QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Tuesday, October 6, 2015

(trích sách Thích Trí Quang, Thần Tượng hay Tội Đồ Dân Tộc, bắt đầu từ trang 166 đến 202)

 
From: Peter Duong <
 Sent: Monday, October 5, 2015 8:11 PM
Subject: Fw: [VN-TD] DIỄN BIẾN THẢM KỊCH ĐÁM PHẢN QUỐC SÁT HẠI TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỘNG HÒA NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ ÔNG CỐ VẤN NGÔ ĐÌNH NHU
On Monday, October 5, 2015 4:03 PM, "Thanh Le > wrote:  

 
     (trích sách Thích Trí Quang, Thần Tượng hay Tội Đồ Dân Tộc, bắt đầu từ trang 166 đến 202) 
 
Từ trang 166 đến 170:
                                                   Sài Gòn Thiết Quân Luật


Tình hình an ninh chính trị ti Huế và Sài Gòn mỗi ngày mỗi xấu, mỗi trầm trọng thêm từ sau ngày xy ra vụ nổ tại Đài Phát Thanh Huế làm chết 8 em nhỏ và một số khác bị thương vào lễ Phật Đản ngày 8/5/1963. Thích Trí Quang lợi dụng cơ hội nầy phát động phong trào đấu tranh nhằm mục đích lật đổ Đệ I Cộng Hòa và Tổng Thống Ngô Đình Diệm bằng cách:

1- Ra lệnh nướng sống Thích Quảng Đức ngày 11/6/1963 tại Sài Gòn, Thích Thanh Tuệ tại Chùa Phước Duyên Huế ngày 13/8/1963, Thích Tiêu Diêu tại chùa Từ Đàm Huế vào đêm 16/8/1963.
2- Tổ chức hằng loạt  các cuộc biểu tình,  mít-tinh, tuyệt thực, đình công bãi thị, bãi khóa tại chùa Từ Đàmchùa Diệu Đế. Trên đường phố Huế, lực lượng của đám Tăng lữ Bình Trị Thiên, của Sinh viên Học sinh Phật tử, của tiểu thương Phật tử chợ Đông Ba, chợ An Cựu, chợ Bến Ngự, kết hợp lực lượng Phật tử thuộc các khuôn hội của Tỉnh Giáo Hội Thừa Thiên Huế. 
Trong khi đó thì Trưởng Chi Bộ đảng Cộng sản Thuận Hóa tại Huế Bác sĩ Lê Khắc Quyến, Khoa Trưởng Đại học Y Khoa Huế, phối hợp hành động nhịp nhàng với Thích Trí Quang. Lợi dụng việc Viện Trưởng Đại học Huế Linh Mục Cao Văn Luận bị Bộ Quốc Gia Giáo Dục cách chức, Lê Khắc Quyến  kêu gọi các Khoa Trưởng từ chức, Sinh viên bãi khóa, biểu tình, tuyệt thực phản đối chính quyền cách chức Linh Mục Viện Trưởng, phản đối chính quyền đàn áp Phật giáo.
Tại Sài Gòn tình hình an ninh cũng chẳng khác Huế là bao nhiêu. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, chính quyền trung ương Sài Gòn mỗi giờ mỗi ngày mất dần uy quyền quốc gia. An ninh trật tự lọt khỏi tầm tay kiểm soát của chính phủ và của nhân viên công lực.
Hai trung tâm phản loạn trong thời gian nầy chính là chùa Từ Đàm tại Huế và chùa Xá Lợi tại Sài Gòn.
Chỉ huy và điều động mọi cuộc phản loạn từ Huế đến Sài Gòn là đám Tăng lữ Phật Giáo Ấn Quang có tên dưới đây:

Thích Trí Quang
Thích Thiện Minh
Thích Tâm Châu
Thích Đôn Hậu
Thích Hộ Giác
Thích Huyền Quang
Thích Quảng Độ
Thích Nhất Hạnh
Thích Thiện Siêu
Thích Chánh Trực
Thích Trí Thủ
Thích Chánh Lạc
Thích Giác Đức v.v.

Những tin tức tình báo của các cơ quan tình báo quốc gia gồm dân sự cũng như quân sự, nhất hạng là cơ quan tình báo của Phủ Tổng Thống, cũng như Đoàn Công Tác Đặc Nhiệm Miền Trung đều ghi nhận một số tin tức với giá trị cao:

1- Có một số tăng ni trẻ không rõ xuất xứ, hiện đã đột nhập vào các chùa tại Sài Gòn, Chợ Lớn cũng như chùa Xá lợi. Các cơ quan an ninh tình nghi những kẻ nầy là quân Cộng sản xâm nhập.

2- Một cuộc đảo chánh sắp sửa xảy ra do một số tướng lãnh VNCH cầm đầu dưới sự h trợ của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn.

3- Ngoài ra, an ninh trật tự phải được tái lập và luật pháp quốc gia phải được mọi người dân triệt để tôn trọng.
Với những lý do trên nên đêm 20/8/1963 rạng sáng 21/8/1963, Chính Phủ Ban Hành Lệnh Thiết Quân Luật, và SÀI GÒN THIẾT QUÂN LUẬT.
Vào đêm 20/8/1963 rạng sáng ngày 21/8/1963 một lực lượng hành quân hn hợp giữa Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Lê Quang Tung, Lực Lượng Cảnh Sát Đặc Biệt, Cảnh Sát Chiến Đấu (sau này gọi là Cảnh Sát Dã Chiến) của Nha Cảnh Sát Đô Thành Sài Gòn, Chợ Lớn.

Tất cả các lực lượng trên đều đặt dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt. Mục tiêu của cuộc hành quân trên là lục soát tất cả các nơi tình nghi, các chùa chiền, nơi đã có tin tức đang chứa chấp Việt Cộng xâm nhập từ ngoại biên vào đô thành, hoặc những thành phần bất hảo phá rối trị an ẩn nấp, để bắt giữ bọn chúng.

Sáng ngày hôm sau, ông Bộ Trưởng Ngoại Giao Vũ Văn Mẫu đệ đơn từ chức lên chính phủ để phản đối việc mà ông ta cho rằng đàn áp Phật giáo (ông nầy Phật giáo, là người của Trí Quang). Sau đó ông Trần Văn Chương, Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ, và Bà Trần Văn Chương, Đi diện cho Việt Nam Cộng Hòa, cũng xin  từ chức.  
               Thích Trí Quang Trốn Vào Tòa Đại Sứ Mỹ


Trong đêm 20/8/1963 rạng sáng 21/8/1963 khi mà lực lượng hành quân hỗn hợp giữa quân đội và Cảnh Sát Quốc Gia đang tiếp diễn để truy lùng, bắt giữ đám Cộng sản trà trộn vào các chùa, cũng như các thành phần bất hảo phá rối trị an, thì Thích Nhật Thiện người thông dịch viên riêng của Thích Trí Quang đã dẫn Thích Trí Quang chạy trốn vào cơ quan USAID của Mỹ. Sau đó từ cơ quan USAID, Thích Nhật Thiện dẫn Thích Trí Quang chạy trốn vào Tòa Đại Sứ của Hoa Kỳ. Rõ ràng đây là kế hoạch giải thoát và bảo vệ Thích Trí Quang của ông Đại Sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Lodge và của cơ quan tình báo CIA. Thích Trí Quang trốn tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ từ 21/8/1963 cho đến ngày 4/11/1963 sau khi cuộc đảo chánh đã thành công y mới âm thầm trở về chùa Xá Lợi. Một thời gian ngắn sau đó y trở ra Huế, ngụ tại chùa Từ Đàm. Thời gian Thích Trí Quang trốn tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn là khoảng 2 tháng.Cũng cần nói đến nhân vật Thích Nhật Thiện, người thông dịch viên riêng của Thích Trí Quang. Thích Nhật Thiện tên trần tục là Lê Mậu Chí, sinh quán tại tỉnh Thừa Thiên. Trước năm 1954 Lê Mậu Chí là Nhân viên Công an của Ty Công An (Quốc gia) Đồng Hới. Vào năm 1959, Lê Mậu Chí bị sa thải khỏi ngành công an vì vi phạm kỷ luật. Lê Mậu Chí vào Sài Gòn sinh sống. Y theo học Anh văn vì muốn trở thành một thông dịch viên cho Mỹ. Sau đó không lâu y đi tu với pháp danh là Thích Nhật Thiện. Thích Nhật Thiện trở thành thông dịch viên riêng cho Thích Trí Quang.

                
Tên cán bộ tôn giáo vận CS lợi dung áo kàsa
 Phật giáo đễ thao túng chánh trị ỡ VNCH
               
                                                    
 Thích Trí Quang, 44 tuổi, tị nạn  Ngày 4/11 Thích Trí Quang (trái)  trong Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn. lần đầu tiên bước ra khỏi Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn 
                                                                              
 - Ảnh chụp 2/9/1963.  kể từ khi chạy vào đây tị nạn chính trị.   
    
Vào ngày 30/4/1975, sau khi chiếm được Sài Gòn, lực lượng an ninh tình báo của Cộng sản truy tầm và bắt giữ Thích Nhật Thiện vì bọn chúng nghĩ rằng Thích Nhật Thiện là Tình Báo Viên của CIA. Mục đích bắt giữ Thích Nhật Thiện là để khai thác về Thích Trí Quang, để tìm hiểu Thích Trí Quang đã được tình báo Hoa Kỳ móc nối từ khi nào, và mức độ hợp tác của Thích Trí Quang hợp tác với CIA đến đâu, cũng như những công tác gì mà CIA giao phó cho Thích Trí Quang.

