QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Wednesday, December 10, 2014

Những suy tư về ngày 30/4 được chánh thức công nhận bằng luật pháp Canada.



Vào 02:06 Ngày 10 tháng 12 năm 2014, Nathalie Nguyen <> đã viết:

Kính cùng quý anh chị thân mến, gởi đến anh chị một chút suy tư nhân chuyến đi Ottawa Ngày Dec. 8, 2014.

Những suy tư về ngày 30/4 được chánh thức công nhận bằng luật pháp Canada.

Nguyễn Sỹ Thùy Ngân

Vô cùng tri ân Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải, người đã làm việc cho chính phủ Canada nhưng luôn đem trái tim Việt Nam ra để giúp đở và hướng dẩn cộng đồng mình làm việc ngày càng có hiệu quả hơn bằng cách vận động trực tiếp về Hành Pháp với Thượng Viện Canada.

Vì muốn biết tận tường buổi bỏ phiếu ở Thượng nghị Viện ra sao, nên vào giờ chót tôi quyết định xin theo phái đoàn do anh Phát Hội Cựu Sĩ Quan Thủ Đức hướng dẩn lên Ottawa.

Tôi được may mắn là một trong 10 người (danh sách trình lên để tham dự là 12, nhưng có 2 người bị bịnh trước khi khởi hành) đến chứng kiến cuộc bỏ phiếu tại Thượng Viện Canada ngày Dec. 8, 2014.

Có tận mắt thấy cuộc bỏ phiếu mới thấy được tấm lòng của Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải và thấy được sức mạnh của sự đồng lòng trong cộng đồng chúng ta qua việc cùng nhau gởi email thỉnh nguyện thư tới các Thượng Nghị Sĩ ở Thượng Viện. Mặc dù chỉ trong vòng thời gian rất ngắn mà email của cộng đồng Việt mình đã tràn ngập Mail Box của các Thượng Nghị Sĩ (TNS)

Các TNS ở Thượng Viện rất quan tâm khi nhận được nhiều email của chúng ta gởi đến, và đó cũng là một trong những yếu tố quan trọng để giúp cho việc vận động thông qua Bill S-219 được thuận lợi hơn.

Được biết:
Black April là cái tên được TNS Ngô Thanh Hải đề nghị từ trước nhưng đã không được thông qua, vì phần đông những TNS không rỏ ý nghĩa và cũng không thấy thoải máy khi chúng ta dùng chử Black.
Theo Thủ Tướng Harper thì  chử Black là chử rất sensitive, khuyên chúng ta nên tránh! Và ông là người đề nghị cái tên: Journey to Freedom Day (Hành trình đi tìm tự do) thì dễ hiểu và đầy đủ ý nghĩa hơn.

Và đó là lý do tại sao chúng ta có cái tên: Journey to Freedom Day.
Và cũng nhờ cái tên nầy mà đã được sự đồng cảm và ủng hộ của hầu hết các TNS ở Thượng Viện với 45 phiếu thuận của các TNS Đảng Bảo Thủ, 4 phiếu chống và 14 phiếu trắng của các TNS Đảng Tự Do và Độc lập.

Mục đích chánh của chúng ta là muốn ngày 30/4 là ngày được chính thức công nhận trong luật pháp Canada, cho nên dù tên gọi là Journey to Freedom Day hayBlack Friday mà lá Cờ Vàng được công nhận đại diện chánh thức, mới là việc chính yếu.

Xin đừng vì cái tên gọi không đúng ý mình mà bàn ra tán vào làm hoang mang dư luận, gây chia rẻ trong cộng đồng mình thì không có ích lợi gì!

Xin hãy vui mừng vì dự luật nầy đã được thông qua và hãy đón nhận cái tên do Thủ Tướng Canada đề nghị Journey to Freedom Day một cách trân quí và vì TNS Ngô Thanh Hải đã âm thầm làm việc rất tận lực mới được kết quả tốt đẹp nầy.

Xin ghi lại đây những gì đã nghe và thấy trong ngày chứng kiến cuộc bỏ phiếu tại Thượng Viện Canada ngày Dec. 8, 2014 vừa qua với lòng biết ơn vì Bill S- 219 đã đươc thông qua, nhưng khi viết lại những dòng chử nầy, sao lòng tôi thấy vẩn còn day dứt và mang nhiều suy tư khi nhớ lại lúc nhìn phái đoàn Việt 10 người, đồng loạt quấn khăn Cờ Vàng chỉnh tề, đứng từ trên cao giơ tay chào đáp lể lúc giới thiệu phái đoàn Việt Nam đến chứng kiến cuộc bỏ phiếu. Lúc đó toàn thể TNS ở Thượng Viện đã hướng về phái đoàn Việt Nam vổ tay chào đón một cách nồng nhiệt, thế mà lúc đó tôi lại thấy mắt mình…cay cay, vì sao giờ phút nầy, đứng ở nơi đây, sao chỉ có 10 người mà không là 100 người hay nhiều hơn thế nữa?

Câu hỏi nầy đã làm tôi trăn trở, cùng lúc nhớ tới lời TNS Ngô Thanh Hải đã nhắc nhở chung cho chúng ta là:
-Thấy nước(Tổ Quốc) chứ không thấy người (có cách làm khác)
Có nghĩa là chúng ta có chung cùng nhịp đập của trái tim thương yêu dân tộc và có cùng mục đích là tranh đấu cho một quê hương không Cộng Sản, nhưng mổi người chúng ta vì quá tha thiết nên có những cách đấu tranh khác biệt nên vì thế mà chưa hiểu hết nhau.
Cho nên chúng ta nên đặt lợi ích của viêc tranh đấu cho đất nước được tự do là trên hết, chứ không nên lấy sự khác biệt của cách làm việc mà cho là quan trọng để rồi dẩn đến kết quả là sự tách biệt xa rời nhau làm mất đi sức mạnh của tính đoàn kết.

Từ nay, chúng ta chỉ “thấy nước, chứ không thấy người” khi làm việc chung với nhau nhé!

Nguyễn Sỹ Thùy Ngân
Dec. 09, 2014


On Friday, March 23, 2012 7:05 PM, Phong Nguyen 

Mung Du Luat S-219 da duoc Thuong Vien Canada phe chuan ngay 08.12.2014





Theo tin mới nhận được:

