đức Đài) có quán hai bên tả hữu lợp bằng cỏ, sửa chữa qua loa, vẫn theo như cũ. Nhà Lê Trung Hưng đời thứ 14, vua ta kỷ nguyên năm thứ 41 là năm Canh Tý, ngang với năm thứ 44 niên hiệu Càn Long nước Thanh. Đang tôi (tức ông Nguyễn Trọng Đang) làm giữ chức Đốc trấn qua năm năm là năm Giáp Thìn, sửa chữa lại, đổi dùng gạch ngói, đài mới có vẻ hoành tráng...”

Như vậy, cả hai bộ cổ sử Đại Nam Nhất Thống Chí và Phương Đình Địa Dư Chí đều xác nhận Ải Nam Quan là một kiến trúc gồm hai phần :
- Phần thứ nhất: Gồm Chiêu Đức Đài và các cơ sở phụ thuộc nằm ở phía bắc ải do người Trung Hoa xây dựng và làm chủ.

- Phần thứ hai: Gồm Ngưỡng Đức Đài và hai hành lang tả hữu do triều đình Việt Nam xây dựng và làm chủ.

Xin nhấn mạnh thêm rằng: hai tên gọi Chiêu Đức Đài và Ngưỡng Đức Đài cũng đủ làm nổi bật sự gắn bó của hai phần kiến trúc tạo thành Ải Nam Quan. Nói cách khác, Ngưỡng Đức Đài trong Ải Nam Quan là của Việt Nam. (Tên gọi Ngưỡng Đức Đài còn ngầm nói lên thái độ trịch thượng của triều đình Trung Hoa đối với Việt Nam). Mặc dầu vậy, ông Tú Gàn vẫn khăng khăng xác định "Ải đó của Trung Hoa". Xác định kia hiển nhiên là một sai lầm đối với lịch sử.

2.) Sai Lầm Thực Tiễn
Ngày 28 tháng Giêng năm 2002 ông Lê Công Phụng thứ trưởng bộ ngoại giao CSVN, trong một cuộc phỏng vấn có chuẩn bị trước đã cho báo chí biết : "tại bắc Trung Quốc, cửa khẩu Bắc Luân gồm hai cửa: Một cửa nằm trên lãnh thổ Trung Quốc, cửa kia nằm trên lãnh thổ nước láng giềng". 

Thực tiễn này minh chứng Ải Nam Quan gồm hai cửa: Cửa Chiêu Đức Đài và cửa Ngưỡng Đức Đài chỉ là một sự việc rất bình thường, một tập quán có thật nằm trên biên giới Trung Hoa và các nước láng giềng.

Trên Việt Báo Online (24/1/2002), trong bài Vấn Đề Cộng Sản Bán Nước Và Chiến Lược Đấu Tranh, Dương Thái Sơn viết: Theo nhà văn Hoàng Tiến ( hiện còn sống ở trong nước) thì vào năm 1954 hai bên ải có quân đội hai nước canh gác, nhưng về sau, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng) cho dân tràn lấn qua xây cất nhà cửa phía bên lãnh thổ Việt Nam viện lý do dân- chúng-mới-tràn-lấn muốn thuộc quyền hành chánh của họ, Trung Quốc xem đất đó là đất của họ. Thực tiễn này cho thấy Ải Nam Quan có hai cửa ải thông qua sự hiện diện của quân đội Trung Quốc và CS Việt Nam ở hai bên ải.

Báo Thời Luận (Los Angeles) số Tân Xuân Nhâm Ngọ 2002 trang 5, sử gia Trần Gia Phụng xác nhận : "Nhạn Môn Quan là cửa ải cực Bắc Trung Hoa. Mỗi lần sứ quan một trong hai nước bước qua cửa ải là tiến vào địa phận nước bên kia". Thực tiễn này khẳng định sự việc Lê Công Phụng - thứ trưởng ngoại giao của CSVN - cho rằng mục Nam Quan là của Trung Quốc và mục Nam Quan nằm cách biên giới Việt Hoa 200 m là điều phi lý. Nó là bằng chứng cho thấy ít ra CSVN đã dâng cho Trung Quốc phần đất 200 m trước Ải Nam Quan, bất kể những xác định của lịch sử về đường biên giới Việt Hoa.

3. Sai Lầm Lý Luận
a.) Sai lầm lý luận giải thích tiếng Việt: vẫn trong bài viết có tựa đề "Một Chuyến Đi Nam Quan", ông Tú Gàn cho rằng sở dĩ người Việt Nam quả quyết ải Nam Quan thuộc Việt Nam là vì họ tin vào một câu viết trong sách giáo khoa ngày xưa: "Nước Việt Nam ta hình chữ S, chạy dài từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau". Nhằm chỉ trích quả quyết vừa kể, ông Tú Gàn đề nghị sửa câu viết trong sách giáo khoa đó như sau: "Nước Việt Nam hình chữ S kéo dài từ Đồng Văn tới mũi Cà Mau". Lý do: Đồng Văn mới đích thực là một địa danh ở cực Bắc của Việt Nam, nó cách ải Nam Quan 180 km.

Muốn tìm hiểu ý nghĩa đích thực của một câu văn, nhiều khi chúng ta không thể chỉ đơn giản khảo sát những từ ngữ xuất hiện trong câu văn đó. Chúng ta còn phải tìm hiểu xem câu văn đóù nhằm tác động vào thành phần độc giả nào ? "Ý tại ngôn ngoại" của nó là gì ? Dĩ nhiên mọi người Việt Nam nhất là những người Việt Nam viết sách giáo khoa địa lý đều thừa biết đâu là Đồng Văn, đâu là ải Nam Quan. Đừng quên rằng câu văn: "Nước Việt Nam ta hình chữ S ..." chỉ là lời văn diễn tả hình thể nước Việt Nam một cách ngắn gọn, tổng quát và nhất là có chủ ý giúp cho học trò nhỏ dễ nhớ. 

Vì vậy câu văn đối tượng của cuộc tranh cãi cần được hiểu rằng "Nước Việt Nam ta hình chữ S, chạy dài từ biên giới Việt Hoa tới mũi Cà Mau". Tuy nhiên, trên biên giới Việt Hoa, ải Nam Quan là địa danh nổi tiếng nhất, quan trọng nhất vì vậy sách giáo khoa địa lý mới viết : "Nước Việt Nam ta hình chữ S chạy dài từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau". Đó là cách giải thích tiếng Việt linh động và thông minh mà bất kỳ người Việt Nam bình thường nào cũng có thể hiểu được.

Căn cứ vào những giải thích lệch lạc về Việt ngữ của mình, Tú Gàn không ngần ngại kết luận rằng : "Nước Việt Nam hình chữ S chạy dài từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau" là câu "kinh Coran" sai lầm, rằng ải Nam Quan không thuộc về Việt Nam, và rằng những người chống cộng là "các tín đồ chống cộng không bao giờ muốn chấp nhận sự thực". Các lời lẽ vừa trích dẫn của Tú Gàn có ngụ ý miệt thị và chế diễu tín đồ và tín ngưỡng của mọi tôn giáo. Vấn đề không là chống cộng theo tinh thần của tín đồ hay tinh thần vô tôn giáo. Vấn đề chính là chống cộng đồng nghĩa với ái quốc, đồng nghĩa với nghĩa vụ đấu tranh cho công bằng và lẽ phải, cho sự hanh thông của lịch sử Việt Nam.

b) Sai Lầm Lý Luận Pháp Lý:
* Sai lầm phương pháp dẫn chứng : Nhằm giải quyết vấn đề Việt Cộng dâng đất cho Trung Cộng, Tú Gàn chủ trương "chúng ta kiện cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh về việc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam" Tuy nhiên, theo Tú Gàn, muốn kiện chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc không được dẫn chứng bằng những tin tức "nghe nói" tức là "tin tức hearsay".
Lịch sử có trước khi loài người có chữ viết, trước khi loài người sáng chế ra giấy mực. Vì vậy đối với những tranh chấp có liên hệ đến di tích lịch sử như những tranh chấp về lãnh thổ, con người không thể cứng rắn loại bỏ mọi loại bằng chứng có tính hearsay. 

Vì lý do đó, bên cạnh nguyên tắc loại bỏ hearsay, luật pháp còn chấp nhận nguyên tắc "circumstantial evidence". Nguyên tắc này cho phép thẩm phán hoặc bồi thẩm đoàn được quyền tuyển chọn bằng chứng từ phương pháp suy diễn. Nói tới hearsay nhưng tảng lờ circumstantial evidence chỉ là nói lên một nửa sự thực. Một nửa cái bánh mì là nửa cái bánh mì, nhưng một nửa sự thực không là một nửa sự thực. Nó chính là một dối gạt toàn phần.

Mặt khác Tú Gàn mạnh mẽ đề cao nguyên tắc phủ nhận hearsay như một quyết tâm làm cho vụ kiện Việt Cộng bán nước được diễn ra trên căn bản "dựa vào các sự kiện lịch sử và các nguyên tắc của quốc tế công pháp" (Bạch Thư Về Biên Giới). Thế nhưng trong suốt bài viết "Một Chuyến Đi Nam Quan", Tú Gàn chỉ nói đến cột mốc số 0 một cách lơ mơ. Vấn đề không là tên gọi của cột mốc mà là tọa độ của mỗi cột mốc. Tọa độ đó sai biệt như thế nào so với những cột mốc trong hiệp ước Thiên Tân giữa Pháp và Trung Hoa 1887 - 1895 ?

 Thảo luận về vị trí những cột mốc trên biên giới Việt Hoa nhưng không hề đề cập đến tọa độ của chúng chẳng khác nào viết một cáo trạng dài lê thê nhưng không hề xác định căn cước của phạm nhân. Chưa hết, mặc dầu không tiếc lời chê trách những người lý luận theo hearsay, nhưng chính Tú Gàn trong toàn bộ bài viết "Một Chuyến Đi Nam Quan" lại chỉ viết theo kiểu hearsay khi Tú Gàn ghi nhận chuyến đi thăm Việt Nam của "một vài người Việt ở Nam Cali", nhóm người này không tên họ, không tuổi tác, không căn cước.

Nhìn chung lại những cột mốc không tọa độ cộng với vài ý kiến của một số du khách vô danh đã là nền tảng lý luận trong các bài viết được Tú Gàn gọi là đi tìm "một giải pháp hợp lý và công bằng cho vấn đề lãnh thổ và lãnh hải".

* Sai lầm về nghĩa vụ dẫn chứng: Tú Gàn xác quyết "có trong tay bằng chứng mới kiện cáo được" (Bạch Thư Về Biên Giới). Nói tới bằng chứng tức là nói tới nghĩa vụ dẫn chứng. Dưới chế độ tự do dân chủ, nghĩa vụ dẫn chứng được giải thích chặt chẽ trên nguyên tắc rằng: trước tòa án nhà cầm quyền bao giờ cũng có ưu thế hơn cá nhân công dân. 