Không hiểu Thích Nhật Thiện đã khai những gì về Thích Trí Quang, chỉ biết rằng sau đó Trần Bạch Đằng đã phúc trình với Nguyễn Văn Linh, Thủ Tướng chính phủ Cộng sản Việt Nam, rằng: “Thích Trí Quang là nhân viên tình báo chiến lược của CIA”. Kể từ thời gian sau ngày 30/4/1975 đến nay tháng 4/2013, Thích Trí Quang đã tịnh khẩu và bị Cộng sản cô lập tại chùa Già Lam ở tỉnh Gia Định. 

Có lẽ trong lòng tên Việt gian đa mang nầy cũng tiếc lắm, vì suốt đời làm khuyển mã cho Cộng sản Việt Nam (từ trước 1945). Vậy mà vì sợ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa bắt giữ vào đêm Thiết Quân Luật 21/8/1963, y bất chấp nguyên tắc tình báo, chạy trốn vào Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ để bọn tình báo Cộng sản Việt Nam phát hiện y là tên phản bội lại chúng. 


Vì thế, đồng chí Phạm Văn Bồng tức Thích Trí Quang với 24 năm tuổi đảng phục vụ tận tình cho “Bác và đảng đã bị vất vào thùng rác như trái chanh đã bị ung thối không thể dùng được nữa.



   
__._,_.___


Posted by: <vneagle_1

NHỮNG DỮ KIỆN CÔNG DÂN MỸ GỐC VIỆT CẦN BIẾT


         NHỮNG DỮ KIỆN CÔNG DÂN MỸ GỐC VIỆT CẦN BIẾT
                                                         Tài liệu từ Gs Nguyễn Văn Canh UBBVSTV Lãnh Thổ.

 Bài Báo có nhan đề là “Buying Influence” tại Hoa Thịnh Đốn có liên hệ đến  chímh sách của Hoa Thịnh Đốn đối vớii VC. Tôi đính kèm Bài này.

Ở đây, tôi chỉ giới hạn đến một vấn đề là Civil Rights  ở Hoa Kỳ mà thôi.

TÓM LƯỢC SỰ KIỆN: Vào  ngày 8 tháng 7, Nguyễn phú Trọng nói chuyện ở trụ sở của CSIS (Center For Strategic and International Studies)  ở Hoa Thịnh Đốn, ngay sau ngày gặp Obama.

Buổi nói chuyện chỉ dành cho khán thính giả là khách mời của CSIS ở Hoa thịnh Đốn.  BS Nguyễn thế Bình là một trong những người đó.


Sau khi được an ninh khám xét, BS Bình được lên phòng họp ở trên lầu cùng với các khách khác và có một học giả của CSIS đón tiếp. Murray Hiebert, một viên chức của CSIS, có nhân viên an ninh của CSIS đi kèm, đòi BS Bình phải rời khỏi nơi  họp. Murray lộ rõ  không được thoả mái khi phải cắt nghĩa điều đáng tiếc đã xảy ra, nhưng an  ninh tại chỗ của VC chỉ không muốn cho BS Bình vào nghe Nguyễn phú Trọng nói. Murray  với cung cách hối lỗi đã cắt nghĩa cho BS Bình rằng ông ta đã hết sức cố gắng thuyết phục các viên chức an ninh VC về việc này, nhưng không có hiệu quả. Họ không muốn thương lượng, và quan điểm của  họ dứt khoát  là BS Bình không được phép vào nghe Trọng nói chuyện…

CHÚNG TA LÀM GÌ?
Sơ qua sự kiện trên, tôi thấy VC đã dùng tiền ( xem phần sau của bài tường thuật của Rushford) để gây tác động ( hoành hành) tại Hoa Thịnh Đốn. Sự kiện tóm lược trên  cho thấy  VC, chúng là những người nước ngoài, ngang nhiên vị phạm nghiêm trọng quyền của người Mỹ trên đất Hoa kỳ  mà Hiến Pháp Hoa Kỳ bảo vệ.

Chúng vi phạm gì?

CSIS và VC là đồng phạm đã vi phạm 2 quyền căn bản của công dân Hoa Kỳ do Hiến Pháp Hoa Kỳ bảo đảm cho họ.

 Đó là :
1) Equal protection Clause do Tu Chính Án HP 14 bảo vệ. Đây là điều khoản bảo vệ quyền bình đẳng của công dân Mỹ,  không ai được ban cấp quyền phân biệt đối sử với người khác. Thường ngày người dân Mỹ  hay nói đến kỳ thị.  Đó là vấn đề được nêu ra ở đây. Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã có những phán quyết về vấn đề này trong các lãnh vực như: chủng tộc, tôn giáo, chính kiến, giầu nghèo, tuổi tác… Cũng thấy có cả áp dụng đối với các hội viên trong một hội đánh golf….      Ở đây,  BS Bình bị ngăn cản, không cho vào phòng họp trong khi đó các người khác cũng cùng trường hợp  như BS Bình là khách mời được  ân cần chào đón; ngoài ra, an ninh còn ‘áp tải’ nạn nhân ra khỏi khu vực họp;
2) Freedom of Expression do Tu Chính Án thứ Nhất (TCA 1) bảo vệ. Đây là quyền được tự do phát biểu tư tưởng.  Tối Cao Pháp Viện đã áp dụng rộng rãi: các tuyên bố và hành vi của công dân dù chống lại nước Mỹ như trường Jane Fonda trước đây ở Hà nội ( có người  còn thấy hành vi của y thị ở  mức quá đáng nên gọi y thị là phản quốc), các cuộc biểu tình dầm dộ do Jane Fonda dẫn đầu ở California vào thời kỳ Sinh Viên Mỹ chống chiến tranh VN; như các vụ sinh viên xé cờ Mỹ, đốt cờ Mỹ, trương hay cầm cờ như cờ VC , hình ảnh cả các lãnh tụ CS, hô to chống Mỹ ( dĩ nhiên là không được bạo động) …. Các hành vi đó được Tu Chính Án Thứ Nhất bảo vệ.

Áp dụng vào trường hợp BS Bình, qua tài liệu đính kèm, chúng ta biết rằng tìmh báo VC  đã biết rõ các hoạt động chống lại VC trong nhiều năm qua của nạn nhân trong nhiều trường hợp,  ở cả mọi nơi kể cả trong Quốc Hội Hoa Kỳ. BS Bình  luôn lớn tiếng tố cáo chế độ vi phạm nhân quyền  tại Việt nam. Ngay ngày hôm trước buổi nói chuyện của Nguyễn phú Trọng tại CSIS, BS Bình đã tham dự biểu tình tại công viên La Fayette chống Trọng gặp Obama  trong toà Bạch Ốc. Nạn nhân đã bị cấm vào hội trường do lệnh của các công an VC hiện diện tai chỗ dù ” Murray đã cố gắng thuyết phục” mà các cán bộ công an VC  không chấp thuận. Mục đích của VCV là ngăn ngừa BS Bình phát biểu tố cáo vi phạm nhận quyền của VC  tại Việt nam khi Trọng hiện diện tại đó . Như vậy  đây là hành vi ngăn chặn quyền hành sử Tự Do Phát Biểu Tư Tưởng của nạn nhân được Tu Chính Án thứ Nhất bảo vệ.

Hai quyền này được coi là quyền căn bản, quan trọng vào bậc nhất của con người trong hệ thống tư pháp của xứ này. Các vi phạm này hoàn toàn không thể được tha thứ.
Người Việt tị nạn không thể làm ngơ vụ này.


Người Việt tị nạn trong trường hợp này có thể hành động trong lãnh vực sau:

a) Lãnh vực tư p;háp:
Đưa vấn đề này ra trước toà án: Chỉ có BS Bình, nạn nhân của các vị phạm trên  có ‘danh nghĩa” đưa vấn đê ra trước Toà án vì quyền lợi  của nạn nhân bị xâm phạm, dựa trên nguyên tắc “có lợi ích có tố quyền”. Vì sự xâm phạm quyền căn bản ấy của công dân, công tố quyền sẽ được phát động để truy tố các ‘can phạm’. Trường hợp này là CSIS và Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt nam. Chúng là hai đồng phạm. 

