QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Wednesday, November 27, 2013

Bạo Lực và Tha Hoá Trong Cánh Đồng Bất Tận của Nguyễn Ngọc Tư


 



 

 


CHỮ NGHĨA-VĂN HỌC, TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT


Bạo Lực và Tha Hoá Trong Cánh Đồng Bất Tận của Nguyễn Ngọc Tư


Lưu Nguyễn Đạt, TS, LS
November 26, 2013

Bạo Lực và Tha Hoá
Trong Cánh Đồng Bất Tận của Nguyễn Ngọc Tư


Cánh Đồng Bất Tận

Cánh Đồng Bất Tận[1] là một thế giới động, biến hoá dưới nhiều sắc thái tương tự, phản ánh và bổ túc lẫn nhau, theo chiều hướng phát động biểu lộ bạo lực tới tha hoá nhân bản. Cảnh và hoàn cảnh dồn dập phá hủy con người.  Trong Cánh Đồng Bất Tận, những tiết đoạn, giai thoại, tích, dấu hiệu, được tách-nối và lồng ghép vào nhau, ngay trong lòng tác phẩm để tạo thành một thế giới đa nguyên, đa diện, càng lúc càng phức tạp, càng lúc càng sâu thẳm, tăng triển phản ảnh soi lồng.  Phép sáng tạo lồng ghép truyện trong truyện, tích trong truyện, đã được văn hào Pháp André Gide[2]gọi là “mise en abyme“,[3] một thành ngữ do ông sáng chế để tả phép cấu tạo lồng ghép tạo chiều sâu cho tác văn.  Lucien Dällenbach[4] bổ túc và gọi tường thuật đó là “récit spéculaire”, để so sánh thuật trước tác phản ánh lồng chiếu với tác động soi rọi “bất tận” của các mặt gương đối chiếu lẫn nhau.   

Tên tác phẩm, Cánh Đồng Bất Tận, tự nó mô tả và tiên liệu một không gian mở, khuyếch xung theo chiều ngang qua những mô hình tiếp nối đồng dạng, bất tận.  Trong tám phân đoạn của truyện, không lúc nào không nhắc tới “Cánh Đồng”.

  • Chỗ này: “Con kinh nhỏ nằm vắt qua một cánh đồng rộng…Những cây lúa chết non trên đồng, thân đã khô cong như tàn nhang chưa rụng, nắm vào bàn tay là nát vụn…” (Phần-1); 
  • chỗ kia: “Cánh đồng không có tên…một cánh đồng vắng ngắt…một xóm nhỏ bên bờ sông mênh mang.  Mỉa mai, người ở đây lại không có nước để dùng…Ngay cả nước để chúng tắm táp cũng chua lét vì phèn…” (Phần-2); 
  • chỗ khác: “Đàn vịt đưa chúng tôi đi hết cánh đồng này đến cánh đồng khác…(Phần-3).  
  • Có lúc: “Mưa giăng bốn bề, những rặng vườn trở nên xa xôi, mờ mịt…mùa du mục của chúng tôi kéo dài liên tục từ mùa mưa sang nắng, rồi lại mưa…” (Phần-4).  
  • Có lúc:”Có ai chờ chúng tôi, trên những cánh đồng khơi?” (Phần-5).  
  • Rồi: “Chị em chúng tôi nảy ra nỗi thèm muốn, khao khát được trồng cây… mà đến chưa nóng chỗ đã phải dời đi nơi khác…Ước gì đây là đất-của-mình…Sống đời du đồng, chúng tôi buộc mình đừng yêu thương, quyến luyến bất cứ ai, để khỏi ngậm ngùi…khi cuốn lều, nhổ sào đi sang cánh đồng khác, dòng kinh khác… Một cánh đồng miên viễn…Đường chân trời mờ mờ xa ngái…Cảnh không đổi, người cũng không, cứ ngồi ngoáy mãi vết thương cũ… ” (Phần-6). 
  • Rồi: “Tôi đã chờ nó đến khi mùa mưa đổ xuống cánh đồng Chia Cắt (tôi tạm gọi vậy) một trời sao…một cái rốn nước sâu hoáy, điên cuồng hút tôi vào…(Phần-7). 
  • Và cuối cùng: “Bây giờ, gió chướng non xập xoè trên khắp cánh đồng Bất Tận (tên này tôi tự dưng nghĩ ra)…làm dịu lại mảng rực vàng của lúa.  Rất thính nhạy, (như kên kên ngửi được mùi xác chết), đám thợ gặt đánh hơi kéo đến, những người nuôi vịt chạy đồng lục tục ở đằng sau… Đơn giản là ngay bây giờ, trên cánh đồng này, cũng đang lảng vảng những thằng…thất học, hung hãn….cướp vịt ở các bầy khác… đem hết những bản năng hoang dã của mình ra để giành lại miếng ăn…(Phần-8).   

Ngần ấy khung cảnh, sắc thái để tả một môi trường sinh sống tạm bợ, xa vắng, sơ khai, nghèo nàn, nghiệt ngã, nguy hiểm, mà con người vẫn phải bám víu để sống còn.  Đặc biệt là thế giới mở, di động này bao gồm những cánh đồng tiếp nối nhau bằng những con đường sông ngòi, vừa chia tách, vừa nối buộc.  Mở vì tạm bợ, luân lưu trong cô lập, thiếu bóng dáng người, thiếu cuộc sống cố định, nuôi dưỡng của làng ấp, cầy bừa, trồng trọt.  Đó là những mảnh đất hoang dã, ngoài lề xã hội bình thường, tại một vùng đất cùng nước biên tế, nơi mà con người lẩn chốn, lang bạt trong cảnh du mục, sinh sống nhờ vào bốc hái, lượm nhặt, chăn nuôi di động, ăn thừa, hoặc du thủ du thực, cướp bóc, ăn giật, hãm hiếp.  Một thế giới hoang vu với cảnh sống theo “bản năng hoang dã”, mộc mạc, chân thật, đồng thời trắng trợn, táo bạo, kinh dị, khi tới cảnh đường cùng.

Cánh Đồng Bất Tận đã trực tiếp nhắc tới miệt vườn, sông nước tại Miền Nam, của mảnh đất Cà Mâu, nơi sinh sống của tác giả Nguyễn Ngọc Tư, một khu vực hoang dả mới mở mang từ thời Vua Gia Long, đầu thế kỷ 19.  Phải chăng, hợp từ  “Cánh Đồng Bất Tận” còn ám chỉ một vùng đất bao la, bát ngát hơn thế nữa, trong dòng lịch sử xa xưa, cách đây cả chục ngàn năm về trước, khi cả vùng Đông Nam Á, trước thời văn minh Hoà Bình, nối liền với Nam Dương quần đảo, với Úc Châu, khi nước biển thấp hơn cả trăm thước.[5]  Cái gì đã xẩy ra khi nước biển dâng lên cao? Người Cổ-Việt lúc đó phải lãnh nạn lụt, kéo lên phía Bắc định cư, và tồn tại tới ngày nay tại vùng Nam Trung Hoa, với những dấu tích văn hoá và ngôn ngữ đặc thù của Dân Tộc Việt: lập làng ấp, trồng lúa tại những vùng mà ngữ vựng ngày nay vẫn khác với hệ thống Hán Tộc, nhưng gần với hệ thống ngôn ngữ, dinh dưỡng Việt Nam.  Đó là những địa danh như Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, v.v.  Nếu thuộc “gốc” Hoa/Hán Tộc, những địa danh đó phải được gọi ngược là Nam Vân, Đông Quảng, Tây Quảng v.v. như Trung Hoa, Trung Quốc vậy… Và người thổ dân ở đó ắt phải ăn Mỳ chứ không ăn cơm-lúa-gạo như người dân “Nam Hoa” và Người Việt ngày nay.  Di tích còn lại về nền Văn Minh Hoà Bình,[6] ngoài các hang đá còn sót hạt thóc gạo dự trữ, xương cốt súc vật nhỏ, loại gia súc do người chăn nuôi, còn có các Trống Đồng Đông Sơn, với những hoa văn ghi rõ chim Lạc, Rồng và Thuyền.  Đó cũng là giai đoạn của huyền sử tổ tông Người Việt ngày nay, với ám ảnh ly biệt, chia tách năm mươi con theo Mẹ Âu Cơ lên núi, phía Bắc, năm mươi con theo Cha Lạc Long Quân, xuống vùng biển, phía Nam.


nguyễn Ngọc Tư 
Chắc tác giả Nguyễn Ngọc Tư, khi sáng tác Cánh Đồng Bất Tận, đã bị ám ảnh bởi những dấu tích thời tiền sử trên, để mang máng đổ lên mảnh đất bát ngát sông ngòi Cà Mâu, nơi tận cùng Đất Nước ngày nay, cái vẻ hoang dã, cùng cảnh thế ly tán “nguyên thủy”, chia tách cổ truyền, ẩn sâu trong máu mủ, trong tiềm thức Người Việt.  Cái nghịch lý là ở chỗ, Dân Tộc Việt đã trai qua nhiều giai đoạn mở mang, canh tân xứ sở, đi từ cảnh sống thô sơ tới các sắc thái văn minh tiến bộ, trong truyền thống văn hoá nhân bản, tổ chức đời sống ngăn nắp, hài hoà, mà đến ngày nay, sang thế kỷ 21, miệt vườn, sông nước của mảnh đất Cà Mâu, qua Cánh Đồng Bất Tận, vẫn lạc lõng, lùi bước vào cảnh hoang dã tiền sử. 