 Vì vậy, nghĩa vụ dẫn chứng được chế độ tự do dân chủ qui định trong hai trường hợp như sau :
- Trường hợp một: cá nhân công dân bị truy tố ra trước tòa án về một hành động phạm pháp. Trong trường hợp này, nhà cầm quyền, cụ thể là cơ quan công tố, chứ không phải phạm nhân, có nghĩa vụ dẫn chứng rằng nghi can đã phạm pháp.
- Trường hợp hai: cá nhân công dân khiếu tố nhà cầm quyền về một vụ việc phạm pháp nào đó. Trong trường hợp này, nhà cầm quyền chứ không phải cá nhân công dân có nghĩa vụ dẫn chứng rằng nhà cầm quyền vô tội.

Trở lại với vụ việc CSVN dâng đất cho Trung Quốc, người dân chỉ cần dựa vào một vài tin tức về hai hiệp ước lãnh thổ, lãnh hải giữa Việt Cộng và Trung Cộng để khiếu tố nhà cầm quyền CSVN về tội phản quốc. Đáp lại, nhà cầm quyền CSVN có nghĩa vụ chứng minh trước cơ quan xử án là họ vô tội. Bước đầu tiên của quá trình dẫn chứng này là CSVN phải phổ biến rộng rãi toàn bộ hai hiệp ước giữa Việt Cộng và Trung Cộng 1999-2000. Nếu CSVN viện dẫn lý do "bí mật quốc gia" để từ chối nghĩa vụ dẫn chứng này, người dân Việt Nam không còn chọn lựa nào khác hơn là lật đổ chế độ Cộng Sản để mở đường cho công lý đến với mọi người, mọi nhà, mọi cấp công quyền.
* Sai lầm về thẩm quyền tòa án : Xin được nhắc lại: ở đoạn cuối của "Bạch Thư Về Biên Giới", Tú Gàn quả quyết: nếu có đủ bằng chứng, "chúng ta kiện cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh về việc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam". Tác giả không nói rõ đương sự sẽ nạp đơn khiếu tố tại tòa án nào. Tuy nhiên nhóm chữ "cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh" cho thấy tòa án hữu thẩm quyền là một tòa án quốc tế nào đó. 

Hiện nay có hai tòa án quốc tế mà chúng ta cần nghĩ tới:
1. International Court of Justice: thành lập năm 1945, trực thuộc Liên Hiệp Quốc. Tòa này có thẩm quyền giải quyết mọi tranh chấp giữa các quốc gia trong hòa bình. Vụ việc Việt Cộng bán nước không hề là một tranh chấp giữa nhà cầm quyền CSVN và Trung Hoa. Vì vậy tòa án này hoàn toàn vô thẩm quyền.

2. International Criminal Court: sẽ hoạt động kể từ tháng 7 năm 2002. Tòa án này chỉ xét xử bốn tội: diệt chủng, chống nhân loại, tội ác chiến tranh, tội xâm lăng. Tội bán nước của Việt Cộng không là một trong bốn tội danh kể trên. 

Vì vậy International Criminal Court hoàn toàn vô thẩm quyền đối với hành động phản quốc của Việt Cộng.

Các trình bày tổng quát về tòa án quốc tế cho chúng ta thấy Tú Gàn sẽ cầm lá đơn "kiện cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh" đi khắp thế giới để cuối cùng không tìm ra được một tòa án hữu thẩm quyền nào. Bài viết này chỉ đặt vấn đề thẩm quyền của tòa án, chưa thảo luận đến tư cách của nguyên đơn cùng các giải pháp pháp lý cần thiết.
Nói tóm lại, các bài viết của Tú Gàn về vấn đề lãnh thổ và lãnh hải giữa Việt Nam và Trung Quốc đã hàm chứa ba sai lầm căn bản:
- Sai lầm lịch sử
- Sai lầm thực tiễn
- Sai lầm pháp lý
Ba sai lầm đó được Tú Gàn điều chế thành chất nổ để tạo ra một quả bom. Nói tới bom tức là nói tới đặc công. Trước 1975, tại Việt Nam Cộng Hòa, nhất là tại Sài Gòn, một số cán binh Việt Cộng thường giả dạng thường dân. Họ sống trà trộn trong quần chúng. Họ nói năng và sinh hoạt như những người dân bình thường. Thế nhưng khi có cơ hội thuận tiện họ lập tức gài bom tại những địa điểm do Việt Cộng chỉ định. Mỗi tiếng bom nổ là một "tiếng cười đại thắng" của ác quỷ khủng bố. 

Ác quỷ khủng bố đó có danh hiệu là đặc công quân sự. Tại Hoa Kỳ, bom quân sự được thay thế bằng bom Tú Gàn. Bom Tú Gàn không nhằm thủ tiêu sinh mệnh của lương dân nhưng nó nhằm thủ tiêu tinh thần đoàn kết của quần chúng Việt Nam, thủ tiêu ý chí đấu tranh cho một Việt Nam tự do dân chủ. Đặc biệt trong vụ Việt Cộng dâng đất, dâng biển cho Trung Cộng, bom Tú Gàn là một loại hỏa mù. Nó cố tình làm cho người đọc khó nhận diện sự khác biệt giữa cột mốc thật và cột mốc bán nước trên biên giới Việt Hoa.

Điều đáng chú ý: Chỉ có một cột mốc nổi tiếng nhất, quan trọng nhất không thể dễ dàng dời đổi như những cột mốc vô danh khác, đó là cột mốc Ải Nam Quan.
Với mục đích bao che cho hành động bán nước của Việt Cộng, 

Tú Gàn không thể không tung vào dư luận sự ngụy biện rằng ải Nam Quan nằm sâu trong lãnh thổ Trung Hoa và hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của Trung Hoa. Từ đó ải Nam Quan không còn giá trị của một cột mốc biên giới nữa. Từ đó những cột mốc còn lại là những cột mốc biết đi. Chúng âm thầm di chuyển tùy theo ý đồ bán nước của Việt Cộng. Phải chăng đây là tất cả thâm ý của Tú Gàn khi ông này quyết tâm viết một loạt bài chứng minh ải Nam Quan là của Trung Quốc

Thâm ý đó còn là cửa ngõ giúp mọi người nhìn ra sự thực rằng bom Tú Gàn có chủ ý gây rối loạn trên địa bàn truyền thông nhằm tạo hỏa mù giúp kẻ bán nước chạy tội. Bom Tú Gàn chính là bom truyền thông. 

Tú Gàn gài bom truyền thông ở tư thế của một người giả dạng nạn nhân của Cộng Sản. Không còn nghi ngờ gì nữa, bút pháp của Tú Gàn đích thực là kỹ thuật hành động dành cho một đặc công truyền thông. 

Tuy nhiên đứng trước trình độ chính trị đã thực sự trưởng thành của đông đảo quần chúng Việt Nam, đứng trước vô số tin tức chính xác xuất phát từ những mạng lưới điện toán thế giới, bom Tú Gàn hiển nhiên không hữu hiệu. Chẳng những vậy, bom Tú Gàn còn ẩn chứa một phản tác dụng. Phản tác dụng kia chính là lời khẳng định đanh thép rằng: Tú Gàn có quyền binh vực CSVN. Đó là chân ý nghĩa của quyền tự do tư tưởng. 

Thế nhưng quyền tự do tư tưởng tuyệt nhiên không đồng nghĩa với hành động giả vờ đứng trên lập trường dân tộc để phản dân tộc, giả vờ chống cộng để kín đáo phổ biến những luận điệu có lợi cho Cộng Sản. 

Mỗi giả vờ như vậy là một tác vụ nham hiểm của đặc công truyền thông. Mỗi tiếng nổ của bom đặc công truyền thông là một thú nhận: đặc công truyền thông không thể được chấp nhận như một hình thái đấu tranh chính trị. 

Đặc công truyền thông hiển nhiên là những tên tội phạm văn hóa chuyên lén lút gây ô nhiễm môi trường truyền thông. Bọn họ là thành phần nội thù khó nhận diện nhất, nguy hiểm nhất, cần phải loại bỏ ở mức độ triệt để và khẩn cấp nhất.
Đỗ Thái Nhiên
__._,_.__




*X( angry

ẢI NAM QUAN NGÀY XƯA CỦA CHA ÔNG NƯỚC VIỆT KHÔNG CÒN NỮA


LGT: Những bức ảnh của tác giả Chân Mây trong tập ảnh "Ô Nhục Ải Nam Quan" là những tài liệu lịch sử vô cùng giá trị. Chúng nói lên sự bán nước trắng trợn của chế độ cộng sản Việt Nam.

Xem hình mà bồi hồi, quặn thắt, một nỗi ray rứt thức dậy trong hồn. Cám ơn tác giả Chân Mây đã cung cấp những dữ kiện cho ngàn đời sau biết được những gì xẩy ra cho dân tộc hôm nay, để không quên tội ác của tập đoàn Việt gian phản quốc Hồ Chí Minh đối với đất nước và dân tộc.Xin trân trọng giới thiệu tập ảnh "Ô Nhục Ải Nam Quan" của tác giả Chân Mây đến cùng quý độc giả trong ngoài nước. 

Ven trời góc biển buồn chim cá
Dạn gió dày sương tủi nước non
Thượng Tân Thị

Bi thương thay cho lịch sử Việt Nam!

Từng cây số trên quê hương là từng giòng máu lệ, máu của cha ông ngăn thù và máu của hai miền huynh đệ chan hòa vào nhau trong hoan lạc dành cho Quốc tế Cộng Sản. Và đang trở về đây là những bước chân âm thầm của ngàn năm nô lệ. Kết qủa từ công cuộc nhuộm đỏ mạo danh “độc lập, tự do, hạnh phúc” theo tư tưởng Hồ Chí Minh và đồng bọn. 

Hãy tiếp tục nhìn những gì mà CSVN đang ra sức thực hiện: “Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan không thuộc lãnh thổ Việt Nam!”. Họ cố chối bỏ lịch sử Việt Nam và ra sức tranh cãi, biện luận với dân Việt thay cho Trung Cộng. Ô nhục! 

Từ quan đến quân, CSVN chỉ là một lũ tôi mọi dâng đất, dâng biển của tổ tiên cho ngoại bang bằng văn tự công hàm, hiện rõ hình hài là một bọn quái thai chưa từng có trong lịch sử nhân loại! Chấp bút cho đề tài “Ải Nam Quan”, thay vì tranh luận bằng văn chương, tôi sẽ sử dụng giá trị của những tư liệu bằng hình ảnh. Bởi vì, đã có rất nhiều nghiên cứu công phu của các tác giả yêu nước Việt nồng nàn đã là qúa đủ để khẳng định
“Ải Nam Quan là của Việt Nam! Ải Nam Quan thuộc về Trung Cộng là do sự hiến dâng của Đảng CSVN!”. 

Những hình ảnh sẽ lưu lại đây để cho con cháu chúng ta hiểu rõ hơn niềm bi thương của đất nước, chỉ cho các em bọn bán nước hiện đại là ai. Để rồi không còn ngày phải tôn thờ hỉnh Hồ-Mao và màu cờ máu chỉ còn là một kỷ niệm buồn. Rất buồn!
Hãy xác tin rằng: “Nước Việt của em từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau” là mãi mãi! 