Bill S-219 is recently PASSED by the Canada Senate today Dec 8, 2014. Whereas it comes into force when it receives Royal Assent, it will be cited as "The Journey to Freedom Day Act".
Dự luật S-219 vừa được Thượng Viện Canada phê chuẩn ngày hôm nay, 8 tháng Chạp 2014. Đến khi dự luật được chấp thuận bởi Nữ Hoàng, nó sẽ được gọi dưới cái tên là "Luật về Ngày Kỷ Niệm Hành Trình Đến Tự Do".
Những giọt nước mắt cảm động khi tìm được tên thân nhân tử nạn trên biển đông khắc trên bia đá

~~~~~~~~~~~~~~~~

__._,_.___




SOS ....  SOS ...   SOS...... 

CÓ AI CHẤP NHẬN KHÔNG ? DANH XƯNG NGÀY QUỐC HẬN 30/ 4 ĐÃ BỊ BIẾN MẤT 

 LÀM LỢI CHO VIÊT CỘNG LÀ ĐỒNG LÕA VỚI TỘI ÁC 

( Quốc Hận 30/4 là ngày được chính thức công nhận trong luật pháp Canada, cho nên dù tên gọi là Journey to Freedom Day hay Black Friday ... )

NHỮNG QUÂN NHÂN CÁNG CHÍNH  VNCH LÀ  JOURNEY TO FREEDOM GO TO THE HELL AT APRIL 30 / 1975

............


Những suy tư về ngày 30/4 được chánh thức công nhận bằng luật pháp Canada.

Nguyễn Sỹ Thùy Ngân

Vô cùng tri ân Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải, người đã làm việc cho chính phủ Canada nhưng luôn đem trái tim Việt Nam ra để giúp đở và hướng dẩn cộng đồng mình làm việc ngày càng có hiệu quả hơn bằng cách vận động trực tiếp về Hành Pháp với Thượng Viện Canada.
Vì muốn biết tận tường buổi bỏ phiếu ở Thượng nghị Viện ra sao, nên vào giờ chót tôi quyết định xin theo phái đoàn do anh Phát Hội Cựu Sĩ Quan Thủ Đức hướng dẩn lên Ottawa.
Tôi được may mắn là một trong 10 người (danh sách trình lên để tham dự là 12, nhưng có 2 người bị bịnh trước khi khởi hành) đến chứng kiến cuộc bỏ phiếu tại Thượng Viện Canada ngày Dec. 8, 2014.
Có tận mắt thấy cuộc bỏ phiếu mới thấy được tấm lòng của Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải và thấy được sức mạnh của sự đồng lòng trong cộng đồng chúng ta qua việc cùng nhau gởi email thỉnh nguyện thư tới các Thượng Nghị Sĩ ở Thượng Viện. Mặc dù chỉ trong vòng thời gian rất ngắn mà email của cộng đồng Việt mình đã tràn ngập Mail Box của các Thượng Nghị Sĩ (TNS)
Các TNS ở Thượng Viện rất quan tâm khi nhận được nhiều email của chúng ta gởi đến, và đó cũng là một trong những yếu tố quan trọng để giúp cho việc vận động thông qua Bill S-219 được thuận lợi hơn.
Được biết:
Black April là cái tên được TNS Ngô Thanh Hải đề nghị từ trước nhưng đã không được thông qua, vì phần đông những TNS không rỏ ý nghĩa và cũng không thấy thoải máy khi chúng ta dùng chử Black.
Theo Thủ Tướng Harper thì  chử Black là chử rất sensitive, khuyên chúng ta nên tránh! Và ông là người đề nghị cái tên: Journey to Freedom Day (Hành trình đi tìm tự do) thì dễ hiểu và đầy đủ ý nghĩa hơn.
Và đó là lý do tại sao chúng ta có cái tên: Journey to Freedom Day.
Và cũng nhờ cái tên nầy mà đã được sự đồng cảm và ủng hộ của hầu hết các TNS ở Thượng Viện với 45 phiếu thuận của các TNS Đảng Bảo Thủ, 4 phiếu chống và 14 phiếu trắng của các TNS Đảng Tự Do và Độc lập.
Mục đích chánh của chúng ta là muốn ngày 30/4 là ngày được chính thức công nhận trong luật pháp Canada, cho nên dù tên gọi là Journey to Freedom Day hayBlack Friday mà lá Cờ Vàng được công nhận đại diện chánh thức, mới là việc chính yếu.
Xin đừng vì cái tên gọi không đúng ý mình mà bàn ra tán vào làm hoang mang dư luận, gây chia rẻ trong cộng đồng mình thì không có ích lợi gì!

Xin hãy vui mừng vì dự luật nầy đã được thông qua và hãy đón nhận cái tên do Thủ Tướng Canada đề nghị Journey to 
Freedom Day một cách trân quí và vì TNS Ngô Thanh Hải đã âm thầm làm việc rất tận lực mới được kết quả tốt đẹp nầy.

Xin ghi lại đây những gì đã nghe và thấy trong ngày chứng kiến cuộc bỏ phiếu tại Thượng Viện Canada ngày Dec. 8, 2014 vừa qua với lòng biết ơn vì Bill S- 219 đã đươc thông qua, nhưng khi viết lại những dòng chử nầy, sao lòng tôi thấy vẩn còn day dứt và mang nhiều suy tư khi nhớ lại lúc nhìn phái đoàn Việt 10 người, đồng loạt quấn khăn Cờ Vàng chỉnh tề, đứng từ trên cao giơ tay chào đáp lể lúc giới thiệu phái đoàn Việt Nam đến chứng kiến cuộc bỏ phiếu. Lúc đó toàn thể TNS ở Thượng Viện đã hướng về phái đoàn Việt Nam vổ tay chào đón một cách nồng nhiệt, thế mà lúc đó tôi lại thấy mắt mình…cay cay, vì sao giờ phút nầy, đứng ở nơi đây, sao chỉ có 10 người mà không là 100 người hay nhiều hơn thế nữa?

Câu hỏi nầy đã làm tôi trăn trở, cùng lúc nhớ tới lời TNS Ngô Thanh Hải đã nhắc nhở chung cho chúng ta là:
-Thấy nước(Tổ Quốc) chứ không thấy người (có cách làm khác)
Có nghĩa là chúng ta có chung cùng nhịp đập của trái tim thương yêu dân tộc và có cùng mục đích là tranh đấu cho một quê hương không Cộng Sản, nhưng mổi người chúng ta vì quá tha thiết nên có những cách đấu tranh khác biệt nên vì thế mà chưa hiểu hết nhau.
Cho nên chúng ta nên đặt lợi ích của viêc tranh đấu cho đất nước được tự do là trên hết, chứ không nên lấy sự khác biệt của cách làm việc mà cho là quan trọng để rồi dẩn đến kết quả là sự tách biệt xa rời nhau làm mất đi sức mạnh của tính đoàn kết.

Từ nay, chúng ta chỉ “thấy nước, chứ không thấy người” khi làm việc chung với nhau nhé!

Nguyễn Sỹ Thùy Ngân
Dec. 09, 2014......

NGÀY QUỐC HẬN LÀ NGÀY QUỐC HẬN
Trần Gia Phụng


Biến cố 30-4-1975 là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Nhiều sách báo đã viết về biến cố nầy. Nhân sắp đến ngày 30-4, ở đây chỉ xin ôn lại diễn tiến trong ngày 30-4-1975 tại Sài Gòn.
1.- DIỄN TIẾN NGÀY 30-4-1975
Từ 26-4-1975, quân cộng sản bao vây Sài Gòn từ năm hướng: hướng bắc (Quân đoàn 1 CS), hướng tây bắc (QĐ 3 CS), hướng đông (QĐ 4 CS), hướng đông nam (QĐ 1 CS), hướng tây và tây nam (Đoàn 232 và SĐ 8 thuộc Quân khu 8 CS). Chiều 26-4, CS bắt đầu tấn công, đánh phá vòng đai phòng thủ bên ngoài, chiếm Long Thành, Trảng Bom, Nhơn Trạch, Bà Rịa, cắt đường số 4 từ Sài Gòn đi miền Tây.

Đối đầu với lực lượng lớn mạnh nầy, quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) bảo vệ thủ đô Sài Gòn chỉ gồm Quân đoàn III (hai sư đoàn 5 và 18), các chiến đoàn tập họp từ các sư đoàn của QĐ I và QĐ II di tản vào Sài Gòn, các lữ đoàn TQLC, Dù, các liên đoàn BĐQ, một số trung đoàn Pháo binh, Kỵ binh thiết giáp và Nghĩa quân, Địa phương quân. Các đơn vị nầy đều thiếu quân vì trước đó đã bị tấn công, phải di tản, đồng thời thiếu trang bị võ khí, đạn dược và thiếu nhiên liệu cần thiết.

Chiều 28-4, ngay sau khi cựu đại tướng Dương Văn Minh vừa nhận chức tổng thống, 5 chiếc A-37 trước đây của Không quân VNCH bị CS tịch thu, nay dưới sự hướng dân của Nguyễn Thành Trung, cựu trung úy phi công VNCH, vốn là đảng viên CS cài vào Không quân VNCH, bay đến thả bom sân bay Tân Sơn Nhứt. Tối hôm đó, CS tiếp tục pháo kích vào sân bay Tân Sơn Nhứt làm hỏng các phi đạo. Phi trường không thể sử dụng được, nên phải dùng trực thăng đề di tản.

Hôm sau 29-4, CS chiếm được các căn cứ Nước Trong, Long Bình, thành Tuy Hạ (quận Long Thành, tỉnh Biên Hòa), Đồng Dù (Củ Chi), Hậu Nghĩa. Sáng 30-4 quân CS bắt đầu tiến vào nội thành Sài Gòn. Trước sự đe dọa của CSVN, ảo vọng thương thuyết của Dương Văn Minh hoàn toàn tan vỡ. Cuối cùng, lúc 10G 24 phút sáng 30-4-1975, qua đài phát thanh Sài Gòn, Dương Văn Minh, với tư cách tổng thống tổng tư lệnh quân đội, nhận chức trước đó hai ngày, ra lệnh toàn thể quân đội VNCH ngưng chiến đấu, hạ khí giới. Sau đây là nguyên văn lời Dương Văn Minh:
“Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu của người Việt Nam. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu thì ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng, vì chúng tôi ở đây đang chờ gặp chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào.” (Trần Đông Phong, Việt Nam Cộng Hòa, 10 ngày cuối cùng, Fountain Valley, CA: Nxb. Nam Việt, 2006, tr. 358)

Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, tổng tham mưu phó quân đội VNCH, thay mặt trung tướng Vĩnh Lộc, tổng tham mưu trưởng (vắng mặt), ra lệnh cho tất cả quân nhân các cấp phải nghiêm chỉnh thi hành lệnh của tổng thống Dương Văn Minh.