Theo chiều dọc, Cánh Đồng Bất Tận phản ánh qua những hình ảnh sinh sống của các tác nhân, lồng chiếu tương tự, đồng tâm, đồng cảnh.  Việc xuất hiện của Sương, một gái giang hồ “làm đĩ” du thực, ngay phần 1, mở đâu cho một hệ thống vai vế phản ánh đời sống mộc mạc, chân thật, hoang dã, với cả những sắc thái nghiệt ngã, trắng trợn, thô bạo, tai quái.  Sương vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân trên mảnh miệt vườn, sông nước này.  Thủ phạm, vì Sương thuộc loại đàn bà tàn tạ, phế thải từ vùng đô thị, chạy xuống miệt quê giả đò buôn bán, nhưng thực sự để hành nghề “bán trôn nuôi miệng”, hầu moi tiền mồ hôi nước mắt của nhóm thợ du mục giữ lúa, thợ gặt, thợ chăn vit.  Là nạn nhân, khi Sương bị nhóm người điên cuồng, ghen ghét, hiếu kỳ, ùa đánh hội đồng, cắt tóc, hành hạ “đổ keo dán sắt vào cửa mình của chị”.  Cái bộ phận kín đáo nhất của người đàn bà, thường dành cho những cuộc giao hợp tình tứ, chân quý, lúc đó trở thành một bộ phận vô tri vô giác, một bộ phận máy móc, có thể cắt bỏ, phá hủy, đục nối, dán bịt như một vật dụng vụn vặt.  Sự trừng phạt của đám đông này không những tàn ác quá đáng mà còn có tính cách dã man, coi người đàn bà phạm lỗi không bằng con vật. 

Sau Đệ Nhị Thế Chiến, khi nước Pháp được giải phóng, dân chúng cũng đem cạo trọc những người đàn bà “bán trôn nuôi miệng”, thân thiện, hợp tác với địch — quân đội nazi Đức–, vì thế bị gọi là “collaboratrices”.  Dân chúng trừng phạt họ như vậy, cốt vạch mặt chỉ tên kẻ vô luân phản bội đất nước.  Nhưng nếu, như trong truyện Cánh Đồng Bất Tận, dân chúng còn đánh đập, hành hạ, “đổ keo dán sắt vào cửa mình” của người đàn bà tội lỗi, thì cách trừng phạt này không những có tính cách bạo lực, thuộc luật pháp rừng rú, trả thù dã man, mà còn là một hành vi vô ý thức, vô cảm của kẻ phi nhân phản ứng máy móc, khi họ tha hoá nhân cách, gạt bỏ nhân bản, coi con người “thất sủng”, kẻ thù, chỉ ngang với một đồ vật phế thải, vô dụng, có thể hủy bỏ, phá hủy một cách vô cảm.  Cái mức độ phá cách nhân tính của hệ thống trừng phạt con người là cực điểm của hành hạ và bạo lực. 

Như trong cốt truyện một nữ điệp viên Tây Âu, trước khi thi hành công tác đặc nhiệm, đã được giải phẫu một bộ phận trong não óc để làm tê liệt cảm giác đau đớn.  Khi bị Cơ Quan An Ninh Mật Vụ Nga KGB bắt, điệp viên bị tra tấn dữ dội, nhưng không hề khai bí mật quốc phòng.  Nhân viên hỏi cung, sau khi đoán được trường hợp giải phẫu đặc biệt của điệp viên, đã đem người đàn bà ra cạo đầu, cạo lông mày, nhổ răng và làm mọi tác động để điệp viên không còn nhận diện được mình là con người.  Điệp viên tuy không còn đau đớn thể xác, nhưng thất vọng tới cùng cực, đã khai báo, vì thấy chả còn lý do gì để tranh đấu nữa, khi mất tư cách và hình dạng con người.



Ở giai đoạn Sương xuất hiện, hai biểu tượng đất và nước xung đột, chia tách một cách rõ rệt.  Đất liền là thế đứng, bàn đạp của số người ghen ghét, thô bạo, căm hờn, điên cuồng.  Họ trừng phạt Sương, người có tội, không căn cứ vào luật pháp, hay luân thường đạo lý, mà phẫn nộ theo “bản năng hoang dã” bằng hành động võ đoán, rừng rú, kiểu “Toà Án Nhân Dân” đấu tố và thủ tiêu thành phần địa chủ, phú nông thời “Cải Cách Ruộng Đất” tại Miền Bắc Việt Nam.[7]  Trái lại con sông là dòng cứu độ, là cửa ngõ thoát thân, tách khỏi hận thù, đầy đọa. 

Không biết tác giả Nguyễn Ngọc Tư có ám chỉ tới cảnh huống của nhữngThuyền Nhân, mà sau này toàn thế giới gọi là “Boat People”,[8] những người dân Việt, “ngụy” có, đói có, khổ có, thất vọng có, từ những năm 1977, đã thí mạng nhẩy xả vào biển cả để thoát cảnh hành hạ, tù đày của chế độ Cộng sản Việt Nam.   

Với thân phận người đàn bà sa đoạ, Sương hành nghề làm đĩ một cách công khai, không ngượng ngùng, như một nghiệp chướng bất khả cưỡng, nên an phận, chịu đựng.  Cái nghiệp chướng hèn hạ của Sương cũng phản chiếu tới nhiều nhân vật khác, xuất hiện như những tấm ảnh tương tự, “giống” na ná như nhau.  Họ bất đắc dĩ trở nên hư hỏng, và khi có cơ hội, lập tức bỏ chồng bỏ con, bỏ  nhà bỏ cửa, “đánh đĩ, theo trai”.  Họ hành động theo phản xạ có điều kiện, dưới áp lực của xa xỉ phẩm, lời dụ dỗ ngon ngọt.  

Đó là hình ảnh của người vợ chán chường, của những người đàn bà bị bỏ bê, quên miệt, của những tâm hồn thiếu thốn, từ vật chất tới tinh thần, sẵn sàng thay lòng đổi dạ, để giải đáp nhu cầu và thoát cảnh tù túng, luẩn quẩn của một kiếp sống thiếu kém, buồn tênh.  Tới đường cùng, họ vụng trộm bán thân, để tạm bợ hưởng thụ những cảm giác ve vuốt, tô điểm hời hợt. Trong những hoàn cảnh thiếu thốn cùng cực, luân lý, trách nhiệm, liêm sỉ không mấy tồn tại.  Tất cả chỉ còn vài nhu cầu sinh tồn hoang dã, vụn vặt, phù phiếm.  Như thèm thuồng từng gáo nước ngọt, trong mát, đổ xối trên thân thể một lần, trước khi chết mãn nguyện; như khoác những tấm vải “rực rỡ trên da thịt… đổi được (không phải bằng tiền hay lúa)” (Phần-3).

Do đó, những hình ảnh làm tình, giao hợp/giao cấu giũa con người, giữa súc vật đều được liệt kê một cách tự nhiên, đồng đều, đồng loã với “bản năng hoang dã”.  Và khi hành vi ngoại tình vụng trộm bị lộ trước cặp mắt đau đớn của con cái, người đàn bà tội lỗi chỉ còn cách chạy trốn, bỏ chồng, bỏ con.  

Trong Cánh Đồng Bất Tận, hình như tác động bỏ chạy là một giải pháp tự vệ, lỉnh trốn nguy biến, tránh đương đầu với khó khăn, từ bỏ thách đố, nhưng đồng thời cũng là từ bỏ lấy thân phận mình.  Mỗi lần quyết liệt bỏ ra đi như vậy, tác nhân đều chết trong lòng.   Cánh Đồng Bất Tận thường là khung cảnh của những trường hợp “tận cùng” (cas-limites) khiến người trong cuộc phải lựa chọn giữa tù túng và giải thể, giữa nguyên vẹn và đập phá, giũa sống và chết, giưa nhân cách và tha hoá.

Người chồng bị phản bội, một cách bất ngờ, trong truyền thống sẵn trọng nam khinh nữ, đã chọn từ bỏ quá khứ đau đớn và quyết định giải thể bằng cách “cắt cầu” với đất liền, đốt nhà, bỏ xứ theo cuộc sống di động, sống trên ghe và chăn vịt du mục, nay đây mai đó.  Ông cũng chọn đập phá ý niệm nguyên vẹn của gia đình, hủy bỏ cái trung tâm điểm hạnh phúc do người đàn bà gìn giữ, và miệt mài xoá bỏ nhân cách và giá trị của đàn bà, bằng cách trả thù khai dụng họ, khinh miệt họ, ruồng bỏ họ như những đồ vật dư thừa, vô giá trị.

Ông cũng lần lần từ bỏ cảm giác sống để nghiêng về coi chết, sống dở, chết dở, vô tri, vô giác, vô cảm, vô luân.

Cách trả thù đàn bà, bỏ bê lẽ sống chân thật đã khuếch xung nơi kẻ lưu đày tới độ bạo lực hận thù giảm thiểu nhân cách, mỗi lúc thêm tha hoá, phi nhân: “Má cưng ác một, nhưng người cha này của cưng ác tới mười”.  Thật ra ông không ác, lòng căm thù đã làm ông bất nhân, không còn là con người nữa.  Bạo động khi tha hoá nhân bản không còn gì để so sánh.