Chương I 

NHỮNG HÌNH ẢNH LỊCH SỬ
Trong chương này, việc sắp đặt hình ảnh về Ải Nam Quan sẽ dựa theo sự thay đổi của lối kiến trúc v.v. mà phân chia thành các nhóm hình theo ký tự A,B,C… Để sự diễn tả rõ ràng hơn, những hình ảnh bên phía Trung Cộng (hoặc Trung Quốc theo thời đại) sẽ gọi là “Trấn Nam Quan” “Mục Nam Quan” v.v…; ngược lại, nhũng hình ảnh bên phía Việt Nam sẽ gọi là Ải Nam Quan hoặc cổng Nam Quan theo đúng tinh thần lịch sử. Phân chia như sau.
- Nhóm A: họa đồ “Trấn Nam Quan” của Trung Quốc (đánh số A1 đến A4)
- Nhóm B: có chung kiến trúc (đánh số B1 đến B4)
- Nhóm C: có chung kiến trúc (đánh số C1 đến C4)
- Nhóm D: có chung kiến trúc (đánh số D1 đến D2)
- Nhóm E: không xác định (E1 đến E3)
- Nhóm F: hình quân sự và bản đồ (đánh số F1 đến F6)
- Nhóm Phụ ảnh: Một số phụ ảnh bất định sẽ đưa trực tiếp vào nơi hình cần thêm minh họa.
Diễn tả
1, Nhóm hình A:
Trước hết, ta có hai bức họa theo lối sơn thủy về hình ảnh “Trấn Nam Quan” trong đời nhà Thanh (Trung Quốc). Niên đại của cả hai được cho rằng họa vào đời vua Ung Chính khi xảy ra cuộc chiến Trung-Pháp (1884-1885)
A1. “Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (1) Còn gọi là “Thanh Quân Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (Họa đồ bố trí phòng thủ Trấn Nam Quan của quân Thanh). Đây là bức họa các vị trí đóng quân của nhà Thanh nơi Trấn Nam Quan bên trong nội địa Trung Quốc. Địa hình đồi núi khái lược. Cổng ra vào với Ải Nam Quan của Việt Nam nằm tại cạnh phải của bức họa (có đóng khung).A2. “Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (2) 

Các vị trí đóng quân của nhà Thanh nhìn từ hướng Việt Nam. Không hiểu tại sao bố cục của bức họa này lại rất giống với bố cục trên bưu ảnh (tham khảo hình B1) do người Pháp chụp vào đầu TK20 (hoặc cuối TK19?) . Có thể bức họa này dựa theo tài liệu của người Pháp mà vẽ ra. Giá trị của bức họa này so với bưu ảnh (B1) là do sự quan sát của người Trung Quốc vào thời đại cũ nên ta thấy được kiến trúc nguyên thủy của Ải Nam Quan bên phía Việt Nam. Ta thấy có một cổng lớn, hai bên cổng là hai dãy tường thành dâng cao nhưng bị cắt ở hai bên lưng núi. Một khoảng sau cổng mới đến phần cổng có mái ngói. Từ phần cổng mái ngói này có dãy tường thành chạy dài lên đỉnh núi. Đó là phần Trung Quốc. Các điểm này tương xứng với bưu ảnh (B1).
A3. “Trấn Nam Quan Đại Chiến” Minh họa cảnh giao chiến giữa quân Pháp và quân Thanh tại cổng Nam Quan vào năm 1885. Niên đại của bức họa không rõ, nhưng ta thấy tường thành có kiến trúc giống cổng Ải Nam Quan của hình A2.
A4. “Trấn Nam Quan Đại Lâu Đồ” Mô tả cảnh quân Pháp rút quân và binh lực quân Thanh tại Trấn Nam Quan. Hãy quan sát vị trí cổng theo khung hướng dẫn trong hình.
2, Nhóm hình B:
Bưu thiếp (Carte Postale) phong cảnh Ải Nam Quan do người Pháp thực hiện vào đầu thế kỷ 20. Các nhật ấn sưu tầm được trên bưu thiếp sử dụng từ năm 1908-1912.

B1. Ải Nam Quan nhìn từ độ cao ở Đồng Đăng Vẫn dựa theo tường thành phía Việt Nam là hai đoạn ngắn nhưng phần cổng đã thay đổi thành cổng nhỏ. Phía Trung Quốc là cổng lớn và cao hơn, thiết kế hai mái ngói và tường thành chạy dài lên núi giống các bức họa đã nêu trên. Có lẽ sau giao tranh vào năm 1885. Cổng phía Việt Nam đã bị phá hủy nên được xây lại không còn qui mô như xưa.
Khoảng trống đến phần cổng phía Trung Quốc là vùng cảnh giới của hai bên vì dựa theo hình phía bên Trung Quốc ta sẽ thấy có sự đối xứng (tham khảo nhóm hình C).
Phụ ảnh: (B1) Ảnh màu để xác nhận hai phần mái ngói đỏ.

B2. Ải Nam Quan nhìn từ hướng Đồng Đăng
Ta nhận thấy sự cao thấp của hai phía cổng và cánh phải của tường thành phía Việt nam cũng dừng ở ngang núi theo như họa đồ Trung Quốc (A1). Ở góc phải phía dưới hình là một ụ trắng phủ cỏ xanh, dấu tích lô cốt của quân đội Pháp (tham khảo hình F1 sẽ thấy rõ vị trí lô cốt nhìn từ bên Trung Quốc).

B3. Bang giao tại Ải Nam Quan
Quan sát các nhân vật trong hình, ta thấy ở cạnh trái có binh lính Việt Nam đứng thành hàng dài. Giữa cổng đi ra là hàng phu khiêng kiệu đội nón vải rộng vành của quân nhà Thanh (chở quan viên?). Ở cạnh phải của hình có những người nhà Thanh đội nón và kết tóc đuôi sam. Có lẽ đang diễn ra một sự kiện nào đó trong lịch sử bang giao tại Ải Nam Quan.

B4. Cổng Ải Nam Quan Cổng đóng then gài, cỏ mọc cao ngất ngưỡng. Hoang tạnh. Trong lời nhắn trên bưu thiếp cho ta biết cổng được tu phục vào năm 1908. Nhật ấn “Lạng Sơn”. Xác nhận bờ tường thành chỉ còn dấu thang bậc đi lên để so sánh với tường thành phía bên Trung Quốc (nhóm hình C).

Phụ ảnh: Đường lên Ải Nam Quan từ Đồng Đăng


3. Nhóm hình C
C1. Trấn Nam Quan (1)
Nhìn từ bên Trung Quốc. Kiến trúc ở đây đã khác. Phần mái ngói lớn phía dưới đã mất, chỉ còn lại phần mái ngói bên trên và cấu trúc mái cũng khác. Chỉ có dãy tường thành là vẫn chạy dài lên trên. Cạnh trái trên đỉnh núi có doanh trại. Phía dưới trước mặt cổng có cụm nhà ngói. Kiến trúc thay đổi có lẽ do sự phá hủy trong cuộc “Khởi nghĩa Trấn Nam Quan” do Tôn Trung Sơn lãnh đạo vào năm 1907. Để dễ phân biệt với nhóm hình chụp từ phía Việt Nam ta sẽ quan sát thêm sự khác nhau của địa hình đồi núi.

C2. Trấn Nam Quan (2)
Mặt bằng của Trấn Nam Quan. Bờ tường thành chia theo lô khác với hình thang bậc bên phía Việt Nam. Ta thấy rõ bên phía Trung Quốc cũng có khoảng cách so với cổng lớn (Quan). Một án tường trắng đối diện cổng là theo lối phong thủy ngày xưa tránh sự dòm ngó thẳng vào nhà mình từ phía bên ngoài (ngay trong các kiến trúc cổ của Việt Nam từ đình làng đến lăng miếu ta sẽ nhận ra điểm này). Theo sử liệu Trung Cộng, cụm nhà nhỏ phía trước cổng lớn (nơi có hai nhân vật áo trắng đang đứng) là miếu thờ Quan Công gọi là Quan Đế Miếu và Đền Chiêu Trung. Sau đó vào năm 1896 trong chương trình khảo sát biên giới giữa Trung-Pháp đã xây trên nền này một văn phòng quản lý cùng với 9 điểm khác trên biên giới Trung-Việt. Năm 1914 xây lại lần hai thành kiến trúc nhà lầu kiểu Pháp nên còn gọi là “Pháp Lầu” hoặc “Pháp Quốc Lầu” vẫn còn tồn tại cho đến nay.

C3. Toàn cảnh Trấn Nam Quan
Có một khu trại và hai dãy nhà mái lá cách xa với cổng lớn ở cạnh tâm phải của hình. “Trấn Nam Quan” là đây! Khởi nghĩa Tôn Trung Sơn là đây! Khu di tích này giờ chỉ còn là ruộng nước, gọi là “khu di chỉ Trấn Nam Quan Khởi Nghĩa”. Các khung trong hình dùng để xác định vị trí so với hình C4.
C4. Trấn Nam Quan (3)
Trên bưu thiếp có tiêu đề “NAM QUAN (Chine) – Le Village” rõ ràng đây là khu làng mạc (Trấn) trong đất Trung Quốc. So sánh các khung vị trí với hình C3:
Dãy nhà lá và con đường đất ở giữa, trước mặt là cụm nhà ngói và tán cây. Ngang ở tâm trái của hình là bờ tường thành. Phía góc phải là vách núi đá (đá vôi?) trắng.
Chữ “Trấn” trong văn tự trung Quốc có rất nhiều nghĩa, như “trấn giữ”, “trấn áp”, “trấn tĩnh”, “trấn địa”…v.v. đều là chỉ việc gìn giữ, ổn định. “Trấn” còn là một đơn vị hành chính sau cấp huyện có từ thời xưa tại Trung Quốc (đơn vị hành chính Việt Nam thời xưa cũng thường sử dụng). Trong một số sử sách Việt Nam có nói “Trấn Nam Quan” nằm trong nội địa Trung Quốc. Thì đây, “Trấn Nam Quan” đã xác định là những hình này! Khối nhà lợp mái ngói ta sẽ hiểu là khu nhà quan binh, hai dãy nhà lá là khu dân cư dựa theo binh đội để có cuộc sinh hoạt yên bình. “Trấn” là khu phố nhỏ, làng mạc. Đừng làm lệch lạc lịch sử và đừng theo luận điệu của bọn bán nước mà cho rằng “Ải Nam Quan phải gọi là Bắc Quan”. 