Lúc 11G 30 phút ngày 30-4-1975, xe tăng của Đại đội 4, Lữ đoàn Thiết giáp 203 CS tiến vào dinh Độc Lập. Lúc đó, một số cán bộ Trung đoàn 66 thuộc Sư đoàn 304 CS, do đại úy trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ dẫn đầu, đến phòng họp dinh Độc Lập, nơi có mặt tổng thống Dương Văn Minh và nội các của thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Đại úy Thệ đã nói thẳng với Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu rằng các ông bị bắt làm tù, phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện và không có gì bàn giao cả. Sau đó, quân CS áp tải Dương Văn Minh tới đài Phát thanh để đọc lời tuyên bố đầu hàng. Tại đài phát thanh, các sĩ quan CS soạn tại chỗ lời đầu hàng, và buộc cựu đại tướng Dương Văn Minh phải đọc như sau:

“Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi quân đội Việt Nam Cộng Hòa hạ vũ khí, đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn, từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, giao toàn chính quyền từ trung ương đến địa phương lại cho chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.” (google.com.vn) (vào chữ Dương Văn Minh, tìm 30-4.)
Trước áp lực của họng súng quân thù, cựu đại tướng Dương Văn Minh đành phải đọc bản văn do CS soạn sẵn, “kêu gọi quân đội Việt Nam Cộng Hòa hạ vũ khí, đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam.” Quân đội VNCH liền ngưng chiến đấu, tự nhiên rã ngủ, trong khi còn nhiều đơn vị vẫn muốn tiếp tục chống cộng, nhất là Quân đoàn IV vẫn còn nguyên vẹn, chưa thất trận. Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn sụp đổ.

2.- NGÀY QUỐC HẬN
Thông thường, người ta tản cư hay di tản khi chiến tranh bùng nổ. Người ta bỏ chạy để tránh lửa đạn. Đàng nầy, chiến tranh chấm dứt ngày 30-4-1975, lửa đạn không còn, mà người ta bỏ chạy, chạy xa thật xa, nghĩa là người ta sợ cái gì còn hơn lửa đạn.

Ngay khi CS chiếm Sài Gòn, khoảng 150,000 người Việt bỏ ra nước ngoài, trong đó khoảng 140,000 đến Hoa Kỳ và khoảng 10,000 đến các nước khác. (Nguồn: UNHCR, The State of the World's Refugees - Fifty Years of Humanitarian Actions, ch. 4, tr. 81.) Cộng sản Việt Nam tố cáo những người di tản là tay sai đế quốc Mỹ. Theo luận điệu nầy, trưa ngày 30-4-1975, Trịnh Công Sơn lên đài phát thanh Sài Gòn phát biểu rằng: “Những kẻ ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước.” (Trích nguyên văn:http://ngoclinhvugia.wordpress.com/). Viên nhạc sĩ nầy còn hát bài “Nối vòng tay lớn”, nhưng dân chúng không chấp nhận vòng tay lớn của CS, tiếp tục ra đi dù bị kết tội “phản quốc”.

Sau ngày 30-4-1975, càng ngày càng có nhiều người kiếm cách ra nước ngoài, dầu phải hy sinh chính mạng sống của mình, tạo thành phong trào vượt biên. Theo thống kê của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc đưa ra năm 2000, từ ngày 30-4-1975 cho đến cuối năm 1995, tổng số người di tản và vượt biên đến được các trại tỵ nạn là 989,100 (gần một triệu) kể cả đường biển lẫn đường bộ. Người ta phỏng chừng có khoảng từ 400,000 đến 500,000 thuyền nhân bỏ mình trên biển cả hay bị hải tặc bắt giết. Ngoài ra, phải kể thêm số người rời Việt Nam qua các hải đảo nhưng không đậu thanh lọc và bị đuổi về nước. Nếu kể thêm chương trình ODP (Orderly Departure Program) và chương trình HO do chính phủ Hoa Kỳ tài trợ, đưa vài trăm ngàn người nữa ra nước ngoài bằng đường chính thức, thì tổng cộng tất cả các số liệu trên đây, sau khi CS chiếm miền Nam Việt Nam, trên 1,500,000 người Việt đã bỏ nước ra đi.

Đây chỉ là những người có điều kiện ra đi. Còn biết bao nhiêu người muốn ra đi mà không đi được. Nghệ sĩ TrầnVăn Trạch đã từng nói một câu bất hủ: "Ở Việt Nam hiện nay, cây cột đèn cũng muốn ra đi.”

Trước khi quân cộng sản vào Sài Gòn, nhiều chức quyền cao cấp VNCH đã di tản ra nước ngoài. Trong số các chức quyền ở lại, có phó tổng thống rồi tổng thống Trần Văn Hương. Ngày 28-4-1975, trước khi bàn giao chức vụ tổng thống cho Dương Văn Minh, đại sứ Pháp ở Sài Gòn cho người đến mời tổng thống Hương di tản. Ông Hương trả lời: “Nếu trời hại, nước tôi mất, tôi xin thề là tôi sẽ ở lại đây và mất theo nước mình.” Sau khi Trần Văn Hương giao quyền tổng thống cho Dương Văn Minh tối 28-4, thì hôm sau, ngày 29-4 đích thân đại sứ Hoa Kỳ là Graham Martin đến gặp Trần Văn Hương và mời ông ra đi. Trần Văn Hương trả lời như sau: “Thưa ông đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có một phần trách nhiệm trong đó. Nay ông đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cảm ơn ông đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ và dứt khoát ở lại với nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng cộng sản vào được Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ, nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ một phần nào niềm đau khổ tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cảm ơn ông đại sứ đã đến viếng tôi.” Sau khi nghe Trần Văn Hương trả lời, Martin nhìn trân trân vào ông Hương, rồi ra đi mà chẳng bắt tay từ biệt. (Trần Đông Phong, sđd. tt. 352-355.)

Trần Văn Hương thấy trước và nói rất đúng: “Tôi cũng dư biết rằng cộng sản vào được Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ, nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam.” Nước mất là mất tất cả. Mất tất cả các quyền tự do dân chủ, cả tôn giáo, văn hóa, mất tài sản, nhà cửa, đất đai, ruộng vườn, có người mất luôn cả thân nhân nữa. Trước ngày 30-4-1975, dầu chưa hoàn thiện, dầu bị giới hạn vì chiến tranh, chế độ Cộng hòa vẫn là chế độ tự do, dân chủ, tôn trọng dân quyền và nhân quyền.

Khi mới chiếm được miền Nam, cộng sản bắt ngay sĩ quan, công chức, cán bộ của VNCH còn lại trong nước giam giữ dài hạn, không tuyên án trên các vùng rừng thiêng nước độc. Số lượng sĩ quan, công chức và cán bộ VNCH bị bỏ tù khoảng hơn 1,000,000 người tại trên 150 trại giam; theo đó, khoảng 500,000 được thả về trong 3 tháng đầu, 200,000 bị giam từ 2 đến 4 năm, 250,000 bị giam ít nhất 5 năm, và năm 1983 (tức sau 8 năm) còn khoảng 60,000 người bị giữ lại. (Spencer C. Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, a Political, Social, and Military History, Volume Two, Santa Barbara, California, 1998, tr. 602.) 

Số liệu nầy theo dư luận chung, còn thấp hơn so với số lượng người và số năm bị thực giam. Ngoài ra, trong số trên 1,000,000 người bị tù sau năm 1975, theo những cuộc nghiên cứu ở Hoa Kỳ và Âu Châu, có khoảng 165,000 nạn nhân đã từ trần trong các trại tù "cải tạo". (Anh Do & Hieu Tran Phan, “Millions of lives changed forever with Saigon's fall”, nhật báo Orange County Register, số ngày Chủ Nhật, 29-4-2001, phụ trang đặc biệt về ngày 30-4, tt. 2-3.) Sau khi bắt giam hàng triệu công chức quân nhân trên toàn cõi miền Nam Việt Nam, cộng sản trấn áp dân chúng miền Nam bằng nhiều phương thức khác nhau:

Thực hiện chế độ hộ khẩu, ai ở đâu ở yên đó, không được di chuyển, không có quyền tự do đi lại. Muốn đi lại phải xin giấy phép khó khăn. Về kinh tế, cộng sản đổi tiền nhiều lần một cách tàn bạo. (Đổi lần đầu ngày 22-9-1975, 500 đồng VNCH lấy 1 đồng mới. Đổi lần thứ hai ngày 3-5-1978 và lần thứ ba ngày 14-9-1985.) Cộng sản tổ chức đánh tư sản mại bản, tư sản dân tộc, tư sản nhỏ (tiểu tư sản), lục soát nhà cửa, tịch thu vàng thật, rồi lập biên bản là “kim loại có màu vàng”, để đổi vàng giả.

Cộng sản cướp nhà cửa, buộc những người khá giả phải hiến đất, hiến nhà để khỏi bị tù. Tại thành phố, CS đưa vào quốc doanh tất cả những xí nghiệp, cơ sở kinh doanh do CS quản lý. Tại nông thôn, CS quốc hữu hóa toàn thể đất đai, ruộng vườn; nông dân phải vào hợp tác xã, làm việc chấm công để lãnh lúa, dân chúng gọi là “lúa điểm” tức “liếm đũa”. Cộng sản buộc dân chúng phải đi kinh tế mới, sống trên những vùng khô cằn, nghèo khổ. Cộng sản thi hành chính sách ngăn sông cấm chợ, để CS độc quyền lưu thông và phân phối hàng hóa. Tất cả chính sách của CS nhắm làm cho dân chúng nghèo khổ cho CS dễ cai trị.

