QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Friday, March 20, 2015

Tháng 3-2015 Ðừng Quên Tháng 3-1972 Việt Cộng Tàn Sát Ðồng Bào Trong Mùa Hè Ðỏ Lửa



--
Kính Chuyển
MG

Tháng 3-2015 Ðừng Quên Tháng 3-1972
Việt Cộng Tàn Sát Ðồng Bào Trong Mùa Hè Ðỏ Lửa
Mường Giang



            Tờ mờ sáng chúa nhật 26-6-1950, bảy sư đoàn bộ binh Bắc Hàn, với quân số tổng cộng hơn 90.000 người, được yểm trợ bởi một lữ đoàn thiết giáp, gồm 150 chiến xa T-34 của Nga Sô và lực lượng không quân hùng mạnh với 135 chiếc oanh tạc cơ cùng chiến đấu cơ. Tất cả ngang ngược vượt đường ranh ngăn đôi tạm thời hai nước Triều Tiên, tại vỹ tuyến 38 để tấn công Nam Hàn.

        Hai mươi hai năm sau đó vào giữa trưa ngày 30-3-1972, nhằm mùa lễ Phục sinh của người Thiên Chúa Giáo, cũng là ngày thứ năm của tuần Thánh Holly Thursday. Lợi dụng mọi người đang xem lễ, cầu nguyện trong những giờ phút thiêng liêng, như dịp Tết Mậu Thân 1968. Cọng sản Ðệ tam quốc tế Bắc Việt, mở một cuộc tấn công ác liệt nhất trong cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2 (1955-1975) vào khắp lãnh thổ VNCH. Chỉ riêng mặt trận giới tuyến, Hà Nội đã xử dụng một lực lượng quân sự vô cùng hùng hậu trên 40.000 người, gồm các sư đoàn chủ lực 304,308, năm trung đoàn biệt lập của B-5 là 126,31,246,270, đặc công, hai trung đoàn chiến xa mang số 203,204 gần 400 chiếc và năm trung đoàn pháo binh nặng. Tất cả đồng loạt vượt sông Bến Hải tràn qua khu phi quân sự, pháo tập và tấn công biển người vào lãnh thổ VNCH tại tỉnh Quảng Trị.

        Hai trận chiến trên rất giống nhau và cũng khác nhau, giồng vì cả hai hiệp định ngưng chiến Cao Ly và Việt Nam, đều do Liên Hiệp Quốc chủ xướng, được ký tại Postdam (7-1945) và Genève ( 20-7-1954), trong đó có Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Trung Cộng, Bắc Hàn, Bắc Việt ký vào văn bản. Còn hai nạn nhân là Nam Hàn và Nam Việt, chỉ đứng chầu rìa lơ láo bên lề hội nghị, để nuốt máu lệ và nổi nhục nhược tiểu mà thội.

             Riêng Bắc Hàn và Bắc Việt đều là chư hầu của Nga-Tàu, trước sau và tới bây giờ vẫn là những đảng cọng sản quốc tế còn sót lại, cuồng tín, cuồng sát và hung hăn hiếu chiến, không thua gì Trung Cộng. Tất cả những thảm họa chiến tranh, từ mấy chục năm qua trên bán đảo Dông Dương và Triều Tiên, cũng đều do hai nước cọng sản này gây nên, qua sự chỉ đạo của đàn anh Nga-Tàu cùng khối xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên cũng có sự khác biệt, đó là ngay khi Bắc Hàn hùng hổ lộng hành tràn qua vỹ tuyến 38, thì lập tức bị Mỹ và LHQ đánh đuổi trở lại bên kia giới tuyến. Nhưng đối với hành động xâm lăng trắng trợn của Bắc Việt thì lại khác, chẳng những không bị các nước đồng chủ tịch , tại hội nghi Genève 1954 phản đối , mà ngay cả tổ chức Liên Hiệp Quốc cũng im re. Còn Mỹ thì có gì để nóí, khi Nixon và Kissiger đã quyết định bỏ chạy khỏi VN. Bởi vậy, Hà Nội càng hung hăng tàn bạo, táng tận lương tâm, pháo tập, trực xa, chém giết thẳng tay hàng vạn đồng bào vô tội, bị kẹt trong vùng lửa khói giao tranh, trên khắp các nẽo đường đất nước, mà kinh khiếp và tàn nhẫn nhất, chắc chắn không đâu có thể sánh nổi với đoạn đường chín cây số, từ quận Hải Lăng về Mỹ Chánh, thuộc tỉnh Quảng Trị.

        Ngậm máu phun người trước dơ miêng mình, đặt chuyện chụp mũ Mỹ và quân Lực VNCH trong chiến tranh, là một sự tuyên truyền rất rẽ tiền của Bắc Việt, chẳng những từ trước năm 1975, mà sau nay các văn nô Hà Nội, trong đó có cán gái Dương Thu Hương ( tiểu thuyết Vô Ðề), đều là chuyện bình thường và xảy ra hằng ngày như cơm bửa. Bởi vậy giờ đâu còn ai tin những chuyện QLVNCH hãm hiếp, bắn giết tù binh VC, hay những chuyện quân đội Hoa Kỳ bắn giết bừa bãi thường dân Việt tại Mỹ Lai-Quảng Ngãi hay mới đây là chuyện Mỹ gài mìn trên cầu Nogunri ở Bắc Hàn vào tháng 7-1950 trước khi rút lui, làm thiệt mạng thường dân trên đường chạy loạn hay có thể bị Bắc Cao, xua đi đầu dọn bãi mìn, như Bắc Việt từng làm tại An Lộc, Bình Ðinh, KonTum.. Nhưng dù có chạy tội cách nào chăng nữa, thì đoạn đường xương trắng máu hồng từ Hải Lăng về Mỹ Chánh, cũng đã trở nên Ðại Lộ Kinh Hoàng, ngàn đời muôn kiếp, trong bia miệng, bia đời và những trang sử của VN cùng Nhân Loại.

             Hãy đọc G.H. Turley, nguyên Ðại Tá cố vấn TQLC, trong tác phẩm The Easter Offensive, thuật lại lời Thiếu Tá Mỹ tên Sheridan vốn là một nhân chứng trong đoàn quân di tản khỏi thành phố Quảng Trị ‘ không ngờ tôi đã làm nhân chứng, cho một hình ảnh thãm khốc, của cuộc chiến VN. Các pháo thủ, bộ đội Bắc Việt, với lý do mà tôi không thể nào giải thích nổi , khi tập trung các loại pháo nặng , thiết giáp để trực xạ vào đoàn người di tản. Khiến cho hàng ngàn người đã gục chết oan khiên, trong đó phần lớn là người già yếu, đàn bà và trẻ nít .. ‘.Còn ký giả A.R.Isaaca thì viết ‘vào tháng 6-1972, tôi theo lực lượng Nhảy Dù của VNCH trở lại tái chiếm Quảng Trị. nên được tận mắt nhìn thấy những thảm họa của đồng bào khi chạy lánh nạn trên Ðại Lộ Kinh Hòang. Kéo dài hàng chục dặm trên đoạn đường bi thiết trên, toàn là những xác xe cộ, trong đó nhiều chiếc còn nguyên tử thi của các nạn nhân. Tất cả đã biến dạng sau hai tháng dầi dầu chịu đựng mưa nắng. Dù quân sĩ cố gắng chôn cất cho họ, nhưng vì quá nhiều, nên vẫn còn nhiều xác kẹt trong xe,suốt hai bên đường quốc lộ số 1 ‘.

            Nhưng diễn tả đúng mức sự tàn ác dã man có một không hai của bộ đội Bắc Việt, nhắm vào đồng bào mình, là nhà văn quân đội Phan Nhật Nam trong tác phẩm Mùa hè đỏ lửa 1972 ‘ sự chết trên 9 cây số đường này, là chín cây số trời chết, đất chết, chết trên mỗi hạt cát, chết trên đầu ngọn lá và vạn vật chết trong lòng ánh sáng, thứ ánh sáng có mùi người.. ’ ’ ’.Thê thảm quá, bất lương ghê cho chiến tranh không biên giới va những người Việt Cộng do Hồ Chí Minh ươn trồng, không còn một chút tình VN và hơi hám của con người đi bằng hai chân biết nói.

1-Quảng Trị, miền địa đầu giới tuyến :

        Tỉnh Quảng Trị nằm ngay địa đầu giới tuyến ngăn đôi đất nước bởi dòng Bến Hải. Ðây là một con sông nhỏ phát nguyên từ dãy Trường Sơn, chảy ra Ðông Hải tại cửa Tùng. Tỉnh bắc giáp quận Vĩnh Linh phía bên kia giới tuyền, tây giáp Lào, phiá nam là tỉnh Thừa Thiên và phía đông là biển. Trước khi xãy ra trận mùa hè năm 1972, tỉnh Quảng Trị có diện tích 3966 km2, dân số 270.984 người. Sau khi kết thúc trận chiến mùa hè vào tháng 9-1972, diện tích Quảng Trị chỉ còn có 164.900 km2, với ba quận Triệu Phong, Mai lĩnh và Hải Lăng nhưng dân số tới 202.338 người. Ðiều này cho thấy, Bắc Việt gây chiến tranh, chỉ chiếm được đất chứ không bao giờ thu phục được nhân tâm, bởi sự tàn ác dã man của bộ đội miền bắc, đi tới tâu, thì đồng bào đều phải bỏ của để chạy lấy mạng.

        Rừng núi Trường Sơn chiếm 2/3 lãnh thổ tỉnh, chạy dài từ bắc tới nam. Tỉnh có ba con sông chính là Bến Hải, Thạch Hản và Mỹ Chánh mà cả ba đã vô tình qua sự sắp xép của lịch sử, trở thành ba con sông biên giới trong các giai đoạn chiến tranh VN . Tỉnh còn có hai quốc lộ 1 và 9, cũng là hai chứng tích lịch sử về việc đồng bào chiến nạn tỉnh Quảng Trị bị thảm sát.

        Quảng Trị du nhập vào Mẹ VN từ năm 1069 khi vua Lý Thánh Tôn, thân chinh đánh Chiêm Thành bắt được vua Chàm là Chế Củ. Ðể chuộc mạng, vua dâng ba châu Ðịa Lý, Ma Linh và Bố Chánh (tức Quảng Bình và một phần Quảng Trị ngày nay ). Sau đó vào năm 1306 Huyền Trân Công Chúa vì nước quên mình, chịu gã cho vua Chế Mân, để đem về cho Ðại Việt hai châu Ô và Lý. Hai châu này sau đó được vua Trần Nhân Tông, đổi thành đất Thuận-Hóa vào năm 1307. Các quận Triệu Phong, Mai Lĩnh và Hải Lặng ngày nay là đất Hóa thời nhà Trần. Quảng Trị cũng là đất khởi nghiệp của Họ Nguyễn, khi Chúa Nguyễn Hòang được vào trấn thủ Thuận Hóa vào tháng 10 năm Mậu Ngọ (1588). Ông lập dinh tại Ái Tử, quận Triệu Phong. Vì là đất cổ của Ðại Việt, nên Quảng Trị có nhiều di tích lịch sử như đền thờ Trần Nhật Duật, thành Tân Sở nơi vua Hàm Nghi xuất bôn xuống hịch Cần Vương chống Pháp vào năm 1885, Vương Cung Thánh Ðường La Vang (Mai Lĩnh), cổ thành Ðinh Công Tráng.

        Thành cổ Ðinh Cộng Tráng được xây dựng từ năm 1823 thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn đắp bằng đất. Năm 1838, thành được xây lại bằng đá gạch, với chu vi 481 trượng 6 thước, cao 1 trượng, dày 3 trượng. Thành có 4 cửa, chung quanh được bao bọc bởi vòng hào , rộng 4 thước, sâu 8 thước. Trước năm 1972, thành cổ là doanh trại của sư đoàn 101 không kỵ Hoa Kỳ. Vào năm 1972, trong cổ thành có Tiểu Khu Quảng Trị và Bộ Tư Lệnh của Sư đoàn 3 bộ binh. Tóm lại đây là một công thự phòng thủ quân sự kiên cố, nhất là trung tâm hành quân của tướng Vũ Văn Giai tư lệnh SD3BB, cũng là tư lệnh chiến trường miền giới tuyến Quảng Trị, trong trận mùa hè năm 1972.

        Làm như để đáp ứng cùng với chính phủ Hoa Kỳ trong các cuộc họp mật khi quân Mỹ lần lượt rút khỏi Nam VN, cọng sản Bắc Việt cũng đóng kịch giảm quân và cường độ tấn công vùng giới tuyến, so với những năm về trước. Do trên, các cấp lãnh đạo VNCH, từ trung ương tới quân đoàn I, đã tin tưởng là Hà Nội sẽ chẳng bao giờ có ý đồ tấn công qua sông Bến Hải. Ðây chính là lý do đã giao trọng trách phòng thủ miền giới tuyến, cho một sư đoàn bộ binh tân lập, chỉ mới hính thành được vài tháng. Ðó là sư đoàn 3 bộ binh, thành lập cuối năm 1971 có quân số vào khoảng 11.203 người. Trong các đơn vị cơ hửu, chỉ có Trung Ðoàn 2 BB rất thiện chiến, vì là một đơn vị tác chiến lâu đời của Sư đoàn 1 BB lừng danh miền giới tuyến. Riêng hai trung đoàn 56 và 57 tân lập mà quân số được bổ sung, từ các lao công đào binh, quân dịch và các đơn vị DPQ + NQ Vùng 1 chiến thuật.. Sư đoàn cũng chưa có kinh nghiệm hành quân và tác chiến cấp vùng..