Nhưng hệ thống sông ngòi đưa đẩy trong Cánh Đồng Bất Tận cũng tiếp tục buộc trói thân phận người với dòng khổ nạn khác, như những khúc quanh của vòng luân hồi.  Thoát khỏi những cuộc hành hạ hủy hại thể xác bởi đám người trên bờ, Sương lại lọt vào vòng hành hạ tinh thần của người chủ ghe chăn vịt, qua những trạng thái vô tình, coi thường, hắt hủi, khinh bỉ.  Với tư duy và hành động của người đàn ông khinh bỉ và trả thù đàn bà tội lỗi, thất thế, bạo lực có tính cách hành hạ tinh thần, mà cứu cánh là sự tha hoá của con người dù là nạn nhân hay chính kẻ trừng phạt. 

Giữa hai vai vế, bên hành động và bên thụ nhận, đều khiếm khuyết giá trị nhân phẩm, vì đối xử bằng những phản ứng máy móc, trắng trợn, mất hẳn cảm xúc, trí tuệ và liêm sỉ.  Họ coi thường nhau, “giao cấu” như cái máy dập, không ngượng nghịu, day dứt, không thắc mắc, đo lường hậu quả, không một chút xót xa.  Ít ra, Sương cũng còn là một con người có liêm sỉ, biết phải trái, cam chịu, biết nhận trách nhiệm, đồng thời còn lãnh nạn cho kẻ khác, như khi phải bán thân để cứu vớt đàn vịt khỏi bị cán bộ y tế hủy diệt, giúp gia đình chăn vịt khỏi bị phá sản. 

Phải chăng Sương tiêu biểu cho thân phận chìm nổi “bất tận” của toàn dân, đưa đẩy trong cuộc đời bất hạnh, nhiều thay đổi, bất trắc?  

Cũng như đất nước quấn quyện, vô bờ, vỡ bờ…

May 12, 2008 — Cập nhật November 26, 2013


Lưu Nguyễn Đạt, Ph.D
Michigan State University

www.vietthuc.org

CHÚ THÍCH

[1] Cánh Đồng Bất Tận, Nguyễn Ngọc Tư, NxbTrẻ, 2005 -- mời đọc qua link:
http://www.viet-studies.info/NNTu/NNTu_CanhDongBatTan.htm

[2] André Paul Guillaume Gide (22 tháng 11 năm 1869–19 tháng 2 năm 1951) là một trong những nhà văn Pháp xuất chúng của TK 20, người đoạt giải Nobel Văn học  năm 1947.  Đặc biệt trong tác phẩm Les Faux-monnayeurs (Những kẻ làm bạc giả, 1926), tiểu thuyết, André gide ứng dụng phép sáng tạo theo thuật “Mise en abyme”, mà Gide đã nhắc tới từ na9m 1893, trong  Journal :

«J’aime assez qu’en une œuvre d’art on retrouve ainsi transposé, à l’échelle des personnages, le sujet même de cette œuvre par comparaison avec ce procédé du blason qui consiste, dans le premier, à mettre le second en abyme. »

[3] “mise en abyme“, một thành ngữ mới do văn hào Pháp André Gide sáng chế để tả “phép cấu tạo lồng ghép theo chiều sâu” trong một tác văn nói chung. Đọc thêm “Note: La Mise En Abyme” ghi cưới bài — endnote [3]

[4] Lucien Dällenbachmột nhà biên khảo văn học, còn gọi là “récit spéculaire” để so sánh thuật trước tác phản ánh lồng chiếu với hệ thống mặt gương đối chiếu, mà đối tượng soi sáng càng lúc càng phân hoá, tái hiện “bất tận”.  

[5] Thời đại Văn Minh Hoà Bình.  

[6] Văn hóa Hoà Bình thuộc thời Đồ đá cũ sang Đồ đá mới (cách ngày nay 15.000 năm, kéo dài đến 2.000 năm trước công nguyên). Trên vùng đất xen núi đá vôi, thuộc phía Tây châu thổ ba con sông lớn thuộc Bắc Bộ Việt Nam, và với không gian rộng lớn, tiêu biểu cho cả vùng Đông Nam Á và Nam Trung Quốc.

Dựa vào các di chỉ tìm thấy và niên đại của chúng, các nhà khảo cổ chia Văn hóa Hòa Bình thành ba thời kỳ nối tiếp nhau:

  • Hòa Bình sớm, hay Tiền Hòa Bình, có niên đại tiêu biểu là di chỉ Thẩm Khuyên (32.100 ± 150 trước Công Nguyên), Mái Đá Điều, Mái Đá Ngầm (23.100 ± 300 TrCN).
  • Hòa Bình giữa, hay Hòa Bình chính thống, tiêu biểu bởi di chỉ Xóm Trại (18.000 ± 150 TrCN), Làng Vành (16.470 ± 80 TrCN).
  • Hòa Bình muộn, tiêu biểu bằng di chỉ ở Thẩm Hoi (10.875 ± 175), Sũng Sàm (11.365 ± 80 BP, BLn – 1541/I).

[7] “Cải Cách Ruộng Đất” tại Miền Bắc Việt  từ 1953 tới 1956.  Căn cứ vào  “Nguồn tài liệu: Cục lưu trử quốc gia Nga”: http://www.rusarchives.ru/evants/exhibitions/vietnam1/22.shtml, chương trình “cải cách ruộng đất” đã  gây thảm sát tập thể khoảng hai trăm ngàn người dân, quy vào thành phần địa chủ và phú nông, dưới sách động trực tiếp của Trường Chinh, Tổng bí thư Đảng, nhưng minh thị dưới quyền chỉ đạo và chủ mưu của thủ lãnh Hồ Chí Minh, rập khuôn Nga Xô và Trung Cộng. Ngay trong bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản (Manifesto), Karl Marx đã tuyên bố: “cách mạng ruộng đất là điều kiện để giải phóng dân tộc”… bằng cách thủ tiêu và sát hại dân oan.

[8] Thuyền Nhân, mà sau này toàn thế giới là “Boat People”, những người dân Việt, “ngụy” có, đói có, khổ có, thất vọng có, từ những năm 1977, đã thí mạng nhẩy xả vào biển cả để thoát cảnh hành hạ, tù đày, phá cách nhân tính của chế độ và guồng máy Cộng sản Việt Nam.  

NOTE: LA MISE EN ABYME [3]




La mise en abyme désigne la relation de similitude qu’entretient tout élément, tout fragment avec l’œuvre qui l’inclut, principe souvent décrit de façon imagée comme un effet de miroir. Cet emboîtement s’apparente à une auto-citation.

Le concept, qui s’est imposé à grande échelle depuis sa prise en charge par le Nouveau Roman, appartient à la vaste problématique de la réflexivité(autoreprésentation, autoréférence) et est un des outils de base de lamétafiction, cette écriture littéraire qui intériorise un commentaire sur son écriture mais aussi sur sa lecture (ou sur sa représentation dans le cas dumétathéâtre).

André Gide illustre son emprunt à l’héraldique par un exemple littéraire principal, la scène des comédiens dans Hamlet (II, 3), une scène de théâtre dans le théâtre, et par des exemples picturaux, quand apparaissent dans les tableaux des jeux de miroirs reflétant la scène déjà représentée.

Victor Hugo avait cependant en 1864 décrit cette intuition dans son William Shakespeare : « trente-quatre pièces sur trente-six offrent à l’observation (…) une double action qui traverse le drame et le reflète en petit ».

Selon Lucien Dällenbach à qui l’on doit la description la plus précise du procédé (Le Récit spéculaire, 1977), la mise en abyme se caractérise par son « objet », son « amplitude » et sa « portée ».

En ce qui concerne d’abord l’objet, deux éléments du texte peuvent être mis en abyme. La réflexion de l’énoncé est le retour, le rappel du « résultat d’un acte de production ». La mise en abyme est fictionnelle (« dimension référentielle d’histoire racontée ») ou textuelle (« aspect littéral d’organisation signifiante »). Au contraire, la réflexion de l’énonciationconsiste dans « la mise en abyme du contexte ou des acteurs de la production et / ou de la réception ».

Deuxièmement, il existe trois figures essentielles de l’amplitude : laréduplication simple, qui consiste en un rapport de similitude élémentaire ; la réduplication à l’infini, dans laquelle le fragment inclus inclut lui-même un fragment ayant cette relation de similitude ; et la réduplication répétéeou spécieuse, dans laquelle le fragment est censé inclure l’œuvre qui l’inclut.

Quant à la portée, il existe trois sortes de mises en abyme, reflétant trois formes de discordance entre l’ordre de l’histoire (diégèse) et celui du récit (narration) : la mise en abyme prospective, qui « réfléchit avant terme l’histoire à venir » ; la mise en abyme rétrospective, qui « réfléchit après coup l’histoire accomplie » ; la mise en abyme rétro-prospective, qui « réfléchit l’histoire en découvrant les événements antérieurs et postérieurs à son point d’ancrage dans le récit ».