Chính sách cai trị của CS sau năm 1975 đưa Việt Nam đến bờ vực thẳm, nguy hại cho chính CS. Trước tình hình đó, CS mở phong trào đổi mới từ năm 1985. Cộng sản đổi mới để tự cứu mình chứ không phải để cứu dân tộc Việt Nam. Từ đó, Việt Nam thay đổi dần dần, nhất là từ khi Việt Nam gia nhập WTO vào đầu 2007. Tuy nhiên dầu đổi mới về kinh tế nhưng cộng sản vẫn duy trì độc quyền chính trị, lo sợ "diễn biến hòa bình", định hướng kinh tế xã hội chủ nghĩa, không cho tự do báo chí, bóp nghẹt tự do dân chủ, không tôn trọng dân quyền và nhân quyền. Cho đến nay, ở trong nước chưa có một tờ báo tư nhân, chưa có một tổ chức hay đoàn thể chính trị nào đứng ngoài quốc doanh.

Như thế, ngày CS vào Sài Gòn, chấm dứt chế độ VNCH, là một biến cố lịch sử có tầm vóc lớn lao, làm thay đổi dòng sinh mệnh dân tộc, ảnh hưởng lâu dài cho đến ngày nay. Ngày 30-4 cũng là ngày mở đầu thảm họa chẳng những cho dân chúng miền Nam mà cho cả toàn dân Việt Nam khi chế độ cộng sản càng ngày càng bạo tàn, tham nhũng và nhất là lộ rõ bộ mặt tay sai Trung cộng, dâng đất, nhượng biển, quy lụy Bắc Kinh để duy trì quyền lực. Vì vậy dân chúng gọi ngày nầy là ngày Quốc hận. Hai chữ Quốc hận do dân chúng tự động đặt tên cho ngày 30-4 và truyền khẩu với nhau thành danh xưng chính thức, chứ không có một chính phủ, hay một đoàn thể chính trị nào đặt ra. “Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.”

3.- NGÀY QUỐC HẬN LÀ NGÀY QUỐC HẬN
Những người vượt biên được gọi chung là thuyền nhân. Thuyền nhân là từ ngữ được dịch từ chữ “boat people” trong tiếng Anh, xuất hiện từ cuối thập niên 70 để chỉ những người Việt bỏ nước ra đi sau khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam.

Người Việt vốn ràng buộc với đất đai, ruộng vườn, chỉ ra đi trong hoàn cảnh bất đắc dĩ mà thôi Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, số lượng người Việt bỏ nước ra đi lên đến hàng triệu người. Đặc điểm nổi bật của phong trào thuyền nhân là tất cả những người vượt biên đều tự nguyện ra đi, tự mình muốn ra đi, hoàn toàn tự phát ra đi theo từng gia đình, từng nhóm nhỏ. Không có một đảng phái, một thế lực chính trị hay một nước ngoài nào can thiệp hay tổ chức cho thuyền nhân ra đi. Có khi, nhà cầm quyền CS lợi dụng lòng khao khát ra đi tìm tự do của dân chúng để bán bãi, hay tổ chức vượt biên bán chính thức nhằm lấy vàng. Dầu ra đi trong kế hoạch mà CS gọi là “bán chính thức”, người ra đi vẫn là những người tự nguyện muốn rời bỏ Việt Nam để tránh nạn độc tài cộng sản.

Như thế, vượt biên hay thuyền nhân là một phong trào của vài triệu người, kéo dài trong nhiều năm và nhiều địa điểm khác nhau. Phong trào nầy là hậu quả của ngày Quốc hận 30-4. Ngày 30-4 là ngày đánh dấu sự thành công của chế độ độc tài toàn trị, gây tang thương cho dân tộc Việt Nam. Nỗi đau nầy càng ngày càng nhân lên khi CSVN càng ngày càng đàn áp phong trào dân chủ quốc nội. Chỉ vì lòng yêu nước, người Việt biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược mà cũng bị CSVN bắt giam thì trên thế giới, chuyện nầy chỉ xảy ra ở Việt Nam.

Hai sự kiện ngày Quốc hận 30-4 và Phong trào thuyền nhân hoàn toàn khác nhau và không thể lẫn lộn nhau. Ngày 30-4 là ngày kỷ niệm Quốc hận của toàn dân. Phong trào thuyền nhân ban đầu chỉ khoảng 1,500,000 người. Nếu ngày nay, dân số thuyền nhân phát triển lên khoảng 3,000,000, thì ở trong nước, dân số tăng lên mấy chục triệu người.

Vì vậy, để kỷ niệm phong trào vượt biên, ngày 28-4-2009, toàn thể Hạ viện Hoa Kỳ đã thông qua nghị quyết số 342 do dân biểu liên bang Hoa Kỳ gốc Việt Nam là Cao Quang Ánh đề xướng, ấn định ngày 2-5-2009 là “Ngày Vinh Danh Người Tỵ Nạn Việt Nam” tại Hoa Kỳ (tức thuyền nhân Việt cộng them những người ra đi theo chương trình ODP và HO). Sau đó, ngày 12-8-2009, Hội đồng thành phố Westminster, (thuộc Orange County, tiểu bang California) thông qua nghị quyết số 4257, ấn định ngày Thứ Bảy cuối cùng của mỗi tháng Tư hằng năm là “Ngày Thuyền Nhân Việt Nam”. Westminster là thành phố có Tượng đài Chiến sĩ Việt Mỹ, khánh thành ngày27-4-2003, và từ đó là nơi diễn ra lễ Kỷ niệm ngày Quốc hận hàng năm của Cộng đồng Người Việt Tỵ nạn CS.

Cả hai nghị quyết trên đây đều chọn một ngày khác với ngày 30-4 để kỷ niệm phong trào thuyền nhân, nhằm tránh làm mất ý nghĩa quan trọng của ngày Quốc hận 30-4. Chỉ có cộng sản và những người làm tay sai cho CS mới cố tình vận động chuyển đổi ngày Quốc hận 30-4 thành ngày Thuyền nhân, nhằm làm giảm nhẹ tội lỗi của cộng sản Việt Nam trước lịch sử, trong khi tội lỗi của cộng sản đối với dân tộc Việt Nam không thể xóa bỏ được.

Mưu toan nầy hoàn toàn thất bại vì Cộng đồng Người Việt Hải ngoại quyết liệt phản đối, chỉ vì một lý do đơn giản, thật đơn giản: NGÀY QUỐC HẬN LÀ NGÀY QUỐC HẬN, không thể nào khác hơn được và không có chữ nào đúng hơn được.

TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 01-02-2012)

On Wednesday, December 10, 2014 3:40 AM, pleasehelp1975 

Posted by: Nhat Lung 

Tuesday, December 9, 2014

Những “Việt Kiều” khờ khạo về VN đầu tư nhưng cuối cùng mất “kã chì lẫn chài” & thêm tù tội..


Những “Việt Kiều”  khờ khạo về VN đầu tư nhưng cuối cùng mất “kã chì lẫn chài” & thêm tù tội..

Nhân vụ GS Hồng Lê Thọ bị bắt ngày 29/11/2014

Đỗ Thông Minh

Có 1 số trường hợp người thân CS từ hải ngoại về có quan hệ cán bộ cao cấp đỡ đầu tương đối ít bị khó khăn. Như Nguyễn Trí Dũng là Tiến Sĩ quản lý công học tốt nghiệp đại học Hitotsubashi ở Nhật Bản về VN rất sớm, thành lập và làm Giám Đốc công ty Minh Trân quận Tân Bình, sản xuất linh kiện điện tử năm 1993, trường Doanh Thương Trí Dũng, đồng thời là Chủ Tịch sáng lập Hiệp Hội Doanh Nghiệp Việt Kiều, Phó Chủ Tịch thường trực Câu Lạc Bộ Hợp Tác Việt Nhật, Phó Trưởng Ban Câu Lạc Bộ Khoa Học Kỹ Thuật Việt Kiều. Nay Dũng có cơ ngơi rộng lớn, rất hoành tráng ngay tại Sai Gòn.

 Nguyễn Chánh Khê là Tiến Sĩ vật liệu và khoa học xử lý thông tin tốt nghiệp đại học Tokodai, Nhật Bản, qua Hoa Kỳ rồi về năm 2002, lập công ty chế mực in và than nano và làm Phó Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu và Phát Triển Khu Công Nghệ Cao, Sài Gòn. Khê được CTN Nguyễn Minh Triết nâng đỡ, ông nói ông có 37 phát minh  được thế giới công nhận, nhưng cũng đưa ra những “phát minh lớn” đầy nghi vấn như vụ “Mực in nano”, “Máy phát điện chạy bằng nước”..., không có mấy thành quả cụ thể như vẫn được truyền thông CSVN tuyên truyền nên không mấy thành công về sự nghiệp và tài chính…

 Nhà cầm quyền đẩy mạnh kêu gọi người Việt ở hải ngoại về đầu tư giúp nước theo Nghi Quyết 36 của Bộ Chính Trị năm 2004. Nhưng cán bộ CS quá tham lam, nên đã có hàng trăm trường hợp người Việt ở hải ngoại về bị tước sạch, thậm chí có trường hợp bỏ mạng. Như ông Trần Kiêm Khiết, nguyên là SV du học Nhật Bản năm 1958 tốt nghiệp Kỹ Sư hóa nông nghiệp, rồi qua Hoa Kỳ học tiếp Cao Học làm cho Dupont Hoa Kỳ, năm 1994, về làm đại diện công ty Dupont Singapore, bị xô ngã chết từ lầu cao (tin công an nói là vì tim mạch nên té lầu, tin ông Nguyễn An Trung là tại thang máy đứt dây) ở Sài Gòn; ông Thiện là người tỵ nạn CS buôn đồ cũ từ Nhật Bản về làm ăn bị sát hại (bắt trói và bắn chết?) tại Hải Phòng; bà Nguyễn Thị Hiệp từ Canada về bị tử hình gấp rút bởi tội chuyển 5,1 kg ma tuý năm 1996 từ Nội Bài đi, trong khi chính phủ Canada yêu cầu chờ đối chiếu xem bà là thủ phạm hay nạn nhân... khiến gây rắc rối ngoại giao giữa 2 nước một thời gian!

 Tất nhiên, cũng có người từ hải ngoại về dùng mánh khóe làm ăn, nhưng nói chung nhà cầm quyền nắm đằng cán, họ có thề dễ dàng ra tay tước đoạt.

Một số trường hợp điển hình như:

 - Tiến Sĩ luyện kim Nguyễn An Trung, sang Nhật năm 1960, cầm đầu nhóm sinh viên theo CS là “BEHEITO” (“Tổ Chức Người Việt Tại Nhật Bản Đấu Tranh Cho Hòa Bình và Thống Nhất Đất Nước”, thành lập ngày 22/6/1969) ở Nhật Bản, đầu năm 1970, từng bị Tòa Án Quân Sự Đặc Biệt Vùng 3 Chiến Thuật VNCH kết án khuyết tịch 6 năm khổ sai và 20 năm mất quyền công dân (cùng với Lê Văn Tâm và Nguyễn Hồng Quân).   

Nguyễn An Trung ly dị vợ Nhật (có tin về VN lấy con gái Tướng Công An) về VN mở Saigon Auto và làm Tổng Giám Đốc, chuyên đổi tay lái ngược hàng chục ngàn xe cũ chuyên dụng nhập từ Nhật Bản, đã giúp vực dạy cả ngành giao thông xuống cấp thê thảm khi ấy (những năm 1976-90, có xe phải chạy bằng than đun trên nóc hay sau lưng, tốc độ khoảng 30 km/giờ). 

Sau cả hơn chục năm làm ăn, với khoảng 50 Kỹ Sư và 400 nhân viên, năm 1994, đột nhiên ông bị vu cho vi phạm luật pháp và nhập cảng lậu, mặc dù văn thư của TT CSVN Võ Văn Kiệt ký 3 ngày sau khi xe về tới cảng, bị giam 10 tháng. Khi ở trong tù, ông Trung đã viết thư kêu cứu với “Ngài Đỗ Mười”, cựu sinh viên tại Nhật như Huỳnh Mùi tại VN, Huỳnh Trí Chánh (Chủ Tịch Tổng Hội Người Việt Nam Tại Nhật theo CS)... và 1 số người Nhật cũng nhào vào cứu ông.

Thấy chuyện quá bất bình, Luật Sư Nguyễn Thành Vĩnh dù đã già gần 80 tuổi đã đứng ra biện hộ cho ông.
Tháng 2/1995, ra tòa sơ thẩm bị cảnh cáo, rồi phúc thẩm ngày 5/7/1995, sau phiên tòa gay cấn và rõ trắng đen ông mới  trắng án, nhưng đã bị tước đoạt 118 chiếc xe trong chuyến tàu chót trị giá hơn 1 triệu đô-la Mỹ là tang vật đã bị công an tịch thu, hóa giá bán chia chác cho nhau.

Theo nhà báo Minh Tuấn làm cho Mặt Trận Tổ Quốc (sau cũng lấy vợ kế người Nhật và di dân qua Nhật) trong bài “118 Ôtô Tay Lái Nghịch Và Số Phận Của Việt Kiều Nguyễn An Trung” trên trang nhà Việt Báo:

 Sau này ông Trung kể lại: Những ngày nằm trong nhà giam Chí Hòa, ông cảm thấy có những lúc tuyệt vọng. Bởi mục đích của ông chẳng có gì xấu, nhưng khi vấp rào cản của cơ chế hành chính quan liêu, ông đã phải trả một giá quá đắt...

Trong phiên tòa bào chữa cho Nguyễn An Trung, chính luật sư cũng khóc. Ông giơ cao quyển sách ở Nhật viết về Nguyễn An Trung trong phong trào phản chiến, giơ cao những chứng cứ rất thuyết phục về luật “bất hồi tố” và giơ cao tất cả hình ảnh về 118 xe tay lái nghịch mà UBND TP. HCM vẫn đang giữ. Tất cả đều là xe ép rác, xe hút bùn. Chi tiết này đã làm “bật ngửa” tất cả các vị Thẩm Phán và Hội Thẩm Nhân Dân tham gia xét xử. Họ đọc hồ sơ vụ án và đều đinh ninh rằng ông Trung đã nhập gần như toàn bộ là ôtô con để trốn thuế và bán kiếm lời ở VN...   

Phiên phúc thẩm kết thúc được vài tháng, tại kỳ họp Quốc Hội cuối năm 1995, một quan chức cao cấp của Quốc Hội gặp tôi và nói là Chính Phủ đã bị cơ quan có trách nhiệm báo cáo sai sự thật về vụ ông Nguyễn An Trung, nói rằng ông Trung chuyên nhập lậu xe ôtô 4 chỗ ngồi, nên đã có sự chỉ đạo sai trái về vụ ông Trung. Vị quan chức này nói việc xử lý oan ông Trung quả là điều rất đáng tiếc. Nhưng việc làm oan “đáng tiếc” đó không làm quan chức nào ở TP. HCM mất chức cả...

Sau ông Trung phải xin cho cả gia đình di dân qua Úc, nhưng vẫn thường xuyên ở VN làm ăn, thế nên họa vô đơn chí.

Theo Luật Sư Phan Trung Hoài trong bài “Khi Hoa Anh Đào Nở” trên trang nhà báo Lao Động ngày 1/4/2011:

Bản thân tôi cũng có được những trải nghiệm, liên đới nhiều đến nước Nhật và người Nhật, từ việc bênh vực cho ông Nguyễn An Trung - 1 Việt kiều Nhật Bản có nhiều đóng góp cho đất nước cả thời chiến tranh lẫn thời bình - trong vụ án 118 ô tô tay lái nghịch cách đây hơn 17 năm, rồi bây giờ vất vả trong hành trình tố tụng liên quan 1 khách hàng là Giám Đốc Ban Quản Lý Dự Án có sử dụng vốn ODA và chuyên gia tư vấn của Nhật Bản…

- Bác Sĩ Bùi Duy Tâm (Tiến Sĩ Y Khoa và TS Sinh Hóa, Bác Sĩ Y Học Cổ Truyền (O.M.D) và Châm Cứu, từng là Khoa Trưởng đại học Y khoa Huế, đại học Y Khoa Minh Đức...) sau 30/4/1975, bị bắt giam tại Trảng Lớn, Tây Ninh. Ông nhờ có 1 người thân làm lớn trong nhà cầm quyền mới, ngày 2/9/1975 được thả về, dạy đại học Nha Y Dược, từng cùng Trung Tướng Công An Dương Thông (Tổng Cục Trưởng Phản Gián Bộ Nội Vụ) giúp CSVN bán kho đạn Long Bình, dầu thô...

 Trong 1 lần ĐT Võ Nguyên Giáp, khi đó là Phó Thủ Tướng phụ trách Khoa Học - Kỹ Thuật kiêm Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Gia Dân Số và Sinh Đẻ Có Kế Hoạch, đến nói chuyện với giới trí thức, BS Tâm đã phải nêu lên nỗi khổ tâm là làm sao tôi có thể làm việc dưới quyền 1 người không đáng là học trò của học trò mình!?

Năm 1980, BS Tâm cùng gia đình vượt biên tới Mã Lai, qua định cư tại HK, sau đó về VN nhiều lần.

 Ngày 12/4/1991, BS Tâm bị bắt, ngày 14/4/1991, nhà văn Dương Thu Hương cũng bị bắt (giam 8 tháng không xét xử, do chính phủ Pháp can thiệp mà được thả ra) vì tội “gián điệp”.

Chính BS Bùi Duy Tâm thổ lộ là đã cho Trung Tướng Công An Dương Thông rất nhiều tiền vì đã 2 lần cứu ông khỏi trại giam (bị nhà văn Dương Thu Hương thu băng đoạn tâm sự này trong lần đi chơi chung ở sông Đà).

BS Tâm về VN, bỏ ra cả triệu đô-la Mỹ mua máy móc rất hiện đại, mở phòng mạch mổ tim tại Sài Gòn, nhưng rồi bị CSVN đội cho cái mũ “gián điệp CIA”, không đưa ra tòa nhưng yêu cầu ông để lại phòng mạch và tất cả dụng cụ, ra khỏi VN trong vòng 6 tiếng đồng hồ.

Về lại HK ông vận động chống CSVN, nhưng rồi vẫn còn muốn hòa hợp hòa giải (?) với CS, lại tiếp đón phái đoàn Phó Thủ Tướng Trương Vĩnh Trọng ngày 16/11/2009 (khi đó BS Tâm đã gần 80 tuổi) tại nhà riêng ở San Francisco, Cali...

 - Tiến Sĩ toán Huỳnh Mùi, theo CS, thành viên BEHEITO từ Nhật Bản về rất sớm vào năm 1977, lập ra đại học Dân Lập Thăng Long ở Hà Nội (là đại học dân lập đầu tiên) và làm Hiệu Trưởng, khi khá vững vàng rồi thì bị truất quyền, chỉ cho làm Giáo Sư. Năm 2000, ông lập trường Công Nghệ Thăng Long và làm Hiệu Trưởng.

- Trịnh Vĩnh Bình, năm 1976, tỵ nạn qua Hà/Hòa Lan, tốt nghiệp đại học, tham gia đảng chính trị Dân Chủ Tự Do, là đảng cầm quyền cuối thập niên 1980 ở Hà Lan, là “vua chả giò”. Năm 1990, ông Bình tháp tùng đoàn doanh nghiệp Hà Lan đến VN thăm dò đầu tư rồi quyết định đóng cửa công ty chả giò ở Hà Lan, đem 2.328.250 đô-la Mỹ tiền mặt, và 96 kí vàng về đầu tư địa ốc, sản xuất nông, ngư sản...  

Ông Bình thành lập công ty Tín Thành ở Sài Gòn, xuất cảng nông, thủy sản, công ty Bình Châu có nhà máy hải sản đông lạnh ở Vủng Tàu. Mua một số nhà đất ở Sài Gòn và BR/VT, dùng trên 200 hecta đất ở Bà Rịa để trồng rừng, nghiên cứu việc nuôi tôm... Xây dựng cơ sở biến chế thủy hải sản xuất cảng, với sản lượng 35% trên tổng số đánh bắt ở BR/VT, xây khách sạn 10 tầng. Sau 6 năm thành công trong kinh doanh, tài sản lên tới 6 tỷ đồng VN.  

Việc kinh doanh phát đạt nhưng năm 1996, bị nhà cầm quyền và công an cấu kết với nhau hãm hại, bắt giam ở phòng cảnh sát điều tra PA-42 do Trung Tá Ngô Chí Đan làm Trưởng Phòng với lý do trốn thuế, mượn tên người khác đứng mua, kể cả tội làm gián điệp…Gia đình khiếu nại và đã có sự can thiệp mạnh mẽ của chính phủ Hà Lan.

Ngày 13/5/1998, sau khi xem hồ sơ, TT CSVN Phan Văn Khải phê và gởi qua Bộ trưởng Công An Lê Minh Hương, nguyên văn như sau: “Anh chỉ đạo cho công an Bà Rịa-Vủng Tàu xem lại trường hợp của Trịnh Vĩnh Bình. Thủ tướng Hoà Lan đã đặt vấn đề. Tôi đã hỏi trực tiếp một số đồng chí lãnh đạo tỉnh Bà Rịa-Vủng Tàu, anh Bình không có lỗi đến mức phải xử. Do anh dựa vào người trong nước, bị họ lừa gạt, làm bậy”.  

Lê Minh Hương chuyển bút phê của TT Khải xuống cho Thứ Trưởng Công An Nguyễn Khánh Toàn, đề nghị giải quyết theo chỉ thị của ông Khải. Câu chuyện tưởng như vậy là yên, nhưng không ngờ, năm 1998, Trịnh Vĩnh Bình bị đưa ra tòa án Nhân Dân tỉnh Bà Rịa-Vủng Tàu và bị kêu án nặng nề 13 năm tù, phạt 480 lượng vàng (do khám xét công ty tịch thu) và tịch thu toàn bộ tài sản khoảng 6,2 tỷ Đồng về tội “kinh doanh bất hợp pháp” (trốn thuế) và tội lo hối lộ. Truyền thông VN cũng hùa theo công an bôi nhọ ông Bình nên ông kháng án.  