            Quảng Trị lúc đó, được tăng phái thêm Lữ đoàn 147 TQLC của Trung Tá Nguyễn Năng Bảo đóng tại Mai Lộc về phía tây tỉnh, với trách nhiệm phòng thủ các căn cứ Ba Hô, Sarge, Holcomb và Phượng Hoàng. Riêng SD3BB phòng thủ vỹ tuyến : Trung đoàn 56BB đóng trong căn cứ hỏa lực Carroll lớn nhất tỉnh, do Trung Tá Phạm văn Ðính chỉ huy trách nhiệm phòng thủ các căn cứ Fuller, Khe Gió tiếp cận với Lử đoàn 147 TQLC.. Trung đoàn 2 BB đóng tại căn cứ A-4 (Cồn Thiên) và Trung đoàn 57BB trách nhiệm căn cứ C-1 (Gio Linh), chạy tới cầu Hiền Lương trên quốc lộ 1, về tới căn cứ Ái Tử.. Phía bên kia quốc lộ tới biển, do lực lượng DPQ+NQ tỉnh Quảng Trị bảo vệ.

2-Trận chiến mùa hè 1972 tại Quảng Trị :

        Ðúng 12 giờ trưa ngày 30-3-1972, đại tướng Võ Nguyên Giáp tổng tư lệnh quân đội miền Bắc khai pháo mở màn chiến dịch Nguyễn Huệ, xua 40.000 quân vượt vỹ tuyến 17, cũng là con sông Bến Hải, tấn công QLVNCH trong tỉnh Quảng Trị. Ðể mở đường qua sông, , pháo binh cọng sản, vói các loại đại bác nòng dài 130 ly, cũng như hỏa tiển 122 ly, từ Vĩnh Linh bên kia cầu Hiền Lương, đồng loạt bắn phá tất cả các căn cứ hỏa lực của VNCH, với mức độ tàn phá kinh khủng chưa từng có.

             Ngay lúc hai Trung đoàn 2 và 56/SD3BB đang hoán chuyển vùng, nên bị tổn thất nặng nề về nhân mạng, đồng thời làm cho tinh thần binh sĩ nhất là Trung đoàn 56 giao động mạnh và hoảng sợ. Sau đó bộ binh, chiến xa Bắc Việt, từ bốn hướng tấn công đồng loạt, mục đích không cho QLVNCH tiếp ứng lẫn nhau, khiến cho các căn cứ hỏa lực lần lượt thất thủ, vì pháo kích và các cuộc tấn công biển người.. Tuy nhiên quân cọng sản cũng vấp phải sự chống cự mãnh liệt khắp nơi, nhất là tại các căn cứ của Lữ đoàn 147 TQLC và Trung đoàn 2BB. trấn giữ. Ðại chiến long trời lỡ đất khắp nơi tại Quảng Trị, dù được khẩn báo về Sài Gòn và Ðà Nẳng, nhưng lúc đó dường như cả hai cấp chỉ huy quân sự cao nhất, vẫn còn chưa tìn là Hà Nội dám vượt sông Bến Hải. Chính điều này, đã làm cho bao nhiêu sinh mạng của đồng bào và người lính, chịu thương vong oan khiên , trên các con đường di tản trước biển giặc.

        Mãi tới 6 giờ chiều ngày 30-3-1972, Lử đoàn 258 TQLC và Thiết đoàn 20 chiến xa M48 mới được tăng cường cho SD3BB tại mặt trận Ðông Hà. Ngay lúc đó, SD308 cọng sản đang tấn công Tiểu đoàn 4 TQLC tại hai căn cứ Sarge và đỉnh núi Ba Hô. Còn SD304 thì tấn công Tiểu đoàn 8 TQLC tại căn cứ Holcomb. Thời tiết lại quá xấu, nên không quân không thể yểm trợ hỏa lực cho các căn cứ trên, còn hải pháo cũng chỉ yểm trợ tới các căn cứ hỏa lực ở phía đông gần biển mà thôi. Riêng các Pháo đội đại bác 105,155 kể cả 175 ly của VNCH, cũng không thể đương đầu nổi với hàng trăm khẩu pháo nặng 130 ly của Bắc Việt.

        Rồi thì căn cứ Ái Tử, nơi đặt Bộ Chỉ Huy tiền phương của SD3BB cũng bị pháo kích nặng nề. Ðồng bào từ các quận Cam Lộ, Hương Hóa, Gio Linh, Ðông Hà, bất kể Kinh hay Thượng, ùn ùn bỏ làng xóm, tài sản, kéo nhau chạy về thành phố Quảng Trị để trốn lánh chiến họa. Trên đường đào sanh, hằng ngàn người đã làm mồi cho đạn pháo bình và thiết giáp của bộ đội miền Bắc, gây thêm rối loạn cho các đơn vị của ta, vì vừa phải bảo vệ cho dân chúng, lại vừa chiến đấu với giặc trong cơn nguy ngập.. Ðạn pháo của địch càng lúc càng dữ tợn, hung tàn, phá hết tất cả , không cần phân biệt xóm làng, chùa nhà thờ, dân lính, thành phố đông người. Do đó trong phút chốc, những khu đông dân như Cam Lộ, Ðông Hà trở thành địa ngục trần gian đau khổ, mà không một ai có thể ngờ tới.

        Ngày 31-3, căn cứ hỏa lực của TD4 TQLC tại núi Ba Hô và Sarge bị tràn ngập, phải di tản vào lúc 9 giờ 40 tối, sau khi hứng chịu nhiều thương vong. Ngày 1-4, các căn cứ Ðông Hà, Cam Lộ, Ái Tử bị pháo kích nặng nề nhưng cọng sản vẫn chưa chiếm được, nhờ hải pháo của Ðệ Thất Hạm Ðội Hoa Kỳ, từ ngoài khơi Quảng Trị , bắn vào yểm trợ., trong lúc thời tiết càng xấu thêm, nên không quân không thể yểm trợ hữu hiệu. Bởi vậy lần lượt các căn cứ hỏa lực A-1, A-2, A-3, A-4 do SD3BB trấn giữ , bị tấn chiếm, còn căn cứ Fuller và Khe Gió thì di tản chiến thuật. Căn cứ Holcomb của TD8TQLC , bị tràn ngập lúc 12 giờ 30 khuya đêm 2-4. Tình hình chiến sự rối loạn khắp nơi, cùng lúc tình cảnh của dân chúng chạy loạn cũng vô cùng thê thảm , khiên cho các cấp chỉ huy của SD3BB và Tiểu Khu Quảng Trị, gần như bó tay, vì không tìm ra kế hoạch nào, để ổn định tình thế.

        Rồi Bộ Tư Lệnh tiền phương của SD3BB được lệnh rút về thành phố Quảng Trị. Lử đoàn 258 TQLC, được tăng cường thêm TD3PB/TQLC và TD7TQLC, lãnh thêm nhiệm vụ phòng thủ căn cứ Ái Tử. Trong lúc đó căn cứ hỏa lực Carroll của Trung đoàn 56 BB bị vây khổn nhưng không có quân tiếp viện. Trung đoàn 57 cũng được lệnh bỏ căn cứ Gio Linh, rút về bờ nam Ðông Hà, để lại cho giặc nhiều khẩu đại bác 155 ly.

        6 giờ 30 sáng ngày 2-4-1972, bổng có tin TQLC Hoa Kỳ đã đổ bộ vào bờ biển Quảng Trị, để tiếp viện cho QLVNCH. Tin trên làm cho quân dân trong tỉnh vô cùng phấn khởi nhưng Hà Nội biết trước là tin vịt, nên càng tấn công mạnh khắp nơi. Cùng ngày TD3TQLC và Thiết đoàn 20 chiến xa M48, được lệnh giữ cầu Ðông Hà. Trận chiến trở nên ác liệt, vì bộ đội và chiến xa cọng sản, chuẩn bị vượt cầu Ðông Hà. Ngày 3-4, Trung Ðoàn 2BB bị bộ đội Bắc Việt truy đuổi khi rút về Cam Lộ, nên không kịp dùng mìn phá cầu. Tại căn cứ Carroll, do Trung Tá Phạm Văn Ðính chỉ huy, gồm Trung đoàn 56BB, các pháo đội diện địa, TD1 Pháo binh TQLC, tổng cộng quân số trên 2000 người, kéo cờ trắng đầu hàng quân Bắc Việt. Ðây là trường hợp duy nhất, trong cuộc chiến Ðông Dương lần 2. Tình hình đã quá nguy ngập, nên cầu Ðông Hà được lệnh giật xập, chận được bước tiến của giặc trong một thời gian ngắn. Lử đoàn 369 TQLC lại được tăng cường thêm cho Quảng Trị.

        Ngày 4-4, Lử đoàn 147 TQLC cũng phải bỏ luôn căn cứ Mai Lộc, vì không chịu nổi pháo kích và chiến thuật tấn công biển người. Vì quân số bị hao hụt quá nhiều, nên lử đoàn này được lệnh về Huế bổ sung và tái trang bị.. Riêng TD7 TQLC vì quân số còn nguyên vẹn, nên được lệnh giự còn đường huyết mạch QL số 1, từ Hải Lăng về Mỹ Chánh. Như vậy về phía tây, chỉ còn có TD1 TQLC, trấn giữ căn cứ Phượng Hoàng, làm tiền đồn, bảo vệ thành phố mà thôi.

        Do tình hình quá khẩn cấp và nguy ngập, nên Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn 1 tăng cường thêm cho Quảng Trị nhiều đơn vị. Như vậy tính đến ngày 5-4, chiến trường này có 2 Trung đoàn bộ binh của SD3 là 2 và 57, hai Lử đoàn 258 và 369 TQLC, bốn Liên Ðoàn Biệt Ðộng Quân, hai Thiết đoàn 17 (M113) và 20 (M48), 24 Tiểu đoàn Ðịa Phương Quân + NQ và 8 Tiểu đoàn Pháo binh. Nhưng vì lệnh chỉ huy không thống nhất, giửa Tướng Hoàng Xuân Lãm (Tư lệnh QÐ1) từ Ðà Nẳng và Chuẩn tướng Vũ Văn Gian (Tư lệnh SD3BB) tại chiến trường, khiến cho tình thế đã không được ổn định, mà càng gây thêm rắc rối trên khắp các mặt trận. Cuối cùng Quảng Trị đã thất thủ, chỉ sau mấy ngày bị pháo kích, đã ban lệnh di tản.

        Ngày 8-4, sau mấy ngày bị tổn thất vì mưa pháo, TD 3 TQLC phải hoán chuyển về Ái Tử và Biệt Ðộng Quân ra thay thế giữ bờ nam Ðông Hà. Tại căn cứ Phượng Hoàng, cọng sản đã thảm bại khi trực chiến với TD6 TQLC, thiệt hại hơn một trung đoàn bộ đội, 21 chiến xa T54 bị cháy, phần lớn do Không quân Việt-Mỷ oanh kích, bãi mìn cùng pháo binh. Hai chiếc T54 khac bị bắt sống đem về thành phố Quảng Trị. Nhưng sau đó, TD6 TQLCH cũng được lệnh bỏ căn cứ Phượng Hoàng vào ngày 12-4.

             Một cuộc hành quân đại qui mô do Trung tướng Hoàng Xuân Lãm chỉ Huy, mang tên Quang Trung 729, khai diễn ngày 14-4 với mục đích tái chiếm các căn cứ ở phía tây đã mất. Cùng lúc, cọng sản Bắc Việt đã mở ba cuộc tấn công lớn vào Ái Tử, Ðông Hà và căn cứ Anne ở phía nam, đối diện với quận Hải Lăng. Mục đích là muốn cắt đứt con đường huyết mạch của QLVNCH, từ Quảng Trị về Huế. Ðể chống lại âm mưu trên, tướng Giai chia các lực lượng đang tham chiến tại đây thành 5 chiến đoàn đặc nhiệm : Trung đoàn 57 BB giữ bờ nam sông Ðông Hà. Thiết đoàn 1 + 20 + 2 Lừ Ðoàn 4,5 BDQ do Ðại tá chỉ huy trưởng LD1 TG chỉ huy, tái chiếm căn cứ Carroll. Lử đoàn 258 TQLC từ Ái Tử, tái chiếm căn cứ Mai lộc. Trung đoàn 2BB giữ mặt trận từ Ba Lòng tới bờ tây sông Thạch Hản, ngăn không cho quân Bắc Việt tấn công thành phố. Cuối cùng là Liên Ðoàn I BDQ, gồm các Tiểu đoàn 21, 37 và 77, giữ con đường huyết mạch từ Quảng trị tới quận Hải Lăng. Chiến cuộc thật sự bùng nổ lớn, tất cả các cánh quân đều chạm địch và bị pháo kích nặng nề. Bởi vậy thay vì quân ta tấn công, lại bị giặc đẩy ngược về phía thành phố . Trong số này, nguy khổn nhất là cánh quân của LD5 BDQ và Thiết đoàn 20 chiến xa. Tuy nhiến tính đến ngày 18-4, các đơn vị của QLVNCH vẫn còn giữ vửng đựợc các vị trí chịu trách nhiệm.