Jean Ricardou décrivait à l’aide de plusieurs exemples la mise en abyme dans Problèmes du Nouveau Roman (1967) et Le Nouveau Roman (1973). Dans Problèmes du Nouveau Roman il posait les bases de ses réflexions ultérieures sur le sujet dans trois paragraphes : « La mise en abyme », « Contestations par la mise en abyme », « Révélations par la mise en abyme ». Mais dans la nouvelle édition de Le Nouveau Roman parue en 1990, il précise que les « rectifications minimes » qu’il tenait à apporter sont « principalement, au chapitre trois, à la suite des remarques d’un spécialiste, davantage de précautions dans le diagnostic de “mise en abyme” (…). »

En effet, entre temps, en 1977, est paru l’ouvrage de Lucien Dällenbach, qui comprenait également un panorama historique intitulé *Variations sur un concept+, une *Typologie du récit spéculaire+ et quelques «Perspectives diachroniques» consacrées au Nouveau Roman et au Nouveau Nouveau Roman.

Jean Ricardou ouvre d’un jeu de mots (abymé : « mis en abyme » et abîmé, au sens de l’anglais spoiled) sa propre description, qu’il intitule « le récit abymé ». C’est en effet dans le chapitre de son ouvrage sur Le Nouveau Roman consacré au « récit en procès » qu’il place sa description. Pour lui la mise en abyme relève de deux fonctions principales : la révélation etl’antithèse. La fonction de révélation fonctionne « d’une part de fonction générale (répétition) ; d’autre part selon des traits distincts (condensation, anticipation) ». La fonction antithétique, elle, est cette force qui « tend à briser l’unité métonymique du récit selon une stratification de récits métaphoriques. »

Lucien Dällenbach décrit la mise en abyme comme un « procédé de surcharge sémantique permettant au récit de se prendre pour thème ». Le résultat est la production d’un métatexte.

Mais comment peut-on caractériser une telle relation ? Selon Jean Ricardou, c’est un rapport d’opposition qui caractérise la relation entre l’enchâssant et l’enchâssé puisque la mise en relief de l’autoreprésentation produit l’affaiblissement du système de représentation : « Là où le sens domine, le texte tend à l’évanescence ; là où le texte domine, le sens tend au problématique. » (Nouveaux problèmes du roman, 1978). Jean Ricardou et Lucien Dällenbach perçoivent aussi le procédé en termes de contestation, surtout de la tradition mimétique de l’art. Jean Ricardou analyse la mise en abyme comme « la révolte structurelle d’un fragment du récit contre l’ensemble qui le contient » (Problèmes du Nouveau Roman). 

Chloé Conant
Université de Limoges

XIN BẤM VÀO LINK-NỐI www.vietthuc.org

ĐỌC BÀI MỚI NHẤT 

 

TRONG TU

ẦN

   

[VÀ NHIỀU BÀI KHÁC...] 



Tuesday, November 26, 2013

AI CÓ TRÁCH NHIỆM VÀ THẨM QUYỀN CẤU TẠO & LƯU TRUYỀN SỬ LIỆU VỀ V.N.C.H. TRONG VÀ SAU NGÀY 30-4-1975


 

 

AI CÓ TRÁCH NHIỆM VÀ THẨM QUYỀN CẤU TẠO & LƯU TRUYỀN SỬ LIỆU VỀ V.N.C.H. TRONG VÀ SAU NGÀY 30-4-1975

 

 

Ghi chép sử và viết sử là phần việc của các học gỉa về sử học. Nhưng cấu tạo và lưu truyền sử liệu thì lại không thuộc thẩm quyền của ngành sử học mặc dầu chính nó là lịch sử.  Trong những năm gần đây, phong trào tưởng niệm 5 vị tướng tuẫn tiết trong hoặc sau ngày 30-4-1975 đã bộc phát khắp nơi có người Việt Nam tỵ nạn CS cư trú.  Cho tới nay, chưa có một chương trình nghiên cứu nào tìm hiểu và giải thích về nguồn gốc của phong trào này.  Ai-nhóm nào hoặc tổ chức nào chủ xướng phong trào này nhằm mục đích gì?  Vấn đề tưởng niệm 5 vị tướng là đúng hay sai? Đúng chỗ nào và sai chỗ nào?  Những công trình xây đài-bia-tượng và các ấn phẩm về vấn đề này chính là những sử liệu và các sử gia của các thế hệ sau sẽ phải căn cứ vào đó để viết sử.

Một số bia, tường, đài tưởng niệm được xây dựng với hình 5 vị tướng, và nhóm người chủ trương xây dựng có tham vọng “lưu truyền cho con cháu ngàn đời sau chiêm ngưỡng và tôn thờ (sic)”  ‘Trích bản Tường Thuật của phóng viên Lê Bình, San Jose Nov. 2013.’  Đây là bằng chứng rõ ràng những nhóm người bỏ tiền ra xây dựng bia, đài, tượng tưởng niệm có mục đích cấu tạo sử liệu và cố ý lưu truyền sử liệu được cấu tạo theo ý riêng của họ để các sử gia hậu thế ghi chép vào sử sách của quốc gia.

Trong thời gian vừa qua, việc xây đài tưởng niệm 5 vị tướng tuẫn tiết tại San Jose đã bị phản đối kịch liệt trên báo chí và các diễn đàn điện tử từ khắp nơi.  Dưới đây là vài trích dẫn từ một số bài tiêu biểu trong rất nhiều bài trên các diễn đàn điện tử Việt ngữ.

1.     Thiển nghĩ Đài Tưởng Niêm không vinh danh cá nhân mà nên có hình tượng nổi của các Đại Diện thành phần Quân-Dân-Cán-Chính.., tất cả đều Vô Danh.  (Tác gỉa: Ông Việt Sỷ, Sun., Sept 1, 2013)

 

2.     Gía trị của cái chết ấy chính là hy sinh sự sống. Sự sống của tướng, tá hay lính, đều có gía trị như nhau. Vì đó là món quà mà Thượng Đế trao tặng cho mỗi con người.  Một chiến thắng phải là góp công của tất cả. Tuy bổn phận khác nhau. Cũng như xây một căn nhà, thiếu một cái đinh cũng không xong  Do đó, mục tiêu của tượng đài phải là vinh danh cái hy sinh cao cả ấy. Cái hy sinh có nhân chứng cũng như cái hy sinh không có nhân chứng. Chứ không phải để vinh danh đặc biệt dành riêng cho một con người hay một vài người mà sự hy sinh có nhân chứng.  Kỳ khôi ngay trong vấn đề tưởng niệm. (Người viết tô đậm và gạch dưới)

(Tác gỉa: Tiến Sỹ Hồng Lĩnh, Oct.19, 2013)

 

3.     QLVNCH không chỉ có cấp tướng, cấp tá mà còn có cấp úy, cấp hạ sĩ quan và cấp binh sĩ. Sau lệnh đầu hàng của TT Dương Văn Minh có rất nhiều cuộc tự sát tập thể của hàng hạ sĩ quan và binh sĩ và đôi khi cả gia đình của họ.

Đề nghị nên dựng Bia Chiến Sĩ Tuẫn Tiết toàn QLVNCH thay vì chỉ có bia Tướng và Tá tuẫn tiết mà thôi.

(Tác gỉa: Cựu Quân Nhân QLVNCH  Huỳnh Quang Tiên  Sep. 2, 2013)

 

4.     Đài tưởng niệm để tri ơn những người lính đã hy sinh không nên nêu tên tuổi ai cả vì số tử sĩ quá lớn. 

(Tác gỉa: Ông Kim Âu, Sep. 10-2013)

 

5.     Em là người chưa phải nhập ngũ thì "mất nước”. Em xin phản đối chỉ TẠC TƯỢNG GHI ƠN CÁC ÔNG TƯỚNG,TÁ. Vậy xin hỏi: "Nhất Tướng công thành vạn cốt khô"  vạn cốt này ai khóc? hay chỉ vợ con họ khóc? Quý vị muốn mai mốt còn có LÍNH theo mình thì xin quý vị đừng làm ẩu kiểu đó. "Kẻ yêu nước không làm thế"

(Tác gỉa: Ông LVP “longphamhd@yahoo.com”  Sep. 9, 2013)

 

6.     . . xin chỉ đóng tiền cho công trình nào xây dựng để tưởng niệm QLVNCH hoặc VNCH, những công trình tưởng niệm cá nhân và cố tình loại bỏ cấp Binh Sĩ tuẫn tiết thì hoàn toàn không có ý nghĩa lịch sử và cần loại bỏ như họ đã loại bỏ cấp binh sĩ tuẫn tiết. (Nguyễn Hữu Luyện)

 

7.     Tưởng cũng nên biết thêm: Việc khởi xướng xây dựng Bia Đá do bà Hoàng Mộng Thu Biệt Đoàn Văn Nghệ Lam Sơn khỏi xướng và thực hiện với sự trợ giúp về phần nội dung của cựu Đại tá Vũ Văn Lộc, hiện là giám đốc Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân trong History Park, và người phản đối nội dung bia tưởng niệm là cựu Đại úy Nguyễn Hữu Luyện, Phó giám đốc Bảo Tàng Thuyền Nhân. Nhiều khách tham dự mua vé để vào cửa nhưng chưa hoặc không biết có những phản đối của đồng hương khắp nơi về việc làm nầy. Chúng tôi ghi lại những phát biểu của một vài cư dân San Jose.                  

