QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Monday, March 3, 2014

Câu chuyện Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa Di Tản năm 1975



On Sunday, 2 March 2014 4:01 PM, binh an <> wrote:



Câu chuyện Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa Di Tản năm 1975

 Đinh Mạnh Hùng

 Gần đây, Dân Sinh Media phát hành một DVD kể lại câu chuyện di tản của Hạm đội Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, đi từ đảo Côn Sơn sang vịnh Subic, Phi Luật Tân. Cuốn DVD “Chuyến Hải Hành Cuối Cùng” (CHHCC) đã đưa lên khung cảnh hỗn loạn tại Việt Nam vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975. Qua các phỏng vấn và hình ảnh, DVD cũng đã cho ta thấy tình trạng lo lắng, hoang mang, bất an của thủy thủ đoàn và “tình hình trên các chiến hạm căng thẳng như thùng thuốc súng sắp nổ tung”. Riêng câu hỏi “ai đã khéo chỉ huy, lèo lái tình hình, hướng dẫn đoàn tàu ra đi trong trật tự và bình yên” thì có lẽ chưa thấy được giải đáp thỏa đáng.

Về câu hỏi này, là một thành phần trong bộ tham mưu di tản, người viết xin đóng góp một số nhận xét như một chứng nhân của cuộc hành trình lịch sử này. Tất cả những gì trình bày sau đây cũng đã được tóm lược trong cuốn Hải Sử Tuyển Tập do Tổng Hội Hải Quân VNCH phát hành năm 2004, từ trang 523 đến trang 530.

Các nhận xét về chuyến đi này được chia làm hai phần:
Phần 1: Diễn tiến cuộc di tản
Phần 2: Các nhân vật điều động

Phần 1 – Diến tiến cuộc di tản
Khởi hành từ Sài Gòn lúc 7:00 giờ tối ngày 29 tháng 4 năm 75, các chiến hạm Hải quân Việt Nam Cộng Hòa tập trung tại Côn Sơn từ chiều ngày 30 tháng 4. Hạm đội khởi hành đi Subic Bay, Phi Luật Tân trưa ngày 1 tháng 5 và đến Phi Luật Tân vào chiều ngày 7 tháng 5.
Các diến tiến sau đây bắt đầu từ lúc hạm đội hình thành tại Côn Sơn và được phân thành các tiểu đoạn như sau:
1.1 Bộ tham mưu
1.2 Vấn đề truyền tin
1.3 Đi hay ở lại
1.4 Hành trình
      – Làm gì bây giờ?
      – Đi đâu?
      – Ngày giờ khởi hành
      – Hải hành
1.5 Đến bến
      – Chuẩn bị vào bến
      – Đến bến
1.1 Bộ tham mưu
Năm 2001, Ban Hải sử Tổng hội Hải quân Việt Nam Cộng Hòa có hỏi tôi một số câu hỏi, trong đó có câu sau: “Xin Đề đốc cho biết, khi rời Sài Gòn, Bộ Tư Lệnh nổi trên đường di tản được tổ chức ra sao? Một cách cụ thể, bên dưới Đô Đốc Cang, các giới chức Hải quân trên HQ 3 đã được phân nhiệm như thế nào?” Tôi đã trả lời như sau: “Bây giờ thì gọi là Bộ Tham Mưu chứ trên thực tế lúc đó thì tùy cơ ứng biến. Có việc gì thì họp nhau cùng bàn, sau khi có sự đồng ý của Đô đốc Cang thì chia nhau mà làm, miễn sao có kết quả êm đẹp”.
Thực tế đã diễn ra đúng như vậy. Trên HQ 3 – Tuần dương hạm Trần Nhật Duật – mà Hạm trưởng là HQ Trung tá Nguyễn Kim Triệu, ngoài thủy thủ đoàn, thành phần BTL/HQ gồm có, theo thứ tự thâm niên:  Phó Đô đốc Chung Tấn Cang, Phó Đề đốc Đinh Mạnh Hùng, Phó Đề đốc Diệp Quang Thủy, Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh và HQ Đại tá Nguyễn Xuân Sơn. Về sau, có Phó Đề đốc Đặng Cao Thăng đến từ Vùng 4 Sông ngòi, Phó Đề đốc Nghiêm Văn Phú từ Lực lượng Tuần thám.
conson
Bây giờ nghĩ lại, thấy có vẻ khôi hài. Người thì ít mà toàn là tướng không, vậy ai làm lính. Cũng may là công việc làm không dùng đến cơ bắp, chỉ cần có cái miệng, nhưng lại phải trực phiên 24 tiếng đồng hồ, ăn ngủ tại chỗ, cũng khá mệt nhọc. Chắc có người thắc mắc nhân viên đâu cả? Xin thưa: họ cùng với gia đình ở rải rác trên các chiến hạm khác. Đây cũng chứng tỏ sự linh động và nhân hậu của cấp lãnh đạo.