        Ngày 22-4, Lử đoàn 147 TQLC sau khi được bổ sung và tái trang bị, đuợc lệnh trở ra Quảng Trị, thay thế LD 258 TQLC phòng thủ căn cứ Aí Tử. Trong đêm CS pháo kích làm nổ kho tiếp liệu của SD3BB tại La Vang , trong đó có kho xăng dầu và cả một đoàn xe tiếp tế quân trang dụng của Bộ Chỉ Huy 1 Tiếp Vận, từ Ðà Nẳng tới. Nyày 23-4, bất chấp sự thiệt hại to lớn trong những ngày đụng dộ vừa qua với QLVNCH, Không quân và Hải pháo của Việt-Mỹ, Cọng sản Hà Nội vẫn điên cuồng tấn công khắp nơi bằng biển người, bất chấp sinh mạng con người của cả hai phía, trong đó phần lớn là đồng bào chạy lánh nạn.

             Trong lúc đó gần tháng qua, người lính Miền Nam các cấp, từ TQLC,BDQ, Thiết Giáp, Bộ Binh, DPQ + NQ.. ngày đêm thiếu ăn mất ngủ, chỉ đứng dưới giao thông hào , chịu pháo, chịu đạn giữa rời mưa gió. Cùng lúc khắp các nẽo đường Quảng Trị , đồng bào chiến nạn gục chết thê thảm bởi cảnh pháo kích bừa bãi của bộ đội Bắc Việt. Quảng Trị đã thật sự trở thành địa ngục trần gian thứ hai sau An Lộc tỉnh Bình Long cũng đang bị CS tấn công vây khổn.

        Ngày 27-4, tất cả nòng súng đại pháo của quân Bắc Việt, đều tập trung vào tỉnh lỵ, căn cứ hỏa lực Ái Tử, các quận Mai Lỉnh, Hải Lăng. Trong lúc đoàn người tị nạn thay vì tâp trung tại Quảng Trị, lại ùn ùn tiếp tục bỏ chạy về Huế tị nạn, gây cảnh hổn loạn trên quốc lộ 1. Các cánh quân cũng bắt đầu náo động vì vợ con tan tác chạy lánh nạn. Do đó nhiều đơn vị đã tự động di tản, làm cho Bộ Tư Lệnh SD3BB cũng là đầu nảo chiến trường, mất liên lạc với một số lớn đơn vị trực thuộc.

             Ðúng lúc, kho đạn lớn trong căn cứ Ái Tử lại phát nổ. Ngày 28-4, trước áp lực của đích, cánh quân của Liên Ðoàn 5BDQ và Thiết Ðoàn 20 rút về phía bên kia cầu Vĩnh Phước nhưng bị pháo 130 ly của Cọng sản bắn sập cầu, khiến nhiều xe M48 và đại bác 105,155 ly bỏ lại bên bờ Bắc. Cũng từ phút đó, các cánh quân còn lại của LD4,5 BDQ, LD 1 Thiết kỵ và Trung Ðoàn 57 BB, phải lui về phòng thủ căn cứ Ái Tử và thành phố Quảng Trị.

             Ngày 29-4, lúc 2 giờ sáng, cọng sản tấn công Trung đoàn 2BB và Thiết đoàn 17, tại căn cứ ở phía tây thành phố, trong lúc đó về phía bờ biển, cọng sản với bộ binh có chiến xa lội nước PT76, tấn cọng các Tiểu đoàn DPQ + NQ của Tiểu Khu Quảng Trị. Tình trạng hổn loạn khắp nơi, khiến cho Tướng Giai phải quyết định bỏ căn cứ Ái Tử, rút hết về bờ nam sông Thạch Hản phòng thủ. Lúc đó Trung đoàn 57 BB coi như tan hàng, vì hầu hết binh sĩ đã rã ngủ , để chạy theo gia đình đang di tản về Huế.

             Quốc lộ số 1 đã bị cọng sản đóng chốt nhiều đọan, từ Hải Lăng về Mỹ Chánh, vì Tiểu đoàn 7 TQLC bị chuyển ra phòng thủ căn cứ Ái Tử. Do đó đoạn đường huyết mạch, chì có chín cây số, bị bỏ ngỏ để quân cọng sản đóng chốt, đã trở thành con đường xương trắng máu hồng., mà bia miệng và sử liệu gọi là Ðại Lộ Kinh Hoàng hay là Mồ Chôn tập thể đồng bào tỉnh Quảng Trị, trong trận chiến Mùa Hè Năm 1972.

3-Rút bỏ Quảng Trị :

        Ngày 30-4, tư lệnh chiến trường kiêm tư lệnh SD3 BB là chuẩn tướng Vũ văn Giai, triệu tập phiên họp đặc biệt và quan trọng, để bàn kế hoạch giữ thành phố Quảng Trị và bỏ căn cứ hỏa lực Ái Tử. Do đó, trong cuộc lui quân, LD 147TQLC và TD2.Pháo binh/TQLC , với quân số trên 2000 người, khi quân qua cầu Thạch Hản thì cầu bị xập, khiến cho một số lớn chiến xa, xe cộ , đại bác và quân trang dụng.. phải bị bỏ lại phía bên kia cầu cho cọng sản.

             Lúc đó Lử đoàn 369 TQLC được tăng cường với nhiệm vụ , giữ mặt tây từ sông Ô Khê tới đầu cầu Mỹ Chánh, ranh giới hai tỉnh Thừa Thiên-Quảng Trị. Ðồng thời phải giải tỏa quốc lộ số 1, đoạn từ Hải Lăng về Mỹ Chánh, đang bị quân cọng sản chiếm và đóng chốt., nhất là cầu sông Nhung, nằm giữa quốc lộ 1. Tình trạng này, đã làm gián đoạn giao thông, đoàn xe di tản của dân và lính, dài hơn ba cây số. Ðây là mục tiêu chính, để quân Bắc Việt , tha hồ tác xạ dữ dội và tàn nhẩn, bằng đủ loại súng lớn nhỏ, từ cá nhân, cộng đồng, đại bác tới thiết giáp. Hàng ngàn xe cộ, quân xa cũng như xe dân sự, đồng bào, lính tráng chết thảm thương trong những xác xe cháy nằm la liệt khắp đường. Chỉ những kẻ biết bơi lội, mới sống sót được khi bơi qua sông Nhung, chạy về Mỹ Chánh.

        Ngày 1-5-1972, tướng Giai tuyên bố bỏ thành phố Quảng Trị và di tản chiến thuật. Tin trên chẳng những làm mười bảy triệu dân miền Nam đau xót bùi ngùi, mà còn khiến cho toàn thể thế giới sửng sốt. Tất cả không ai tin được là tại sao tỉnh Quảng Trị, lại bị lọt vào tay giặc một cách quá dễ dàng, nếu đem so sánh với sự kinh hồn bạt vía, trời long đất lở, hoàn cảnh nguy ngập tại hai mặt trận Kon Tum và nhất là địa ngục An Lộc lúc đó, không một chiếc xe tăng hay đại pháo và bị vây khổn giữa chốn ba quân bạt ngàn, có sức mạnh chẻ tre chém đá.

            Theo Lê Huy Anh Vũ, Trung tá thuộc phòng điện ảnh quân đội, một nhân chứng trong ba ngày cuối cùng tại Bộ tư lệnh SD3BB, đã viết tướng Giai có hứa với thuộc hạ, là sẽ cùng với họ đi bộ. Nhưng cuối cùng tướng tư lệnh đã thất hứa, đã cùng với các cố vấn Mỹ và một ít sĩ quan tham mưu thân cận, lên trực thăng bay về Huế lúc 16 giờ 40 ‘ cùng ngày. Cổ thành Ðinh Công Tráng-Quảng Trị, một căn cứ hỏa lực và phòng thủ vững chắc gấp 100 lân thị xã An Lộc, bị bỏ ngỏ và lọt vào tay cọng sản Bắc Việt , tối ngày 2-5-1972.

        Giữa lúc đó, cánh quân còn lại tại Quảng Trị, gồm Lữ đoàn 147 TQLC, Liên đoàn 1, 4 Biệt động quân và các đơn vị của SD3BB, vừa phải bảo vệ dân chúng di tản, vừa mở đường máu, vừa đụng độ và lãnh đạn pháo kích nặng nề của giặc nhưng cuối cùng cũng đã thoát được về Huế, sau khi lãnh chịu nhiều thương vong thê thảm. Như vậy tính đến ngày 2-5-1972, tỉnh Quảng Trị coi như hoàn toàn bị Bắc Việt cưởng chiếm.

             Nhưng sau đó giặc từ bộ đội, chiến xa, pháo binh kể cả đặc công, đã hoàn toàn bị chặn đứng bên bờ bắc sông Mỹ Chanh, bởi Lử Ðoàn 369 Thủy quân lục chiến, do Ðại tá Phạm Văn Chung chỉ huy. Nhờ Lữ đoàn này ngăn được bước tiến của quân Bắc Việt, nên Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn 1, với vị Tư lệnh mới là Trung tứơng Ngô Quang Trướng (thay tướng Hoàng Xuân Lãm), mới có đủ thì giờ chỉnh đốn lại các đơn vị và mở cuộc tấn công tái chiếm Quảng Trị. Sau đó thành cổ Dinh Công Tráng cũng được hoàn toàn giải phóng,vào đêm 14-9-1972, khi người lính của Ðại Ðội 3, Tiểu đoàn3 TQLC, treo được ngọn cờ vàng ba sọc đỏ, của Quốc Dân VNCH trên kỳ đài. Những tên bộ đội cuối cùng của Trung đoàn 48 cọng sản, lội sông trốn chạy về bờ Bắc Thạch Hản, sau 82 ngày bám trụ.

4-Nguyên nhân và hậu quả cuộc chiến 1972 :

        Ðầu năm 1972, Hoa Kỳ đang bước vào chu kỳ mới với việc tổng thống Nixon ra tranh cử nhiệm kỳ hai, trong lúc hòa đàm tại Ba Lê giữa Mỹ và Bắc Việt lại bế tắc. Cùng lúc phong trào phản chiến , do trí thức, báo chí, truyền thanh truyền hình Mỹ chủ xướng, đang dân cao, còn quốc hội Mỹ, dưới sự chi phối của đảng dân chủ, lần lượt cắt bỏ quyền của tổng thống Nixon, đối với sự tham chiến tại VN. Cuối cùng quân Mỹ và Ðồng Minh rút hết về nước, QLVNCH bị cắt giảm hỏa lực và quân trạng dụng. Ðó là những lý do khiến Hà Nội đốt giai đoạn, vượt tuyến tấn công ào ạt vào khắp lãnh thổ VNCH vào mùa hè năm 1972 để dành ưu thế trên bàn hội nghị Ba Lê sắp tới.

        Nhưng dù đã được Nga-Tàu quân viện và bán chịu cho một số lượng quân dụng khổng lồ, tối tân như chiến xa T54,55, PT76, đại bác 130,155 ly, súng phòng không 23,57 và hoả tiển tầm nhiệt SA 7 (nợ chiến phí này ngày nay VC đem đất đảo biển VN trả nợ cho Tàu đỏ. Cho mươn Cam Ranh và liên doan khai thác dâù hoa với Nga Sô để trả nợ). Ðồng thời xử dụng hết số 13 sư đoàn tác chiến tại miền Bắc, quân số trên 136.400 người, bất thần mở cuộc tấn công khắp lãnh thổ VNCH.. Y chang như trận Tết Mậu Thân 1968, Bắc Việt chỉ thắng lợi lúc ban , sau đó đại bại hầu hết trên khắp các mặt trận, cho dù đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã xử dụng binh pháp của Liên Xô, tận dụng triệt để hỏa lực của đại pháo, xe tăng và biển người, với mục đích đè bẹp nhanh chóng QLVNCH.

        Ðối với Hoa Kỳ khi nhận được tin Bắc Việt vượt vỹ tuyến 17, qua sông Bến Hải và biên giới Lào-Miên tấn công miền Nam. Tổng thống Nixon họp Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia, quyết định cho phép Hải Không Quân Hoa Kỳ trở lại yểm trợ hỏa lực cho QLVNCH. Nhưng bộ binh không được tham dự, đồng thời cuộc rút quân Mỹ về nước vẫn tiếp tục.