(Tác gỉa: Nhà Báo Lê  Bình)

 

8.     Đây là vấn đề quan trọng có tính Sử liệu, một công trình có tầm vóc Quốc Gia, không những liên quan đến những Người đã Hy Sinh (CHẾT) để bảo tồn Quốc Gia, Dân Tộc, mà còn di lụy đến những người Trực Hệ như Bố Mẹ, Vợ, hay Chồng, Con, Cháu của Họ. Chúng ta, những người còn sống an bình cần phải ghi ơn những người CHẾT và tôn trọng thân nhân họ. Không một cá nhân nào hay tổ chức, đoàn thể cá biệt nào nhân danh làm việc đó, có tính áp đặt. Nay cá nhân Cô Hoàng Mộng Thu và ông Vũ Văn Lộc nhân danh ai ? mà tự tiện thực hiện:

-Về hình thức: Lạm quyền không đủ tư cách,

-Nội dung Bia Tưởng Niệm không thể hiện đủ,

-Địa điểm không thể nhờ 5, 7 thước đất để đặt Bia Tưởng Niệm trong góc khuôn viên Kelly Park thuộc quyền sở hữu của Thành Phố S.J.  (Tác gỉa: Ông Trung Đỗ)

9.   ARVN (Army of the Republic of Vietnam) là một danh xưng dành cho QLVNCH có tính quốc tế. Viết như thế trên tấm hình là không đúng nếu không muốn nói là “dốt nát” (ignorant) Bia tưởng niệm các anh hùng chỉ được xȃy dựng ở VN thôi, việc làm bia  tưởng niệm này ở Mỹ là một hình thức làm lu mờ cuộc đấu tranh cho dȃn tộc nếu không muốn nói là kẻ bậy bạ làm lạc hướng và yếu đi ý chí và khát vọng quang phục quê hương. Các anh hùng tự vẫn chết cho tổ quốc để con cháu noi gương và người kế tiếp noi theo chiến đấu cho chính nghῖa và lý tưởng.                                                  Sự hy sinh cao cả ấy của những anh hùng phải luôn nuôi dưỡng như lửa thiêng trong lòng để mọi người trở về cứu nước.  Và tưởng nhớ những hy sinh cao cả ấy không nhất thiết chỉ dành cho 5 vị tướng mà thôi.                 (Tác gỉa: Ông Hoàng Hoa, Trưởng Ban biên tập SaigonFilms.)

10.  Ông Vũ Văn Lộc ơi, ông và cô Mộng thu xây dựng tượng đài vinh danh mấy Ông Tướng và 2 Ông Tá Việt Nam Cộng Hoà đã tự tử chết, lúc Quân Đội Miền Bắc vào giãi phóng, chiếm Miền Nam 1975 . Không rỏ và không biết trong tượng đài nầy, có vinh danh các Anh Em Chiến Sĩ trong quân lực Việt Nam Cộng Hoà không ??? Xin đừng bõ quên những người lính đã hy sinh cho lý tưởng tự do nhé.
(Tác gỉa: Đạo Diễn Hoài Phong - Nguyen Tran ( Hoai Phong Director & Production )

11. Ý  kiến của Ông Nguyễn Dẫn một chiến hữu Nha Kỹ Thuật: “Ai đã cho cô làm như thế “                                                                                                 (Ông Nguyễn Dẫn Hỏi Cô Hòng Mộng Thu,  San Jose, 26/8/2013)

12. Trong những ngày qua vấn đề xây dựng bức tường tưởng niệm Quân Dân Cán Chính VNCH hy sinh trong chiến tranh đã gây tranh cãi và buồn lòng cho rất nhiều giới, đặc biệt là giới Cô Nhi Quả Phụ, Thương Binh cũng như các cấp chỉ huy cấp thấp, người đã trực tiếp sống chết cùng anh em tử sĩ trong suốt chiều dài cuộc chiến. . .

Kính thưa quý vị

Người Lính, tôi muốn nói đây là những Binh II, những Hạ sĩ, những Hạ sĩ quan và những Sĩ quan cấp uý. Họ là những người trực tiếp cầm súng đối diện với quân thù từng phút từng giây. Họ là những người với số lương thấp nhất ( 11.500$ cho một B2 độc thân năm 1975) nhưng lại là người gần gũi với cái chết hơn ai hết . . . Rồi thử hỏi trong số ba trăm ngàn tử sĩ có bao nhiêu tướng tá, hay cũng là những Người Lính (BS, HSQ, SQ cấp uý) đã chiếm đến tỷ lệ 97%, có biết bao người ngày hôm nay thân xác còn không biết chôn vùi chốn nào. Rồi trong số hàng trăm ngàn Cô Nhi Quả Phụ có bao nhiêu người là vợ con tướng tá hay họ cũng lại là những phụ nữ buôn thúng bán bưng chân lấm tay bùn.
 
Trong số hàng trăm ngàn Thương Binh đang sống vật vờ bên lề xã hội bị kẻ thù đầy đọa và bị đồng bào chiến hữu hầu như đã lãng quên, có bao người trong số họ là tướng là tá hay cũng là những Người Lính với số lương 11.500$ một tháng chỉ đủ mua vài két bia cho ông bà lớn nhậu, không đủ mua một chai rượu ngoại cho các ông bà lớn tổ chức nhẩy đầm. Tôi chẳng phải đắng cay mà nói mà đó là thực tế của hậu phương, trong lúc chúng tôi lăn xả đối đầu với quân thù thì ở hậu phương tiệc tùng nhẩy đầm hàng đêm có khác nào đâm lưỡi lê vào sau lưng người lính. Vậy mà Người Lính vẫn phải chịu đựng, chịu đựng cho đến khi ngã gục bởi viên đạn của kẻ thù.

 

Rồi ngày 30-4-1975 đến, đã có 5 vị tướng tuẫn tiết để bảo toàn danh dự của mình. Nhưng cũng lại có hàng ngàn Người Lính đã tuẫn tiết để chết cùng mảnh đất Miền Nam, chết cùng chế độ tự do dân chủ mà mình đã đem thân xác của chính mình để bảo vệ.

Cao đẹp làm sao hình ảnh của một tiểu đội Nhẩy Dù đã ngồi đâu lưng với nhau tại Ngã Sáu Sài Gòn cùng buông chốt lựu đạn sau khi cùng hô to “ VIỆT NAM CỘNG HOÀ MUÔN NĂM” vào chiều 30-4-75. (Thiếu Úy Huỳnh Văn Thái, khoá 6/69 Thủ Đức thuộc SĐ Nhảy Dù cùng 7 Binh Sĩ:Người viết ghi thêm)

Cao đẹp làm sao hành động của Hạ sĩ Nguyễn Văn Râng thuộc đại đội 4/52Biệt Đông Quân trong khi bị bắt làm tù binh tại Kàtum, anh đã chửi thẳng vào mặt những tên cán bộ khi bọn Việt cộng xúc phạm đến vị nguyên thủ quốc gia cuả anh vào chiều 30-4-75: “ Tao có gọi Hồ Chí Minh của chúng mày bằng thằng đâu mà chúng mày gọi Tổng Thống của tao bằng thằng” để rồi ba thằng Việt cộng lôi anh ra hố bom thi nhau nhả đạn như dã thú say mồi. Sau khi nghe BI Cư cùng bị bắt làm tù binh với Râng kể lại chỉ sau ngày trời xập ít hôm, tôi đã nói với Cư trong nước mắt “ trước kia tao là thày của nó, còn bây giời thì nó là thày của tao”.

Cao đẹp làm sao hành động của Thương Phế Binh Võ Phùng Dương cũng thuộc đại đội 4/ 52 BĐQ với một chân về chôn bạn, và bây giờ vẫn thường xuyên chăm sóc nhang khói cho 61 tử sĩ BĐQ tại An Lộc (61 hài cốt chiến sĩ LĐ3 BĐQ vừa được an táng lại tại Bình Long) , ngoài ra anh còn đi thu lượm đào xới tìm hài cốt của những anh em khác nằm rải rác tại Bình Long. (Đoàn Trọng Hiếu – Hai hình ảnh – Một cuộc đời)

Cao đẹp làm sao vợ của Thiếu tá Nguyễn Mộng Hùng khoá 17 VBQGVN, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 74 Biệt Động Quân tại Lộc Ninh, theo một vài anh em sống sót cho biết vào ngày 7-4-1972 tiểu đoàn bị chiến xa và cả một trung đoàn Việt cộng tràn ngập , Th/t Hùng đã tử trận. Anh tử trận khi người vợ mang thai 3 tháng, nhưng cho đến hôm nay sau hơn 41 năm chị vẫn khóc và vẫn tin anh vẫn còn sống, vẫn tin sẽ có một ngày anh về với chị.

Sở dĩ tôi chỉ đề cập đến anh em Biệt Động Quân, vì tôi là người biết rõ cũng như chứng kiến những việc này, mong quý vị thông cảm.

Thưa quý đồng hương và chiến hữu.

Cá nhân chúng tôi rất hãnh diện được đứng trong hàng ngũ QLVNCH đã có 5 vị tướng anh hùng đã tuẫn tiết. Nhưng niềm hãnh diện lại tăng gấp đôi khi chúng tôi lại được đứng chung với hàng ngàn Người Lính khác đã tuẫn tiết theo cùng vận nước vào ngày 30-4. Niềm hãnh diện lại tăng gấp ba khi tôi lại được là cấp chỉ huy trực tiếp của những Người Lính như Hạ sĩ Nguyễn Văn Râng, Thương Phế Binh Võ Phùng Dương.