Sau buổi họp tham mưu cao cấp trên HQ 3 chiều ngày 30 tháng 4, khi giải tán, các giới chức đến họp đã trở về chiến hạm chở gia đình họ. Như vậy mặc nhiên ngầm có sự đồng ý để các nhân viên ở gần gia đình họ. Biết rằng hầu hết các sĩ quan đều mang theo gia đình họ nên không ai có ý nghĩ gọi họ lại nhiêm sở. Tôi nghĩ rằng, nếu không vì gia đình, chắc chắn mọi người sẽ tự động trở về nhiệm sở của mình.

1.2 Vấn đề truyền tin
 Kể từ lúc Đại tướng Dương Văn Minh tuyên bố hạ súng vào sáng ngày 30 tháng 4 thì hệ thống truyền tin như một cái chợ vỡ. Đủ mọi chuyện được đem ra trao đổi hỏi han, nhất là các đề tài sau: bàn về tình hình, hỏi han tin tức gia đình, bàn chuyện di tản hay không, than van về tình cảnh cá nhân v.vv…, chứng tỏ một tình trạng lo lắng hoang mang cực độ của các thủy thủ đoàn. Tình trạng này nếu tiếp tục thì thật là nguy hiểm vì có thể đem lại sự phân hóa trong hạm đội. Mặt khác nếu ngăn chặn thông tin thì làm sao hiểu được tình hình mà trù liệu công việc. Đó là chưa kể các mối lo khác như bị xâm nhập và phá rối, khuyến dụ của Việt cộng.

Để giải quyết tình hình này, Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh được chỉ định đảm trách điều hành hệ thống liên lạc, chỉ huy và là người độc nhất được sử dụng hệ thống truyền tin để tránh khỏi bị cướp phá. Tóm lại, Phó Đề đốc Minh thường trực đích thân theo dõi hệ thống truyền tin để: bảo đảm an ninh truyền tin, theo dõi tình hình, giải quyết các vấn đề có thể giải quyết ngay, nêu lên các vấn đề cần giải quyết, chuyển các quyết định của BTL cho các đơn vị và theo dõi thi hành.

Trong thư trả lời ban Hải sử, tôi đã tóm tắt vấn đề như sau: “Chỉ huy chiến thuật đòi hỏi 4 điều kiện khi liên lạc: An toàn chính xác về truyền tin, nắm vững tình hình, tiếng nói của thẩm quyền. Trong khi triệt thoái, binh sĩ hoang mang dao động, các điều kiện trên lại càng quan trọng. Phó Đề đốc Minh đã có nhiều kinh nghiệm điều quân trong sông nên ông rất hữu hiệu trong trách vụ liên lạc chỉ huy…” Đúng vậy, Phó Đề đốc Minh đã hoàn thành nhiệm vụ này một cách tối hảo. Tiếng nói của ông vang vang trên hệ thống truyền tin suốt ngày đêm cũng như sự duy trì được kỷ luật và an ninh truyền tin trong suốt cuộc hành trình là một kỳ tích ít người làm được. Và là một đóng góp quyết định vào sự hoàn thành tốt đẹp của cuộc di tản. “Ngoài việc bảo đảm được sự vận hành của hệ thống truyền tin, các đóng góp của Phó Đề đốc Minh vào sự giải quyết các công việc khác cũng đáng được ca ngợi” (Hải sử Tuyển tập trang 527).