 Chữ “Nam Quan” là do Trung Quốc kiêng kỵ Việt Nam nên không muốn gọi là “Đại Nam Quan” mà thôi. Chữ “Quan” là chiếc cổng qua lại. “Đại Nam Quan” hay “Nam Quan” là cửa ngõ giao thiệp với nước Việt Nam. Hai bên đã thủ lễ với nhau bằng khoảng trống ở hai bên cổng lớn. Theo sử liệu, sau chiến tranh Trung-Pháp thì nhà Thanh đã chiếm giữ cổng lớn và buộc phía Việt nam phải cách xa cổng là 100 thước. Việc này ta thấy tương đương với khoảng cách của hai cổng trong nhóm hình B.
4, Nhóm hình D
D1. Cổng Nam Quan (1) Đây là một kiến trúc khác hẳn so với các nhóm hình trên. Có vẻ sơ sài vì đã mất hẳn phần kiến trúc phía trên trong cuộc nội chiến tại Trung Cộng vào năm 1949. Ta thấy có dáng một nhân vật đang cầm súng. Tiêu đề trên bưu thiếp “NAM QUAN (Tonkin)…” đây là bên phía Việt Nam khi qua cổng nhỏ để đứng sát với cổng lớn (vào lúc này có lẽ kiến trúc cổng nhỏ cũng đã mất). Theo sử liệu Trung Cộng, trong cuộc giao tranh vào năm 1949 thì toàn bộ phần trên cổng đã bị phá hoại hoàn toàn (tham khảo hình E2).
D2. Cổng Nam Quan (2)
Hình đăng trên tạp chí “National Geographic” do GS Nguyễn Văn Canh đưa lên mạng và không rõ niên đại. Một số bạn nghi ngờ bức ảnh này không chính xác với hình ảnh của Ải Nam Quan. Tuy nhiên, so sánh với hình D1, ta đã thấy kiến trúc cùng kiểu của hai hình. Tại đây, dãy tường thành chạy lên cao đến vách núi trắng tương ứng với hình C3-C4, có thể xác định là hình được chụp từ cao điểm bên phía Việt Nam.

============================
 
http://images.yume.vn/blog/201202/23/1329931606-1329931293_image-large-174370zluw.jpgKHÓC NAM QUAN

Nhớ nước nhìn mây, vọng núi rừng
Tin buồn dâng đất lệ rưng rưng
Ngậm ngùi ta khóc Nam Quan ải
Em có bao giờ khóc núi sông !
Ta nhớ Nam Quan tắm máu thù
Đầu non lẽo đẽo bóng trăng thu
U hồn thấp thóang sương thu lạnh
Vó ngựa chinh nhân cát bụi mù
Ta nhớ Nam Quan nắng hạ vàng
Chiến bào nhuộm đỏ máu sài lang
Tống triều, Minh đế, Nguyên Mông cổ
Phách lạc hồn kinh hết bạo tàn
Ta khóc Nam Quan dâng hiến Tàu
Biên thùy nghi ngút chuyện thương đau
Quê người ta khóc quê hương mẹ
Năm tháng lưu vong vạn cổ sầu
TÔN THẤT XỨNG
lính thủy ,sưu tầm và minh họa.

============================

TÌM NGƯỜI THÂN VƯỢT BIÊN mất tích VÀO GIÁNG SINH 1978 /



Subject: Fwd:
nhờ phổ biến : TÌM NGƯỜI THÂN VƯỢT BIÊN mất tích VÀO GIÁNG SINH 1978 / Avis de recherche/ Missing persons
From: thugiang
Date: Thu, 20 Feb 2014 22:18:32 -0500




Kính chào quý Bác, Cô Chú, Anh Chị,


Con tên là Tuyết Thu hiện cư ngụ tại Pháp.
Con xin được phép gởi thơ này đến quý Bác, Cô Chú, Anh Chị  những mong được sự giúp đỡ của quý vị  trong việc tìm kiếm hai thân nhân thất lạc của một cô bạn thân hiện ở Việt Nam.

Cô bạn con tên là Thùy Linh đang tìm mẹ và một người chị  ruột thất lạc lúc vượt biên ở Cà Mau vào dịp giáng sinh năm 1978.
Con xin gởi đính kèm theo đây trang Thông cáo tìm thân nhân của bạn Thùy Linh.

Con xin mạn phép hỏi thăm quý Bác, Cô Chú , Anh Chị ai , đích thân hoặc có thân nhân, đã vượt biên vào thời điểm giáng sinh 1978 ở Cà mau và đã tình cờ nghe nói đến bà Nguyễn Tuyết Mai (sinh năm 1940) và con là Lương Nguyễn Thùy Dương (sinh năm 1961). 
Nếu không con cũng xin quý Bác, Cô Chú, Anh Chị, mở lòng từ bi giúp con phổ biến, chuyển tải tin tức  này một cách rộng rãi đến cho gia đình, bạn bè thân thuộc.

Biết đâu duyên lành và phước đức của quý quý Bác, Cô Chú, Anh Chị có thể đem lại niềm an lạc, hạnh phúc, cho bạn con đang khắc khoải tìm kiếm, chờ mong tin tức của mẹ và chị yêu thương !

Xin cám ơn và kính chúc quý Bác, Cô Chú, Anh Chị cùng gia quyến được nhiều phước đức và duyên an lành.

Nay kính,

Con Tuyết Thu.

 PS : Sau đây, con xin kèm thêm lá thư này, dịch bằng tiếng Pháp và  Anh.

____________________________________________________________________________________________________________________________________


.
Mesdames, Mesdemoiselles, Messieurs,


Je m'appelle Tuyêt Thu et  j'habite en France.
Je me permets de vous adresser cet appel dans l'espoir de recevoir une aide de votre part dans la recherche de deux personnes disparues qui sont la mère et la sœur d'une de mes amies les plus chères.

Mon amie s'appelle Thuy Linh. Elle a perdu contact avec sa mère et sa sœur depuis leur tentative de fuite du régime communiste par bateau à la pointe de Ca Mau, au sud du Viet Nam en 1978.
Vous trouverez ci-joint l'avis de recherche de mon amie Thuy Linh.

Si je m'adresse à vous, c'est dans l'espoir que vous-mêmes, vos proches  ou connaissances aient participé de près ou de loin à cette évasion ou entendu parler de madame  NGUYEN Tuyêt Mai (née en 1940)  et de sa fille LUONG NGUYEN Thuy Duong (née en 1961) en cette période de Noël 1978.

Sinon, je vous saurais gré de diffuser largement  mon appel.

Qui sait si votre générosité ne serait pas récompensée par une étincelle de souvenir provenant d'un de vos proches, apportant un immense bonheur à mon amie.

Merci infiniment pour votre aide,

Tuyêt Thu TRAN.


Ladies and gentlemen,

My name is Tuyêt Thu currently living in France.
 I am sending this letter to you on behalf of a closed friend Thuy Linh in Vietnam, and who is desperately searching for her mother Ms. NGUYEN Tuyêt Mai - born in 1940 and her sister  LUONG  NGUYEN Thuy Duong - born in 1961.

The last information that Thuy Linh has about her mother and her sister is they were trying to escape Vietnam by boat in Ca Mau around Christmas 1978. During that time, they went missing and Thuy Linh's family lost contact with them.
 l am attaching a notice of missing persons that I received from Thuy Linh.

I am asking any of you, who were on a boat escaping Vietnam from Ca Mau during Christmas of 1978 and happened to see, to know or has information about Ms.  NGUYEN Tuyêt Mai and Ms.  LUONG NGUYEN Thuy Duong,  please contact  Thuy Linh.

 ln case you don't have any information about them, please kindly disseminate this information widely.

Please help my friend Thuy Linh who is anxiously awaiting for news about her mother and sister.

Thank you and God bless you.

Sincerely,

Tuyêt Thu TRAN.



Friday, February 21, 2014

HÈN VỚI GIẶC ÁC VỚI DÂN


HÈN VỚI GIẶC
ÁC VỚI DÂN
Bài 2

Vẫn hèn với giặc, ác với dân!
Trẻ con bay muốn chúng ngu đần
Bỏ hết những gì là Quốc ngữ
Xây đền Khổng tử vái cho sâu!

Chúng đánh, bắt tầu nơi Hoàng Sa!
Tàu ngầm làm kiểng, đ. trưng ra
Cái giống ươn hèn toàn khoác lác
Nhục này lây mãi đến ông, cha!

Liên quốc hai trăm Khuyến Nghị dài (1)
Thuộc lòng bài bản, trả lời sai
Gần nghìn báo, đài MỘT BIÊN TẬP
Học kiểu gì đâu nói dối tài!

Xã hội nhiễu nhương đĩ, cướp đầy
Dưới trên tham nhũng - Cái mặt trây
“Nhất trí” cướp nhà dân, cướp đất
Từ thuở tạo thiên: chỉ chúng mầy! (2)

Nhớ lại Cáo Hồ hứa năm xưa
Tự Do, Hạnh phúc, Dân chủ thừa
Cáo chỉ hứa lèo, trê chui ống
Thương về 10 triệu chết đau thương! (3)
Bút Xuân Trần Hoàng Sa
(1) Cuộc kiểm điểm định kỳ phổ quát về Nhân quyền tại nước VN ngày 5-2-2014, sau đó Liên hiệp quốc hài ra 227 khuyến nghị đòi nhà cầm quyền XHCNVN  phải sửa đổi.                                                    
(2) Từ khi có nước VN tới nay chưa có chế độ chính trị nào hèn với giặc, ác với dân như Xã nghĩa của Việt cộng.
(3) Theo báo chí, tổng số nạn nhân chiến tranh tại VN là 10 triệu người. Báo chí Trung quốc nói:14. Nguyên Cải Cách Ruộng đất và thuyền nhân chết biển đã 1.5 triệu người.  







2014-02-09 14:40 GMT-08:00 But Xuan <>:
 

HÃY TRẢ LẠI TÔI

Hãy trả lại tôi Xuân Quang Trung!
Xuân nức lòng dân rất oai hùng
Xuân đuổi xâm lược Tôn sĩ Nghị
Xuân vì Quốc tổ trả thù chung

Hãy trả lại tôi Xuân Chi Lăng!
Giết tướng Lương Minh và Liễu Thăng
Trả mối hận thù dòng sông Hát (1)
Nghìn thu còn rợn sóng Bạch Đằng

Hãy trả lại tôi Hiếu, Nghĩa, Nhân
Công cha, nghĩa mẹ, đức người thân
Mác-xít tam vô vào phá nát
Cộng làm dân trí xuống ngu đần!

Hãy trả lại tôi Hoàng, Trường Sa
Quần đảo nghìn thu của nước ta
Hãy trả Nam Quan và Bản Giốc
Những gì mãi mãi của Đại La!(2)

Hãy trả lại tôi sức toàn dân
Cường bạo thay bằng Trí, Dũng, Nhân
Dân chủ, Nhân quyền là đích điểm
Tự do, Hạnh phúc mối tương thân

Hãy trả lại tôi  chủ quyền Dân
Đã bảy mươi năm tước đoạt dần
Người Việt  khổ đau, nhiều tang tóc
Mười triệu nằm xuống mối oan khiên! (3)

9-2-2014
Bút Xuân Trần Hoàng Sa
(1)Hát giang, nơi Hai Vua Trưng tự trầm
Bạch đằng giang: vua Ngô Quyền thắng quân Nam Hán
(thế kỷ thứ 10 công nguyên)
(2) tên cũ của thành Thăng Long
(3)Bốn cuộc chiến tranh Hồ gây ra giết tổng số
10 triệu dân Việt.