             Do đó Mỹ bắt đầu gia tăng các lực lượng yểm trợ, chiến đấu tại VN. Hai hàng không mẫu hạm Constellation và Kitty Hawk, trở lại tăng cường cho hai Hàng không mẫu hạm Corral Sea và Hancook, cùng một số lớn tàu tuần duyên , khu trục hạm, có mặt quanh Cửa Việt trên 20 chiếc. Về Không Quân , từ ngày 15-4-1972, phi đoàn 35 chiến thuật , cùng với 3 phi đoàn F4 của TQLC Mỹ, đều trở lại VN. Ðồng thời tất cả B52 tại hai căn cứ Anderson Field (Guam) và Utapao (Thái Lan), gồm 38 chiếc cũng được lệnh yểm trợ cho chiến trường VN. Ngoài ra, tổng thống Nixon còn ra lệnh vào ngày 2-5-1972, mở chiến dịch Linebacker 1, tái oanh tạc miền Bắc, nhất là tại Hà Nội , Hải Phòng. Ðồng thời thả mìn và thủy lôi , phong tỏa các cửa sông, cửa biển của Bắc Việt, ngăn chận các tàu thuyền của Nga,Tàu và các nước Ðông Âu, tiếp tế vũ khí đạn dược , cho cọng sản Hà Nội. Sau đó mở thêm chiến dịch Linebacker II, kéo dài trong 11 ngày đêm, từ 18/12 đến 29-121972, tàn phá miền Bắc rất nặng nề, khiến cho Hà Nôi phải trở lại bàn hội nghị tại Ba Lê với Mỹ.

        Theo J.Pimlott trong tác phẩm Vietnam The Decisive Battles, thì cuối tháng 9-1972, cọng sản Bắc Việt thương vong khoảng 100.000 người. Riêng VNCH, dồng bào và lính chết chừng 50.000 người. Nhưng theo W.H Morrison trong The Elephant & The Tiger thì Cọng sản Bắc Việt chẳng những đã thất bại về quân sự, mà còn không đạt được mục tiêu chính là dành dân chiếm đất, trừ tỉnh Quảng Trị bị tạm chiếm trong lúc đầu. Tướng Võ Nguyên Giáp bại trận và danh liệt từ đó cho đến ngày nay, vì đã lầm lẫn khi hoạch địch kế hoạnh tấn công . Không biết xử dụng nhị thức ‘ Thiết giáp-bộ binh ‘ như các tướng lãnh VNCH lừng danh : cố đại tướng Ðổ Cao Trí, Trung tướng Nguyễn Văn Toàn và Chuẩn tướng Trần Quang Khôi. Ðã đánh giá sai lầm tinh thần chiến đấu của QLVNCH, dù đã bị đánh lén cũng như bị thua thiệt về hõa lực. Sau hết là ảo tưởng rằng khi bộ đội đếu đâu, dân miền Nam sẽ đồng khởi, lật đổ chính quyền. Nhưng mọi sự hoàn toàn trai ngược, vì cọng sản tới đâu, dân miền Nam bỏ chạy tới đó, do trên bộ đội tức giận , thẳng tay bắn giết đồng bào mà chúng gọi là nguỵ dân.

        Trong trận chiến này, VNCH có hai sư đoàn bộ binh bị tan hàng. Ðó là SD22 BB ở Tân Cảnh (Kon Tum) và SD3BB tại Quảng Trị. Nhưng sự tan hàng và cung cách hành xử của hai tư lệnh sư đoàn trên, cũng khác biệt. Tại Kontum, lúc 2 giờ sáng ngày 24-4-1972, cộng quân tràn ngập căn cứ Tân Cảnh, do SD22BB trấn giữ. Ðại Tá Lê Ðức Ðạt, tư lệnh của SD, đã từ chối lời mời của Ðại tá cố vấn Mỹ là Kaplan, lên trực thăng cấp cứu của cố vân Mỹ tại QDII là Paul Vann. Ông cũng không cầu cứu với Tướng Ngô Du, Tư lệnh Quân Ðoàn, chịu ở lại, để cùng chết với binh sĩ của SD22BB. Riêng SD3BB, trừ Trung đoàn 2BB, còn lại hai Trung đoàn 56 và 57, chưa đụng trận mà chỉ bị pháo kích, đã náo loạn và bỏ chạy. Còn tướng Vũ Văn Giai, tư lệnh SD, hứa ở lại để cùng di tản bộ với đơn vị. Nhưng rồi lại thất hứa, leo lên trực thăng để di tản với cố vấn Mỹ lúc 16 giờ 40 phút ngày 1-5-1972, bỏ lại binh sĩ của Bộ Tư Lệnh và Ðại Ðội Tổng Hành Dinh của SD3BB, như rắn mất đầu, phải chạy theo Thiết Ðoàn 18 về Huế.

        Ngoài ra cũng còn rất nhiều chuyện lạ, như lúc quân Bắc Việt qua sông Bến Hải, tràn ngập và tấn công QLVNCH, thì người Mỹ lại dở trò chủ nhân, làm cho VNCH đang lúc nguy khôn lại càng tận tuyệt. Theo Turley trong The Easter Offensive, thì việc Bộ tư lệnh KQ Mỹ, cấm tác xạ vào vùng phi quân sự, tại miền Bắc tỉnh Quảng Trị, trong phạm vi đường kính 27 km, khi tung tin chiếc phi cơ EB66 của một Ðại Tá Hoa Kỳ, bị hỏa tiển Sam, của cộng quan bắn hạ tại vùng Cam Lộ.

             Lệnh này được thi hành suốt 12 ngày đầu của trận chiến vùng hỏa tuyến., tạo cơ hội cho Hà Nội mở một hành lang an toàn , khi di chuyển qua vùng giới tuyến mà không bị máy bay hay pháo binh của ta oanh tạc và tác xạ. Tại căn cứ hỏa lực Ái Tử, trong lúc QLVNCH đang bị giặc vây khổn và pháo kích tơi bời, lại nhận được thông báo từ các cố vấn, rằng B52 sẽ đến thả bom san bằng, khiến cho BTL / SD3BB phải cấp tốc ban hành lệnh di tản chiến thuật. Ðó là tất cả những chuyện khôi hài, cười ra nước mắt, khiến cho ai đọc tới, cũng phải chua xót và tủi hổ cho thân phận nhược tiểu VN.

        Sau hết là cái tình yêu thương giữa đồng bào và người lính trận trong cơn hoạn nạn, cũng được thể hiện một cách trọn vẹn, qua cuộc chiến 1972. Chính tại những miền đạn bom lửa máu này, những chổ không bao giớ có bóng dáng các vị trí thức, giáo sư, nhà báo, ký giả đi ăn mày hay nhà văn nhà thơ gì gì đó, mà chỉ có người dân cùng người lính chia nhau niềm đau khổ, đói rách và khủng hoảng tinh thần.

            Trong thảm tuyệt tận cùng này, người quốc gia từ công chức, cảnh sát, cán bộ cho tới các quân binh chủng của QLVNCH, ai nấy đều chấp nhận cái chết, chịu ở lại, đổi mạng mình, để đem lại sự bình an hạnh phúc cho hậu phương mà hận nhất là phải bảo vệ mạng sống cỏ rơm cho tên ký sinh trùng ‘ TRỊNH CÔNG SƠN ‘ phản tặc và phản chiến, đâm sau lưng nười lính người dân bằng những ca khúc được vót nhọn bằng mã tấu dao găm chữ nghĩa.

             Thắm thiết biết là bao, đó là sự đùm bọc đồng bào như chính bản thân mình. Những khẩu phần lương khô ít ỏi, những ngụm nước uống thiếu vệ sinh cùng với những sớt chia sự nguy hiểm quanh quanh , đều là những viên thuốc thần dược, xoa dịu và an ủi niềm đau bất hạnh của đồng bào trong lúc nguy khốn. Chẳng những thế, đối với cán binh bộ đội giặc, bị bắt làm tù binh, cũng được người lính đối xử nhân đạo với tình đồng bào, mà không hề phân biệt Nam-Bắc, dù thực chất Hà Nội luôn coi đồng bào Miền Nam là kẻ tử thù.

        Trần Ðức, một người lính nhẩy dù, trên đường tiến quân tái chiếm Quảng Trị, khi ngang qua Ðại Lộ Kinh Hoàng, đã không cầm nổi nước mắt, giữa hàng trăm, hàng ngàn xác chết bên cạnh những chiếc xe đạp, xe gắn máy, nằm ngổn ngang, chỏng gọng, những gồng gánh, bao bọc bị đạn pháo đổ ra tung tóe.

             Những chiếc xe jeep, xe thùng hồng thập tự, vết đạn xuyên lỗ chỗ. Ngọn gió Lào nóng rát mặt đẩy đưa cánh cửa xe cho thấy những xác người nằm trên băng ca, những cọng băng phất phơ chỉ còn bám vào bộ xương khô bởi mấy rẽ xương sườn. Có bộ xương em bé nằm trên bộ xương người mẹ dưới một bụi gai. Có xác khô đét như người tiền sử nằm giữa đám cỏ may bên lề đại lộ. Có xác nằm sấp, có xác nằm co như còn mong bờ đất dưới ruộng che chở cho mình thoát tầm đạn giặc.

             Ðó đây, giữa đám xác người, rải rác những đuôi đạn súng cối 61 lý và B40 .Thì ra cộng quân đã đứng rất gần để tác xạ vào đám dân Quảng Trị chạy loạn. Họ đã bắn như bắn bia. Bắn cho chết đến người cuối cùng. Bất kể đàn ông, đàn bà. Bất kể người già hay trẻ thơ. Thật là rùng rợn. Hình ảnh này trong trận tấn công “Mùa Hè Dỏ Lửa năm 1972” ghi sâu mãi mãi trong ký ức của những người đã chứng kiến thảm cảnh người dân Quảng Trị phải gánh chịu và tội ác chiến tranh của cọng sản Bắc Việt.
            Ðoạn đường mang tên “Dại Lộ Kinh Hoàng” nay không còn xác chết, không còn dấu vết của tội ác. Họ đã được thân nhân mang về mai táng ngay sau đó. Sau tháng 5- 1975, đất nước đắm chìm trong tù gông nô lệ cũa thực dân VC, vì vậy hằng năm đến ngày giỗ tập thể, hàng ngàn gia đình ở vùng quê hương Quảng Trị chỉ âm thầm thắp nén hương thơm tưởng nhớ.
            Không ai dám hé răng nửa lời. Có những người không còn thân nhân thì mồ hoang, mả lạnh, không chút khói hương. Nghĩ đến xót xa làm sao! Họ đã chết tức tưởi mà đến nay họ còn u uất nơi bờ cao bụi rậm, không sao siêu thoát được. Hẳn họ không sao có thể ngờ dược là 30 năm sau, người đời vẫn còn nhớ thương họ. Vào ngày 28-4 đến ngày 2-5-2002 vừa qua, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Quảng Trị đã tổ chức tại chùa Long An thuộc quận Triệu Phong đàn tràng cầu siêu cho những nạn nhân bị Cộng Sản sát hại trong trận chiến Mùa Hè Dỏ Lửa năm 1972 tại Quảng Trị., mặc dù chính quyền địa phương đã cho cán bộ đi từng nhà để ngăn cản, đe dọa, chặn đường, cấm cho thuê xẹ Thượng tọa Thích Hải Tạng, trụ trì chùa Long An cho biết, nhân dịp này, đồng bào đã mang hàng trăm linh vị các nạn nhân của cộng sản trong Mùa Hè Dỏ Lửa đến chùa để xin được giải oan siêu thoát.
            Mới đây báo đảng lại la ó lên vụ lính Mỹ thảm sát đồng bào Bắc Hàn trong chiến tranh Triều Tiên năm 1950. Báo viết lính Mỹ gài mìn hai bên cầu Nogunri, để làm chậm đà tiến quân Bắc Cao. Sau đó vì hốt hoảng hay lý do nào khác , khiến lính Mỹ hạ sát hằng trăm người tị nạn đang trốn dưới vòm cầu. Bài viết rất mơ hồ, khi chỉ nghe mờ mịt và đang trong vòng tranh cải.

             Khi viết tin trên, không biết VC có khi nào sám hối về những hành động bắn giết đồng bào mình, trong cuộc chiến vừa qua và sau đó cứ tiếp tục tàn sát cho tới nay vẫn chưa dừng tay. Ðau đớn và nhục nhã nhất là VC lúc nào cũng xua công an bộ đội tàn sát người dân vô tội khắp nước, trong khi đó thì quì mọp sát đất dang biển bán đảo cho Tàu Ðỏ một cách đê hèn.
            Nhưng đâu có gì la vì mang nợ thì phải trả nợ thế thôi.
            Bởi vậy ngậm máu phun người, trước dơ miệng mình và trên hết chỉ làm trò cười cho kẻ khác mà thôi. Ba chục năm máu lửa (1945-1975) chỉ vì trành dành quyền lực mà Hồ Chí Minh và đảng CSVN đã tìm đủ mọc cách, trong đó bi thảm nhất là đem giang sơn gấm vốc Hồng Lạc để đánh đổi với Tàu đỏ để có súng đạn và phương tiện mang về giết hại đồng bào. Rồi cũng chỉ vì muốn bảo vệ chiếc ngai vàng đẳm máu, đảng CSVN lại cúi đầu nhắm mắt đem cẩm tú non sông Việt bán dần mòn cho giặc cướp phương Bắc. Trong khi đó vẫn thẳng tay tàn sát đồng bào mình.
            Nghiệt ngã của Dân Tộc Việt là thế đó. Vậy mà còn nhiều tên việt gian tại hải ngoại cứ dững dưng ca tụng Hồ và đòi hòa hop hoà giải với vòng ôm lớn cùng VC.

Viết tại Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 3-2015
MƯỜNG GIANG

..