Chúng phải trả lời về các hành vi của chúng trước Toà Án. Các án lệ cùa Tối Cao Pháp Viện trong trường hợp này cho thấy các vị phạm ấy bị trừng phạt là tội đại hình và đối với nạn nhân các can phạm, còn phải bồi thường thiệt hại ( lãnh vực dân sự) nữa.

b) Đòi hỏi Đại biểu ở Quốc Hội điều tra vị phạm này và phải có  hành động với các vi phạm ấy.
*Người tị nạn tại Mỹ có thể hành sử quyền này. Trước hết cần phải xác định danh xưng ‘người tị nạn’ ở đây.
-Đó là một cá nhân, có quốc tịch hay chỉ là thường trú nhân có thể đòi hỏi đại diện của mình điều tra vụ vi pham quyền con người quan trọng này.
-Đó là cũng là một đoàn thể. Có thể là một tập hợp có tổ chức chính thức hay  một nhóm người, -không nhất thiết được hành lập hợp lệ ( có giấy phép) và đây là một  tổ chức thục tại ( de facto), có quyền nêu vấn đề này với đại diện của họ tai quốc hội liên bang.  Họ là 2  Thượng Nghị Sĩ Liên Bang của Tiểu Bang người tị nạn cư ngụ. Và  là Dân Biểu Liên Bang trong khu vự cư ngụ.
* Nên trình bày vấn đề trong một văn thư: tóm lược sự kiện, mình muốn gì như theo mẫu đính kèm ( Tôi edited lại thư mà tôi đã gủi cho hai Chủ tich và Phó Chủ Tịch Uỷ Ban Tư Pháp, Thượng và Hạ Viện). Mục đích là đòi điều tra và truy tố các kẻ phạm pháp: CSIS và An Ninh VC ( cả Đại diện CHXHCNVN/Đảng CSVN nữa). Gửi thư ấy đến Văn phòng địa phương của Thượng Nghị sĩ và dân biểu.
*Tiếp xúc trực tiếp là quan trọng. Sau khi gủi thư đi, nên gọi điện thoại xin một cái hẹn gặp Đại Biểu liên hệ (là Dân Biểu hay Nghị sĩ), có thể gặp chuyên viện của họ cũng được tại văn phòng địa phương để bàn với họ xem cách hành động nào tốt nhất. Có thể họ đồng ý về đề nghị  trong thư và cũng có thể họ cho ý kiến khác.  Khi găp Đại Biểu, nên kêu gọi vài chục đồng hương cùng  đi. Nhớ là  đòi họ  cho biết kết quả. Cần phải theo dõi.

·       Một thí dụ về đòi hỏi Quốc Hội điều tra.
Vụ Nguyễn văn Hảo móc nối với Bộ trưởng Thương mại của Clinton là Brown để VC xin được bang giao ( vài tháng ngay sau khi Clinton nhậm chức vào tháng 1 năm 1992 ). Tin này do tờ Spirit, một tờ báo nhỏ, hình như ở Northern Carolina ( tôi không nhớ rõ) phổ biến. 

Ông Lý thanh Bình ở Florida biết tôi đòi Quốc Hội điều tra vụ này. Ông ta cho tôi biết rất nhiều chi tiết về vụ này. Ngoài ra còn các tài liệu tôi thu thập được, có cả liên hệ của Lê quang Uyển, cựu Thống Đốc Ngân  Hàng  thời kỳ cuối của VNCH  vào vụ này về vấn đề tiền  chuyển qua Indosuez Bank ở Tân Gia Ba; văn thư của chính quyền Nam Dương vận động cho VC v.v.

Và giải pháp đưa ra là chính quyền Hoa Kỳ đã cử một cựu chánh án ở Florida làm Independent Counsel ( tôi không nhớ tên) đièu tra vụ này. Spirit cho biết, Nguyễn văn Hảo thấy âm mưu này bị lộ , nên đã gủi 2 faxes cho Sáu Dân ở Sài gòn. Spirit phổ biên hai faxes ấy: dặn Sáu Dân sắp xếp lại công ty của bọn họ vì Hảo cho biết có thể bị bắt giam về vụ phạm pháp này. Khi được tin này, tôi có kêu gọi chính quyền ra lệnh cho câu lưu ngay nghi can vì sợ y trốn qua Mễ Tây Cơ để chạy về VN.

 Tuy nhiên, trong khi còn đang chuẩn bị cho công tác điều tra của Independent Counsel, thì Brown trong chuyến đi công tác ở Âu Châu về, máy bay đâm vào núi và Brown tử nạn. Vậy Independent Counsel là môt đề nghị Quốc hội cần để cử người đó là đủ.

·         Một thí dụ về quyền tư do phát biểu tư tưởng: Vụ Trần Trường.
Treo hình Hồ là một hành vi  của Trần Trường biểu hiện quyền hành sử quyền phát biểu tự do tư tưởng do TCA 1 bảo vệ. Không ai có quyền ngăn cản, nếu là bất bạo động.
Cuộc biểu tình  bất bạo động chố vụ treo hình Hồ của gần 50,000 người tị nạn ( theo NBC) là quyền hành sử quyền  phát biểu tự do tư tưởng của người tị nạn. Không ai có quyền cấm  đoán. Vì có sự chống đối hợp pháp kéo dài của người tị nạn, các cố vấn của Trần Trường đã chuyển cuọc đấu tranh của chúng sang mặt trận pháp lý. Trần Trường đã được đưa tới một văn phòng Luật sư  ‘có thế giá’ ở Los Angeles chuyên lo về vấn đề Hiến pháp. Văn phòng Luật sư này nằm trong một hệ thống có truyền thống bảo vệ những người có lập trường như Jane Fonda và hệ thống này có một ngân khoản hơn 1 tỉ MK vào thời kỳ thập niên 1980. Vụ việc được  văn phòng luật sư này đưa ra toà. Chánh án là một phụ nữ, cũng xuât than từ “lò”này mà ra. Binh thường  ( không kể các yếu tố vừa nếu) thì bản án sẽ được ban hành tất nhiên là quyền treo hình Hồ của Trần Trường được bảo vệ. Tuy nhiên trong quá trình xét sử vụ án, cần phải có một thời gian để Toà án làm thủ tục. Chính trong tòi gian này, ‘vật cbứng’ hay nói khác đi là hình Hồ, công cụ để hành sử quyền  được tự do phát biểu tư tưởng của Trấn Trường bị biến mất, nên Toà không còn lý do tiếp tục xử vụ kiện.
Nếu ‘vật chứng’ không biến mất, thì tình trang sẽ ra sao?
Sẽ có một bản án có lợi cho Trần Trường: bảo vê quyền hành sử quyền tụ do tư tưởng của y. Như thế, các người biểu tình là các kẻ ngăn cản y hành sử quyền hiến định này. Nếu họ không chấm dứt các hành động ( biểu tinh) của họ,  họ sẽ bị bắt và  bị truy tố., nghĩa là bị trừng phạt. Hình Hồ trong tiệm được công lực bảo vệ. Và nhiều hình Hồ và cờ VC sẽ tràn lan khắp nơi ở Miền Nam Ca, trước khi lan toả đến các nơi khác.
Câu hỏi là làm sao hình Hồ biến mất. Hình ấy treo trong tiệm  của Trần Trường. Cửa tiệm luôn  khoá chặt. Chỉ có Trần Trường có chìa khoá. Ngày đêm người tị nạn biểu tình canh giữ ở  cửa tiệm. Khi Trần Trường đến tiệm, y  luôn có cảnh sát đi theo để bảo vệ. Y mở cửa vào, cảnh sát đứng bên ngoài. Một hôm, y tới , rồi hô hoán rằng hÌnh Hồ biến mất. Chính vì hình này ‘bị mất’, nên vụ án bị đình chỉ. Người tị nạn thắng cuộc. Phản chiến bảo trợ và VC đại bại. Có người đoán rằng cuộc biểu tình đả kéo dài (cả thảy tới 52 ngày), Trần Trường không thấy Tòa Tổng Lãnh Sự VC ở San Francisco đưa cho y $500,000 đã hứa, nên đã làm ra chuyện này?

Cước chú: Tôi  đã gửi  thư cho Chủ Tịch và Phó Chu tịch Uỷ Ban Tư Pháp Thượng và Hạ viện về vấn đề này.
Các anh chị sử dụng thư đính kèm làm Mẫu: thay tên 2 Dân Biểu bằng tên  các Nghị sĩ và  Dân biểu, rồi rôi in ra,  kèm cả  Bài Báo, rồi gửi đi qua Bưu Điện vào chỗ người nhận.
Còn phần cuối, thay tên của anh chị vào chỗ tên của tôi.
Còn nếu muốn gửi thêm cho UB Tư Pháp, thì chỉ cần để tên Chũ Tịch và Phó như trong Mẫu thư.
Liên lạc với tôi, để toi cung cấp tên của 2 Nghị Sĩ, UB Tư Pháp Thươg Viện.
__._,_.___

Posted by: Gia Cao 

Sunday, October 4, 2015

TIN ÐẶC BIỆT:...Bằng chứng: Bọn Giao Ðiểm là tay sai của việt cộng!


From: Adida Phat <aphat74@yahoo.ca>
 Sent: Saturday, October 3, 2015 10:03 AM
Subject: Bọn Giao Ðiểm là tay sai của việt cộng!
 

TIN ÐẶC BIỆT:
 Bằng chứng: Bọn Giao Ðiểm là tay sai của việt cộng!
Mời quý vị xem tài liệu dưới đây, do tờ điện báo TinParis đăng ngày 2-3-2008 trên mạng:

Bản tin có đính kèm bản photo hai tờ giấy phép, cho phép ông Bùi Hồng Quang, việt kiều Mỹ mang 420 quyển "sách hiếm" Giao Ðiểm, số 65 ra nước ngoài. Giấy phép do tên đại tá việt cộng, Cục phó cục An ninh Lê Công Hoàng ký.
Ðây là bằng chứng rất rõ ràng mà những tên việt cộng nằm vùng thuộc nhóm Giao Ðiểm không thể nào chối cãi!
Thằng 6 Bò Vàng, con giòi hầm cầu tiêu cũng không thể nào chối cãi! (Bấy lâu nay nó cứ nhận nó là "người quốc gia"!!!)