Tại sao vậy?

Thưa vì những Người Lính này chẳng có quyền cao chức trọng. Họ chỉ được Quân Đội trao cho cái lý tưởng Quốc Gia, trao  cho cái nhiệm vụ Bảo Quốc An Dân, chính đơn vị đã cho họ cái tình đồng đội ngàn năm vẫn nhớ ,và sau cùng là được hưởng cái “lương chết đói” vì chính phủ cũng không có khả năng hơn. Vậy mà họ đã lăn xả vào cuộc chiến chấp nhận cái chết của mình cho đất nước được sống, và rồi khi đất nước chết họ cũng đã tự chọn cho mình cái chết để chết cùng vận nước.

Vậy mà thưa đồng hương và chiến hữu

 Ngày hôm nay ở hải ngoại có những người nhân danh làm công việc “ Tưởng niệm ( vinh danh) Quân Cán Chính VNCH” bằng hình thức tạo một bức tường tưởng niệm chỉ với 5 vị tướng và 2 vị tá. Theo thiển ý của chúng tôi 5 vị tướng và 2 vị tá rất đáng vinh danh nhưng không đủ để đại diện cho các Tử Sĩ VNCH. Nhưng chỉ cần có hình một Người Lính Vô Danh, hình Người Lính Thương Tiếc là đã đủ để nói lên tất cả hình ảnh của những Tử Sĩ, của những Thương Phế Binh, của những Cô Nhi Quả Phụ Tổ phụ, và đồng thời cũng nói lên cả những Người Lính còn sống hôm nay.

Quý đồng hương hãy thử nghĩ nếu chúng ta đến đặt vòng hoa, đến dâng hương tưởng niệm trước bức tường với 5 vị tướng nêu trên, chúng ta chỉ dâng hương  đến 5 vị tướng, còn ba trăm ngàn Tử Sĩ khác ở nơi đâu???.

XIN ĐỪNG ĐỂ CHO BA TRĂM NGÀN ANH EM TỬ SĨ PHẢI HƯỞNG NÉN NHANG THỪA

Việc làm dựng một bức tường Tưởng Niệm Quân Dân Cán Chính VNCH là một việc làm rất đáng hoan nghênh. Nhưng việc ủng hộ nội dung bức tường với 5 vị tướng và 2 vị tá lại là hành động thiếu suy nghĩ đáng chê trách, vô tình biến chúng ta thành kẻ bất nhân bất nghĩa.

Xin hãy nhớ

XIN ĐỪNG PHƠI THÂY TRĂM HỌ ĐỂ CHỈ VINH DANH MỘT NGƯỜI

(Tác gỉa: Biệt Động Quân Đoàn Trọng Hiếu)

                                              *

                                          *      *

                               VÀI SUY NGHĨ VỀ TƯỞNG NIỆM

Theo luật đào thải tự nhiên (natural selection), vấn đề tôn sùng cá nhân đã đi vào dĩ vãng từ lâu lắm rồi, trên hành tinh của chúng ta, có chăng chỉ còn lại có hai nước CS là Bắc Triều Tiên và Việt Nam mà thôi.  Trung cộng, Cuba cũng đã rũ bỏ được cái tệ nạn TÔN THỜ CÁ NHÂN rồi.  Chúng ta đang tiếp xúc với nền văn minh phương Tây, đặc biệt là tại Hoa Kỳ. Hoa Kỳ không hề có ai được mênh danh là LÃNH TỤ VĨ ĐẠI. Nói về các tướng lãnh trong quân đội, họ là những quân nhân được thăng thưởng theo khả năng hoặc chiến công hoặc thâm niên. Cấp TƯỚNG được trao cho họ để thi hành nhiệm vụ giao phó.  Làm tốt thì thưởng mà không tốt thì phạt như những quân nhân các cấp dưới. 
 
Mới đây nhất, ông Đại Tướng trùm CIA bị cất chức vì quan hệ tình ái, một Tướng khác vào sòng bài, chi tiêu $1,600 không phải là tiền riêng của mình, đã bị cất chức.  Thâm chí Tướng nổi danh thế giới của Hoa kỳ Douglas MacArthur, người đã hồi sinh nước Nhật sau WWII, và đặt nền tảng cho nền bang giao Mỹ Nhật ngày nay. Vậy mà cũng bị thất sủng và hồi hưu vì không tuân thủ đường lối chính trị của Chính Phủ. 
 
 Tướng MacArthur có để lại câu nói có liên quan đến người LÍNH mà chúng ta đang bàn tới như sau: “The soldier above all others prays for peace, for it is the soldier who must suffer and bear the deepest wounds and scars of war.(Xin tạm dịch “Hơn ai hết, người lính cầu nguyện cho hoà bình, bởi vì chính lính là người phải gánh chịu những vết thương và những vết sẹo đau đớn nhất của chiến tranh”).

Lúc này, một số các “bậc trưởng thựơng” của người Việt tại San Jose đang hăng say trong buổi ăn nhậu, vái nhau trước ống kính của truyền hình và hò hét  những lời yêu nước thương dân, dẫm đạp lên hàng ngàn anh linh binh sĩ QLVNCH đã tuẫn tiết để nhắn nhủ con cháu muôn đời TÔN THỜ  5 ông Tướng tuẫn tiết. Bụt nhà không thiêng, người Việt Nam nói tiếng Việt với nhau thì quý vị không nghe, vậy xin hỏi qúy vi  nghĩ sao về lời nói ghi ở trên của một vị tướng lừng danh thế giới đã nói về người LÍNH? 

Nội chiến Hoa Kỳ kết thúc sau 4 năm chiến tranh giữa hai miền Nam - Bắc với hơn 600.000 người chết, kết quả là Tướng Ulysses Grant của miền Bắc chiến thắng, không hề BỊ PHONG THÁNH như phong trào tưởng niệm 5 vị tướng QLVNCH.  Nếu anh linh của 5 vị tướng mà nói ra lời được thì không có lời nào khác hơn là:

“Thân nhân và các sỹ quan thân cận của chúng tôi đang làm nhục chúng tôi.  Các người mau tỉnh ngộ và ngưng ngay những hành động tôn thờ 5 chúng tôi một cách qúa lố bịch như thế này.  Các anh đang trà đạp lên anh linh của các binh sĩ đã tuẫn tiết như chúng tôi. Các anh phải nhớ là biết bao thương binh QLVNCH đang sống lầm than dưới chế độ kỳ thị bạo tàn của VC, họ đang nhìn vào hành động cuồng tín của các anh khi thấy các anh hương khói van vái 5 chúng tôi mà không một lời biết ơn họ, vì chính họ mới là những người đã thực sự che chở và giúp các anh được sống an toàn cho tới ngày nay. 
 
Họ đã bỏ xác hoặc để lại ngoài chiến địa một phần thân thể để tạo nên chiến công cho các anh được thăng thưởng. Các anh là những kẻ bạc ác bất nhân, đừng sun xoe trước mấy tấm hình của 5 chúng tôi nữa.  Hãy quay đầu nhìn lại các thương binh, các bà vợ của những binh sĩ đã tuẫn tiết cũng như đã hy sinh trên chiến trường.  Chính họ mới thực sự là ân nhân của các anh, không phải là chúng tôi.  Không có xương máu của lính, không có những vành khăn tang chít lên đầu những bà vợ lính và những đưá con thơ của lính thì 5 chúng tôi lấy gì để ban thưởng cho các anh?

Các anh đúc tượng, xây bia tưởng niệm 5 chúng tôi chính là các anh đã làm nhục QLVNCH bởi vì: Việc làm của các anh ngày hôm nay sẽ là những sử liệu của ngày mai để đi vào sử sách của dân tộc. Các thế hệ sau nhìn những sử liệu đó đễ hiểu giai đoạn lịch sử của thời đại chúng ta. Họ sẽ thấy gì qua những sử liệu các anh để lại? Họ sẽ thấy khi QLVNCH bị quân cộng sản tiêu diệt một cách thê thảm, chỉ có 5 bại tướng tự sát để tránh sự hành hạ của kẻ thù.  Lịch sử chiến tranh tự cổ chí kim, từ đông sang tây, bại tướng tự sát là chuyện RẤT BÌNH THƯỜNG, nhưng khi có binh sĩ tự sát,có các cấp chính quyền địa phương như xã-ấp tự sát mới thật sự nói lên được cái chính nghĩa của VNCH và QLVNCH.  Các anh bưng bít sự thật lịch sử này là các anh đắc tội với dân tộc VN. Chẳng lẽ các anh không hiểu đưọc rằng chỉ có 5 chúng tôi tự sát mà thôi, thì không thể nói lên cái chính nghĩa của VNCH cũng như lòng trung dũng và khí phách của quân nhân QLVNCH.