__._,_.___

Posted by: Ho Dinh 

.Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba Lại nhớ đến Nghĩa Trang Quân Đội VNCH Biên Hòa



--
Kính chuyển
MG
.Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba
Lại nhớ đến Nghĩa Trang Quân Đội VNCH Biên Hòa
MƯỜNG GIANG


            Tháng ba trên đất Bắc, tiết trời như vẫn còn xuân. Khắp nơi, cây cỏ hoa lá đều đâm chồi nẫy lộc, như khoe hương sắc rực rỡ nõn nường. Tố Như tiên sinh Nguyễn Du, khi sáng tác Ðoạn Trường Tân Thanh, mặc dù cốt truyện và bối cảnh hoàn toàn mượn của Trung Hoa nhưng chắc chắn ông đã rung động trước cảnh trời quang mây tạnh, non nước hữu tình, trên quê hương dấu yêu trân quý, nên đã hạ bút viết :

            ‘ cỏ non xanh rợn chân trời,
            cành lê trắng điểm một vài bông hoa
            thanh minh trong tiết tháng ba
            lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.’

            Mặc dù tập quán của người VN ba miền có dị biệt nhưng riêng lễ Thanh Minh, thì cả nước gần như đều giống nhau, từ phong cách cho tới tập tục. Suốt ngày lễ, mọi người đều rủ nhau đi tảo mộ và cúng tế những người thân đã khuất mặt. Ngoài ra tại các Hàn Lâm Sở nơi bãi tha ma, đều có tổ chức cúng tập thể những oan hồn uổng tử, tiền bạc chi phí đều do bá tánh ủng hộ. Nhưng rồi VC về, người sống còn nát cửa nhà tan đến nỗi mười phương ly tán, nên ai đâu còn dịp, để săn sóc mộ phần của thân quyến, như thuở thanh bình. Và cũng chẳng riêng gì những nghĩa trang quân đội của VNCH, mà gần như mọi nơi từ Quảng Trị vào tới Hà Tiên và mới đây vào ngày 15-12-2004 hơn 10.000 ngôi mộ, phần lớn mơí chôn tại Phú-Hài thành phố Phan Thiết, bị bốc hốt dày mồ. Nổi tang thương hoang phế, của kiếp người sống dưới gông cùm tàn độc, làm cho kẻ ngoại cuộc nhìn vào, chắc cũng không thể cầm nổi nước mắt . Kiếp đời bi thương tàn úa đó, đâu có khác gì thân phận bèo bọt của nàng Ðạm Tiên, trong truyện Kiều :

            ‘sè sè nắm đất bên đường,
            rầu rầu ngọn cỏ, nửa vàng nữa xanh
            rằng nay trong tiết Thanh Minh,
            mà sao hương khói vắng tanh thế này ? ‘

1- Tiết Thanh Minh :

            Thanh Minh là tiết thứ năm trong hai mươi bốn tiết của năm theo âm lịch. Lể hôi này tuy không quan trọng bằng những ngày Nguyên Ðán đầu năm nhưng cũng được các dân tộc theo tam giáo (Phật, Lão, Nho), coi như một trong những lễ tết, thường đến vào tháng ba âm lịch. Theo từ nguyên, thì Thanh có nghĩa là khí trong, còn Minh là sáng sủa. Nên thường hôm đó, bầu trời rất là trong veo sáng dịu, mưa xuân gần như đã dứt nhưng cảnh vật vẫn xanh tươi đầm ấm, có thể nói là thời gian đẹp nhất trong năm. Nhân đó, người Á Ðông nhất là Trung Hoa và Việt Nam, đua nhau đi tảo mộ gia tiên. Còn nam thanh nữ tú thì mở hội đạp thanh.

            Tại các bãi tha ma quanh năm suốt tháng hoang vắng cô tịch, ngày hôm đó bổng trở nên náo nhiệt tưng bừng. Khắp nơi mọi người lũ lượt kéo nhau đi dãy mả, sửa sang mộ phần. Bốn hướng đâu đâu cũng nghi ngút khói hương, thơm nồng mùi hoa quả. Hầu như ai cũng phấn khởi, yêu đời, thật là : ‘ dập dìu tài tử giai nhân, ngựa xe như nước áo quần như nêm .. ’ ’

            Tóm lại, nước ta ở đâu cũng đều có lễ hội Thanh Minh vào tháng ba âm lịch. Tuy nhiên cũng có vài địa phương như vùng Thị Cầu, Ðáp Cầu (Vĩnh-Phúc Yên), Sài Gòn-Chợ Lớn, mọi người thưởng cử hành lễ tảo mộ vào những ngày Nguyên Ðán. Riêng vùng Trung châu, thuộc hạ lưu sông Hồng như Hà Ðông, Hà Nam (Bắc Việt), đất thấp vào mùa mưa là ngập nước. Bởi vậy lể tảo mộ hằng năm phải tổ chức vào mùa khô, khi nước đã rút hết vào tháng chín âm lịch.

            Quê tôi Phan Thiết, ngày hội Thanh Minh được tổ chức rất là trọng thể và đặc biệt, từ ba trăm năm qua, được người bản địa coi như là một mỹ tục của tỉnh Bình Thuận. Tại dây, hằng năm có hai phiên chợ đêm, một vào những ngày cuối năm âm lịch. Phiên thứ hai được nhóm trước ngày Thanh Minh. Ðêm đó, mọi người rủ nhau đi chợ mua bánh trái, hoa quả, hương đèn và nhất là món đặc biệt không thể thiếu được, trong lễ tảo mộ : Ðó là heo quay, bánh hỏi. Lễ vật trên vừa để cúng gia tiên, quyến thuộc đã khuất tại nhà cũng như nơi phần mộ.

2- Một vài tập tục ma chay trên thế giới :

            Khắp thế giới, từ những dân tộc văn minh cho tới các bộ lạc bán khai, hầu như đều chung một nhận thức, quan niệm về sự chết, coi đó chỉ là một bước chuyển tiếp, từ một thế giới này sang một thế giới khác. Tóm lại chỉ khi nào trái đất bị hủy diệt, từ đó cuộc đời và kiếp người mới thật sự kết thúc. Do đó nhân loại ngày nay không chấp nhận cõi hư vô. Vì vậy theo tập tục, người sống phải giúp người chết, vượt qua cái giai đoạn khó khăn này.

            Với các tín đồ Thiên Chúa Giáo, lễ xức dầu thánh lần cuối cùng được xem như là một thứ giấy thông hành, cấp cho người chết, tới Tòa Án Thiên Ðường , chờ quyết định cuối cùng. Người theo đạo Zorpastra ở Ba Tư và Ấn Ðộ, thì đọc kinh cầu nguyện, để mong linh hồn người chết luôn thường trực hiện diện với gia đình, dù thể xác thật sự đã trở về với cát bụi. Tại Ghana, người chết trước khi lìa đời, được cho uống rất nhiều nước, để cho họ có đủ sức leo tới đỉch của ngọn đồi Vĩnh Hằng. Còn người Tàu, Nhật, Cao Ly, Việt Nam.. khi chết, được thân nhân bỏ nhiều vàng bạc, tiền giấy vào quan tài lúc tẩn liệm, để cho họ có đủ lộ phí tới miền âm phủ.

            Do sự chết sẽ làm biến dạng thể xác của người quá cố. Ðiều này được coi như một sự ô uế, vì vậy thân nhân phải luôn tìm cách làm cho tinh khiết, trong sạch người đã khuất. Tập tục tắm rửa, mặc quần áo mới, đeo những đồ trang sức đẹp nhất cho người chết, khi nhập quan cũng không ngoài ý nghĩa trên. Ướp xác tại các quốc gia Hồi giáo, hay tiêm vào xác chết những chất lỏng để khử trùng và giữ nguyên tử thi trong vài tuần lễ ở các nước phương tây hoặc tập tục hỏa táng tử thi người chết, theo truyền thống đạo Hindu (Ấn Ðộ).. cũng không ngoài quan niệm tôn kính người chết.

            Ngày nay, hầu như mọi tôn giáo lớn trên hoàn cầu, đều chấp nhận duy trì sự liên hệ giữa người sống, kẻ chết sau tang lễ. Vì vậy, người Thiên Chúa Giáo cũng có lễ Thanh Minh vào ngày 2 tháng 11 Dương Lịch hằng năm. Trước cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789, người chết sau khi được chôn cất, coi như là hết và bị thân nhân quên lãng. Mọi sự đều giao phó cho nhà thờ là đơn vị quản trị các nghĩa trang. Ngày nay tập tục đó đã lỗi thời và mọi người ai cũng tự lo lắng chăm sóc mô phần cho thân nhân mình, nhất là vào dịp Thanh Minh. Tại Mễ Tây Cơ, ngày lễ trên cũng là quốc lễ của nước này. Trong ngày này , mọi người đốt lửa hay thắp nến, để dẫn đường cho linh hồn người chết về lại với gia đình. Họ cũng mang đồ cúng đến nghĩa trang , để ăn cổ với thân quyến đã khuất nơi mộ phần.

            Tóm lại dù có theo một tôn giáo nào chăng nửa, nhân thế vẫn cố thắt lưng buộc bụng, cam chịu đói rách, để lo lắng toàn vẹn cho người quá cố có được một chút hành lý trên đường về cõi vĩnh hằng. Thật ra quan niệm về thế giới thứ hai, đã có từ thời tiền sử. Buổi đó tổ tiên ta đã phải cắt xén thức ăn kiếm được, dành một số lớn vật ngon của lã để cúng các vị thần linh và người chết. Rồi theo thời gian, tập tục ma chay từ đơn giản biến thành linh đình, vô cùng hao tốn ước lệ. Trong lễ ma chay, ngoài những hiện vật quý giá như vàng ngọc, quần áo, tơ lụa phải chôn theo người chết, còn có nhiều món khác rất quý cũng được đốt theo. Mãi tới ngày nay, tục đốt vàng mã vẫn còn tin tưởng triệt để tại Trung Cộng và Cam Bốt, kể cả VN xã nghĩa. Hằng năm, mọi người thiêu đốt một lượng giấy tiền, vàng bạc, đồ thợ mã.. gọi là gửi sang thế giới bên kia cho thân nhân tiêu dùng, với tốn kém cả tỷ đô la Mỹ.

            Với các bộ lạc còn bán khai ở Á-Phi, sự tin tưởng vào thuyết linh hồn, sự đầu thai và thế giới bên kia.còn mãnh liệt gấp nhiều lần, so với người văn minh hiện thực. Do đó, người Chiov ở thượng du Miến Ðiện, hầu như đã dành một phần lớn thức ăn kiếm được của mình, để dâng cúng thần thánh và vong linh của người khuấn trong gia đình. Riêng các bộ lạc ở Bengale, thuộc vùng đông bắc Ấn Ðố, lại có tục cúng người chết hằng ngày. Tuy nhiên tốn kém và rườm rà nhất, cũng vẫn là các bộ tộc còn bán khai tại Châu Phi. Chẳng hạn như người Pambara ở miền Trung, khi trong nhà có người qua đời, thì đem làm thịt hết gà vịt, kể cả ngũ cốc dự trữ, để làm cổ cúng. Còn người Ponéo và Pahovina tại Xích Ðạo, thì đốt bỏ tất cả những vật dụng, kể cả nhà cửa, có liên hệ tới kẽ mãn phần. Những thứ bị triệt phá này, được fi chuyển tới phần mộ người chết, nói là dành cho họ tiếp tục dùng ở phía bên kia thế giới .

            Cũng tại Phi Châu, nhiều nơi còn có phong tục kéo dài đám tang ngày nay qua ngày khác. Ðể làm tiệc, họ giết nhiều gia súc kể cả trâu bò ngựa. Ðồng thời cũng uống rất nhiều rượu. Nhưng các đám tang này được tổ chức lớn hay nhỏ, cũng tuỳ theo sự thu hoạch của mùa màng. Do trên, những người Guerzea ở Guinée đã phải quàng tử thi của thân nhân mình, trong nhiều năm, để đợi tới khi kiếm được nhiều tiền, mới tổ chức tiệc tang rất là trọng thể. Người chết này vẫn ở trong nhà và được ướp xác , để giữ tử thi khỏi bị mục rửa với thời gian. Tại các nước Madagascar, Lybia, Ả Rạp Thống Nhất, Népal.. cũng có ngày Lễ Fandorana hình thức gần giống như ngày Thanh Minh ở Á Ðông, nhưng trong ngày này, họ lại giết rất nhiều trâu bò dê, gà vịt.. để làm cổ bàn.

            Nước Nga trước kia có tục ném tiền vàng vào huyệt của người chết. Rồi qua thời gian, nhiều vùng đã thay tiền bằng võ sò, giúp thân nhân đã khuất có vốn lập nghiệp. Nhiều dân tộc, còn thương cho thân nhân mình, bị đói lạnh cô đơn nơi cõi quan tái muôn trùng, nên trong lúc tẩn liệm, họ chôn theo thật nhiều quần áo vải vóc. Bộ tộc Samoyèdes và Ostiaks ở Bắc Cực, nên bỏ theo xác chết nhiều mền bông và quần áo lạnh. Cá dân tộc Phi Châu như Congo, Bambaras, Dougas, Cameroun, Fali, Madagascar.. đa số không đủ quần áo để mặc hằng ngày vì nghèo cực nhưng đối với người chết, họ lại mua sắm thật nhiều vải vóc, quần áo mới đẹp, để thân nhân mang theo có đủ dùng nơi chốn suối vàng.