================

NHẬN ÐỊNH:
- Thằng 6 Bò Vàng và bọn Giao Ðiểm là tay sai của việt cộng.
Chúng nó làm theo lệnh của việt cộng là phải tấn công, bêu xấu Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và nền Ðệ Nhất Cộng Hòa. (Cần Lao, bắc 54 hay Công Giáo chỉ là những đòn hỏa mù)
 Lý do:
- Vì Tổng Thống Diệm là người đã khai sinh ra nước Việt Nam Cộng Hòa với biểu tượng là lá quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ.
- Do đó:
- Bôi xấu Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và nền Ðệ Nhất Cộng Hòa, CŨNG CHÍNH LÀ BÔI XẤU LÁ QUỐC KỲ VNCH!!!
Và:
- Bôi xấu lá quốc kỳ VNCH cũng chính là bôi xấu hai nền Ðệ Nhất và Ðệ Nhị VNCH và toàn bộ quân dân cán chính của VNCH!
- Những việc làm của thằng 6 Bò Vàng và bọn chó săn Giao Ðiểm đều có mục đích: Thoạt tiên là bọn chúng chặt những cành cây. Sau đó bọn chúng ÐỐN LUÔN GỐC CÂY!!!

THÂM Ý CỦA VIỆT CỘNG LÀ Ở CHỖ ÐÓ!!!

ÐỂ ÐỐI PHÓ, NHIỆM VỤ CỦA CHÚNG TA là:
1. Bảo vệ biểu tượng thiêng liêng, quốc kỳ VNCH
2. Bảo vệ danh dự cho Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và hai nền Ðệ Nhất, Ðệ Nhị VNCH.
3. Vạch mặt những tên việt cộng nằm vùng như 6 Bò Vàng, bọn Giao Ðiểm và những tên công an việt cộng ÐẦU TRỌC đang núp đàng sau lớp vỏ "phật giáo", đang sống rất phè phỡn như những ông vua tại các chùa Phật giáo tại hải ngoại!!!

Ngày 29  tháng 9 năm 2015
Michael Nguyễn



__._,_.___

Posted by: <vneagle_1


Saturday, October 3, 2015

ĐẢO CHÁNH , PHẢN TẶC , PHẢN QUỐC‏

2015-09-23 18:38 GMT-07:00 Gia Cao  [ChinhNghiaViet] <>:
 

[GoiDan] ĐẢO CHÁNH , PHẢN TẶC , PHẢN QUỐC‏

[GoiDan] ĐẢO CHÁNH , PHẢN TẶC , PHẢN QUỐC

Hoaiviet Nguyen  [GoiDan]


9/21/15


"Trăm năm bia đá cũng mòn, Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ"

trên dòng sử xú uế của dân tộc. Một bọn tay sai mạt hạng, phản loạn, phản chủ, phản quốc là nguyên nhân của cuộc mất nước (mất chế độ tự do, dân chủ & nhân bản) của VNCH vào tay giặc CS "ngày 30 tháng tư đen tối 75". Bọn tội đồ nầy kẻ đã xuống hỏa ngục, kẻ còn sống vất vưởng như để chúng sấm hối tội ác nhìn về Tổ Quốc, non sông và dân tộc điêu linh bị bọn bạo quyền qủy đỏ CS, đoại đày. Nếu không có có lũ tay sai mạt hạng nầy, thì miền Nam 
VN vẫn tồn tại như Đài Loan và Nam Hàn.

Gần đến ngày tang thương "01-11-63" của lịch sử dân tộc, mỗi người QG yêu nước; hãy thắp
nén hương lòng tưởng niệm cố TT Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn cùng những những sĩ quan trung hiếu với Tổ Quốc & Đồng Bào đã khẳn khái quát lên như sấm,chưởi thẳng vào mặt tên giặc tay sai DVM, đó là anh hùng cố ĐT Tung v.v..trước khi ngã xuống dưới bàn tay đẩm máu "đao thủ phủ" Dương văn Minh cùng đồng bọn.@

  





image





CÁI CHẾT CỦA TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM 
VÀ NỀN ĐỆ NHẤT VIỆT NAM CỘNG HÒA

Hôì 4:30 trưa thứ sáu, mùng 1/11/1963, nghĩa là khoảng 3 giờ sau khi tiếng súng đảo chánh bắt đầu nổ, TT Diệm gọi điện thoại cho đại sứ Lodge. Và đây là nôị dung cuộc nói chuyện lần cuôí cùng g.
Sau khi nghe tiếng súng đảo chánh, TT. NĐD hói đại sứ  cho biết sự việc và Đại sứ Lodge trả lời tránh né như sau :
 Đại sứ Lodge trả lời: Tôi nghĩ rằng tôi không được thông báo đầy đủ tin tức để có thể trả lời câu hỏi của ngài. Tôi có nghe thấy những tiếng súng nổ, nhưng không biết rõ thực hư. Vả lại bây giờ là 4:30 sáng tại Hoa Thịnh Đốn và chính quyền Mỹ có lẽ không thể đưa ra một ý kiến về vấn đề này.
Tổng thống Diệm: Nhưng chắc chắn ngài cũng có những ý niệm đại khái về vấn đề này. Dù sao, tôi cũng là một vị quốc trưởng. Tôi đã cố gắng làm bổn phận trên tất cả.
Đaị sứ Lodge: Dĩ nhiên ngài đã làm bổn phận của ngài. Như tôi đã nói với ngài lần đầu tiên sáng hôm nay, tôi khâm phục sự can đảm của ngài và khâm phục sự đóng góp to lớn của ngài đối với quê hương của ngài. Không ai có thể lấy đi cái công của ngài đối với tất cả những gì ngài đã làm. Nhưng bây giờ tôi lo ngại cho sự an toàn bản thân của ngài. Tôi được báo cáo rằng những kẻ đảm trách những việc đang xảy ra đề nghị để cho ngài và em ngài bình yên đi ra ngoại quốc nếu ngài từ chức. Ngài có nghe thấy nói điều đó không?
Tổng thống Diệm: Không (ngừng một lúc, TT Diệm nói tiếp) ngài có số điện thoại của tôi.
Đaị sứ Lodge: Vâng. Nếu tôi có thể làm được điều gì cho sự an toàn bản thân của ngài, thì xin ngài cứ gọi tôi.
Tổng thống Diệm: Tôi đang tìm cách lập lại trật tự.
Về cuộc nói chuyện nói trên giữa TT Diệm và đại sứ Lodge chúng ta chỉ cần ghi nhận ba điểm sau đây:
Thứ nhất: cái bất lương của đại sứ Lodgẹ Ông đã dối trá khi nói với TT Diệm: "Tôi nghĩ rằng tôi không được thông báo đầy đủ tin tức để có thể trả lời câu hỏi của ngài. Tôi có nghe thấy tiếng súng nổ, nhưng không rõ thực hư".
Thứ hai: cái ngu dấu đầu hở đuôi của nhà ngoại giao được coi là thượng thặng của Mỹ. Thật vậy, ở câu trên, đại sứ Lodge vừa nói với TT Diệm rằng ông chỉ nghe thấy tiếng súng nổ, mà không rõ thực hư. Thì ngay câu dưới ông lại nói với TT Diệm rằng: "Tôi được báo cáo rằng những kẻ đảm trách những việc đang xảy ra đề nghị để cho ngài và em ngài đi ra ngoại quốc nếu ngài từ chức".
Thứ ba: cái khí phách của TT Diệm. Đến phút chót, và trong cơn nguy khốn, trước mặt ngoại bang, ông vẫn giữ được thể thống của một người lãnh đạo quốc gia, và tư cách của vị tổng thống một quốc gia có chủ quyền. Ông không hạ mình xuống xin ân huệ của ngoại bang. Như tổng thống Marcos của Phi Luật Tân đã hạ mình xuống xin ân huệ của Mỹ, ngày 25/2/1986.
Hồi 5:30 chiều 1/11, tức là khoảng một giờ sau cuộc điện đàm giữa TT Diệm và đại sứ Lodge, trung tướng Dung văn Minh gọi điện thoại cho ông Diệm và đòi ông Diệm phải đầu hàng. Ông Diệm từ chối không muốn nói chuyện với tướng Minh.
Hai giờ sau, tức là khoảng 7:30, tướng Minh lại gọi cho ông Diệm, ông Diệm lại từ chối không nói chuyện. Tướng Minh rất tức giận về thái độ khinh bỉ của ông Diệm.

Khoảng 8 giờ chiều, tướng Minh ra lệnh tấn công vào dinh Gia Long. Người được chọn để thi hành cuộc tấn công là đại tá Nguyễn văn Thiệu, một sĩ quan công giáo, lúc đó chỉ huy sư đoàn 5 bộ binh.

Một điều mà nhóm đảo chánh đã không ngờ đến, là khoảng 8 giờ chiều hôm đó, anh em ông Diệm đã lên một chiếc xe hơi màu đen do ông Cao Xuân Vỹ lái, bí mật ra khoải dinh Gia Long và đến tạm trú tại nhà Hoa kiều Mã Tuyên.