Nếu thật sự các anh thương yêu và kính trọng 5 chúng tôi, sao các anh không dám đi theo chúng tôi như hàng ngàn binh sĩ dù chưa hề có ân huệ gì của chúng tôi, vậy mà các anh ấy đã oai hùng tuẫn tiết cùng với 5 chúng tôi để nói lên cái tiết tháo của quân nhân QLVNCH. Lẽ ra các anh phải biết hổ thẹn khi nghĩ tới những anh linh của Binh Sĩ đã tự nguyện làm bạn đồng hành với 5 chúng tôi, trong khi các anh là những người thân cận nhất của chúng tôi, lại bỏ rơi 5 chúng tôi trong hoàn cảnh khốn cùng đó, bây giờ lại khóc lóc giữa chốn ăn nhậu, tỏ lòng sùng kính chúng tôi để làm gì đây? Hãy chùi khô nước mắt ngay và nhìn vào TẤM GƯƠNG TUẪN TIẾT CỦA BINH SĨ QLVNCH ĐỂ HỌC HỎI VÀ NOI THEO KHÍ PHÁCH OAI HÙNG CỦA HỌ.”

VÀI LỜI VỀ SỬ LIỆU

Các sử gia khi viết về các triều đại xa xưa, thường phải đi tìm sử liệu trong các văn khố của Trung Hoa, Pháp, Anh, Tây Ban Nha,  Bồ Đào Nha . . . là những nước có giao dịch thương mại với VN vào thời điểm đó. Ngày nay, lịch sử của thời “hậu VNCH” hay lịch sử của Vietnamese Diaspora sẽ là một phần phụ trong lịch sử của các quốc gia sở tại nơi chúng ta định cư, và do sử gia của họ biên chép. 

Những sử liệu do chúng ta để lại, nếu có được ghi chép chính thức, thì sẽ do Toà Đại Sứ của chính quyền VN làm công việc đó.  Hiểu được như thế, chúng ta cần phải gạt bỏ tình cảm và niềm tự hào riêng tư về gia tộc và phe nhóm, ai lo cho “ông thầy” của người đó, như hiện tượng thiếu lành mạnh trong việc xây bức tường tưởng niệm tại San Jose vừa qua. 

Nói tới vấn đề lịch sử là nói tới tính TRUNG THỰC & CHÍNH XÁC. Ngay sau khi vị Tổng Thống cuối cùng của VNCH, đồng thời cũng là Tư Lệnh Tối Cao của QLVNCH ra lệnh đầu hàng, lúc đó và liền sau đó, theo đài phát thanh Hà Nội và 2 tờ báo chính của đảng CS là tờ Nhân Dân và Quân Đội Nhân Dân tại Hà Nội đã liên tiếp có những bài ‘nguyền rủa’ binh sĩ QLVNCH còn đang chiến đấu trên vành đai quanh Saigon, trước khi buông súng, đã tự sát rất nhiều. Nơi thì tự sát tập thể, chỗ thì tự sát cá nhân. 
 
 Ngoài ra, còn có nhiều viên chức dân sự cấp xã-ấp cũng tự sát khi VC tới tiếp thu chính quyền địa phương.  Rất đau đớn cho sự nghiệp chung, từ ngày sống lưu vong, vì bản chất qúa dễ dãi và cả tin của đồng bào tỵ nạn CS, nên không hiểu do một bàn tay bí mật nào đã dẫn dắt cộng đồng người Việt tỵ nạn CS vào những nghi thức tưởng niệm sai trái nhằm xoá bỏ sự thật chính nghĩa và tiết tháo oai hùng của Quân-Dân-Cán-Chính VNCH đã được thể hiện qua những vụ tự sát hàng loạt tại khắp nơi  Những cái chết oai hùng đó chính là dòng sử son sắt của một thể chế chính trị vì dân-vì nước.

Nếu không thức tỉnh đồng bào là can tội đồng loã.  Do đó đã có biết bao người lên tiếng cảnh tỉnh nhóm người chủ xướng xây tường tưởng niệm như đã trích dẫn ở trên.  Nếu Cộng Đồng chúng ta không mau chóng thức tỉnh đồng bào thì chúng ta mắc bẫy Cộng Sản để tự mình huỷ diệt chính nghĩa của mình vì chỉ vinh danh 5 vị  tướng và loại bỏ hàng ngàn quân dân cán chính khác đã tuẫn tiết hy sinh. Chính cái chết cao cả và oai hùng của những người Lính và cán bộ cấp xã-ấp đó mới là những nét vàng son tô đậm trang sử Bảo Quốc An Dân của QLVNCH.

 Nguyễn Hữu Luyện                                                                                        
 Quân Nhân QLVNCH  

 

 

NHÂN CHỨNG VỀ NGUYỄN TRỌNG NHO



 

 

NHÂN CHỨNG VỀ NGUYỄN TRỌNG NHO

NGUYỄN PHÚC LIÊN

Geneva, 26.11.2013

 

Trọng kính Oâng HAO PHAM và Quý Vị,

Từ đầu khi vào các Diễn Đàn năm 2001 đến nay, mục đích viết lách của tôi trên Diễn Đàn là đóng góp phần nào cho cuộc đấu tranh DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN hiện hành. Chính vì cái mục đích tối quan trọng này mà tôi tránh không viết về những gì quá khứ khả dĩ  gây phân tán lực lượng Quốc gia chống CSVN.

Hôm nay, đọc bài của Oâng HAO PHAM về NGUYỄN TRỌNG NHO, trong đó có cái tên gán cho Nguyễn Trọng Nho là «Vua biểu tình« và Oâng HAO PHAM muốn có sự khẳng định về cái tên «Vua biểu tình«  này, nên tôi muốn viết ít chữ để khẳng định rằng trong thời Việt Nam Cộng Hòa, Nguyễn Trọng Nho không những là «Vua biểu tình«  mà còn là người muốn tiếp tay đưa Chính trị «loại trừ chế độ cũ !»vào Học đường để phá phách, gây bất ổn cho Thể chế Việt Nam Cộng Hòa thời đó.

Tôi là nhân chứng và cũng xin kể ra đây thêm những nhân chứng thời đó : Giáo sư Dân biểu Mặc Giao PHẠM HỮU GIÁO, Đốc sự Hành chánh NGUYỄN PHÚC TÀI… hiện còn sống.

Tôi học năm Đệ I Chu Văn An năm 1960. Hồi ấy Chu Văn An chưa xây trường mới. Chúng tôi học tại “Chuồng bò“ cạnh sân banh thuộc Petrus Ký và cạnh Thư Viện Quốc Gia. Năm Đệ I này có những người như Oâng LÊ ĐÌNH ĐIỂU, Oâng Mặc Giao PHẠM HỮU GIÁO, Nhà sư KIM CƯƠNG…

Khi Đệ I Cộng Hòa sụp đổ, tôi học tại Đại Học Văn Khoa, hồi ấy còn ở Nhà Tiền chế , cạnh dinh Gia Long. Chính trong thời gian này, Ban Đại Diện Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn đắc cử trong đó có LÊ HỮU BÔI (Quốc Gia Hành Chánh) làm Chủ tịch, NGUYỄN THỊ LAN (Văn Khoa) là Thủ quỹ, NGUYỄN TRỌNG NHO (Luật khoa) làm Trưởng Ban Hành Động. Tất cả những cuộc Biểu tình, phá phách Học đường, gây bất ổn là do Trưởng Ban Hành Động Nguyễn Trọng Nho tổ chức.

Đó là tình trạng phá phách tại Sài Gòn do Nguyễn Trọng Nho. Còn tại Miền Trung, từ Huế, có Bác sĩ LÊ KHẮC QUYẾN, Chủ tịch Mặt Trân Cứu Quốc, cho Lực lượng Sinh viên Học sinh Cứu Quốc chiếm các Học đường, các Đài phát thanh từ Huế xuống Đà Nẵng, Nhà Trang, Phan Thiết. Tại Đà Nẵng, Lực lượng cứu quốc này đã đốt Thanh Bồ, Đức Lợi.

Tình trạng hỗn loạn Học đường và gây bất ổn cho Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa: Miền Nam có Nguyễn Trọng Nho, Miền Trung có Lê Khắc Quyến… tạo cho dân sự lo lắng về xâm lăng của Cộng sản từ Miền Bắc.

Trước tình trạng này, Lực lượng Sinh viên các Phân khoa họp nhau thành lập LỰC LƯỢNG SINH VIÊN LIÊN KHOA SÀI GÒN mà tôi, Nguyễn Phúc Liên làm Chủ tịch,  nhằm:

=>     Một mặt, tại Sài Gòn, phế bỏ Ban Đại Diện Tổng Hội Sinh viên Sài Gòn do LÊ HỮU BÔI, NGUYỄN THỊ LAN, NGUYỄN TRỌNG NHO điều hành; 

=>     Một mặt, từ Sài Gòn, tiến ra Miền Trung để đẩy lui Lực lượng Sinh viên, Học sinh, Thanh niên Cứu quốc của Lê Khắc Quyến.

         Thực vậy, tại Sài Gòn, Lực Lượng Sinh Viên Liên Khoa đã vây Trụ sở của Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn, đường Duy Tân, nhằm bắt cho được Nguyễn Trọng Nho. Nhưng Nguyễn Trọng Nho đã trốn cửa hậu sang Bộ Thanh Niên. Chính tôi ra lệnh gom bàn ghế, hồ sơ trong Trụ sở Tổng Hội Sinh viên Sài Gòn để đốt đi.

         Tại Miền Trung, Lực Lượng Sinh viên Liên Khoa thành lập LỰC LƯỢNG HỌC SINH BẢO VỆ GIÁO DỤC THUẦN TÚY và đã đẩy lui nhóm Cứu Quốc của Lê Khắc Quyến ra khỏi Phan Thiết, Nha Trang, tận đến Đà Nẵng.