Những người khác có Phó CTN Nguyễn Thị Bình, Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyễn Dy Niên cũng đã phải can thiệp nhưng đành phải bó tay.  

Ông Bình đã trả lời phỏng vấn của đài RFA như sau: Công ty tôi có một số anh em cấu kết nhau, ăn cắp một số tiền ước lượng mấy trăm ngàn đô la qua nhiều năm tháng. Sau khi bị phát hiện, họ sợ bị tù tội nên dùng tiền bạc đút lót cho công an địa phương, phòng đó là PA-42, phòng cảnh sát điều tra Vủng Tàu. Đó là Giám Đốc, Phó Giám Đốc và Trưởng Phòng Tài Chánh của tôi, thành một hệ thống ăn cắp. Bên công an nhận hối lộ, tìm cách bao che. Họ ra tay trước. Chụp mũ công ty tôi trốn thuế, khám xét công ty và bắt giam tôi.  

Việt kiều về nước không được quyền mua nhà đất, cho nên phải nhờ thân nhân đứng tên. Một số người bà con lật lọng, tráo trở, giật tiền, tôi ở trong trường hợp đó… Đây là vụ án mà tôi bị hàm oan. Qua một thơi gian dài, gia đình tôi, bản thân tôi và một số người binh vực công lý, đã gởi nhiều đơn khiếu nại khắp nơi, nhưng không được cứu xét. Cuối cùng, tôi phải dựa vào Hiệp Ước thương mại giữa VN và Hà Lan, đưa vụ tranh chấp ra Toà án Quốc Tế thuộc Liên Hợp Quốc. Sau một thời gian tại ngoại, tôi rất lo ngại cho mạng sống của mình, có thể bị bắt và bị giết, cho nên tôi phải đào thoát khỏi VN…  

Đầu tháng 4/2005, ông Bình chính thức nạp đơn lên toà án Quốc Tế đòi bồi thường 100 triệu đô-la Mỹ.  

Đầu năm 2000, chính phủ Hà Lan phổ biến một tập tài liệu 752 trang về vụ án của ông Bình.  

GS J.J.C. Voorhoever, là 1 trong 18 thành viên của Hội Đồng Chính Phủ Hoà Lan, cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng HL, cụu Chủ Tịch đảng Dân Chủ Tự Do mà ông là một đảng viên… tích cực đứng ra vận động. Thủ Tướng HL, Wim Kok và Bộ Trưởng Ngoại Giao Van Aartsen gởi thơ trực tiếp cho CTN Trần Đức Lương yêu cầu giải quyết vụ án Bình, đồng thời, triệu tập Đại Sứ CSVN là Đinh Hoàng Thắng lên để phản đối.  

Hà Lan tỏ thải độ cứng rắn, cắt viện trợ phát triển và nhân đạo cho VN. Trong năm 2000, có các phái đoàn của Trần Đức Lương, Nguyễn Văn An (QH), Phan Văn Khải, Nguyễn Dy Niên (NG), Nguyễn Đình Bin… đều bị chất vấn và chống đối. Báo chí nổi giận gọi họ là “Những khách không mời mà đến.”, gọi họ là “Những con vẹt chỉ biết nói mà không biết nghe.”. Trong khi đó, báo chí VN thì cho rằng các chuyến công du thành công mỹ mãn.

Bà Margareeth de Boer, Chủ Tịch Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện dẫn một phái đoàn sang VN, trực tiếp gặp Bộ Trưởng NG Nguyễn Dy Niên nhấn mạnh: “Vì quyền lợi của hai nước, vụ án TVB phải được giải quyết tức khắc.”. Nhưng kết quả, Hà Lan chỉ nhận được 1 công hàm của Bộ Ngoại Giao CSVN, thông báo với nội dung là “Bắt đúng người, xử đúng tội, áp dụng đúng luật pháp.” ???

Thế nhưng, ngày 4/11/2001, tại đại hội Đảng Bộ Vũng Tàu, Trung Ương Đảng cho rằng vụ Trịnh Vĩnh Bình là một vụ xử sai lầm, làm giảm sút niềm tin của nhân dân, ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài, vì thế, cấp trên thi hành kỷ luật đảng bộ Vủng Tàu. Sau đó, Trung Tá Ngô Chí Đan bị cách chức, tước danh hiệu Công An Nhân Dân và Nguyễn Trọng Minh bị mất chức Chủ Tịch UBND tỉnh BR/VT.

Ở Hà Lan, một luận án Tiến Sĩ đệ nạp tại đại học Luật Khoa Den Haag, trình bày rõ ràng trường hợp đầu tư của ông Bình, dựa theo Hiệp Ước Thương Mại giữa 2 nước VN và HL ký kết năm 1994. Luận án được in thành sách với 3 thứ tiếng, Hà Lan, Anh và Pháp. Một bản tiếng Việt được phát hành sau đó. Luận án nêu rõ luật rừng ở VN, sự lộng hành của công an VN, phép vua thua lệ làng, cuối cùng đưa người đầu tư đến tù tội và bị tịch thu tài sản.

Ngày 28/3/2005, Nghị Sĩ Jules Maaten, Quốc Hội Liên Âu (EU), từ Brussels cho biết, vụ án TVB đã gây hoang mang trong giới đầu tư ở châu Âu. Vụ án là một tác động tiêu cực đến quan hệ giữa EU và VN.

Tháng 6/2005, khi Phan Văn Khải sang thăm Hoa Kỳ, kêu gọi ngoại quốc và người Việt đầu tư vào VN, thì các cơ quan truyền thông đồng loạt loan tin CSVN âm mưu chiếm đoạt tài sản của Việt kiều Trịnh Vĩnh Bình.
Đài RFA, RFI, BBC và rất nhiều cơ quan truyền thông Việt ngữ ở hải ngoại… đều phổ biến bài phỏng vấn ông Bình.

Ngày 4/12/1996, một thân nhân của TVB là Trịnh Hiền Thanh vu cáo TVB đưa hối lộ, khiến cho TVB bị bắt giam. Việc vu cáo nằm trong âm mưu của công an BR/VT.
Đến ngày 24/6/2002, Trịnh Hiền Thanh thú nhận bằng văn bản là y đã vu cáo cho TVB. Hiền Thanh chết vài năm sau đó do bịnh tiểu đường.

Nhưng mới đây, ngày 7/4/2011, Trưởng Cục Thi Hành Án Dân Sự tỉnh BR/VT tên Trần Văn Mười cùng Lê Huy Hoàng và Hoàng Anh Linh bị bắt giam về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.”. 3 người bị bắt đã vi phạm nghiêm trọng trong vụ án Trịnh Vĩnh Bình.

Ngày 15/10/2003, ông Trịnh Vĩnh Bình đã chính thức nhờ Tổ Hợp Luật Sư Covington Burling, có trụ sở ở Anh và Hoa Kỳ, đứng ra kiện nhà cầm quyền VN đòi bồi thường 100 triệu đô-la Mỹ, ông TVB ký quỹ 150.000 đô-la Mỹ.

Đầu tiên, LS Thomas Johnson, đại diện cho ông Bình gởi thơ cho Viện Trưởng Viện Kiểm Sát ND Tối Cao VN là Hà Minh Trí, đề nghị dàn xếp giữa hai bên. Nhưng nổ lực dàn xếp kéo dài gần 2 năm không có kết quả.

Tháng 5/2004, ông Bình chính thức nạp đơn lên Tòa Án Quốc Tế thuộc Liên Hợp Quốc và tòa dự trù sẽ mở phiên tòa xét xử tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển vào cuối năm 2005.
Phía CSVN, cũng đã ký quỹ 150.000 đô-la Mỹ để nhờ Tổ Hợp LS Pháp Glide Loyrette Rouel, có văn phòng tại Hà Nội. Tòa Án Quốc Tế thông báo sẽ mở ra xét xử từ ngày 4-12/12/2005.
3 tuần lễ trước phiên xử, Tổ hợp LS Hoa Kỳ tăng số tiền đòi bồi thường lên thành 150 triệu đô-la Mỹ theo thời giá mới. Nhưng tòa tuyên bố tạm hoãn, vì lý do 2 bên thỏa thuận dàn xếp bên ngoài tòa. Chính những văn bản và tài liệu chính thức của các quan chức VN đã xác nhận TVB vô tội. Cụ thể là bút phê của TT Khải, NT Nguyễn Dy Niên thừa nhận với quan chức Hà Lan “Có sự sai sót trong vụ án TVB và hứa sẽ yêu cầu các cơ quan chức năng điều tra lại.”.

 Ông Trịnh Vĩnh Bình đã giữ lời hứa với nhà cầm quyền VN là không tiết lộ số tiền mà VN phãi bồi thường, nhưng có tin là khoảng 100 triệu đô-la Mỹ.
Thực ra là bọn quan tham địa phương ngụy tạo hồ sơ, lừa bịp cả Chính Trị Bộ nên mới xử vụ án quái lạ như vậy, và cuối cùng nhà cầm quyền CSVN vừa mất mặt, vừa mất rất nhiều tiền!
  

Nhà cầm quyền CSVN đã từng quá ê mặt sau vụ Vietnam Airlines khi đơn phương phá hợp đồng với văn phòng LS Ý Manizio Liberato bị kiện năm 1994 nên phong tỏa các trương mục trên toàn Âu Châu, năm 2009 đã phải trả 5,2 triệu Euro (tương đương 7 triệu đô-la Mỹ). Hai vụ này cũng như vụ Saigon Auto của Nguyễn An Trung gây tai tiếng tầm vóc thế giới, thể hiện lối làm việc gian manh, cẩu thả, vô trách nhiệm của nhà cầm quyền CSVN. 

-Tiến Sĩ ngư nghiệp Huỳnh Trí Chánh (Chủ Tịch Tổng Hội Người Việt Nam Tại Nhật theo CS, kiêm Chủ Tịch “Hội Chống Bá Quyền Trung Quốc”), du học Nhật Bản năm 1963, từng là thành phần lãnh đạo trong BEHEITO, tổ chức cướp TĐS VNCH tại Tokyo đêm 30/4/1975 nhưng không thành (khi đó có 24 sinh viên theo CS bị cảnh sát Nhật bắt giữ). Khi về VN chia sẽ nhưng kinh nghiệm học hỏi ở NB, nhưng nói chuyện thẳng thắn có ý phê bình nhà cầm quyền, không đúng đường lối nên đã từng bị công an giữ thông hành (hộ chiếu).
Ngày 22/1/1990, khi Đông Âu sụp đổ và Liên Xô nguy ngập, ông Chánh từng cùng hơn 700 Việt Kiều thân CS khác khắp nơi trên thế giới ký tên trong “Tâm Thư” (có tất cả 4 bản khác nhau) yêu cầu đảng và nhà nước CSVN chấp nhận dân chủ hóa... Trong “Tâm Thư” có đoạn:   

... Kêu gọi các nhà lãnh đạo hiện nay của VN, vốn đã có công lớn trong cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước, hãy vì quyền lợi tối cao của dân tộc, sớm cải tổ hệ thống chính trị hiện có bằng cách :  