            Nói chung, trên thế giới có rất nhiều phong tục kỳ lạ, trong vấn đề mai táng người chết. Tại Madagascar, có tục đào xới nhiều lần xác chết, để sửa đổi thế nằm của tử thi trong quan tài, sao cho thoải mái. Người theo đạo Hindu tại Ấn Ðộ, khi biết trước mình sắp chết, thế nào cũng phải nắm cho được đuôi bò lần chót. Có vậy linh hồn họ mới tới được cõi thiên đàng. Với các dân tộc theo Thiên Chúa Giáo La Mã Âu Châu, các bệnh nhân trước khi sắp lâm chung, đều được hội kiến với các vị Cha Sở, để thú tội. Tập tục này được gọi là Sacrement du Pardon. Có như vậy, linh hồn của người chết mới ra đi được bình an, siêu thoát. Còn những tín đồ Hồi Giáo, thì phút cuối đời, luôn hướng về ngôi đền thiêng ở La Mecque bên Ả Rập Thống Nhất, tận miền Tiểu Á TếÀ Á.

3- Vài phương cách an táng người chết :

            Nhân loại đã hiên hữu trên địa cầu hơn ba triệu năm nhưng theo sử liệu thì mới biết an táng người chết vào khoảng mấy ngàn năm trở lại, để mong họ an giấc nghìn thu. Trong lãnh vực này, qua từ ngữ cổ La Mã như Requiem hoặc chữ Churchyard của Anh và rõ ràng nhất là những lời cầu nguyện cho người chết, nơi trang kinh thánh ‘ Requiem Aeternam Dona Eis Domine ‘..tất cả đều mang chung ý nghĩa chuyên chở lời cầu nguyện Thượng Ðế, giúp cho linh hồn người chết được tới chốn an nghĩ cuối cùng.

            Sinh ký-tử quy, đây là một định luật không bao giờ dời đổi của kiếp người. Nhưng củng từ đó, con người đã bày đặt ra nhiều nghi lễ thật phức tạp, tựu trung cũng chỉ quanh quẩn việc giúp cho người chết, được an giấc nghìn thu.

            Theo khảo cổ học, thì chính người Néanderthal là dân tộc đầu tiên, nghĩ ra phong tục chôn cất người chết. Từ đó về sau, dần hồi việc mai táng biến chuyển theo các quy luật tôn giáo cũng như tập quán bản địa. Cũng từ đó, những tín đồ Phật giáo, Hồi Hồi, Bà La Môn và gần đây người theo Thiên Chúa Giáo, cũng dùng phương thức hỏa táng với lòng tin lửa sẽ tẩy sạch linh hồn của người quá cố khi lìa đời. Tại Ấn Ðộ, có một số tín đồ đạo Hindu, lại theo lối thủy táng, bằng cách đem xác người đặt trên bè, rồi thả trôi trên dòng sông Hằng, được xem như linh thiêng nhất trong nước. Với người Tây Tạng, Ấn Ðộ, Ba Tư.. thì quăng xác chết cho kên kên, diều quạ cùng các loại ác điểu khác, phanh thây tùng xẽo tử thi, mà họ gọi là Ðiểu Táng. Tóm lại việc an táng người chết, trải qua bao đời, vẫn thuộc về phạm trù của triết học hay lãnh vực huyền bí thuộc tâm linh, cho nên chưa ai định nghĩa được. Tóm lại để giúp cho người chết được an giấc nghìn thu, nhân loại tới nay vẫn theo các phương pháp đã có từ lâu đời như địa táng, hỏa táng, thủy táng, điểu táng, thiên táng, huyền táng và tượng táng. Mới đây tại Hoa Kỳ và một vài nước Âu Châu, còn phát minh ra phương pháp làm đông lạnh tử thi của người chết, nói là chờ ngày tai sinh.

+ HUYỀN TÁNG :
            Là lối chôn người chết lơ lửng trên không trung. Phương pháp chôn cất này, hiện nay vẫn được các bộ tộc Dogona tại nước Mali (Phi Châu) thực hành. Ở đây, xác chết sau khi được tẩn liệm xong, sẽ được đem an táng trong nhưng mộ huyệt, do gia đình đã đào sẵn trên vách núi cao, để tránh các thú dữ không xúc phạm tới các tử thi của thân nhân mình.

            Thật ra huyền táng là lối chôn cất đặc biệt của người Bặc, là một dân tộc thiểu số sống trong vùng tây nam tỉnh Tứ Xuyên (Trung Hoa), đã có truyền thống từ thời thượng cổ. Theo Chiến Quốc Sách, thì Bặc Nhân là một dân tộc độc nhất vô nhị, biết thực hành phong cách ‘quan nhi bất ế, trí như, trí chư cao nhất ‘, nghĩa là có quan tài mà không cần phải chôn dưới đất, mà đặt lơ lửng trên vách núi cao.

            Ngày xưa lãnh thổ của người Bặc ở Xuyên Nam, bao gồm các Huyện Hưng Văn, Quán Liêu, Nghi Tân nhưng tập trung đông đảo nhất ở Vùng Ðê, thuộc Ma Ðường Bá, thôn Lạc Biểu, Cũng Huyện. Do đó nghĩa trang của họ được dựng lên ở vùng Ðê Ma Ðường Bá, còn có tên là Bạc Xuyên Câu. Ðây là vùng núi non cao ngất trùng điệp, địa thế vô cùng hiểm trở nhưng phong cảnh lại hùng vĩ, thanh tú hữu tình. Các vách núi bao bọc khu cực Ma Ðường Bá đều dựng đứng, không thể tìm được một lối nào để lên hay xuống. Vậy mà các nhà khảo cổ mới đây, đã tìm thấy trên 22 vách núi dựng đứng trong vùng này, có 16 cổ quan tài của người Bặc. Ðây là một điều kỳ diệu mà cũng có thể gọi là một kỳ quan của nhân loại thuở đó.

            Tìm hiểu nguyên nhân tại sao người Bặc lại chon cách chôn cất kỳ lạ và nguy hiểm này. Các nhà khảo cổ cũng như sừ học đời nay, đều cho rằng, đây là vấn đề nhân bản. Treo tử thi trên một vách núi cao, vừa trong sạch lại phù hợp với yếu tố phong thủy. Từ đó linh hồn người quá cố được ung dung thanh thản, bạn với non xanh núi biếc, tự do du sơn ngoạn thủy, trong khoảnh trời đất mông mênh vô tận. Ngoài ra theo quan niệm sống của dân tộc Bặc, đem treo quan tài người quá cố trên vách núi, là một điều đại cát, đại hiếu, trong đạo làm người.

            Theo sự nghiên cứu của các nhà biên khảo, muốn thực hiện huyền táng, đầu tiên phải chọn vị trí thích hợp trên các vách núi cao. Bước kế là phải có người thiện nghệ leo núi giỏi, dùng dây mây làm thang, tới thánh dịa đào huyệt và chôn vào đó những thiết mộc vị, giống như ta làm kim tĩnh bằng gạch khi điạ táng. Sau đó thân nhân dùng dây, để chuyển quan tài từ dưới đất lên vách núi cao và đặt vào huyệt và các thiết mộc vĩ vừa mới làm. Về cách thiết trí, người Bặc thường chôn chung những người trong gia đình, gia tộc vào một vách núi. Những người có vai vế lớn, quan trọng thì treo trên vị trí cao nhất. Về cách tẩn liệm, cũng có sự dị biệt. Qua mười cổ quan tài đựợc đưa từ vách núi cao xuống, có cổ được chạm trổ rất tinh vi, trái lại có cổ đơn sơ giản tiện. Người chết cũng phân biệt rõ ràng, có người được chôn theo nhiều của cải quý giá, có người chỉ tẩn liệm sơ sài bình dân. Riêng các cổ quan tài được tạc bằng một loại gỗ rất đặc biệt, có thể trơ gan cùng tuế nguyệt, gọi là Mã Táng Mộc. Hiện nay dân tộc Bặc đã bị người Hán diệt chủng, còn gỗ quý kia cũng không còn. Tất cả chỉ còn trơ lai những chiếc quan tài huyền táng, đối mặt với thời gian suốt mấy ngàn năm qua, như một nhân chứng còn sót lại trong dòng lịch sử của nhân loại.

+ THIÊN TÁNG :

            Có lẽ Tây Tạng là một quốc gia có phong tục chôn cất người chết kỳ lạ nhất thế giới. Quốc gia này nằm chót vót trên đỉnh Hy Mả Lạp Sơn, được coi như là nóc nhà của địa cầu. Ở đây quanh năm suốt tháng băng giá tuyết phủ khắp mặt đất, không thể trồng trọt được gì, còn nói chi có đất cát để chôn người chết. Chính vì hoàn cảnh cực kỳ hiểm ác đó, nên mới phát sinh ra phương pháp thiên táng kỳ lạ nhất, mà tới nay người ta cũng chưa tìm hiểu nổi. Thât ra ở Tây Tạng, không phải chỉ có thiên táng là phương pháp duy nhất, mà con có địa táng, hỏa táng, thủy táng cả huyền táng. Tóm lại mỗi cách táng người chết, đều tuỳ theo hoàn cảnh tại đất nước này. Với đức Lạt Ma và các Ðạt Ma, khi chết được hỏa táng. Những người mắc bệnh truyền nhiễm nan y, lúc chết được địa táng. Còn thủy táng dành cho nạn nhân chiến cuộc hay tử nạn. Riêng người thiểu số Luaba thì chọn lối huyền táng.

            Nhưng thiên táng vẫn là một hình thức phổ biến nhất tại Tây Tạng, từ xưa tới nay. Theo phương thức này, tử thi được tắm gội sạch sẽ bằng nước thơm có pha các loại hương liệu. Sau đó xác chết bị bẻ gập lại làm đôi, đầu được kẹp giữa hai đầu gối, để tiện đưa lên Thiên Táng Ðài, trước lúc rạng đông. Sau phần tế lễ, tử thi được phanh ra từng mảnh nhỏ, đem trộn với bột mì và vo thành viên, rồi ném cho bầy cim ưng ăn. Ðặc biệt trong thời gian xảy ra thiên táng, tuyệt nhiên thân nhân người chết không hề phát ra một tiếng khóc thương. Trái lại nếu chim ưng không tới ăn thịt người chết hay bỏ sót xương thịt kẻ quá cố, chừng đó những người sống mới lộ vẽ đau khổ bi lụy, vì cho rằng linh hồn người qua đời sẽ không được siêu thoát. Trong Phật giáo, chỉ có người Tây Tạng theo Kim Cương Thừa, mới chọn lối mai táng độc nhất vô nhị này. Hiện khắp nước có chừng 1000 thiên táng đài. Tất cả đều được thiết trí gần giống nhau nhưng được coi là linh thiêng nhất, là đài Motrucungkha, vì ở đó lúc nào cũng luôn có mặt một bầy chim ưng đông đảo trên 300 con, chực chờ phanh thây ăn thịt người. Ðài này thiên táng luôn tử thi từ Lhasa, Sơn Nam, Na Khúc, Lâm Chi.. đưa tới. Tuy nhiên trứ danh nhất trên đất Tây Tạng, phải nói tới đài thiên táng trên Ðạt Mộc Tự tại Nhiệt Tây, vì tất cả đều được xây dựng từ những chiếc sọ người.

+TƯỢNG TÁNG :

            Ðây là phương thức mai táng độc đáo của VN có từ thế kỷ XVII nhưng chỉ mới được phát hiện gần đây tại chùa Ðậu, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Ðông (Bắc Việt). Theo niên giám được ghi trên bia Dương Hoà lập năm 1639, cho biết ngôi chùa trên đã có từ thời Hậu Lý (thế kỷ thứ XI-XII). Trong chùa hiện còn lưu lai thi thể của hai Thiền Sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường, tuy đã trải qua nhiều thế kỷ nhưng vẫn còn nguyên vẹn hình hài, nhờ được tượng táng. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước, thì kỹ thuật tượng táng của người Việt hoàn toàn khác hẳn với ướp xác của cổ Ai Cập hay mới đây của Liên Xô và Trung Cộng, qua việc ướp xác Hồ Chí Minh, quàn tại Ba Ðình (Hà Nội).

            Tượng táng của VN theo các kỹ thuật sau đây. Trước tiên là giữ cho các tử thi không biến thể bằng cách dùng các chất bồi gồm đất sét gò mối mịn, trộn với sơn sống, mùn cưa mịn và giấy bản giả nhỏ. Kế tiếp là một lớp sơn màu cánh gián và ngoài cùng mới tới lớp sơn dầu. Khi pho tượng táng đã khô sơn, dùng đá mài nhẵn . Ngoài ra, tại chùa Phật Tích Bắc Ninh, cũng tìm được một pho tượng táng nhưng vì chiến tranh tàn phá, nên không còn giữ được nguyên vẹn như hai pho tượng táng tại Chùa Ðậu.