Vào lúc 3 giờ sáng ngày 2/11, đại tá Thiệu mở nhiều đợt tấn công với thiết giáp và pháo binh vào dinh Gia Long. Nhưng các cuộc tấn công ấy đã bị đẩy lui. Những quân nhân trung thành với ông Diệm đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, mặc dù thua sút về quân số, vũ khí, mặc dù không được tiếp tế và mặc dù ở trong tình thế tuyệt vọng. Cuối cùng, nhóm đảo chánh đã phải cầu cứu trung tá Nguyễn cao Kỳ cho phi cơ phóng pháo lên bắn phá thành Cộng Hòa để hỗ trợ quân đảo chánh và áp đảo tinh thần những binh sĩ phòng thủ dinh Gia Long.
Hồi 5 giờ sáng ngày 2/11, binh sĩ trong dinh Gia Long kéo cờ trắng đầu hàng, sau khi được lệnh bằng điện thoại của ông Diệm.

Hồi 6:45, ông Diệm lại gọi điện thoại. Người nghe điện thoại là thiếu tướng Trần Thiện Khiêm. Ông Diệm cho tướng Khiêm biết ông và ông Nhu hiện đang ẩn náu tại nhà thờ cha Tam, Chợ Lớn, và yêu cầu đem xe đến đưa về bộ Tổng Tham Mưu gặp các tướng lãnh. Tướng Dương văn Minh bèn cử thiếu tướng Mai hữu Xuân, đại tá Nguyễn văn Quang, đại tá Dương ngọc Lắm, thiếu tá Dương hiếu Nghĩa và đại úy Nguyễn văn Nhung đem xe thiết giáp đi rước những kẻ đầu hàng về bộ tổng tham mưu. Đoàn xe rời bộ tổng tham mưu hồi 7:30. Tướng Đôn cho sửa soạn một căn phòng cho anh em ông Diệm, và mời bác sỉ Đinh Xuân Minh đến "săn sóc cho Cụ".
Những gì xảy ra sau đó, đã được sách vở báo chí cũng như lịch sử ghi chép đầy đủ. (xin qúy vị đọc bài "Bọn Ác Ôn Côn Đồ" của Tú Gàn vừa post lên Net để biết rõ chi tiết diễn tiến ....bọn côn đồ phản loạn kia đã làm gì đối vởi anh em TT Diệm trên đường về từ nhà thờ cha Tam trở về tổng tham mưu?)
Khoảng 8:30, chiếc xe thiết giáp về đổ tại sân tổng tham mưu với hai xác chết trên sàn xe. TT Diệm đã bị bắn đàng sau ót, ông Nhu bị bắn ở lưng và bị đâm nhiều nhát dao trên ngực. Hai tay các nạn nhận đều bị trói quặt ra đàng sau lưng.
Cuộc đảo chánh 1963 đã kết thúc bằng cái chết của ông Diệm và em ông, Nhu. 
CHÁNH NGHĨA DÂN TỘC 

Người ta đã suy nghĩ và đã viết nhiều về cái chết đó.
Có người cho là quả báo nhãn tiền: ông Diệm đã phạm tội ác đối với quốc gia dân tộc, ông Diệm phải đền tội. Đó là cái nhìn của những kẻ ghét ông Diệm.
Có người lại nghiêm khắc phê phán nhóm tướng lãnh đảo chánh là mọi rợ, Ông Diệm đã ra đầu hàng, với sự thỏa thuận của các tướng lãnh. 

Ông Diệm phải được đối xử như một kẻ đã đầu hàng. Nếu nhóm tướng lãnh đảo chánh không coi ông Diệm là một tổng thống đầu hàng, thì ít nhất cũng nên có cái mã thượng và phẩm cách của người quân nhân "thắng trận" để đối xử với một hàng binh. Cùng lắm, họ có thể đưa ông Diệm ra trước tòa án để công lý tùy nghi định tội. Tại sao lại phải giết một cách lén lút và hèn hạ như vậy?

 Đó là cái nhìn của số đông, cái số đông gồm những kẻ thương mến ông Diệm, cũng như những kẻ không thương mến nhưng không thù ghét ông Diệm.

Nhưng, lịch sử có cái nhìn riêng của nó. Cái chết của ông Diệm là một sự cần thiết. Nó mang ý nghĩa trọn vẹn của một phủ định và một xác định. Nó phủ nhận và thẳng tay xóa bỏ gía trị lịch sử và gía trị dân tộc của biến cố 1963, đồng thời xác định bản chất đích thực của biến cố ấy, trước dân tộc và lịch sử. Thật vậy:
Biến cố ngày 1/11/1963 đã từng được tôn vinh là một cuộc vùng lên của nhân dân miền Nam và của cái gọi là "đại bộ phận của dân tộc VN". Vùng lên để lật đổ một bạo quyền.
Nhân dân vùng lên, vì anh em ông Diệm là "những kẻ đại tội làm hư uế chánh nghĩa dân tộc và làm suy nhược sức mạnh của miền Nam".
Nhân dân vùng lên, vì Ngô Đình Diệm "phong kiến như vua, độc tài như cộng sản".
Nhân dân vùng lên, vì chế độ Ngô Đình Diệm là "một chế độ dùng bạo lực thay chính trị, dùng khủng bố thay vì giáo dục".
Nhân dân vùng lên, vì Ngô Đình Diệm "độc tài dộc tôn độc đảng", và vì "suốt chín năm nhà Ngô và đảng Cần Lao ngự trị tại miền Nam, ngoại trừ một thiểu số thống trị với tất cả đặt quyền đặc lợi, còn thì nhân dân phải sống khổ nhục sợ hãi không khác gì nhân dân miền Bắc đã sống dưới chế độ Tần Thủy Hoàng của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản".
Nhân dân vùng lên, vì "chín năm cai trị là chín năm bạo trị, 15 triệu đồng bào là gần 15 triệu nạn nhân, quân đội và phong trào đấu tranh của Phật giáo chỉ là những lực lượng có duyên và phương tiện để thi hành bản án mà gần 15 triệu đã tuyên án từ 9 năm qua".
Nhân dân vùng lên, vì bạo quyền Ngô Đình Diệm "đã tiến hành những chính sách tai hại không phải cho một người mà cho cả một dân tộc", đã "dùng bạo lực để hủy diệt một tôn giáo chỉ biết có tình thương" và "đã dùng gian trá để đem nữa phần đất còn lại của dân tộc bán đứng cho CS miền Bắc"...
Trên đây là những nét chính, tổng qúat hóa tội ác của họ Ngô và được liệt kê trong quyển VNMLQHT (trang 279, 232, 303, 305, 317, 330, 791, 793...) Vì những tội ác ấy, nhân dân đã phải vùng lên.

Đó không phải là luận điệu của riêng tên lính khố xanh Đỗ Mậu, mà còn là luận điệu của cả cái tập đoàn đứng sau lưng  ĐM, cũng là cái tập đoàn từng mệnh danh là "đại bộ phận của dân tộc".

Trong những tháng ngày sau đảo chánh, luận điệu trên dã trở thành chân lý của những tên tay sai làm đảo chánh, cũng như của những kẻ hoan hô đảo chánh. Các tên tướng Tôn Thất Đính, Dương văn Minh, Trần Thiện Khiêm, Đặng văn Quang, Lê văn Kim, Mai hữu Xuân, Trần văn Đôn, Đỗ Mậu ....vv... đã "anh dũng" đưa ra những ngụy khẩu trước lịch sử rằng: "quân đội lãnh sứ mạng của nhân dân, đứng lên lật đổ Ngô Đình Diệm, vì chế độ Ngô Đình Diệm độc tài phản dân hại nước, và vì anh em họ Ngô bắt tay với Hà Nội để dâng hiến miền Nam cho cộng sản" ?????.

Bản tuyên cáo chính thức của hội đồng quân nhân cách mạng đọc ngày 2/11 cũng đã mở đầu bằng câu: "cuộc cách mạng của toàn dân, thành công trong vinh quang, đã chấm dứt một chế độ độc tài, tàn bạo, bất lực..... Đứng trước sự thối nát của chính quyền Ngô đình Diệm, quân đội đã nhận thức sự cần thiết phải giải thóat đồng bào để tiến tới một chế độ dân chủ thực sự, nên quân đội, dưới sự lãnh đạo của hội đồng quân nhân cách mạng, đã cương quyết vùng lên...."

Bản tuyên cáo của chánh phủ lâm thời VNCH cũng cùng một luận điệu đó. Và bản hiến ước tạm thời của chính quyền "cách mạng" cũng đã mở đầu bằng lời ca tụng "cuộc cách mạng chống độc tài đã hoàn toàn thành công với truyền thống hy sinh phục vụ tổ quốc của quân đội VNCH để dành lại cho dân tộc nền dân chủ tự do..." 