1. Thực sự tách rời các định chế của Nhà nước ra khỏi bộ máy chính đảng để cho Nhà nước thu hồi trọn vẹn những quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp của mình, để cho không một ai cũng như không một tổ chức nào có thể đứng trên và chi phối Nhà nước.  

2. Thiết lập một nền dân chủ đa nguyên, thực sự bảo đảm an toàn cá nhân và các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, lập đảng... nhằm tạo điều kiện cho mọi người Việt Nam, không phân biệt quá khứ, chính kiến hay tôn giáo, tham gia luận bàn và, đặc biệt thông qua tuyển cử tự do, làm và kiểm tra việc nước.  

3. Ngay trước mắt, mở ra cuộc đối thoại thành tâm với toàn thể xã hội, để toàn dân bàn định một cương lĩnh hành động và đề ra những biện pháp cấp bách đặt nền tảng cho một chế độ thực sự lấy dân làm gốc…  

Chính vì vậy nên đã có lúc tên ông bị ghi vào sổ đen không cho nhập cảnh. Ông đã nói ý rằng họ từ trong rừng ra nên dùng “luật rừng”!  

Ông Chánh từng tuyên bố ở TĐS CSVN tại Tokyo khi Liên Xô sụp đổ: “Bây giờ VN mới thực sự được độc lập.”.

Tuy ngày 30/6/2007, ông là 1 trong 19 người Việt kiều được Đại Sứ Quán Việt Nam tại Nhật Bản tổ chức trao Bằng Khen của Bộ Trưởng Ngoại Giao và Chủ Nhiệm Ủy Ban Người Việt Nam Ở Nước Ngoài nhưng không được tin dùng và bản thân ông cũng thấy chán ngán! Những chuyện của ông Chánh bề ngoài có vẻ Việt Kiều yêu CS nhưng có dịp ở gần mới biết.

- KS Nguyễn Vĩnh Trường du học Nhật Bản năm 1972, về VN mở trường Nhật Ngữ Sakura ở Sài Gòn năm 1989, với tên ban đầu là Trung Tâm Văn Hóa Việt-Nhật, là trường chính quy đầu tiên thuộc loại này. Khi trường phát triển có khoảng 700 học sinh thì bị Thành Ủy nói phải đưa cho nhà nước quản lý, thế là giáo viên Nhật quá giận bỏ đi, trường cũng tan. Sau ông Trường đã phải mất nhiều công sức lập lại. 

- Thạc Sĩ kinh tế Nguyễn Trung Trực (sau lấy Trịnh Vĩnh Trinh, em Trịnh Công Sơn) ở Úc, năm 1989, bắt đầu đầu tư Ngân Hàng Thương Mại, Bảo Hiểm Prudential, địa ốc, phân phối xe du lịch, xe máy, hàng tiêu dùng… Năm 1997, Nguyễn Trung Trực bị cơ quan an ninh  tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu  khởi tố về hành vi "vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới", năm 1998, bị xử tù 5 năm. Có tin cho là Trực xin hoãn án rồi bỏ trốn. Năm 2008, sau khi cùng Bộ Trưởng Kế Hoạch - Đầu Tư Võ Hồng Phúc đi Hoa Kỳ trở về thì Trực bị bắt tại phi trường Tân Sơn Nhất, mà cho là sau 6 năm trốn lánh. Rốt cục Trực đã phải chạy chọt nên cũng chỉ bị giam vài tháng rồi thả ra.

- GS Nguyễn Đình Hoan ở Hoa Kỳ về mở trường Trường Quốc Tế Hà Nội (liên doanh giữa Trung Tâm Công Nghệ Giáo Dục - Bộ Giáo Dục và Đào tạo và Công ty ISD của Hoa Kỳ) dạy bậc tiểu và trung học bằng Anh ngữ... Sau 10 năm hoạt động đã bị bắt bỏ tù năm 2006. Trong tù vẫn ngày ngày nghe loa phát lời kêu gọi về đầu tư, giúp nước.

- Nguyễn Gia Thiều ở Pháp, về đầu tư, kết hôn với hoa hậu Hà Kiều Anh, làm Giám Đốc công ty Đông Nam. Năm 2005, bị bắt, kết tội "buôn lậu" và "trốn thuế" với bản án 20 năm tù và phạt số tiền 98,2 tỷ đồng, tịch thu tài sản, được ân xá năm 2009. Kết cục, cuộc tình đã tan nát (đã ly dị), mất tiền và lãnh tội...

- Trần (Văn) Trường, bỏ 40 công đất (1 công = 1.000 m2) đi tỵ nạn, nổi tiếng sau khi về Hà Nội vài lần, từng tiếp xúc với Thiếu Tá công an Dương Ngọc Tiến làm tại báo Công An TPHCM, rồi trở qua treo cờ CSVN và hình Hồ Chí Minh ngay tại cửa tiệm ở ngay khu Bolsa, Little Saigon, Cali, năm 1999... bị người Việt biểu tình chống suốt 53 ngày, có lúc lên tới khoảng 20.000 người. Sau này khi về nước làm ăn, Trần Trường được Thiếu Tá Tiến đón cho ở 1 căn nhà thuê tại Hà Nội 3 tháng trước khi về Đồng Tháp nuôi cá.

Tháng 2/2005, vợ chồng anh bán nhà, đem khoảng 200.000 đô-la Mỹ về VN, đầu tư 7 tỷ đồng mua 33 công đất dựng nhà, nuôi cá, được báo Công An phỏng vấn… 

Anh ta từng la lớn với cán bộ và công an ức hiếp anh: “Dẹp hết tụi này mới được. Dẹp hết tụi này mới được. Làm ăn như con c. vậy đó. Chuyên môn hà hiếp dân. Chém chết mẹ tụi bay hết... Tôi thấy đủ rõ hết rồi. Chính quyền phải lo cho dân, chứ không lừa gạt dân như thế này... Lấy đất của người ta mà không cho biết gì hết, vừa ăn cướp, vừa la làng khổng? Chính quyền gì kỳ vậy?...”.

Trần Trường từng bị chủ nợ thuê “xã hội đen” đánh trọng thương. Sau anh bị “lừa”, tước đoạt hết, rồi vợ hóa điên và bỏ anh. Bây giờ giấc mơ của anh ta là làm “HCM Thời Đại” (“Bác Hồ Thời Đại”, ý anh ta là làm lại cuộc cách mạng đã bị phản bội!) để diệt bọn cán bộ CS hủ hóa, làm sai lời HCM...

Ngày 8/4/2011, tòa án huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp do ông Trần Văn Nhã làm Chánh Án đã xử thu đất (trị giá khoảng 30-40 tỷ đồng hay 150.000--200.000 đô-la Mỹ) của anh mà anh vắng mặt, sau đó anh kháng cáo. Anh lên diễn đàn Paltalk kể lể, than khóc, kêu gọi hải ngoại đóng góp vào quỹ của anh để giúp anh chống tham nhũng, có lúc phẫn chí, anh đã nói với mọi người là muốn tự tử!

Trần Trường làm ăn cụt vốn, đi nhiều diễn đàn trên Paltalk Internet xin tiền và vay tiền cả năm trời mà hầu như không kết quả.
Ngày 8/5/2012, bí quá, trước lời thách thức và sẽ cho 10.000 đô-la Mỹ của anh “Ba”, anh đã chặt gần lìa 1 đốt/lóng ngón giữa tay phải trước ống kính webcam cho mọi người trên diễn đàn Người Việt Bàn Luận Chính Trị Xã Hội xem, để chứng tỏ sự “quyết tâm và thành thật” của anh ta! Phải đi nhà thương khâu, vết thương mất 3 tuần mới lành. Vì ngón tay không đứt nên anh “Ba” không trao tiền.

Ngày 31/5/2012, khoảng 30-40 công an và an ninh... cưỡng chế phá căn nhà khá bề thế, thu đất và đuổi Trần Trường đi, trong lúc anh đang tuyệt thực, tuyệt ẩm để phản đối và hát cải lương ca tụng HCM... Người nhà dùng máy video thu hình thì bị tước đoạt.

Sau đó thì Trần Trường sống trong căn nhà lá với hình HCM treo trên vách và dùng nickname “Bác Hồ Thời Đại” trên Paltalk.

Ngày 13/11/2012, Trần Trường về lại Hoa Kỳ lần thứ 2 để kiếm tiền về VN “đấu tranh” và vận động lấy lại tài sản bị mất ở VN sau 8 năm về sống và làm ăn tại VN. Nên anh đã có buổi họp báo do nhà báo Lê Bình, Câu Lạc Bộ Báo Chí Bắc Cali giới thiệu, ở nhà hàng Hội An, San Jose, Cali, với sự giúp đỡ của ông Nguyễn Xuân Tùng (nickname “Văn Lang” trên Paltalk). Có gần 20 người dự, khoảng 1/2 thuộc giới truyền thông, trong khi trên Paltalk có khoảng 250 người nghe. 

Dịp này, mở đầu Trần Trường đã “thành thật” xin lỗi cộng đồng vì việc treo hình HCM và cờ CS trước đây, nhận là việc làm thiếu ý thức ấy đã đụng chạm vào nỗi đau đớn của người Việt hải ngoại. Sau đó Trần Trường kể lại nguyên do làm ăn thất bại tại VN phải bán cả nhẫn cưới, răng vàng, phải mò ốc, bắt cua để sống... và trả lời các câu hỏi.

Khi phóng viên Nghê Lữ của Cali Today hỏi vậy bây giờ anh có đả đảo HCM, đả đảo đảng CSVN không thì Trần Trường trả lời: “Nếu nói đả đảo HCM, đả đảo đảng CSVN để xóa đi những di biệt, thù hận, thông cảm và thương lòng của tôi. “Đả đảo HCM, đả dảo đảng CS.” tôi sẵn sàng nói. Tôi đang nói và đã nói.”.

Khi Trần Trường dùng từ “bác Hồ” thì bị nhiều người phản đối, nói phải gọi là “thằng Hồ”, Trần Trường xin lỗi là nói theo thói quen trong nước... Khi có người đặt vấn đề phải dứt khoát Quốc Gia hay Cộng Sản thì ông Nguyễn Xuân Tùng hỏi: “Trần Trường có sẵn sàng quỳ xuống xin lỗi đồng bào không?”, Trần Trường cho hay: “Được” và cho hay: “Tâm hồn tôi đã về với Việt Nam Cộng Hòa, tôi sẵn sàng quỳ xuống xin lỗi những người VNCH về những gì tôi đã làm sai. Nhưng thân xác tôi, tôi phải sống ở trong nước... nhờ anh em VNCH cho tôi cái phao.”.
 Có thính giã đòi nọc giã ra, đánh 30 hèo rồi đuỗi về VN.

Trần Trường bị chất vấn, nhưng phần lớn trả lời lòng vòng, mâu thuẫn, nhất là khi bị hỏi về “đạo đức” HCM mà Trần Trường cho là “tài giỏi” và đảng CS có “người tốt”... Mục đích chính của Trần Trường trong chuyến này là để gây quỹ để về VN “đấu tranh”. Ông Trần Trường nói rằng: “Nếu đòi đất lại thành công, Trần Trường sẵn sàng cắm cờ vàng VNCH trên mảnh đất của ông tại tỉnh Đồng Tháp.” để chuộc lại lầm lỗi mà ông gây ra năm 1999... Trần Trường dự trù 3 tuần sau về VN nhưng rồi bệnh tim tái phát phải nhập viện...