         Tình trạng hỗn loạn Học đường tạm yên. Những thành phần Sinh viên chủ chốt của Lực Lượng SINH VIÊN LIÊN KHOA SÀI GÒN và Lực Lượng HỌC SINH BẢO VỆ GIÁO DỰC THUẦN TÚY nộp đơn xin Oâng HÀ THÚC KÝ, Bộ Trưởng Nội Vụ thời ấy, cho Giấy Phép để lập đảng Chính trị tuổi trẻ lấy tên là ĐẢNG TỰ DO DÂN CHỦ, viết tắt là ĐẢN TỰ-DÂN (TỰ do DÂn chủ) mà tôi, Nguyễn Phúc Liên, là Chủ Tịch, VŨ CÔNG là Tổng Thư Ký và NGUYỄN PHÚC TÀI là Trưởng Ban Kế Hoạch. Đơn Xin Lập Đảng đã được chấp thuận và ĐẢNG TỰ-DÂN ra đời năm 1965.

         Hai chữ TỰ DÂN mà chúng tôi lấy tên cho Tuần báo Điện tử ViệtTỰDÂN lúc này tại ngoại quốc có nguồn từ tên ĐẢNG TỰ-DÂN thời 1965.

         Năm 1965, tôi rời Việt Nam để rồi sang đến Thụy sĩ tiếp tục Đại Học về Kinh tế. Từ đó, tôi  không biết Nguyễn Trọng Nho đã làm gì và phá phách gì nữa.

 

NGUYỄN PHÚC LIÊN

Geneva, 26.11.2013

 

From: But Xuan <ngocdtran@gmail.com>
Subject: [Daploisongnui] Fwd: Về cựu chánh án Nguyễn Trọng Nho

 

Cám ơn ông TTK và ông Hao Pham. Thời nay mọi sự phải bạch hóa hết, công nói công, tội nói tội, khg thể mập mờ mãi được. Chúng ta đã chết vì bị mập mờ, hỏa mù lâu rồi. Và người QG cứ 9 bỏ làm 10, thế là bọn giặc VGCS làm tới. Hôm qua Paul Osieck còn viết cho cựu CA Nguyễn trọng Nho đòi gông cổ BX lại. Tiếu lâm quá và ngu si quá! Những tên VGCS này phải hiểu rằng, sang ngoại quốc làm một chuyên viên thì ai có trách vụ người nấy, có gì mà tung hô như thần như thánh. NTN vẫn thường vào chùa Điều Ngự họp với bọn sư VGCS, Huỳnh tấn Lê, Đào văn Bình mà ai cũng biết. Khi xưa ở VN thời 1971-1975 thì y làm tay sai cho VGCS và Ấn Quang, bán đứng VNCH cho giặc Hồ. Y ăn cháo đái bát, vô liêm sỉ cũng như Nhóm của y do Nguyên văn Binh điều khiển. Cái đó mới là cái đáng nói còn ở ngoại quốc y làm gì kệ y , who cares? 

Tội bọn DB, NS tay sai VGCS dâng miền Nam cho Cáo Hồ sẽ phải xử ra sao đây?

BX/TĐN

From: Dinh Pham <>
Date: 2013/11/25
Subject: Về cựu chánh án Nguyễn Trọng Nho
To: But Xuan <>Thưa giáo sư

Em vừa đọc được một bài viết khá hay có đề cập giáo sư và ông Nguyễn Trọng Nho. Không biết giáo sư có đọc chưa?

Thân kính

On Monday, November 25, 2013 5:45 PM, Hao Pham <> wrote:

 

On Monday, November 25, 2013 5:44 PM, Hao Pham <> wrote:

 

Thưa quí vị

 

Về cựu chánh án Nguyễn Trọng Nho trong cộng đồng người Việt

 

Trong cuộc sống hiện nay, chăc chỉ có cụ Bút Xuân Trần Đình Ngọc là đủ can đảm để lội dòng nước ngược khi lôi cái quá khứ quậy phá  chế độ VNCH của cựu dân biểu Nguyễn Trọng Nho (nay là  cựu chánh án Ng. T. Nho) ra mà phê phán thôi.

 

Thú thực, ngày đó tôi còn nhỏ lắm, năm 1971 mới là lần đầu tiên được cầm lá phiếu để đi bầu, nhưng tôi đã nghe danh Ng T Nho trong số những người gây khó cho chế độ dưới danh xưng "đối lập". Cái tên "Vua Biểu Tình" mà dư luận gọi cụ Nho thời đó mà cụ Ngọc có đề cập, tôi tin rằng không sai. 

 

Cái nickname này, tôi cũng từng được nghe một thân hữu đàn em của cụ Nho nhắc tới trong một đám cưới ở Quận Cam cách đây chừng 2 năm. Trong dịp đó, cụ Nho được mời lên chủ sự nghi thức kết hôn cho đôi trẻ, đương nhiên ông là một vị khách rất quan trọng. Vì thế, một vị khách khác, cũng là một nhân vật rất nổi tiếng trong cộng đồng, khi được mời phát biểu đã nói với ông Nho rằng, "Ngày trươc anh là người chuyên môn xui giục tụi em đi biểu tình, nay ở đây chắc biểu tình thì anh không thích". Vì tôi chỉ nhớ mài mại như vậy, nên không muốn nhắc tên nhân vật đó kẻo rồi lại bị cuốn vào một cuộc đôi co khác. Nhưng cái ý chính (anh là người xách động tụi em đi biểu tình) thì không sai. Có thể phối kiểm lại trong băng Video đám cưới hôm đó.

 

Thế nên riêng cái tên gọi "Vua Biểu Tình" của cụ Nho ngày xưa, là đúng. Những người cao niên hơn tôi ở thời đó chắc cũng không phản đối sự kiện này. 

 

Còn những việc khác, trên diễn đàn Hạ Viện VNCH, như cụ Ngọc tiết lộ, tôi nghĩ cũng có nhiều người phối kiểm được. Vì báo chí hồi đó có nhiều.  Riêng tôi từ những kiến thức hạn hẹp, tôi tin cụ Ngọc. Và tôi không  kính nể cụ Nho lắm về cái quá khứ  a tòng theo đám Việt gian để quậy phá đất nước hồi đó.

 

Nói về hiện tại, cụ Nho đã là một ông chánh án ở Quận Cam. Và người Việt chúng ta, do bản tính "tự sướng" với những "Người Việt Vẻ Vang" nên đã tung hô cụ Nho khá nhiều trong vai trò đó. Thực ra, hãy bình tâm mà xét, cụ Nho làm chánh án thì đó cũng chỉ là một công chức, ăn lương của người đóng thuế. Cụ phải thực hiện chu toàn cái chức trách của mình, thì mới đáng ăn lương. Chuyện đó là thường, có gì đâu mà phải um xùm, hãnh diện với lại không hãnh diện? Ấy là chưa kể, trong tư thế thẩm phán, cụ phải xử với tinh thần "Luật Pháp Bất Vị Thân" cụ đâu có thể thiên vị ai, hoặc khắt khe với ai được. Nên tôi nghĩ chuyện cụ Nho làm chánh án là một điều đáng mừng, mừng cho số của cụ đỏ từ ngày trong nước ra đến hải ngoại, mừng cho gia đình cụ, con cháu cụ được vẻ vang.....

 

Chứ còn cho cộng đồng thì tôi thấy chẳng có gì để cho tôi hoặc những người dân đen trong cộng đồng Việt Nam ở đây hãnh diện đâu, ơn nhờ gì đâu..... Hơn nữa, ngoài cái họ Nguyễn là cái họ Việt Nam của cụ ra, thì cộng đồng Việt Nam ở đây có được cụ chia sẻ cho cái gì? Nếu ai biết cụ Nho đã từng đóng góp cái gì cho cộng đồng Việt Nam  trong những buổi gây quĩ, trong những cuộc vận động cho quyền lợi người Việt ở Hoa Kỳ .... thì xin vui lòng lên tiếng, cho tôi được mở mắt.

 

Nhìn xa hơn nữa, đối với dân tộc VN đang đau khổ vì ách bạo quyền cộng sản hiện nay, một chế độ mà cụ Nho không phải chịu đựng lấy một ngày, nhưng cụ đã góp công khá nhiều để dọn đường cho họ vào.... Cụ Nho đã làm gì trong 38 năm qua? Cụ có bao giờ lên tiếng nói kết án cộng sản một lời chưa? Không biết làm chánh án thì có buộc phải từ bỏ mọi chính kiến không? Nhưng dù sao, cụ mới làm chánh án non chục năm nay thôi. Trước đó, là một luật sư ở Mỹ, cụ đã làm gi để góp phần vào cuộc chiến chống cộng? Dù biết rằng chúng ta ở đây chỉ có thể chống cộng bằng mồm, nhưng cụ đã bỏ ra bao nhiêu lời góp với chúng ta trong việc vận động tẩy chay cộng sản?

Thế nên, đối với cụ Nho, thực tình tôi không .... impressed. Có nhiều lần gặp cụ, thấy gương mặt đạo mạo của cụ bây giờ, tôi thấy nó có vẻ "nhạc bất quần" làm sao khi nhớ lại cái quá khứ quậy phá của cụ ngày xưa.



Hào Phạm

 

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List