Thật tởm lợm miệng lưỡi của lũ tay sai phản chủ, phản quốc để mưu đồ bọn ngoại nhân đạt được khuynh đảo chủ quyền, chính nghĩa dân tộc sụp đổ. Sự kiện đã giúp cho tội đồ CS Hồ chí Minh trương cờ chính nghĩa với chiêu bài và khẫu hiệu "chống Mỹ cứu nước, diệt tay sai" & "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào" đưa tới thảm họa ngày 30-4-75. (Là mồ chôn trang sử xú uế của lũ tay sai mệnh danh cuộc cách mạng 1-11-63).
Ta hãy nghe bọn tội đồ lịch sử ghép tội như sau: "Ngô Đình Diệm là một tên trọng tội, một tên đại gian đại ác, một tên phản dân hại nước, một kẻ Toan bán đứng miền Nam cho CS... Quyền lợi của quốc gia VN, và sự sống còn của dân tộc VN đòi hỏi rằng tên đại gian đại ác ấy phải bị lật đổ và đền tội trước quốc dân".
Đó là chính nghĩa được khoác lên vai biến cố ngày 1/11/1963.
Câu hỏi được đặt ra: đã có chính nghĩa dân tộc sáng ngời như vậy tại sao "cách mạng" 1963 lại phải lén lút và hèn hạ cho người ám sát tổng thống Diệm trên chiếc xe thiết giáp di chuyển từ nhà thờ cha Tam về bộ tổng tham mưu? Tại sao không đường đường chính chính đem tên tội đồ Ngô Đình Diệm ra trước tòa, dù là tòa án nhân dân - để xét xử và sau khi tòa tuyên án, hành quyết tên tội đồ trước khi mặt trời mọc? Tại sao lại phải hành động lén lút và đê tiện nhưng những kẻ đâm thuê chém mướn?
Chánh nghĩa dân tộc của cách mạng để đâu? Liêm sỉ của cách mạng để đâu? 
Khí phách của các tướng lãnh để đâu? 
LIÊM SỈ CÁCH MẠNG 

Hồi 8:30 ngày 2/11/63, chiếc xe thiết giáp từ nhà thờ cha Tam trở về đỗ tại sân bộ tổng tham mưu.
Khi nhìn thấy hai xác chết bê bết máu của anh em ông Diệm, các tướng đảo chánh đã hoảng hốt cực độ. Trong cơn hốt hoảng đó, họ đã tuyên bố với báo chí rằng anh em ông Diệm đã tự sát. Nhưng ngay sau đó, Lucien Conein nhắc cho họ biết rằng anh em ông Diệm là người công giáo, vì vậy lời giải thích "anh em ông Diệm tự sát" sẽ chẳng được ai tin và chỉ càng gieo thêm nghi ngờ. Các tướng lãnh bèn đổi giọng và tuyên bố với báo chí rằng "đó là một cuộc tự sát vì rủi ro". Luận điện này đã trở thành lập trường chính thức của hội đồng quân nhân cách mạng và của chính quyền cách mạng.

Hiển nhiên, các tướng đảo chánh đã nói dối. Nhưng vấn đề đặt ra: tại sao họ phải nói dối? Tại sao họ phải cúi mặt không dám nhìn sự thật và phải che dấu sự thật?
Tướng Dương văn Minh là kẻ đã ra lệnh cho đàn em giết ông Diệm để trừ hậu họa. Nhưng sau khi ông Diệm chết, tướng Minh không dám nhìn nhận sự thật. Tướng Minh không phải là kẻ chiến bại, mà là kẻ chiến thắng ông Diệm, đồng thời là chủ tịch hội đồng quân nhân cách mạng và người hùng của cách mạng. Tại sao tướng Minh lại phải nói dối? Tại sao lại phải hèn hạ?

Chưa hết. Tướng Dương văn Minh chẳng những không dám nhìn nhận hành động của mình, mà còn tìm cách chối tội và đổ lỗi cho người khác.
Trong cuốn Les Guerres du Viet am và Our Endless Wars, trung tướng Trần văn Đôn đã viết như sau: "Big Minh không bao giờ nhận trách nhiệm về vụ cố sát anh em ông Diệm. Mỗi khi vấn đề được nêu ra, ông ta lại tìm cách lôi kéo tôi vàọ Trong thời gian bị lưu đày tại Vọng Các, big Minh đã thanh minh với một linh mục công giáo rằng ông không có trách nhiệm gì về vụ giết ông Diệm, big Minh còn khuyên linh mục, nếu muốn biết rõ câu chuyện, thì nên đến hỏi tôi" (Our Endless Wars, trang 113).

Tướng Dương văn Minh, lãnh tụ cuôc vùng dậy của nhân dân VN và của cái gọi là đại bộ phận dân tộc VN, đã phạm hai cái hèn.

Ông Diệm đã ra đầu hàng, đã được các tướng lãnh chấp nhận cho đầu hàng, và đã được các tướng lãnh cử người đưa xe đến chở về đại bản doanh của cuôc đảo chánh. Nhưng tướng Minh đã lén lút cho bộ hạ giết anh em ông Diệm trên xe thiết giáp. Đó là cái hèn thứ nhất.

Sau khi đã cho người ám sát ông Diệm, tướng Minh đã không dám nhìn nhận hành động của mình. Đó la cái hèn thứ hai.

Cái hèn của tướng Minh cũng là cái hèn của nhóm tướng lãnh ngày 1/11/63, những kẻ không có chánh nghĩa hoặc biết rằng mình không có chánh nghĩa, hoặc nghi ngờ về chánh nghĩa của mình. 

Bởi vì: nếu họ có chánh nghĩa, nếu qủa thật họ đã vì dân vì nước tự động đứng lên để diệt trừ một đai họa cho dân tộc, nếu qủa thât họ đã quân đội và cái "đại bộ phận của dân tộc" đã vùng lên lật đổ một bạo quyền để cứu lấy tổ quốc VN, thì việc giết ông Diệm phải được coi là một hành vi chánh đáng hợp tình hợp lý hợp lòng dân và hợp lịch sử. Và những kẻ đã ra tay giết ông Diệm có quyền tự hào về hành vi đó.

Còn gì chánh đáng hơn là thay mặt nhân dân diệt trừ một tên phản quốc, và diệt trừ mọi mầm mống phản loạn sau này? Diệt trừ bằng thủ đoạn giết lén tuy không đường đường chính chính như diệt trừ bằng một bản án tử hình của tòa án, nhưng xét cho kỹ, cũng không có gì đáng hổ thẹn. Cách mạng nào mà không đổ máu? Cách mạng nào mà không giết? Mà giết thì đã sao? Nhất là giết một tên "đại gian đại ác, tội đồ của dân tộc".
Thế thì tại sao lại phải nói dối, tại sao phải chối tội và tìm cách đổ tội cho người khác?
Câu trả lời là: những kẻ đó không có chánh nghĩa. Vì vậy phải hèn hạ, phải giết lén, phải nói dối, phải chối tội và đổ tội lẫn cho nhau. 
KHÍ PHÁCH TƯỚNG LÃNH 

Tại sao các tướng lãnh không có được cái khí phách tối thiểu và tinh thần liên đới trách nhiệm để tuyên bố rằng: ông Diệm có tội với dân tộc, cách mạng đã giết ông để trừ hậu họa. Nếu không được cái khí phách tối thiểu đó, thì ít nhất cũng phải có được cái liêm sĩ tối thiểu để nói sự thật với quốc dân. Nói rằng: ông Diệm đã bị giết ngoài ý muốn và ngoài dự liệu của các tướng đảo chánh.
Tại sao lại lừa bịp quốc dân và sống sượng nói dối rằng người chết đã tự sát?
Là vì: họ không có chánh nghĩa, không kết hợp và hành động vì chánh nghĩa, vì vậy đã phải nói dối, nói quanh, chối tội và đổ tội lẫn cho nhau. Thật là mỉa mai: người sống sợ người chết, và kẻ thắng trận sợ kẻ bại trận. Đúng là một lũ đầy tớ giết chủ như trung tướng Nguyễn chánh Thi đã nhận định một cách sâu sắc. Và giết chủ rồi, lũ đầy tớ nhìn nhau, lo sợ.

Vẫn chưa hết. Trong cuốn Our Endless War và Les Guerres du Vietnam, tướng Trần văn Đôn còn viết rằng: "trưa mùng 2/11, xác hai anh em ông Diệm được di chuyển về bệnh viện Saint Paul. Sáng hôm sau, ông Minh và tôi đến viếng thăm ông bà Trần Trung Dung tại nhà. Bà Dung là cháu ruột ông Diệm. 

Ông Minh nói với bà Dung: chúng tôi đến đây không phải chia buồn. Chúng tôi hy vọng bà hiểu cho rằng cái chết của ông Diệm và ông Nhu đã xảy ra như là một sự ngẫu nhiên đáng tiếc lúc cuộc đảo chánh đang tiến hành. Chúng tôi rất buồn, nhưng bây giờ sự viêc đã xảy ra, chúng tôi không thể làm gì được nữạ Chúng tôi mong bà thu xếp lo viêc chôn cất" (Our Endless War, trang 111).

Một lân nữa, tướng Dương văn Minh lại nói dối, lại chối tội. Lúc này ông không còn là trung tướng Dương văn Minh nữa, mà là đại tướng Dương văn Minh, chủ tịch hội đồng quân nhân cách mạng, quốc trưởng của nước VN, và "người hùng" của dân tộc. Ông không chối tội trước quốc dân, trước báo chí, hoặc trước đám đông, mà chối tội trước người cháu gái cua ông Diệm.

Tướng Minh nói rằng cái chết của anh em ông Diệm đã xảy ra như một sự tình cờ ngẫu nhiên. Sự dối trá thật là trắng trợn. Cái chết của anh em ông Diệm đã không xảy ra như một sự tình cờ, mà đã xảy ra theo kế hoạch của tướng Minh và với mệnh lệnh của tướng Minh.