               Đốt Lò Hương Cũ
          
             * Bút Xuân Trần Ðình Ngọc

       
Bố tôi qua đời vì bệnh thương hàn sau cuộc Tổng khởi nghĩa của toàn dân ngày 19-8-1945 chỉ hai năm. Mẹ tôi không di cư vào Nam được là do lỗi anh trai tôi. Anh đang dự một khoá huấn luyện Sĩ quan của Quân đội Quốc gia Việt Nam (Quốc trưởng Bảo Đại) thì nổ ra vụ Hiệp định Genève 20-7-1954 ký kết giữa Pháp và Chính Phủ Việt Minh Cộng sản;  Pháp và người Quốc gia vào trong Nam để Pháp sẽ rút ra khỏi Việt Nam, Chính Phủ Cộng sản (tức Việt Minh) chiếm miền Bắc.
 Anh tôi vì còn vợ con ở quê, Trà Lũ, Nam định, anh đào ngũ trốn về làng. Lúc đó tôi đang ở Hà nội, tôi có dặn anh rằng anh về thu xếp sớm sớm đưa mẹ và gia đình anh chị cũng như gia đình các chị gái anh rể lên Hà Nội rồi cùng vào Nam vì không thể ở lại với Việt Minh Cộng Sản được dù phải bỏ lại tất cả nhà cửa, ruộng vườn gây dựng một đời người. Nhưng khi anh về tới quê, bọn du kích và cán bộ VM tại địa phương dò biết anh có ý định đem gia đình vào Nam nên chúng canh coi mẹ tôi và mọi người trong nhà rất cẩn mật, dù đi chợ, đi lễ nhà thờ chúng cũng cho người theo dõi, cuối cùng cả nhà không ai đi được. (Nếu tôi nóng lòng về đón mẹ thì cũng bị giữ lại, không đi được do chủ trương của VM là không muốn cho ai đi sợ mang tiếng với quốc tế).
 Mẹ, các anh,  các chị tôi và các cháu rất buồn rầu nhưng đành phải ở lại trong khi  ở Hà Nội, tôi mong mẹ và cả gia đình từng ngày từng giờ. Mấy chị gái và mấy anh rể cùng các con của họ là những người rất muốn di cư vào Nam  nhưng đều phải ở lại. Họ đã có khá nhiều  kinh nghiệm về cuộc sống quá gò bó với những người CS giữa thiên đàng Xã nghĩa. Họ muốn vào Nam làm lại cuộc đời nhất là lại cùng đi với tôi nhưng không sao được. Chín năm sống với VM (1945-1954) thiếu từ cái kim sợi chỉ, cây bút chì, bút mực, vài tờ giấy viết thư mà đi đã quá khổ không thể tiếp tục chịu thêm được nữa. Ấy là chưa nói một chế độ sắt máu coi con người như thú vật và chủ trương tam vô: vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo.
Thành ra, ở trong Nam, cả gia đình tôi chỉ có tôi duy nhất, đơn thương độc mã, cu ky hai mươi mốt năm với tiểu gia đình của tôi  trên miền Nam thân yêu. 
         Tôi phải trở lại thời thơ ấu một chút trước khi làm người trưởng thành. Hầu như ai trong chúng ta cũng có nhiều kỷ niệm đẹp trong thời thơ ấu.
Quê hương tôi trong thời thơ ấu chính là những con đường làng đổ sạn, đổ xi-măng chạy xuyên qua nhiều thôn xóm, chợ búa, nhà thờ, đền chùa, trường học, đình miếu...
 Quê hương là mấy hồ sen bát ngát, về mùa hè,  sen nở trắng xóa hoặc hồng rực cả mặt hồ. Không có gì thú vị bằng ngồi ở một gốc cây nhìn hồ, hưởng làn gió mát ngát hương sen, thả một con diều cho nó lên tận không trung cao tít chỉ còn nhỏ như cái bàn tay, vọng xuống tiếng sáo thanh thoát du dương.
 Quê hương cũng là ngôi trường năm gian, mỗi gian một lớp, buổi trưa tan học lũ học trò còn rủ nhau xuống bơi lội ở cái hồ lớn ngay trước trường. Quê hương là giải lụa hồng buộc trong những cái nón bài thơ của các cô thôn nữ ngây thơ, duyên dáng, tà áo tứ thân nâu non cùng với thắt lưng mớ ba mớ bảy tung bay theo gió. Quê hương là bờ tre bụi trúc nhìn đâu cũng thấy, là chiếc thuyền nan bì bõm giữa sông tràn ngập ánh trăng rằm, là tiếng hò trai gái đối đáp trong những hội xuân, hội đình. Quê hương cũng là đàn trâu, nghé, đàn bò, bê chậm chạp bước về chuồng trong tiếng chuông ru hồn của ngôi chùa làng bên...Quê hương là hết thảy những hình ảnh, mầu sắc, thanh âm thân thương đó kết thành để mỗi khi nhớ lại, ta lại thấy lòng chùng xuống nhớ nhớ, thương thương!
         Sáu tuổi, tôi được thầy tôi dắt đến ngôi trường làng xin với thầy giáo là ông hương sư Thuận cho tôi vỡ lòng. Tôi không có những cảm xúc của nhà văn Thanh Tịnh, ngày đầu ông đi học. Mãi sau này thầy giáo Thuận mới cho tôi đọc bài “Hôm nay tôi đi học” của ông Thanh Tịnh, bài in trong  sách “Quốc văn Giáo khoa thư” lớp Đồng Ấu:
         “Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường ngoằn ngoèo dài và hẹp. Con đường này tôi đã đi lại nhiều lần, nhưng lần này tôi cảm tháy xa lạ vì chính lòng tôi đã có sự thay đổi: Hôm nay tôi đi học!”
         Nhà văn Thanh Tịnh đã viết như thế và tôi được học thuộc lòng để nhớ như thế. Nhưng cái cảm giác ông Thanh Tịnh có hôm đó, với tôi lại hơi khác. Mẹ ông dắt ông đi, còn tôi là thầy tôi. Một tuần trước, thầy đã nói mẹ tôi đi chợ mua cho tôi chiếc cặp bằng da bò mầu vàng. Cái cặp có vẻ hơi to với tôi nhưng mẹ nói, cái bé thì lại bé quá. Thầy tôi bảo con chịu khó cắp cái cặp này, ít nữa lên lớp trên sách vở nhiều sẽ vừa. Bây giờ mua cái nhỏ, ít nữa lại phải sắm cái khác. Tôi nghe lời thầy, đinh ninh một ngày nào đó cái cặp này sẽ ních chặt sách vở và dụng cụ học sinh như mấy anh lớn trong trường.
         Làng, tổng tôi, trẻ con rất đông. Ngay trong xóm Ðông là xóm tôi, trẻ con cả mấy chục đứa nhưng hầu như đến trường chỉ đếm trên đầu ngón tay. Tôi nghĩ một phần vì làm nông, neo người, những cha mẹ buộc phải để con cái đi làm ruộng với mình để sinh sống. Sáu, bảy tuổi trở lên đã có thể đi chăn trâu, chăn bò, cắt cỏ, cắt rạ được rồi. Cho con đi học ắt phải mướn người, đã khó mướn lại tốn tiền. Phần khác, nhiều người chưa nhìn ra sự quan trọng của việc học. Họ nghĩ học để đọc được cái văn tự bán hay mua nhà, hay lá thư từ tỉnh gửi về, trát của quan... Thật ra, những thứ này chỉ cần nhờ một anh đọc mướn, trả ơn bằng nắm thuốc lào, vài quả dưa gang, dưa hồng cũng xong. Thành phần còn lại không thể cho con họ đi học vì nghèo.
         Tôi chỉ học ở trường làng được một niên khóa vì thầy tôi lúc đó đang sinh sống bằng nghề Ðông Y sĩ ở Hải phòng, muốn tôi ra đấy sống với thầy tôi. Lúc này tôi đã bảy tuổi, các anh chị tôi, người đã đi lấy chồng, lấy vợ ở riêng, người trọ học ở Hà Nội nên chỉ còn thầy mẹ và tôi ở trong căn nhà rộng thênh thang ở phố Cố Ðạo (Chavignon). Cũng có những tháng, mẹ tôi phải về quê để lo vụ gặt. Mẹ mướn người gặt và vò hoặc kéo đá , hong phơi thóc, đổ vào bồ vào cót xong xuôi mẹ mới trở ra Cảng với bố con tôi. Những ngày đó, tôi thường dậy sớm đun nước cho thầy tôi pha trà vì thầy tôi nghiện trà tầu đã nhiều năm, từ khi còn là thày khóa rắp ranh lều chõng đi thi Hương ở trường Nam (Nam định) hoặc trường Hà (Hà nội). Nhưng số thầy tôi lận đận, tốn bao nhiêu công học hành, dùi mài kinh sử mà chẳng được thi cho biết sức mình tới đâu. Năm thầy tôi lều chõng lên đường cũng là năm đầu người Pháp bỏ thi Hương tại Bắc Việt (1911-1912). Lúc đó thầy tôi hai mươi tuổi.
         Buổi sáng, thường tôi nghe thầy tôi lịch kịch là tôi cũng thức. Buổi tối thầy tôi bắt đi ngủ sớm nên sau một giấc dài, thật sâu, tôi nhỏm dậy dễ dàng.  Nếu tính ra cũng phải trên chín tiếng còn gì.
         Tôi rửa mặt, đánh răng xong đi nhóm cái bếp than nhỏ đã để trên một tấm ván bằng chiếc chiếu manh cho khỏi dơ nhà. Cho đỡ mỏi cẳng, tôi ngồi trên cái ghế đẩu nhỏ đóng bằng mấy miếng ván thông. Tôi đợi cho hết khói, lúc trong bếp chỉ còn ngọn lửa nhỏ len qua những cục than đen sì, tôi mới bắc cái ấm đồng lên.
 Ở thành phố, chúng tôi chỉ có nước máy, không có nước gì khác,  nên dù có muốn kiểu cách như nhà văn Nguyễn Tuân kể trong “Vang bóng một thời”,  lên ngôi chùa trên đồi cao mà xin nước giếng cũng không có. Vả lại, cầu kỳ và nhiêu khê quá, thì giờ đâu?
         Thầy tôi ngồi trên sập gụ bóng loáng, sửa soạn bộ đồ trà trong khi chờ nước.  Khi có tiếng reo nhỏ nhỏ, nước bắt đầu sủi tăm mắt cua, tôi cầm ấm rót cho thầy tôi một chén tống. Thầy tôi dùng nước đó tráng ấm và tách uống trà, mầu da chu. Chỉ mấy phút sau, nước trong ấm đồng reo to, gọi là sủi tăm mắt lá, tôi nhấc cái ấm đồng đặt lên cái đĩa gốm ngay trước mặt thầy tôi. Thầy tôi dùng nước đó pha trà. Nếu để lâu trên bếp, nước sôi sùng sục là nước sôi già, không pha trà được nữa.
         Trong giây lát, trà trong ấm đủ ngấm, thầy tôi rót trà ra cái chén tống, xong chuyên từ chén tống ra các chén quân. Ông nâng chén quân lên nhấp một hớp, đặt xuống và trao cho tôi một chén khác. Tôi giơ hai tay kính cẩn đỡ lấy và thong thả nhấp từng ngụm nhỏ trong khi vẫn đứng ở cạnh sập. Khi nào thầy tôi bảo:”Vũ ngồi xuống đó!” thì tôi mới ngồi ghé xuống phía đầu sập bên này.  Những khi mẹ tôi có mặt ở đó, mẹ tôi cũng cùng bố con tôi uống trà buổi sớm, nhưng phần đun nước bao giờ cũng dành cho tôi. Mẹ tôi ngồi phía bên này sập gụ, quay vào bộ đồ trà và bao giờ cũng hơi lùi xuống bên dưới thầy tôi nếu tính từ cái tủ chè để ở phía lưng thầy tôi.
         Thầy tôi vừa uống trà vừa chuyện trò với mẹ tôi. Thỉnh thoảng ông lại kéo cái điếu ống khảm xà cừ, cần là một gióng trúc dài, cong vút, đầu bịt bạc, bỏ một mồi thuốc vào nõ, dặt dặt đầu ngón tay giữa trên đó cho mồi thuốc nằm êm xuống, rồi vít cái cần trúc. Tôi đã sẵn sàng thanh đóm nứa lấy lửa từ cái bếp nhỏ và trao cho thầy tôi. Thầy tôi, một tay đặt ngọn lửa vào nõ, một tay giữ đầu cần trúc,  hơi ngửa người hút sòng sọc và nhả khói lên trần, thấy rõ vẻ sảng  khoái.
         Thầy tôi có hai bộ đồ trà. Bộ đồ trà dùng hằng ngày chỉ có một cái ấm, một chén tống và bốn chén quân khi chỉ có thầy mẹ tôi và tôi. Một bộ khác có hai ấm lớn hơn, hai chén tống và nhiều chén quân.
         Người Nhật gọi “trà đạo” có ý nghĩa dùng những buổi uống trà để thanh tẩy thân tâm, hướng nội, tìm ra một nhân sinh quan sâu sắc cho cuộc sống. Người Trung hoa cũng thịnh trà và các cụ Việt Nam chúng ta, các cụ nhà Nho khi xưa,  thường dùng những buổi uống trà mà luận bàn chính trị, lẽ tới lui, ứng xử, sự thành bại của các bậc anh hùng.
         Nếu thầy tôi uống một mình, thầy tôi dùng ấm độc ẩm. Khi có cả mẹ tôi, ấm song ẩm. Trên ba người, thầy tôi dùng ấm quần ẩm. Chén quân cũng tùy theo mùa mà thay đổi. Mùa hè, chén quân là những cái tách nhỏ, men trắng, vẽ hoa xanh lá cây hoặc xanh lơ, miệng hơi loe, ấm và chén tống, đĩa lót, cũng men trắng trang điểm giống như chén quân. Mùa đông, các thứ này thường là da chu hoặc mầu đậm, chén quân miệng chúm lại để giữ trà được nóng lâu.
         Sau tuần trà, tôi lấy cuốn tập do thầy tôi đóng cho bằng giấy bản mua trên các tiệm tạp hóa của Tàu, bìa bằng giấy bản bồi nhựa cậy đen nhánh, lỗ dùi tròn xuyên qua bìa và các tờ giấy để xỏ sợi giây se bằng giấy vào làm thành cuốn tập. Tôi trao cho thầy tôi để thầy viết lên đó vài câu “Tam tự kinh”, thầy tôi đọc trước cho tôi đọc theo vài, ba lần, xong thầy tôi vào phòng mặc quần áo tiếp khách để đón bệnh nhân đến xem mạch  hoặc xin thuốc từ 10 giờ sáng.
Thầy tôi làm việc từ giờ đó cho đến 1 giờ, có khi 2 giờ trưa, thầy tôi mới được nghỉ ăn trưa. Có khi thầy tôi phải đi thăm bệnh nhân tại nhà của họ vì họ bệnh quá không thể đến phòng mạch được, nhiều khi đến giờ ăn, gia đình bệnh nhân làm cơm mời thầy tôi nhưng  thầy tôi không ăn uống như vậy bao giờ. Ðói mấy ông cũng nhịn cho tới khi về nhà. Tuy nhiên, nếu gia đình bệnh nhân có việc hiếu hỉ mời thầy tôi thì thầy tôi luôn luôn chia vui sẻ buồn với họ và dù bận, ông cũng tìm cách đến với họ. Chính vì vậy mà trong những năm làm thuốc ở đây hay những nơi khác, thầy tôi được lòng quí mến cuả hầu hết mọi người.
         Mỗi buổi sáng, khi thầy tôi chuẩn bị đi tiếp khách thì tôi cũng chuẩn bị đến trường để theo học chương trình tiểu học. Mấy câu “Tam tự kinh” thầy tôi vừa cho, tôi sẽ thanh toán vào buổi tối sau khi cơm xong, cùng với những bài của nhà trường. Thành ra tôi có hai thầy giáo cùng lúc. Cô đầm Pháp ở trường dạy Pháp văn có Chính tả, Tập đọc, Tính đố, Khoa học thường thức, Sử, Địa, Bài học thuộc lòng, Chia động tự v.v...Thầy tôi dạy Hán văn và Việt ngữ, có thể dạy cho tôi đi thi Hương như thầy tôi cũng được.
Thơ Việt ngữ thầy tôi làm cả trăm bài, gửi đăng báo ở Sàigòn, Hà Nội. Cuốn Thơ đó đã thất lạc từ hồi chiến tranh.
Tôi nghĩ những gì tôi viết được ngày nay phần lớn do công sức thầy tôi chỉ bảo cho tôi từ thuở nhỏ. Và ngày nay tôi rất tin vào di truyền học (genealogy). Mẹ tôi ít học hơn thầy tôi nhiều nhưng mẹ tôi rất thông minh. Bà có trí nhớ siêu đẳng và lí luận rất thực tế. Con người tôi đã hấp thụ được cả hai cái tinh hoa của thầy và mẹ tôi.
      