4- Cái giá phải trả cho giấc ngủ nghìn thu :

            Ai cũng nghĩ rằng chết là hết. Thật ra chết chưa phải là dứt nợ hồng trần, vì cái thể xác phàm tục vẫn còn hiện diện nơi cõi thế. Cho đến khi nào thân nhân đem cái tử thi kia địa táng, hỏa táng, thủy táng, điểu táng.. tới lúc đó người chết mới có thể gọi là được an giấc nghìn thu thật sự.. Nhưng nếu thổ táng, thì không ai dám chắc là mình sẽ được yên ổn mộ phần sau khi nhắm mắt. Lịch sử đã chứng minh rõ ràng, cho tới nay, gần hết các vị đế vương, nữ hoàng.. đông tây kim cổ.. từ Ai Cập, Trung Hoa, Liên Xô, VN đều bị dầy mồ, xới mã, dựng xác trở lại. Mục đích trả thù, cướp mộ hay nói một cách văn hóa hơn là khảo cổ.
           
            Hơn hết là tình hình thế giới hiện nay rất xô bồ, phần lớn đều do nạn nhân mãn gây nên. Tại các đô thị lớn, người sống giới nghèo, đa số cà gia đình nhiều người, phải chen chúc trong các căn nhà cá hộp. Do trên chừng nào mới tới phiên người chết có được chốn mồ yên mã ấm ?, ngoài trừ giới qiú tộc, thượng lưu, quan quyền và bọn nhà giàu có nhiều tiền bạc. Tại Hy Lạp, chỉ có giới trên mới dám bảo đảm , thân xác của họ được vĩnh viễn nằm yên một chỗ. Còn tất cả , giống như một vài thành lớn của Hoa Kỳ, người chết chỉ được tạm trú trong đất của nghĩa trang thời hạn ba năm. Sau đó, nếu người chết cón may mắn có thân nhân lo lắng, thì mãnh hình hài còn sót lại, sẽ được dời sang một nghĩa địa khác với tiền mướn đất rẽ hơn. Hay là đem mớ xương tàn thu vén được, cho vào một chiếc hộp thiếc dài 0,60m, rồi gửi vào Khu chứa hài cốt tập thể gọi là Ossuary. Theo thời giá hiện nay, tại thủ đô Athens của Hy Lạp, tiền mướn một lô đất tại nghĩa trang, để chôn là 1000 bảng Anh trong thời hạn 3 năm. Còn nếu muốn được an giấc vĩnh viễn, phải trả 21.000 bảng Anh. Trong khi đó mức lương trung bình của một công nhân, viên chức Hy Lạp chỉ có 150 bảng Anh, một tuần.

            Tuy không phải là một quốc gia độc tài đảng tri nhưng Hy lạp lại bị chi phối chặt chẽ, qua các luật lệ khe khắt của Hội Ðồng Tối Cao Chính Thống Giáo.. Trong lúc đất nước có diên tích nhỏ bé này, trên bờ Hắc Hải, luôn bị hành hạ vì nạn đô thị hóa, nhân mãn, sự bành trưóng dân số. Bởi vậy chính phủ yêu cầu người dân hòa táng, thi thể của thân nhân mình, để giải quyết nạn khan hiếm đất tại các nghĩa trang. Nhưng yêu cầu của chính phủ đã gặp phải sự chống đối của Hội Ðồng Chính Thống Giáo, qua luận thuyết :’ Hỏa táng là đồng nghĩa với tận diệt, làm cho linh hồn người chết không được lên nước thiên đàng ‘.Sau đ1 họ đưa đề nghị, xây nghĩa trang nhiều tầng tại nghĩa trang và muốn chôn đứng tử thi.Tóm lại ở đâu cũng vậy, kể cả siêu cường Mỹ, chỉ có người nghèo mới lãnh đủ bất hạnh, chẳng những lúc sống mà còn ôm theo khi đã nhắm mắt lìa đời.

+ Sự An Giấc Nghìn Thu trong ThiênÐàng Xã Nghĩa VN :

            Sau ngày 30-4-1975, nhờ cách mạng đổi đời và sự thống nhất hai miền đất nước. Nhờ vậy, người dân miền Nam mới biết được cũng như chính mình phải đối mắt với cái giá phải trả, khi muốn được an giấc nghìn thu, nơi thiên đàng xã nghĩa.

            Theo Bùi Tín viết trong ‘ Sự Thật ‘, thì tại miền Bắc, các cán cao trong đảng, ngoài sự bày mưu kiếm kế để xâm lăng cưỡng chiếm cho được VNCH, còn lăn xả vào nhau tranh giành quyền lợi, chức tước, cái ăn và quan trọng nhất là làm sao cũng phải kiếm cho được một chỗ nằm, để được an giấc nghìn thu, trong nghĩa trang ‘ Mai Dịch ‘ tại Hà Nội, thay vì phải vào chung chạ với thường dân, người nghèo tại nghĩa địa Vân Ðiển ở ngoại ô.

- NGHĨA TRANG TẠI BẮC VIỆT :

            Từ trước tới nay, Hà Nội có nhiều nghĩa trang lớn và thêm 100 bãi tha ma nhỏ khác, nằm rải rác khắp nơi trong thành phố và các vùng ngoại o6 như nghĩa trang cạnh công viên Thủ Lê, hai cái khác ở thị trấn Nghĩa Tân và đường Minh Khai. Năm 1954 cọng sản vào Hà Nội đã ra lệnh giải tỏa tất cả các nghĩa trang củ trong thành phố, di chuyển ra tận các vùng ngoại ô xa xôi. Các khu Thủ Lê, Nghĩa Tân và Minh Khai trở thành công viên hay khu phố. Hiện Hà Nội chỉ còn duy nhất nghĩa trang Mai Dịch nằm trong nội thành, dành riêng cho các cán bộ và quan chức cao cấp đảng có quyền thế. Ngoài ra có một nghĩa trang lớn ở phía nam là Vân Ðiển, cùng hai nghĩa trang tân lập là Thanh Tước (Mê Linh-Phúc Yên) và Ba Vì (Bất Bạt-Sơn Tây).

            Cũng theo Bùi Tín qua sách dẫn trên, thì các cán bộ có quyền thế tại Bắc Bộ Phủ, đã tranh dành nhau quyết liệt, để khi về chầu tổ Mác-Lê, được vào nằm ở Mai Dịch. Cũng vì vậy nhiều cán cao cuối đời bị thất sủng mất chức, đã phải vào nằm chung với dân thường ở Vân Ðiển. Ðó là thân phận của các tướng VC Chu văn Tấn, Ðặng kim Quang, Trần Tử Bình.. Kể cả những nhà khoa bảng, nhà văn nổi tiếng của Bắc Hà như Phan Khôi, Ðào Duy Anh, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Hồng, Nguyễn Tuân, Lưu Quang Vũ, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Gia Trí.. cúc cui tận tuỵ cho đảng, cuối cùng cũng bị đi Văn Ðiển.

            Thật ra thì khu nghĩa trang này, cũng chẳng có gì quý báu và trang trọng, ngoài việc được nằm giữa các cơ quan nhà nước như Cư xá Ðoàn Văn Công, Trường Ðại Học Sư Phạm và Thương Nghiệp. Chính vậy, nên các ngày nghĩ và đêm khuya thanh vắng, trai gái thường rủ nhau từng cặp, ra đó vừa giải quyết bầu tâm sự cũng như những ẩn ức tình cảm. Theo tin mới dây, người Hà Nội vì căm ghét tên Lê Ðức Thọ, cặp bịp bài trùng với Kissinger, trong cái gọi là hiệp định ngưng bắn Ba Lê 1973, nên rủ nhau vào phóng uế trên lăng của y trong Mai Dịch. Vì không làm gì được ai, cuối cùng thân nhân tên đại ác phải tức tốc bốc mộ Thọ, đem về quê tại Nam Ðịnh chôn, để tránh sự xấu hổ và miệng đời bôi bác hằng ngày.

             Riêng Văn Ðiển tới nay trên 30 tuổi và là một đia danh thân quen trên đầu môi chót lười của ngưòi Hà Thành. Với các cụ già sắp theo chầu tiên tổ, thì ví von gọi mình là ‘ mầm non của Văn Ðiển ‘.Báo tin người quá cố, qua đồi, mới chết.. thì gọi là ‘ đi Văn Ðiển ‘.Tất cả sự trào phúng ví von trên, mục đích cũng chỉ để quảng cáo Văn Ðiển là nơi chốn, mà người Hà Nội cần để đăng ký hộ khẩu nơi miền âm cảnh.

            Theo tài liệu, thì nghĩa trang Văn Ðiển nằm về phía nam Hà Nội, giữa hai con sông nhỏ Tô Lịch và Kim Ngưu. Vùng này có rất nhiều ao hồ và đồng ruộng, cũng là khu ngoại thành, phát triển vì nạn tăng dân số tại thủ đô từ nhiều năm qua, nhất là sau thời kỳ VN mở cửa. Theo báo chí thì vùng này được coi là dơ bẩn, độc địa và bị ô nhiễm nhất nước. Nguyên nhân vì suốt mấy chục năm qua, đã phải hứng chịu mấy chục ngàn tấn phân hủy, từ tử thi người chôn dưới đất, ngấm qua các nguồn nước quanh Văn Ðiển, tới các giếng nước dùng ăn uống, ao nuôi cá và các vườn rau xanh
            Văn Ðiển hiện nay đã qua tải, hết đất, nên đảng cho áp dụng nguyên tắc, chỉ cấp hộ khẩu cho người chết ba măm. Quá thời hạn trên, nếu bất cứ một lý do gì mà thân nhân chưa kịp hốt cốt lên nghĩa địa Mê Linh hay Ba Vì. Những ngôi mộ đó lập tức sẽ bị xe cầy tới dầy mồ, để có chỗ cho cư dân khác tới tạm trú.

            Dưới chế độ xã nghĩa, mọi việc đều làm theo kiểu chiếu lệ, chỉ cần có báo cáo đầy đủ trên công văn giấy tờ, là yên chuyện. Bởi vậy tại nghĩa trang Văn Ðiển, dù rằng có ban quản lý nhưng từ cổng bước vào, nơi nào cũng la liệt những vải liệm, ván mỏng, đồ tẩn táng và cả xương vụn. Những thứ này sau đó vào mùa mưa, sẽ biến thành một lớp bùn đen đặc quánh, gây nổi kinh hoàng khủng khiếp, cho những ai nhỡ vì bắt buộc, phải bước vào nghĩa trang. Mấy lúc gần đây, cán bộ đảng lại có phép mở thêm dịch vụ rửa các hài cốt khi bị bốc mô. Nước rửa xương từ các bệ xi măng, được phóng vào các cống rãnh, thông vào các ao rạch, sông hồ quanh vùng. Ðây chính là nguồn nước mà người dân sống quanh vùng Văn Ðiền hằng ngày, dùng để ăn uống và tưới các vườn rau xanh.

+ NGHĨA TRANG BÌNH HƯNG HÒA TẠI BÌNH CHÁNH-GIA ÐỊNH :

            Ðược thành lập trước năm 1975, nghĩa trang Bình Hưng Hoà có diện tích trên 40 mẫu tây, tọa lạc tại quận Bình Chánh, tỉnh Gia Ðịnh. Vì nghĩa địa này nằm sát thành phố, nên đêm ngày cũng rộn rịp theo sinh hoạt của người sống, chứ không hoang vắng lạnh lẽo như các nới khác. Trước đây Bình Hưng Hoà được phân chia thành từng khu vực riêng biệt, căn cứ theo tín ngưỡng tôn giáo.

            Sau ngày 30-4-1975, tất cả đều đổi đời nên hầu như không ai còn dám nghĩ tới những gì mình đã cố giữ trước kia, theo truyền thống luân lý xã hội. Tất cả chỉ còn biết bám víu vào đời, để sống được phút nào hay phút đó. Cho nên cái không khí trần tục cũng được con người, mang từ ngoài xã hội xô bồ vào trong cái thế giới cô tịch của cõi âm, làm phiền lòng nhưng người đang nghìn thu an giấc.

            Từ sau năm 1979, trong Bình Hưng Hoa đã có thêm lò thêu và những băng đảng thầu, lo việc mai táng và xây các phần mộ. Mỗi nhóm có một khu vực riêng biệt, được chia phân ngầm bằng những luật lệ bất thành văn nhưng chắc hơn đinh đóng cột. Dĩ nhiên phần tốt, béo bở phải là khu vực của các đại ca, có thế lực với công an địa phương, có thực lực mạnh. Ở đây dành cho giới quan quyền, nhà giàu, nên chỗ nằm rất tốt, hạp với phong thổ địa lý, sát đường lộ chính. Những người nghèo khổ, không có tiền hay nhiều tiền, cam phận hẳm hiu nơi tận cùng, chẳng khác gì số kiếp của họ lúc sống.