Tướng Minh còn nói răng "cái chết ấy đã xảy ra trong lúc cuộc đảo chánh đang tiến hành". Tướng Minh lại nói dối. Anh em ông Diệm đã bị giết trên chiếc xe thiết giáp do chính các tướng lãnh đảo chánh gửi đến để đón ông về bộ tổng tham mưu. Lúc đó, cuộc đảo chánh đã chấm dứt. Chấm dứt từ lâụ Lúc đó các tưởng đảo chánh đã bắt đầu ăn mừng "cách mạng thành công" và bắt đầu chia tiền. 
THẰNG HÈN VÀ THẰNG NÓI LÁO 

Năm 1971 là năm bầu cử tổng thống nhiệm kỳ hai. Đại tướng Dương văn Minh nạp đơn ứng cử. Vấn đề giết ông Diệm lại được đặt ra. Một quyển sách mang tên "Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống" xuất hiện. Báo chí lai khơi đống tro của lịch sử, và những người trong cuộc đã có dịp lên tiếng về cái chết của ông Diệm.
Ứng cử viên tổng thống Dương văn Minh, trong nhiều cuộc phỏng vấn, tuyên bố rằng ông Thiệu phải chịu trách nhiệm về cái chết của anh em ông Diệm trong cuộc đảo chánh 1963. 

Ứng cử viên Dương văn Minh nói: "Thiệu, lúc đó một đại tá tham gia cuộc đảo chánh, đã không đem quân vào dinh tổng thống đúng thời điểm để ngăn chặn Ngô Đình Diệm trốn thoát". Theo ông Minh, nếu anh em ông Diệm bị bắt giữ ngay trong dinh Gia Long, họ đã không bị giết. (Tài liệu ngày 20/7/71 về VN tại thư viện quốc hội Mỹ ghi như sau: "Minh said Thieu, then a colonel who had participated in the coup, had failed to bring his trơps to the presidential palace in time to prevent Diem trom escaping. Minh held that if Diem and his brother had been taken into custody at the palace they would not have been murdered”).

Ứng cử viên đương kim tổng thống Nguyễn văn Thiệu, khi thấy tướng Minh liên can mình vào vụ ám sát ông Diệm, đã chửi tướng Minh là thằng hèn và thằng nói láo.
Ông Thiệu nói: lúc đó ông được tướng Trần thiện Khiêm, bây giờ là thủ tướng cho biết Dương văn Minh đã nói với ông ta (tức Trần thiện Khiêm) rằng: đảo chánh phiền phức và khó khăn quá, chi bằng áp dụng phương thức dễ nhất, là ám sát Diệm. (tài liệu ngày 20/7/71 ghi như sau: Thieu called Minh a coward and a liar when linking him to the Diem assassination... Thieu said at the time he had been informed by gen. Tran thien Khiem, now premier, that Minh had told him the coup was so complicated and difficult that the easiest way is to assassinate Diem).

Hồ sơ lưu trữ tại thư viện quốc hội Hoa Kỳ ngày 20 và 21/7/71 có ghi rõ những lời nói trên của đại tứơng Dương văn Minh, kèm theo lời của đương kim tổng thống VN Nguyễn văn Thiệu gọi cựu quốc trưởng VN Dương văn Minh, chủ tịch hội đồng quân nhân cách mạng, là "thằng hèn và thằng nói láo".

Tướng Nguyễn văn Thiệu chửi tướng Dương văn Minh là thằng hèn và thằng nói láo. Lời chửi sâu sắc và xác đáng này cũng có thể dùng để nói về toàn thể hội đồng quân nhân cách mạng 1963, trong đó có tướng Thiệu, trong vụ ám sát ông Diệm va giải thích cái chết của ông Diệm.

Quả thật ông Diệm đã được phục thù trước lịch sử. Bởi chính cái gian dối hèn hạ của những kẻ đã lật đổ và giết ông. Kẻ thắng trận phải run phải sợ cúi mặt trước kẻ bại trận. Và đổ tội lẫn cho nhau, nguyền rủa lẫn nhau.
Ông Diệm đã được phục thù trước lịch sử. Chính cái gian dối hèn hạ của những kẻ giết ông đã phơi bày thực chất của nhóm người làm đảo chánh và phơi bày cái ý nghĩa đích thực của biến cố 1963. Một nhóm người không có chính nghĩa. Một cuộc tạo phản do ngoại bang chủ xướng và để phục vụ mưu đồ của ngoại bang. Một "lũ đầy tớ giết chủ" như lời nhận định của tướng Nguyễn Chánh Thi Một vụ "giết mướn, như lời phê phán của nhà văn quân đội Nguyễn Đạt Thịnh. 
BA TRIỆU ĐỒNG (VN) CỦA CIA 

Như đã trình bày ở chương 6 về cuộc đảo chánh, ngày 30/10/1963 tức là hai ngày trước khi cuộc đảo chánh bùng nổ, đại sứ Lodge đã gửi về tòa Bạch Ốc một công điện gồm 13 điểm. Điểm 11, đại sứ Lodge đề cập đến lời yêu cầu của các tướng đảo chánh muốn có một số tiền để "mua chuộc phe chống đối".

Theo các tài liệu còn lưu trữ tại thư viện quốc hội Mỹ, thì hôm đảo chánh Lucien Conein đã đến bộ ổng tham mưu trao một gói bạc ba triệu bạc VN ($3,000,000 đồng) cho tướng Trần văn Đôn, gọi là để "mua chuộc phe chống đối nếu cần".
Trong quyển VNMLQHT, ông Đỗ Mậu cũng viết: "Conein bèn mặc quân phục mang theo một khẩu 375 Magnum và một gói tiền độ 3 triệu đồng bạc rồi đến bộ tổng tham mưu". Nhưng ông ĐM không biết rõ mục đích và số phận của số tiền đó. Vì vậy, ông viết tiếp: "cũng cần nói rõ rằng số tiền ba triệu đồng VN do Conein mang đến đã không được một tướng lãnh nào hay biết trừ tướng Đôn. Tướng Đôn không bao giờ trình bày cho hội đồng tướng lãnh biết có nhận số tiền đó của Conein hay không, và nếu có thì đã xử dụng vào việc gì". (trang 816).

Trong quyển Việt Nam Nhân Chứng, tứơng Đôn nhình nhận có đươc Conein trao cho số bạc ba triệu, và ông đã "tặng cho các bạn", chứ không bỏ vào túi. Ông viết: "Đúng 1:30 trưa, ông Conein vào có mang theo một máy truyền tin đặc biệt để liên lạc vơi đại sứ Mỹ và một bao tiền ba triệu bạc VN. Đảo chánh vừa thành công, trong không khí rộn ràng đó, tôi có tặng cho các gạn một số tiền ủy lạo binh sĩ đơn vị mà không đòi làm biên nhận đầy đủ. Đến năm 1971, tôi ra lệnh cho thiếu tá Đặng văn Hoa tìm lục lai các biên nhận về việc ghi số tiền ba triệu bạc của Conein, thì th/tá Đặng văn Hoa làm tờ trình và một số các biên nhận. Tôi xin đính kèm theo đây để chứng minh. Tôi không tổ chức đảo chánh để kiếm số bạc như vậỵ Vì lúc đó mấy triệu bạc VN đối với tôi không phải là số tiền mà tôi khao khát" (VN Nhân Chứng, TVD, trang 211).
Viết như vậy, tướng Đôn đã muốn thanh minh cho sự trong sạch của ông. Nhưng ông đã làm một công việc thừa thãị Bởi lẽ: không ai kết tội tướng Đôn nhận tiền của Mỹ để bỏ vào túi riêng. Người ta kết tội các tướng đảo chánh đã làm như nhuốc cuộc đảo chánh, và làm nhơ nhuốc Quân Lực VNCH. Người ta kết tội các tướng lãnh đã xử sự như những tay sai của Mỹ, trong vụ lật đổ ông Diệm năm 1963.

Chúng ta hãy đọc kỹ phiếu đệ trình của th/tá Hoa, được tướng Đôn công bố và đính kèm trong phần phụ lục của quyển VN Nhân Chứng của ông, để có một ý niệm. 