Dạo đó,  ở Hải Phòng, mẹ tôi luôn luôn phải mướn  người làm, thường là một người đàn ông, và một người đàn bà, dưới sự sai phái của mẹ tôi để làm thuốc viên mà ta gọi là cao đan hoàn tán, phục vụ bệnh nhân. Người đàn ông đứng trên cái “tầu tán thuốc” nhiều giờ trong ngày để tán ra thành bột thật nhuyễn các vị thuốc thầy tôi đã bốc, người đàn bà ngào mật hoặc mật ong đun sôi, sau đó mẹ tôi trộn bột thuốc với mật đặt trong cối đá giã cho hợp chất dẻo và nhuyễn xong viên thành viên tùy theo to nhỏ, bỏ vào hộp riêng từng loại, đã dán nhãn.
         Nếu muốn bán nhiều hơn, mẹ tôi phải mướn thêm vài người nữa nhưng thầy tôi nói, chỉ làm vừa đủ sức, không tham lam làm chi. Thứ bảy, chủ nhật, hai người làm muốn về thăm gia đình thì mẹ tôi đảm đương việc bếp núc cho bố con tôi. Mỗi buổi trưa, cơm trưa xong, mẹ tôi nghỉ một giờ, mẹ tôi cũng bắt người làm phải nghỉ cho đến lúc mẹ tôi lại bắt tay vào việc.
Cả hai thầy mẹ tôi giống tính nhau ở chỗ thương người. Chính vì vậy những người đã làm cho thầy mẹ tôi đều muốn làm mãi, không muốn nghỉ.
         Tôi nhớ “vú già”, người đàn bà rất chân chất thật thà, quê ở Ðồ sơn, đã làm cho thày mẹ tôi được khoảng bốn năm.  Vú già năm đó khoảng gần 60 tuổi nhưng còn rất khoẻ, goá chồng nhiều năm, có hai con trai và hai con gái đều đã khôn lớn. Người con trai thứ,  năm đó cưới vợ, thầy mẹ tôi cho vú nghỉ 10 ngày có lương về Ðồ sơn lo đám cưới cho con. Ngày cưới, vú già nhờ thầy mẹ tôi đứng đại diện nhà trai để đáp lễ nhà gái. Thầy tôi sẵn sàng và đám cưới đã diễn ra  rất tốt đẹp.
         Trường tôi học rất gần với nhà tôi, ra khỏi nhà, quẹo tay trái đi một đoạn khoảng hơn nửa cây số là tới. Hồi khai tâm, tôi đã được vỡ lòng bằng vần Pháp ngữ ở làng quê. Ở ngôi trường này, giữa thành phố Hải phòng, trường dành cho cả con cái người Pháp và con cái người Việt nhưng hoàn toàn dạy chương trình Pháp. Tôi vào học lớp Dự bị (Préparatoire) ở đó, miễn phí vì là trường công lập. (Sau này, cũng có thời gian thầy tôi gửi tôi vào nội trú trường Saint Joseph thì phải đóng tiền ăn, ở và tiền học.)
Nơi trường này, hầu như 80% học sinh là Pháp hoặc người nước ngoài, quốc tịch  Pháp, một số là người Hoa, người Chà và (Ấn độ), cùng người Việt với tôi chẳng có bao nhiêu.
         Lúc đó là cuối thập niên 30 mà người Pháp đã chú ý “rao giảng” tiếng nước họ, văn hóa của họ mà họ tự hào là nhất nhì thế giới. Chẳng thế mà trong một bài tập đọc dạo đó, tôi còn nhớ, tác giả bài viết rất hãnh diện dân Pháp ăn bánh mì, còn người Á châu thì “phải” ăn gạo! Cách ăn mặc, tập tục, lễ tết, truyền thống, tóm lại là văn hóa nói chung họ cũng từng điểm phân tích là họ hơn hẳn người Á châu.
         Chỉ là trường tiểu học nhưng ngôi trường này rất đồ sộ, cao ba tầng, mỗi tầng cả chục lớp, phòng giáo viên, phòng hiệu trưởng, phòng tổng giám thị, giám thị, gác dan, nhà để xe vv... trông bên ngoài bề thế như một Ðại học Viêt Nam ỏ Sàigòn sau này.
         Lớp tôi học ở tầng giữa, khi chuông báo hiệu giờ học, chúng tôi đứng xếp hàng ở chỗ chỉ định, cô đầm trẻ măng chừng hơn hai chục tuổi là cô giáo của chúng tôi đứng ở đầu hàng bên tay trái. Mỗi buổi sáng, chúng tôi chào cờ trước khi vào lớp. Cột cờ cao ngay phía trước buộc sẵn một lá cờ tam tài, khi chuẩn bị, hai học sinh lớn, một nam, một nữ đứng kế cột cờ nhìn lại chúng tôi. Khi hàng ngũ đã chỉnh tề, các giáo viên và bà Hiệu trưởng cũng đã đứng xếp hàng, ông Tổng Giám thị đứng nghiêm hô:”Chào cờ” (Salut le drapeau!) và ông bắt giọng cho mọi người hát bài quốc ca Pháp:
“Allons enfants de la patrie le jour de gloire est arrivé...”
Trong lúc đó, một học sinh đỡ lá cờ, còn học sinh kia từ từ kéo cờ lên đỉnh cột cờ là vừa hát xong bài hát. Sau đó, thầy, cô giáo lớp nào dẫn học sinh lớp ấy vào lớp. Chương trình lớp tư - là lớp tôi học - dạo đó gồm có: Tập đọc, Chính tả, Văn phạm, Tập đặt câu, Tập chia động tự, Bài học thuộc lòng, Bài học thường thức về những vật xung quanh ta (Lecon de Choses), Bốn phép tính và tính đố giản dị... Ðã quá lâu nên tôi chỉ nhớ lõm bõm có thế.            
        Lớp tôi chỉ có hai  trò Việt, Nguyễn Kim Vân và tôi. Kim Vân ngồi bàn trước, tôi bàn sau tuy nhiên chúng tôi ít dám nói chuyện với nhau vì cô giáo rất nghiêm. Nói chuyện cô bắt được cô bắt quì cạnh bảng nhìn xuống dưới. Cô nhìn đồng hồ không sai một giây, quì 15 phút là y boong 15 phút, nửa giờ là đúng nửa giờ. Trường Pháp dạo đó cũng không cho đánh học sinh. Bắt quì, bắt đứng riêng vào khu “tội phạm” lúc chào cờ để cả trường thấy mặt cho xấu hổ, phê điểm xấu vv...và cuối cùng thì gọi phụ huynh học sinh đến: đuổi khỏi trường.
         Lớp tôi cũng còn một học sinh người Chà và ba học sinh Tàu, hai trai một gái.  Anh Chà “Hynos” - tên loại thuốc đánh răng có in hình anh Chà với hàm răng trắng nhởn sau này - có vẻ cô độc thật sự. Giờ ra chơi, hắn chỉ đứng lủi thủi một góc sân nhìn mọi người và quả như những gì tôi biết về những anh “Sét-ti” Chà zà sau này, cái đức tính tần tiện có lẽ Chà zà bắt nhất thế giới. Cả niên khóa, tôi chưa hề thấy anh Chà đồng song ăn một cục kẹo làm phép. Nước đá không mua dù trời nóng đổ mồ hôi, kẹo bột, kẹo gừng, một chinh 5 cái. Kẹo bạc hà, súc-cù-là chính gốc Paris, một xu một thỏi, rồi còn các thứ quà bánh khác: bánh mì jambon, bánh mì trứng chiên, croissant, cà-phê sữa, kem cây, các thứ trái cây vặt vãnh... bán đầy ở lối vào trường. Các giáo viên cũng là những khách hàng trung thành. Họ mua cà-phê, sữa, croissant ăn trong giờ ra chơi và lúc đó, thuốc lá chưa cấm ở những nơi công cộng nên đôi khi tôi phải vào gặp giáo viên hay bà Hiệu trưởng, tôi thấy phòng giáo viên khói thuốc bay mù mịt.
         Dĩ nhiên cả trường dùng tiếng Pháp để trao đổi, chuyện trò. Những người bán hàng cũng phải biết chút ít tiếng Pháp để thối tiền, hỏi han vài câu quen thuộc, giản dị.
         Từ nhà tôi đến trường phải đi qua nhà Kim Vân, đến nhà Kim Vân coi như đã được một nửa. Kim Vân là con thứ ba ông bà phán Quế, trên Kim Vân có hai anh Huy Phúc và Huy Phong, sau Kim Vân là cô con gái út, Ngân Hà. Ông phán Quế làm việc ở tòa Công sứ Pháp Hải phòng, hai ông bà và gia đình là bệnh nhân của thầy tôi từ hồi thầy tôi mới đến Phố Chavignon này mở phòng mạch Ðông Y.
         Mỗi buổi sáng, ra khỏi nhà đi được một quãng ngắn, từ đàng xa, tôi đã nhìn thấy cái áo đầm xanh đồng phục, áo sơ-mi trắng, mái tóc đen nhánh có cái nơ tím làm dáng và đôi giầy bata trắng quen thuộc. Ðó là cô bạn nhỏ xinh xắn của tôi, Kim Vân. Một tay buông thõng đu đưa theo nhịp chân, tay kia cắp chiếc cặp da, chưa đến gần mà tôi đã thấy nụ cười thật tươi trên đôi môi hồng.
         “Vân chờ Vũ lâu chưa?” Tôi mau mắn hỏi trước.
         “Năm phút. Vân mới ra đây thôi.”
         Chúng tôi song song bước. Hai bên đường, học sinh trai, gái đến trường như chúng tôi đông nườm nượp. Con trai như tôi thì áo sơ-mi trắng, dài tay mùa Đông, ngắn tay mùa hè; quần dài mầu tím than mùa Đông, quần soọc tím than mùa hè, chân đi săng-đan hoặc giầy bata, đầu trần hoặc có cái mũ vải khi quá nắng. Lúc đó tôi không đeo thắt lưng nhưng có giây bretelles đeo lên vai. Áo đầm con gái có khi cũng có giây đeo lên vai trông rất chân phương, con nít.
Tất cả học sinh đều đổ vào con đường Maréchal Joffre vì trường chúng tôi ở đó.
       Tôi với Kim Vân không học suốt với nhau những năm Tiểu học vì có năm thầy tôi bảo tôi về quê Trà Lũ sống với mẹ, tôi lại ghi danh học trường làng, trường Trà Bắc, rồi khi tôi trở ra Hải Phòng, lại gặp lại Vân. Nói làm sao cho hết niềm vui của Vân khi gặp lại tôi! Đã hơn nửa thế kỷ mà làm như hình dáng, khuôn mặt, giọng nói và nhất là đôi mắt đen láy, trong sáng của Vân vẫn y như ngày nào trước mắt, bên tai tôi.