Ngày 14/11, chính ông Nguyễn Xuân Tùng nói về cuộc họp báo này trên Paltalk thì “Trần Trường thất bại.”. Qua đầu năm 2013, Trần Trường vẫn chưa về VN mà ở lại HK làm việc.

- Giới văn học như GS TS Nguyễn Hưng Quốc (tên thật là Nguyễn Ngọc Tuấn), Trưởng Ban Việt Học đại học Victoria, Úc, là nhà phê bình văn học, sau nhiều lần về VN đã viết cuốn "Văn Học Việt Nam Dưới Chế Độ Cộng Sản" (thuần tuý văn hóa phi chính trị), dù có chiếu khán do TĐS CSVN cấp, nhưng đến 2 lần bị chặn tại phi trường không cho vào. 

Đó là 1 lần dẫn sinh viên Úc đi du khảo thực tập năm 2005 tại phi trường Tân Sơn Nhất và 1 lần được mời về tham dự hội thảo do trường Đại Học Mở Hà Nội (Hanoi Open University) và Đại Học Monash, Úc mời về thuyết trình với đề tài “Quan Điểm Từ Á Châu: Vai Trò Của Ngôn Ngữ Và Giáo Dục Đa Văn Hóa…” năm 2009 tại phi trường Nội Bài. Nhân viên an ninh không cho biết lý do cụ thể, chỉ nói là “Nhà nước Việt Nam không hoan nghênh anh vào Việt Nam.”, cả khi ông được mời về Việt Nam, chớ không phải tự ý về, kể cả khi đã có visa vào Việt Nam.

- Giới văn nghệ như ca sĩ  Khánh Ly, được đài TV NHK của Nhật Bản mời thu phóng sự “Khánh Ly, Tiếng Hát Của Sự Đoàn Tụ”, giờ chót mới được cấp chiếu khán về VN, nhưng cảnh sinh hoạt với Trịnh Công Sơn… ở VN phải do nhân viên nhà nước CSVN quay.
Đài TV NHK đã chọn chiếu cuốn phim đúng vào ngày 29/4/1997. Sau này, năm 2014, Khánh Ly về hát kiếm tiền tại Hà Nội 2 lần (có tin là thù lao 50.000 đô-la Mỹ/1 lần), lần đầu khá đông khách, nhưng lần sau chỉ độ 1/2 rạp...
Vân Sơn thuộc trung tâm Vân Sơn, ông Tô Văn Lai thuộc Thúy Nga… cũng gặp rắc rối như tịch thu video vừa quay với giấy phép hay bắt giam bầu Huỳnh Trinh Thuần ở Úc khi về làm việc tại VN.

- Năm 2005 và 2007, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh cùng hàng trăm đệ tử về VN cả mấy tháng, gặp CTN Nguyễn Minh Triết, đi thuyết pháp công khai… TS Thích Nhất Hạnh đã bỏ ra khoảng 1 triệu đô-la Mỹ lập tu viện Làng Mai - Bát Nhã ở Lâm Đông… sau đó năm 2009, tất cả 400 tăng ni xuất gia bị đàn áp dã man, đuổi đi và tài sản bị Thượng Tọa Thích Đức Nghi (từng từ VN qua Pháp xin theo phái “tiếp hiện” của Thích Nhất Hạnh) chiếm đoạt hết. TS Thích Nhất Hạnh vẫn chỉ lên tiếng ở hải ngoại không cứu giúp được gì cho đệ tử.
- Năm 2009, LM Trần Công Nghị ở Hoa Kỳ, chủ biên trang nhà VietCatholic News, cũng được cấp chiếu khán, nhưng khi về đến phi trường Nội Bài thì bị chặn lại không cho vào…

- Năm 2011, chị Ca Dao sinh sống tại Pháp, đã nhiều lần về VN, nhưng lần này về thăm mẹ già bệnh, dù TĐS tại Paris đã cấp chiếu khán nhưng khi tới phi trường Tân Sơn Nhất thì bị cấm không cho vào với lý do làm việc cho đài RFA.

- Tháng 7/2012, tòa án Philadelphia, HK, xử vụ án Nexus Technologies, một công ty kinh doanh xuất khẩu của 3 anh em ruột người Mỹ gốc Việt họ Nguyễn ở Philadelphia, tiểu bang Pensylvania, Hoa Kỳ.

Vụ này liên quan đến an ninh và quốc phòng HK, vì hàng xuất khẩu lậu từ HK vào VN bao gồm những thiết bị kỹ thuật điện tử quân sự hiện đại, lên đến mấy chục triệu đô-la Mỹ, như: trang thiết bị để vẽ bản đồ dưới mặt biển, thiết bị dò, tháo gỡ bom mìn, dò tìm các loại hóa chất, phụ tùng trực thăng, thiết bị viễn thông lắp đặt trên vệ tinh… và hối lộ quan chức VN 250.000 đô-la Mỹ, đồng thời cũng là một vụ rửa tiền.  

Do đó, 3 anh em phải đối diện với mức án tổng cộng khoảng 100 năm đang làm xôn xao dư luận khắp Âu-Mỹ. Công ty Nexus Technologies đã đóng cửa, tiền bạc tài sản đã bị niêm phong và phải chuẩn bị nộp phạt 27 triệu đô-la Mỹ.

- Ngày 24/4/2013, Cục Quản Lý Xuất Nhập Cảnh Bộ Công An CSVN đã ngăn cản không cho ông Phạm Văn Điệp (sinh năm 1968), quốc tịch VN, bay từ Nga vào Việt Nam và dù ông cực lực phản đối, họ đã dùng vũ lực cưỡng chế ông ra máy bay bắt quay trở lại Nga.

Ông Điệp là người Việt qua làm ăn ở Nga, từng về VN và tới gặp cụ Hoàng Minh Chính nên bị công an bắt giữ... Ông đã nhiều lần tham gia biểu tình chống TQ tại Nga và về biểu tình ngay tại VN, chính vì vậy, ông bị cho là “chống đối” nhà cầm quyền CSVN.

Ông nói với Công An là ông nhất định ở lại VN, sẵn sàng vào tù CSVN nếu có tội, không được tước quyền cư trú của tôi, “Các anh giết tôi thì giết đi, tôi không để các anh tước quốc tịch của tôi (đuổi tôi sang Nga).”, tôi sẵn sàng chết tại VN, rằng Công An vi phạm luật...

Ông viết: Họ đưa cho tôi 1 Bản Xử Lý vi phạm hành chính tự họ soạn ra, trong đó có ghi rằng: Họ dùng điều 8 Pháp Lệnh Về Cư Trú, đi lại và xuất nhập cảnh của người nước ngoài để xử lý như vậy với tôi. Tôi không đồng ý vì tôi cho rằng Bản Xử Lý đó không hợp lệ đối với tôi vì tôi không phải là người nước ngoài, mà tôi là công dân VN. Chính trong Bản Xử Lý cũng ghi Phạm Văn Điệp là công dân VN. Sau đó đại diện Công An xuất nhập cảnh Sân bay Nội Bài giằng lấy Bản Xử Lý vi phạm hành chính, xé nó trước mặt tôi và giục Cảnh Sát Cơ Động lôi tôi về phía đi ra máy bay và sau đó bẻ tay, cưỡng chế tôi, đẩy tôi vào tận bên trong máy bay để máy bay cất cánh về Moscow. Tôi cho rằng họ không có cơ sở pháp lý gì trục xuất công dân Việt Nam sang nước khác là Liên Bang Nga. Họ đã vi phạm quyền trở về nước Việt Nam của tôi...

Đặc biệt ông đã lường trước tình huống nên đã thu thanh cuộc đối thoại gay cấn tại phi trường Nội Bài giữa ông và Công An, Cảnh Sát Cơ Động. Ông cho hay, đáng buồn hơn nữa, họ đáng tuổi con em tôi, thà họ cứ lặng lẽ làm theo lệnh của kẻ khác chứ vô cớ với những lời nói hoàn toàn thiếu suy nghĩ, hỗn láo thì không tương ứng với ngành nghề này như “Tao muốn tước là tước... rồi làm gì tao.”. Ông Điệp đã đưa vụ bảy ra trước công luận và ngày 29/4 đã có Đơn Khiếu Nại gửi Đại Sứ Quán nước CHXHCNVN tại Liên Bang Nga.

 - Ngày 29/11/2014, GS Hồng Lê Thọ, sinh năm 1949, là người từng du học Nhật Bản năm 1968, tích cực tham gia, làm Tổng Thư Ký tổ chức BEHEITO “phản chiến” nhưng đề cao HCM, bênh vực CSVN, chống phá VNCH và HK, bị công an bắt “quả tang”, khám xét nhà khẩn cấp theo tố giác...

 Thời hoạt động ở Nhật, Thọ từng tự xé thông hành VNCH của chính mình. Ngày 9/6/1969, 25 người trong tổ chức trên vào chiếm TĐS VNCH với biểu ngữ “Mỹ phải cút ngay khỏi miền Nam”, “Đả đảo chính quyền tay sai Thiệu-Kỳ”… ra tuyên ngôn đòi hòa bình và tuyệt thực tại đây cho đến ngày 10/6/1969. Từng tham gia cản đường trong suốt 50 ngày đêm khi HK muốn đưa xe tăng từ căn cứ quân sự Sagamihara, gần Yokohama qua VN vào tháng 8/1972.

 Sau năm 1975, từng làm việc tại TĐS CSVN ở Tokyo, rồi về VN định cư, thường trú tại số 32 Cửu Long, phường 15, quận 10, SG, có nhiều đóng góp về mặt giáo dục...

Ông Đinh Kim Phúc, nhà nghiên cứu Biển Đông và là 1 cộng sự gần gũi với ông Thọ cho biết 2 ông đã hợp tác viết chung cuốn “Chủ Quyền VN Trên 2 Quần Đảo Hoàng Sa Và Trường Sa” do Hội Người VN ở Nhật Bản xuất bản năm 2010.

Từ vài năm nay, Thọ làm chủ trang blog “Người Lót Gạch” (hình bìa blog là cậu bé bê gạch, đã bị chuyển ngay qua chế độ riêng tư, người thường không vào được) đăng nhiều bài phản biện về hiện tình đất nước do đảng CSVN lãnh đạo, và đặc biệt chủ trương “thoát Trung”, đã bị bắt khẩn cấp lúc 10 giờ 30 tối theo tin “tố giác”, vì vi phạm Điều 258 Bộ Luật Hình Sự, tội “đăng tải các bài viết trên mạng Internet có nội dung xấu, thông tin sai lệch làm giảm uy tín, mất lòng tin trong nhân dân với cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, công dân”.

            Thọ bị bắt là điều bất ngờ cho chính anh ta, vốn tin là với lòng yêu nước, từng dấn thân đóng góp cho CSVN trong quá khứ từ trước năm 1975 và đăng phản biện chỉ với mục đích xây dựng thì không việc gì. Tin Thọ bị bắt cũng đã làm rúng động dư luận cựu du học sinh Nhật cũng như nhiều giới khác.  
<<<>>>    
__._,_.___

Posted by: <vneagle_


Popular Posts

Popular Posts

My Blog List