            Cho nên giữa chốn âm âm dương dương này, gần như không có sự phân biệt đâu là mồ của người chết, hay chốn ở của người cõi trần. Thật vậy, xuyên suốt con đường đất đỏ dẫn vào nghĩa trang, ở đâu cũng thấy xen kẽ lớp lớp mộ chí trùng trùng và những hàng quán ăn uống, tiệm đóng hòm, khu bán vật dụng xây cất, đúc bia đá, đồ tẩn liệm , kể cả các lều tạm bợ to bằng hai ngôi mả, của các bà chuyên môi giới những liên hệ tới sự chết. Ngoài ra đây cũng là nơi cây cao bóng mát, chốn thiên đường để người địa phương vào tránh cái nóng chết người, trong những căn nhà cá hộp của họ ở bên ngoài.
            Cứ tưởng sự phân chia giai cấp, cảnh giàu nghèo chỉ có ờ chốn phàm tục nhưng dâu ngờ nó vẫn tiến nhanh tiến mạnh một cách vững chắc ngay trong nghĩa địa. Cứ nhìn những ngôi mộ lát đá hoa cương, những nhà mồ lầu, còn hơn cả lăng tẩm của vua chúa ngày xưa, chung quanh có có tường gạch, rào sất cao và cổng sơn son thiếp vàng đóng kín, vì ở trong đó có cả gia đình người sống được mướn để săn sóc và canh giữ mộ đêm ngày. Tóm lại ở đây không thiếu những ngôi mộ to đẹp mà thời giá lên tới cả trăm triệu tiên Hồ. Tuy nhiệt tuyệt đại mồ mả ở đây, có nhiều cái rẻ tới mức không còn gì rẽ hơn. Ðó là những nấm đất sè sè lăn lóc bên vệ đường, có cái trơ trọi không bia , có ngôi hoang tịch đến nỗi cỏ còn không mọc nổi, đây là mồ người nghèo, chết rồi không ai chôn nên được mọi người vùi làm phước.

            Trong nghĩa trang Bình Hưng Hoà, ngoài cảnh sống chung hòa bình, hòa hợp hòa giải giữa hai thế giới âm âm dương dương, hồn ai nấy biết, mạng người nào thì kẻ ấy lo, lại còn có rất nhiều con ma sống. Chúng giống như những hình nộm vật vờ, thường vào đây để hút chích và tìm của lạ. Ma sống nhiều quá, gần như nơi nào cũng thấy hiện diện, qua cảnh tưọng những ống tiêm chích, nằm ngổn ngang bừa bãi. Nhiều kim chích còn nguyên những giọt máu tười, chứng tỏ ma sống vừa mới thăng đâu đó.

            Ở đây cũng không khác gì nghĩa trang Văn Ðiển trên đất bắc.. Ðó là nguồn nước mà người địa phương trong vùng, dùng để ăn uống đã bị nhiễm độc một cách trầm trọng nguy hiểm, dù các giếng nước đã khoan sâu quá 30m, vẫn có mùi bùn. Bởi vậu nước dù đã đun sôi và pha trà, nhưng mùi thì không thay đổi, lại khó uống. Thế nhưng vì hoàn cảnh, không uống nước này, không sống ở đây, thì uống và sống chỗ nào nơi thiên đàng xã nghĩa ?

5 - NGHĨA TRANG QLVNCH TẠI BIÊN HÒA :

            Người Mỹ, dù thuộc thành phần hay thế hệ nào, trong thâm tâm ai cũng ao ước được một lần tới chiêm ngưỡng Nghĩa Trang Quốc Gia Hoa Kỳ tại Arlington, để biết ơn tấm lòng hy sinh cáo quý của những anh hùng đã xả thân hy sinh cho quốc dân gấm vốc.

            Trước tháng 4-1975, miền NamVN cũng có một nghĩa trang Quốc Gia tại Biên Hòa, là chốn an giấc nghìn thu của hằng vạn chiến sĩ QLVNCH, đã hy sinh bản thân, gia đình mình, để ngăn chống lại cuộc xâm lăng của cọng sản đệ tam quốc tế. Tất cả muôn đời trong dòng lịch sử Việt, những chiến binh ‘ vi quốc vong thân ‘, còn ai xứng đáng hơn họ ?

            Ðược thành lập vào năm 1965, trên một khu đất rộng của một ngọn đồi thấp , khỏang giữa xa lộ Biên Hòa-Sài Gòn. Khi VNCH bị cưởng chiếm, trong nghĩa trang có hơn 30.000 mộ phần, gồm đủ tướng lãnh (Ðại tướng Dỗ Cao Trí..). sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ.. đủ các quân binh chủng.

            Nghĩa trang được thiết kế theo mô hình con ong. Trước cổng ngay lối vào có thiết kế pho tượng hình một người lính trận cao 5m, ngồi trên một bệ cao 3 m, tất cả bằng đồng đen. Pho tượng mang tên ‘ tiếc thương ‘, với ngụ ý là chỉ có người lính, mới biết thương cho thân phận của chính mình và các chiến hữu đồng đội, giữa một cái thế giới bạc đen vong ân bội nghĩa của người miền Nam lúc đó.

             Trước khi vào khu vực nghĩa trang, mọi người phải qua một cổng tam quan trước Ðền Thờ Liệt Sĩ được dựng trên một ngọn đồi thấp. Từ đó con đường chính, được chia thành hai lối và chạy vòng khắp khu vực, gặp nhau ở phần lô cuối cùng. Cũng trên ngọn đồi này, còn có Nghĩa Dũng Ðài, bên trên được xây một bia ký có hình lưỡi lê. Ngoài các tướng lãnh khi qua phần với bất cứ lý do gì, được an giấc trong một khu vực riêng kế Ðài. Còn tất cả đều dành chôn chiến sĩ QLVNCH, không phân biệt quân binh chủng, cấp bậc.

             Nghĩa trang QÐ Biên Hòa được hoàn thành qua sự phối họp của nhiều đơn vị gồm có : Bộ Công Chánh, Trường Kỹ Thuật Phú Thọ, Cục Công Binh, Liên Ðoàn 5 Công Binh Kiến Tạo.. Riêng DD541 thuộc TD54CBKT là đơn vị trực tiếp thực hiện xây dựng. Khởi công từ tháng 11-1967 và dự trù hoàn tất vào ngày Quân Lực 19-6-1975. chưa kịp làm lễ khánh thành thì mất nước.

            Theo tài liệu, thì Nghĩa Trang QD. Biên Hòa chiếm một diện tích 125 ha, có thể chôn được 30.000 phần mộ, chia thành nhửng vòng cung, với những mộ phần mang danh hiệu như A1, A2.. B1, B2.. Tính đến tháng 4-1975 đã có hơn 16.000 chiến sĩ QLVNCH các cấp an giấc tại đây, trong số này hơn 8.000 ngôi mộ, đủ cấp bậc, đã xây cất hoàn toàn rất đẹp và trang trọng. Công trình xây cất nghĩa trang được dự trù sẽ khởi công tiếp giai đoạn 2, với ngân khoản lên tới 100 triệu tiền VNCH năm 1973, do Ðiệu Khắc Sư Lê Văn Mậu phụ trách trong 6 năm, để thực hiện một tác phẩm nghệ thuật vĩ đại, trên chiếc vành khăn tang, trên Nghĩa Dũng Ðài. Tác phẩm nghệ thuật này, sẽ ghi lại những trang lịch sử huy hoàng nhất trong dòng Việt Sử, gồm 16 giai đoạn quan trọng nhất, từ buổi bình minh các Tổ Hùng dựng nước Văn Lang.. cho tới các thành quả ngăn chống xâm lăng cọng sản, của QLVNCH.

            Một công trình lịch sử vĩ đại, tiếc thay đã chìm theo giấc mơ quang phục và thống nhất đất nước, khi giặc Hồ tràn vào. Sau ngày mất nước, VC thẳng tay trả thù người sống lẫn kẽ chết. Hầu hết các nghĩa trang quân đội tại miền Nam từ Quảng Trị vào Hà Tiên, trong đó có Nghĩa Trang Quốc Gia Biên Hòa, đều bì dầy mồ, tàn phá đồng thời ngăn cấm gia đình thân nhân lính đến thăm viếng sửa sang mộ phần.

            Năm 1978 em ruột Lê Ðức Thọ là Mai Chí Thọ, lúc đó làm thành ủy Sài Gòn, đã cùng với trùm công an Mười Hương, ra lệnh giải tỏa Nghĩa Trang Mạc Ðỉnh Chi nằm giữa hai con đường Hiền Vương và Phan Thanh Giản. Nói cho văn chương là giải tỏa để lấy đất làm Cung Thiếu Nhi Lê Văn Tám, nhưng theo Bùi Tín, thì mặt thật là cướp mộ. Ai cũng biết nghĩa trang này tuy chỉ có khoảng 300 ngôi mộ nhưng lại toàn là thành phần thượng lưu giàu có của Miền Nam lúc đó. Theo phong tục của người VN, nên đồ tẩn liệm trong quan tài, có rất nhiều châu báu vàng ngọc vô cùng quý giá. Nhờ vậy, Mai Chí Thọ cùng Mười Hương đã hốt của người chết rất nhiều vàng tiền.

            Tóm lại từ sau cuộc đổi đời tới nay, cái giá mà người VN phải trả, để xin được một giấc ngủ ngàn thu tại thiên đường xã nghĩa, thật vô cùng đắt, gần như không thể thực hiện được. Khắp nước lịnh vua thua lệ làng, nên dân chúng ngày nay không biết đâu mà mò. Ðại đa số tuy làm trái ngược với phong tục tập quán của tổ tiên, khi đem xác của thân nhân đi hỏa táng. Nhưng biết làm sao hơn, vì người sống còn không sống yên một chỗ, thì cái sự dời nghĩa trang, cầy mã.. người chết là một sự việc rất bình thường. Cho nên thiêu xác thân nhân, rồi đem tro cốt gửi vào chùa, đình, nhà thờ là hợp lý nhất, vì như vậy, người chết mới còn ngồi yên được một chỗ tên bàn thờ.

            Ngày 15-12-2004 vừa qua, báo Người Lao Ðộng trong nước đã viết :’ Hà Nội chưa duyệt dự án, quyết định thu hồi đất cũng không ban hành, nhưng tin lại loan trên đài phát thanh và truyền hình địa phương, làm cả thành phố Phan Thiết hỗn loạn vì lệnh dời mã cầy mồ, để lấy đất bán cho Việt Kiều và Tư bản nước ngaòi xây khách sạn, khu du lịch ‘.

            Cũng theo báo trên viết rằng, nhà nước lấy đất làm gì thì ai đâu biết, người dân địa phương chỉ nhận lệnh trên đài, phải chạy đi dời mả thân nhân. Ðây không phải là lần đầu, làm hệ luy đến con cháu đời sau vì người chết cứ bị dầy mồ liên tục. Tại đây có hơn 10.000 ngôi mộ, đã có từ trước năm 1975, nhiều mã mới chôn một vài tháng.

            Tuy đông và tây có nhiều điểm dị biệt nhưng cũng đã cảm thông với nhau, trong quan niệm tôn vinh và chăm sóc người chết.. Do trên nhiều quốc gia cách xa hằng vạn dặm nhưng lại có nhiều tập tục giống nhau trong tang lễ. VN và Pháp có tập tục không cho đồng hồ treo tường gõ nhịp, còn màn cửa thì kéo lên, khi quan tài còn quàn trong nhà. Làm như vậy để linh hồn người chết được tự do bay bổng lên cõi thiên đàng. Trong thời gian có tang chế, tất cả thau đựng nưốc, gương soi mặt đều dấu kín, không cho người chết nhìn rõ dung mạo đã thay đổi của mình. Lúc đưa quan tài ra cửa, chân đi trườc đầu đi sau, để người chết đừng lưu luyến níu kéo kẻ thân khac trong gia đình chết theo họ.

            Với từ tâm đó, đã nói lên lòng thương xót kẻ qua đời một cách vô hạn, đúng như lời dạy của thánh hiền :’ nghĩa tử là nghĩa tận ‘, chết coi như hết thù hận và xí xóa tất cả nợ nần mà người đó lúc sống đã gây ra. Nhưng cọng sản thì chết vẫn chưa hết, vẫn phải trả thù, trả nợ. Nên nói đông tây vẫn có thể gặp nhau là một chân lý. Còn cọng sản và quốc dân VN, thì vĩnh viễn không bao giơ ợcó thể hòa hợp, hòa giải hay ‘ nối vòng tay lớn ‘ với kẻ thù của dân tộc được. Bởi một đàng có tim óc tình người, còn một phía thì không tim óc và đã mất đi nhân tính, khi trót bị chủ thuyết vô thần Lê-Mác-Mao-Hồ đầu độc, không còn thuốc thang gì cứu được, ngoại trừ từ bỏ hẳn độc tài, độc đảng, độc trị và sự thù hận đồng loại, đồng bào, để trở về với truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt.

            ‘ Mai, nếu có cuộc đổi đời lần nửa
            ta xin dành phần : đăng báo, phân ưu
            đồng đội xưa đã chết trận, chết tù
            thảm thiết quá những hồn ma vất vưởng .. ’ ’

Viết tại Xóm Cồn Hạ uy Di
Tháng 3-2015
Mường Giang

TÀI LIỆU THAM KHẢO :
- Hoa Xuyên Tuyết của Thành Tín
- Mặt Thật của Thành Tín
-Nghĩa Trang QD. Biên Hòa, tài liệu của KBC Hải Ngoại
-Nghĩa Dũng Ðài - Tú Cao
-Các sách báo trong và ngoài nước


           

__._,_.___


Posted by: Ho Dinh <

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List