Tôi còn có nhiều kỷ niệm với Vân, gặp lại Vân khi gia đình Vân đi tản cư, rồi về Hà Nội, tôi sẽ kể quí bạn nghe khi có dịp thuận tiện.


Một kỷ niệm tôi đã có với thầy tôi mà tôi nghĩ là quan trọng hơn hết đó là chỉ sau 19-8-1945 một, vài ngày (tôi không nhớ rõ) ông Hồ chí Minh từ Hà Nội xuống Cảng thăm đồng bào Cảng. Không nói ai cũng rõ ông được đón tiếp long trọng như thế nào bởi Việt Minh tuyên truyền ông Hồ là người anh hùng duy nhất đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp đem lại Độc lập cho nước Việt Nam mà người Việt mình lúc đó nghe hai tiếng Độc Lập thì như kẻ chết khát thấy mưa rào.
Buổi đón tiếp ông Hồ tại mặt tiền Nhà hát lớn thành phố Hải Phòng rất đông, ước chừng cả trăm ngàn người. Thầy tôi cùng tôi đi coi vì tôi cứ nằn nì thầy đi chứ thầy không muốn đi. 

Sau khi ông Hồ đọc diễn văn, thầy tôi cùng tôi ra về trước mọi người vì thầy tôi và tôi chỉ đứng xa xa. Thầy tôi bảo tôi, điều mà tôi còn nhớ suốt đời và cũng chính vì những lời khuyên này mà tôi không bị mất cả cuộc đời như nhiều triệu người theo Việt Minh:
“Thầy biết ông Hồ chí Minh này khi thầy còn ở Côn Minh và Vân Nam bên Tàu. Ông này là một kẻ gian hùng, ác độc, giết người không gớm tay. Ông ta đã giết nhiều chiến sĩ Quốc gia, những người không cùng chính kiến với ông ta hoặc báo cho Pháp bắt những người này.. Được Cộng sản Quốc tế huấn luyện, ông ta và thuộc hạ rất khéo tuyên truyền khiến cả nước tin theo đi làm bia đỡ đạn cho Việt Minh. Nhưng sau này ông ta sẽ phản bội lời hứa, phản bội đồng bào, có thể ông ta sẽ bán nước cho ngoại bang nữa. Bây giờ hoan hô lắm, sau này càng đả đảo nhiều vì những điều ông ta hứa hẹn chỉ là bánh vẽ, bịp bợm nhân dân để củng cố địa vị của ông ta. Con chớ đi theo ông ta kẻo sau này ân hận. Con phải nhớ lời thầy!”

Tôi vâng dạ cho thầy tôi vui lòng nhưng trong thâm tâm tôi thắc mắc, sao một người anh hùng không vợ không con (như ời VM tuyên truyền), ăn uống đạm bạc rau giưa, lúc nào cũng thấy mặc chỉ một bộ đồ vàng kaki bốn túi, hút thuốc lá Cẩm Lệ, suốt đời hi sinh cho cách mạng mà lại có thể như lời thầy tôi nói?
Tôi biết thầy tôi xưa nay nói đâu trúng đó vì thầy tôi học và chiêm nghiệm nhiều, đã qua cả Tàu, Nhật trong phong trào Đông Du của cụ Phan bội Châu, thầy tôi cũng trọng sự công bình không phải tự nhiên thầy tôi đổ tiếng xấu cho ông Hồ đang khi gần như toàn dân coi ông ta như một ông thánh cứu nhân độ thế, mang lại vinh quang cho dân tộc.

Kể từ đó tôi luôn luôn ghi nhớ lời thầy tôi, tôi chiêm ngắm thời sự xem mọi sự có xẩy ra như lời thầy tôi nói với tôi năm 1945 không và cho tới nay thì mọi sự đã xẩy ra y như lời thầy tôi nói. Ông Hồ và thủ hạ của ông đã giết người như ngoé. Cả trực tiếp và gián tiếp, đảng VM đã giết hơn 10 triệu người Việt Nam, rất nhiều nhà trí thức tinh hoa của dân tộc un đúc lâu đời, Việt Minh làm tan hoang cả một đất nước tươi đẹp với truyền thống Văn hoá và Đạo lý ngàn đời. Nhưng cái tồi tệ nhất mà người Quốc gia mới biết ít năm nay thôi (Việt cộng cố giấu nhẹm) là cái Công hàm do Việt gian Phạm văn Đồng ký ngày 14-9-1958, Việt gian Hồ chí Minh ra lệnh cho Đồng ký để dâng biển và hai đảo Hoàng, Trường Sa cho kẻ thù truyền kiếp và cả ải Nam Quan, thác Bản Giốc cùng hàng chục nghìn km vuông!
Thầy tôi tiên tri đã quá đúng! Tôi xin lấy danh dự mà nói sự thực như thế trước linh vị thầy tôi!

   Bút Xuân Trần Đình Ngọc






2014-02-09 12:10 GMT-08:00 nguyenkimluan . <>:

---------- Forwarded message ----------
From: nguyen kimluan <
Date: 2014-02-09
Subject: Tô Hải : Sắp được làm chủ rồi, Ới 90 triệu dân ta ơi !
To: luan nguyen <>




Nhật ký mở lần thứ 76
(mồng 7 Tết Giáp Ngọ)

SẤP ĐƯỢC LÀM CHỦ RỒI, ỚI 90 TRIỆU DÂN TA ƠI !