Phiếu đệ trình, ngày 14 tháng 8 năm 1971
Trích yếu: Về số bạc ba triệu đồng của ông Conein cho mượn để thù lao các đơn vị trong ngày Cách mạng 1/11/63.
Kính thưa trung tướng,

Số bạc 3 triệu đồng của ông Conein cho mượn thì đã được trung tướng chỉ thị cấp cho những người sau đây:
Ngày 1/11/63, T/T/TMT Trần thiện Khiêm nhận .............................500,000 $ 
(do đạI tá Đặng văn Quang làm biên nhận)

Ngày 1/11/63, T/T Tôn Thất Đính tư lệnh quân đoàn 3 nhận ...............500,000 $ 
(do đại úy Phạm viết Hùng nhận)
Ngày 10/11/63, TT Tôn thất Đính có nhân thêm 
..............................100,000 $
Ngày 4/11/63, tặng sư đoàn 5 ....................................................50,000 $ 
(do đại tá Nguyễn văn Thiệu nhận)

Ngày 5/11/63, tặng liên đoàn thủy quân lục chiến của đại tá Lê nguyên Khang ..100,00$ (do đại úy Quế nhận)
Ngày 5/11/63, đại tá Trần ngọc Huyến thị trưởng Đàlạt 
nhận...............100,000 $
Ngày 9/11/63, thiếu tá Phan hòa Hiệp trường thiết giáp nhận ...............100,000$
Ngày 19/11/63, đại úy Đào ngọc Diệp câu lạc bộ tổng tham mưu nhận...100,000$
Tổng cộng...........................................................................1,550,000$
Tất cả số tiền 1,550,000 $ trên đây đều có biên nhận (đính kèm). Như vậy còn lại 1,450,000 $, trung tướng cũng tặng cho anh em nhưng không có chữ ký biên nhận. Nếu tôI nhớ không lầm thì trung tướng đã tặng cho các ông sau đây:
Trung tướng Dương văn Minh 
Trung tướng Lê văn Kim
Trung tướng Tôn thất Đính 
Thiếu tướng Nguyễn hữu Có 
Thiếu tướng Trần ngọc Tám 
Trung tướng Nguyễn Khánh 
Trung tướng Nguyễn cao Trí
Ngày 14 tháng 8 năm 1971 
Ký tên 
Hoa
Đọc phiếu trình trên đây, người ta thấy rõ số tiền ba triệu đã được tuớng Đôn chia ra làm haị Một nửa "tặng" cho các đơn vị đảo chánh gọi là tiền ủy lạọ Một nữa "tặng" cho các bạn !
Trong những ngườI nhận tiền "ủy lạo", tướng Trần thiện Khiêm, tham mưu trưởng QLVNCH, nhận 500,000$. Tướng Tôn thất Đính, tư lệnh quân đoàn 3 kiêm tổng trấn Saigon-Gia Định, nhận 600,000$. Số còn lại chia cho sư đoàn 5, liên đoàn thủy quân lục chiến, trường thiết giáp, câu lạc bộ tổng tham mưu và đại tá thị trưởng Dalat, Trần ngoc Huyến.

Trong những người được "tặng" tiền, có các tướng Dương văn Minh, Lê văn Kim, Tôn Thất Đính, Nguyễn hữu Có, Trần văn Tám, Nguyễn Khánh, Đỗ cao Trí (riêng tướng Dương văn Minh còn được hưởng số bạc 6 ngàn Mỹ kim lấy được trong chiếc cặp của TT Diệm).

Nói tóm lại: tất cả tướng tá có quân hoặc có công tham dự và cuộc đảo chánh, đều được "ủy lạo" hoặc "tặng tiền". Nói cách khác: cuộc đảo chánh năm 1963 đã được ủy lạo và tưởng thưởng (tặng). Và đây là điều quan trọng: cuộc đảo chánh năm 1963 đã được ủy lạo và tưởng thưởng bằng tiền của CIA, do đích thân CIA đưa đến. Vấn dề đặt ra: các tướng đảo chánh đã xin tiền, hay chính người Mỹ đã tự động đem đến?

Theo như công điện ngày 30/10/63 của của đ/s Lodge gửi cho cố vấn an ninh tòa Bạch Ốc thì các tướng đảo chánh đã "yêu cầu" được có một số tiền để dùng vào việc mua chuộc phe chống đối, nếu cần. Điểm 11 của công điện viết như sau: "As to requests from the Generals, they may well have need of funds at the last movnent with which to buy off potential opposition". Tạm hiểu như sau: Theo lời yêu cầu của các tướng lãnh, họ có thể cần một số tiền vào phút chót để mua chuộc (những kẻ) chống đối có thể xuất hiện.

Tức là: các tướng lãnh đảo chánh đã xin tiền. Và xin tiền với danh nghĩa để mua chuộc phe chống đối (các sĩ quan còn trung thành với ông Diệm).

Theo những cuốn hồi ký của tướng Đôn (Our Endless War, Les Guerres du Vietnam, và Nhân Chứng VN), thì cuộc đảo chánh năm 1963 là một "vấn đề hoàn toàn nội bộ của VN". Tướng Đôn đã vô tình hay hữu ý không biết đến nội dung bức công điện của đại sứ Lodge về vấn đề các tướng đảo chánh đã xin tiền. Ông mô tả Lucien Conein như một bà phước tự động đem tiền đến cho các tướng xử du.ng. Trong cả hai trường hợp (các tướng xin tiền, hoặc Conein tự động đem tiền đến), việc cung cấp số bạc ba triệu đã được chính quyền Mỹ sắp đặt và quyết định trước. Rất có thể các tướng đảo chánh đã xin, cũng rất có thể các tướng lãnh đã không xin. Nhưng trong cả hai trường hợp, họ đã ngửa tay ra nhận !

Hành động ngửa tay nhận tiền của các tướng đảo chánh đã làm nhơ nhuốc cuộc đảo chánh. Họ đã làm nhục chính họ, điều đó không quan hê.. Họ đã sỉ nhục Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ..!!
Phiếu đệ trình phát tiền do tướng Đôn công bố có nhiều điều làm cho người ta phải thắc mắc.

1/ Trích yếu của phiếu trình có ghi: "về số bạc ba triệu bạc của ông Conein cho mượn để thù lao các đơn vị trong ngày cách mạng 1/11/63.

Trước hết, số bạc ba triệu đồng (VN) đã do chính quyền Mỹ cung cấp, chứ không phải tiền ông Conein cho mượn. Điều này không cần phải chứng minh, nó đã đi vào lãnh vực hiểu biết công cộng, cũng như đã được các tài liệu của Mỹ xác nhận. Thâm tâm các tướng Đôn, Minh, Đính, Kim Khiêm cũng biết điều đó. Vậy thì, tại sao trong phiếu trình lại ghi là tiền ông Conein cho mượn? Và nếu là tiền ông Conein cho mượn thì các tướng đảo chánh đã trả lại cho ông Conein chưa? Nếu trả rồi, chắc chắn tướng Đôn sẽ thấy có bổn phận phải xuất trình bằng chứng, cũng như ông đã thấy có bổn phận phải xuất trình bằng chứng về sự chi tiêu số bạc.

Thứ đến, phiếu trình ghi rằng số tiền ấy dùng để thù lao các đơn vị trong ngày cách mạng 1/11/63. Thù lao là trả công. Tại sao lại ghi như vậy? Người ta lại nghĩ rằng tướng Đôn đã không đọc kỷ phiếu trình, trước khi công bố.
Những chi tiết nói trên không nên có trong phiếu trình. Dư luận đã từng cười ra nước mắt, nay một lân nữa lại phải cười ra nước mắt, và thương hại cho cái gọi là cuộc cách mạng 1963.

2/ Phiếu trình của thiếu tá Hoa đề ngày 14/8/1971, tức là gần 8 năm sau cuộc đảo chánh. Traong quyển VN Nhân Chứng, tướng Đôn cũng đã viết rõ: năm 1963, ông tặng tiền mà không làm biên nhận, đến năm 1971, ông mới ra lệnh cho thiếu tá Hoa tìm lại các biên nhận và lập phiếu trình.
Cau hỏi được đặt ra: lý do nào đã thúc đẩy tướng Đôn năm 1971 phải cho lập phiếu trình về số bạc đã chi tiêu năm 1963?

Như chúng ta đã biết: năm 1971 là năm bầu cử tổng thống nhiệm kỳ 2. Năm đó, tướng Dương văn Minh ra ứng cử: vấn đề ông Diệm và cuộc đảo chánh 1963 lại được đặt ra trước công luận. Và như trên đã trình bày, ngày 20 và 21 tháng 7 năm đó, hai ông Nguyễn văn Thiệu và Dương văn Minh chửi lộn nhau về cái chết của ông Diệm.

Năm 1971 cũng là năm bầu cử Hạ Nghị viện khóa 2. Ngày bỏ phiếu là 30/8/1971. Tướng Trần văn Đôn ra tranh cử dân biểu tại đơn vị Quảng Ngãị Và ông đắc cử. Những sự việc nói trên có thể trả lời cho câu hỏi: lý do nào đã thúc đẩy tướng Đôn năm 1971 phải cho lập phiếu trình về số bạc ba triệu đã chi tiêu năm 1963,

Tôi muốn nói với các tướng đảo chánh và những kẻ vẫn lớn tiếng ca ngợi biến cố 1963 và cuộc vùng dậy của đại bộ phận dân tộc rằng: hãy có can đảm nhìn vào sự thật. Biến cố ngày 1/11/1963 chỉ là một cuộc tạo phản do ngoại bang chủ mưu và nhằm phục vụ quyền lợi của ngoại bang. Cuộc tạo phản ấy đã được thi hành bởi những tay sai bản xứ. Những kẻ này đã ngửa tay nhận tiền của ngoại bang. Và: đảo chánh xong rồi, họ đã chia nhau số tiền ấy, mặc dù chẳng được bao nhiêu.

Thật là nhục ! Nhục cho những tướng lãnh đảo chánh. Nhục cho cuộc đảo chánh. Và nhục lây cho cả Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.

(Việt Nam Chính Sử, Nguyễn Văn Chức, trang 86-95) 



__._,_.___

Posted by: Gia Cao <

Featured Post

Tên các Quốc gia mà người Sài Gòn hay gọi trước năm 1975

https://www.facebook.com/groups/miennamvietnam/posts/1953798441526381/ https://www.facebook.com/buianhhuy095096/posts/t%C3%AAn-c%C3%A...

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List