Một phái đoàn gồm 23 đại diện cho cái bộ máy khổng lồ diệt hết kẻ thù của giai cấp cầm quyền, bỏ tù hết những ai không chịu có chung một ý nghĩ: ”dạ! thưa các ông muôn năm đúng! ”vừa có những lời tuyên bố cực kỳ hay ho trước toàn thể loài người tại Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc

Mặc cho khắp nơi, khắp chốn đều vang lên lời mỉa mai, chửi bới và gán cho chúng đủ mọi thứ tội bẩn thỉu nhất trên đời như: Một “chính phủ nói dối như hát hay”. . , “lấy lừa bịp là quốc sách” hoặc “chính phủ VN nói có thành không nói không thành có”


Mặc cho những lời chất vấn cụ thể về những hành đông vi phạm nhân quyền, với những tên tuổi luật sư, nhà văn nhà báo, trí thức cụ thể, …

Mặc cho nỗi nhục bị hơn 10 đạị biểu các nước kết tội xâm phạm nhân quyền, và nhục nhất là: bị đại biểu Myanmar, nổi tiếng về quân phiệt một thời, chất vấn và khuyên nhủ nên thực thi nhân quyền ở ngay cái xứ, mà ông thủ tướng các ông đã từng khuyên họ nên mở rộng dân chủ ….
Mấy con vẹt được bơm cho nói trước cả tỷ người trên thế giới đấy có biết không?
Và đây: dù chỉ phát biểu có 65 giây, Đại diện đoàn Hoa Kỳ, đã bắt các vị trong Vương Triều Việt phải lo sốt vó cả năm tới chứ chẳng chơi đâu!

Đối với riêng mình thì:

1-Đây là lần đầu tiên một bản báo cáo đọc bằng tiếng Anh (dù có người còn cho rằng tiếng Anh hạng bét làm xấu mặt các em học sinh cấp III) do một đại diện chính thức của một chính phủ do Đảng cầm quyền đã xét duyệt kỹ càng trước khi công khai hứa (dù là hứa hão đi) trước Liên Hiệp Quốc. Những điều mà nếu sẽ được thực thi đúng như thế, thì trên cái đất bị cai trị bởi mấy đời vua quan cực quyền này sẽ chẳng mấy chốc được trở thành công dân như mọi nước trên thế giới! Hết cái cảnh thần dân-vua chúa hết cái cảnh nô lệ và chủ chăn!

2-Lời nói lần này gió không thể bay được vì chỉ trong có chốc lát nó đã được ghi âm, ghi hình lan tỏa khắp hoàn cầu và có cả trong tay một blogger 88 tuổi rất i-tờ về internet như mình! .
3-Muốn hay không muốn, rõ ràng các nhà độc tài đảng-quân-tài-phiệt lần này cũng đành vớt vát tí chút chiếu cố của cộng đồng thế giới nên hết mị dân, mị quan nay lại. . . mị đến cả hơn 180 nước không chấp nhận cái tà đạo Mác-Lê của mình!

Chỉ nghe mấy câu mị toàn thế giới này thì đủ biết bàn tay cầm kiếm và lá chắn của họ đã có mòi…run sợ.! Tính chất xấc xược kiêu binh cộng sản lần này đã được cất giấu đi khá là…lộ liễu (y hệt bài chúc Tết đầu năm của Chủ tịch nước:”Tôi kêu gọi đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước đoàn kết một lòng, đồng tâm hiệp lực, đem tất cả tinh thần và sức lực, trí tuệ và tài năng, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, thực hành dân chủ rộng rãi với tư tưởng pháp quyền tiến bộ, tiếp tục đưa đất nước tiến lên…. Không có một lần nhắc tới bác Hồ, quên luôn xây dựng CNXH mà là “dân chủ pháp quyền tiến bộ” (1 cụm từ mới toanh!)

Chuyện thay đổi “ tông” nay rõ ràng là xuất hiện từ thông điệp đầu năm của quan Tể Tướng, trong các bài phát biểu của các vị đại thần trẻ có, già có …. Tuy đôi lúc còn “ông nói gà bà nói vịt” nhưng nhìn chung là có lợi cho dân lành. Ít người bị “nhập kho” hơn tuy còn một vài “quần chúng tự phát không quân phục” vẫn uýnh người yêu nước không đúng yêu cầu của các Đại Vương của họ đến gẫy xương sườn, hộc máu mồm máu mũi…

Tại lần UPR này trước Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, phái đoàn hùng hậu đủ các thứ Bộ bị, được học tập kỹ càng trước khi lên đường cũng khá là. . . ”mềm dẻo, khôn khéo” khác thường:

Trong bản báo cáo dài 20 trang cái cát-xét số 1, thứ trưởng Bộ Ngoại Giao Hà Kim Ngọc đã đọc một bài học thuộc lòng với tư tưởng chỉ đạo cốt lõi là như sau:

'Ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là phát triển kinh tế-xã hội, kiện toàn hệ thống pháp luật, bảo vệ quyền con người và xây dựng nhà nước pháp quyền'

Ông Hà Kim Ngọc không quên nhấn mạnh, dự thảo hiến pháp đã được gửi đến các cơ quan truyền thông đại chúng trước 10 tháng, và nhận được ''hàng triệu ý kiến góp ý'', ''toàn bộ chương II của Hiến pháp với 36 điều được dành hoàn toàn cho vấn đề nhân quyền, quyền và nghĩa vụ của công dân''.

Cát-xét thứ 2: Đại diện Bộ Tư Pháp: Việt Nam đã giảm một nửa số tội có hình phạt tử hình, từ 44 tội trong Bộ luật hình sự năm 1985, xuống còn 29 tội trong Bộ luật hình sự năm 1999, và trong Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 giảm xuống còn 22.

Cát-xét thứ 3: Đại diện Bộ Thông tin Truyền thông khẳng định: 'Quyền tự do ngôn luận, thông tin ở Việt Nam trong thời gian qua có sự cải thiện nhờ sự phát triển nhanh của Internet. Hiến pháp nêu rõ công dân có quyền tự do ngôn luận, hội họp. . . Ở Việt Nam hiện nay không có kiểm duyệt báo chí xuất bản, Internet. Các cuộc tranh luận, chất vấn diễn ra thực chất tại Quốc hội và các diễn đàn chính thức khác. Vai trò của Quốc hội được nâng cao. Hơn 3 triệu blogger còn bày tỏ chính kiến trên mạng xã hội.  

Liên quan đến vấn đề Internet, chúng tôi khẳng định Nghị định 72 không hạn chế tự do ngôn luận mà nhằm bảo vệ môi trường Internet, đối phó với các rủi ro từ việc sử dụng Internet, tạo môi trường kinh doanh minh bạch cho các doanh nghiệp, tăng cường bảo đảm thông tin trên mạng. . .

Cát-xét thứ tư: Bộ Công an cũng khẳng định: Việt Nam đảm bảo tất cả các quyền tự do ngôn luận, tôn giáo, hội họp, quyền phụ nữ, quyền trẻ em. Các điều khoản về an ninh quốc gia đưa ra những giới hạn cần thiết trên một số lĩnh vực, trong các quyền tự do ngôn luận, báo chí, lập hội, tự do tôn giáo. . . nhằm đảm bảo an ninh quốc gia, đạo đức và trật tự xã hội. Điều này phù hợp với Điều 29 Tuyên ngôn Nhân quyền.
Còn về tình trạng giam giữ người phạm tội: Năm 2011 Việt Nam đã ban hành nghị định bổ sung về chế độ ăn mặc, ở, y tế, dạy nghề cho các phạm nhân. Luật Thi hành án hình sự quy định phạm nhân được phép gặp người thân. . . . .

Cuối cùng ông cát xét thứ nhất hứa: Việt Nam đang gia nhập các công ước khác của Liên Hợp Quốc, ví dụ về cưỡng bức mất tích, tình trạng của người tị nạn, người lao động. Một lần nữa tôi xin nhấn mạnh, Việt Nam cam kết đối thoại.

Chúng tôi đang sắp xếp chuyến thăm của Đặc Phái viên về Tự do tôn giáo của Liên Hợp Quốc vào tháng 7 sắp tới, và các Đặc Phái viên về quyền của công nhân nhập cư, buôn bán trẻ em, v. v. vào thời điểm cần thiết.

Việt Nam, với tư cách thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc chia sẻ quan điểm của các nước về làm thế nào để thúc đảy và tăng cường nhân quyền.

Chúng tôi cam kết chủ động xây dựng, duy trì đối thoại, hợp tác và nghiêm túc thực hiện các nghĩa vụ của mình.

Chúng tôi đã hoàn tất ba tiếng rưỡi thảo luận hiệu quả về tăng cường nhân quyền ở VN, trong không khí tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng chủ quyền và các quyền căn bản khác theo Hiến chương LHQ.

Việt Nam sẵn sàng mở cửa cho đối thoại và hợp tác với các nước khác. Chúng tôi đánh giá cao các ý kiến đóng góp xây dựng, các ý kiến tích cực về quá trình cải thiện nhân quyền ở VN trong vòng bốn năm qua.

Nghĩa là trước thế giới, cái đoàn báo cáo về nhân quyền này đã làm được cái chuyện ”Khôn” hay “Dại” tầy trời đây?: Hứa, hứa và hứa tất cả những điều mà nếu không làm thì họ sẽ nhận những hậu quả khôn lường mà trước hết là ĐỪNG MONG THÒ MŨI VÀO TI-PI-PI! (Trans-Pacific Patenership).

Cho nên, hết chữ để nói về cái bản chất nói láo, nói dối, nói lấy được, nói cho qua của mấy ông vua cai trị xứ này, mình đành phải phát ra cái sáng kiến khác người: buộc chặt họ vào những gì họ đã tuyên bố trước thế giới mà động viên toàn dân ta cứ việc làm những cái gì họ đã nói ở kỳ UPR này!
 
Cứ tự do lập hội, Cứ tự do biểu tình, Cứ tự do viết blog, phây-búc thoải mái, bờ lốc bờ liếc đàng hoàng. In thành tờ rơi những gì họ đã hứa trước toàn thế giới…và phổ biến rộng rãi trên khắp đất nước!
  


Toàn dân nô lệ chúng ta, nhất là lớp trẻ hãy: Thuộc lòng mấy câu mà mấy cái cát xét đã phát ra vừa qua để khi có chuyện với công an thì hỏi lại: Các anh không thi hành những gì bố các anh đã hứa ở Giơ - Neo à ?…

Sáng kiến có dở hơi không các phờ-ren?

Featured Post

Tên các Quốc gia mà người Sài Gòn hay gọi trước năm 1975

https://www.facebook.com/groups/miennamvietnam/posts/1953798441526381/ https://www.facebook.com/buianhhuy095096/posts/t%C3%AAn-c%C3%A...

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List