1.3 Đi hay ở lại?
 Đối với hầu hết các thủy thủ đoàn, khi các chiến hạm thi hành lệnh tập trung tại Côn Sơn thì việc đi hay ở lại chưa thành một vấn đề. Nhưng từ lúc Đại tướng Dương Văn Minh tuyên bố buông súng thì tình hình trở nên sôi động. Chuyến đi này trở thành chuyển đi sau cùng và một chiều của hạm đội. Sẽ không có ngày trở lại. Trong suốt đêm 30 tháng 4, giải quyết vấn đề đi hay ở lại là công việc chính của bộ tham mưu. Vấn đề này bao gồm hai mặt: mặt cá nhân và mặt chiến hạm.
Về mặt cá nhân tương đối dễ giải quyết. Từ chập tối 30 tháng 4, đã có những cá nhân tỏ ý không muốn rời Việt Nam và muốn trở lại Sài Gòn. Đến trưa hôm sau thì số người muốn trở về Sài Gòn mỗi lúc một đông, trở thành một vấn đề cần phải được giải quyết. Để trấn an mọi người, quyết định cung cấp phương tiện cho những ai muốn về lại Sài Gòn được ban hành và thông báo ngay đến toàn thể chiến hạm. Một hỏa vận hạm được chọn và đến từng tàu bốc người muốn trở về. Ngoài chiếc hỏa vận hạm, một số tuần duyên đỉnh (PCF) cũng xin về theo… Kể đến lúc Hạm đội khởi hành đi Subic Bay, tất cả những ai không muốn di tản đã được thỏa mãn nguyện vọng và được chuyển vận trở về Vũng Tàu.
Về mặt chiến hạm, vấn đề không còn là cá nhân mà trở thành tập thể. Vì chiến hạm gồm thủy thủ đoàn sẽ không di tản, mà ở lại Việt Nam. Giải quyết các trường hợp này thì dễ hay khó tùy thuộc vào mức độ phân vân của đơn vị liên hệ. Đa số trường hợp được giải quyết thỏa đáng qua thảo luận trên hệ thống truyền tin giữa đơn vị trưởng và Phó Đề đốc Minh hoặc đại tá Sơn. Điển hình là trường hợp HQ Thiếu tá Vương Thế Tuấn,  Hạm trưởng HQ 229 (DVD CHHCC).
hq 229
Tôi chỉ biết một trường hợp khó khăn, được giải quyết vào giờ phút cuối cùng, trước khi hạm đội lên đường. Sáng ngày 1 tháng 5, trong khi chuẩn bị khởi hành, thì có một chiến hạm báo cáo không muốn di tản và thủy thủ đoàn không muốn rời Việt Nam. Trên chiến hạm chỉ huy, Phó Đô đốc Cang nhìn chúng tôi dò hỏi. Đại tá Sơn đề nghị cho tàu đó cặp vào HQ 3 và để ông đi qua giải quyết. Rất lâu không thấy ông trở về. Đô đốc Cang sốt ruột và lo lắng ra mặt. Tôi lên tiếng đề nghị cho tôi sang đó xem xét tình hình. Sau một lúc ngần ngừ, Phó Đô đốc Cang bảo để ông cho cận vệ đi cùng tôi. Tôi suy nghĩ thật nhanh, là có cận vệ với tình hình này chưa chắc đã an toàn hơn nên từ chối và rời đài chỉ huy.
Bây giờ hồi tưởng lại lúc đó, tôi cũng thấy là lạ. Bước qua hạm kiều, ngoài mấy thủy thủ đứng gác, chiến hạm thật vắng lặng, có lẽ tất cả thủy thủ đoàn đang hội họp với đại tá Sơn. Càng lạ hơn là không thấy dân chúng hiện diện. Có thể tàu này đang công tác ngoài biển và được lệnh đến thẳng đây. Sau khi chào hỏi, một thủy thủ đưa tôi xuống phòng ăn đoàn viên. Bước vào, không khí thật kỳ lạ. Đại tá Sơn ngồi bàn chủ tọa, thủy thủ đoàn ngồi đối diện. Không ai nói năng gì. Một sự im lặng hoàn toàn. Trước tình hình đó, tôi chỉ biết nhìn thủy thủ đoàn rồi quay sang đại tá Sơn nói: “Đã đến giờ khởi hành, phải về tàu”. Nói xong tôi rời phòng hội, trở về HQ 3. Ít lâu sau đại tá Sơn cũng về tàu chỉ huy. Hạm đội lên đường đúng giờ ấn định.
Đến nay thì tôi vẫn không biết chuyện gì xảy ra trên chiến hạm đó. Qua đây, tôi có vài dịp gặp lại đại tá Sơn mà quên hỏi. Sự việc này đã được tôi trình bày ngắn gọn trong tập Hải Sử đề cập trên.

1.4 Hành trình
 Làm gì bây giờ? Kể từ lúc đại tướng Minh ra lệnh đơn phương ngừng bắn thì công cuộc di tản đã trở thành rõ rệt. Đây là chuyến đi một chiều của Hải quân VNCH, không có ngày quay trở lại. Nhưng làm gì tiếp thì chưa biết, ngoại trừ một nguyên tắc đã được Phó Đô đốc Cang đề ra trong khi chuẩn bị: “Nếu có làm gì thì cũng làm như một tập thể”.
 con dao
Chiều ngày 30 tháng 4, ngay sau khi đến Côn Sơn, một buổi hội đã được triệu tập trên HQ 3 gồm các tướng lãnh và sĩ quan cao cấp có mặt tại điểm tập trung. Buổi hội tương đối ngắn và không có gì phải thảo luận và bàn cãi nhiều. Sau khi xem xét tình hình chính trị và tình trạng hạm đội, mọi người đồng ý là phải liên lạc ngay với Hoa Kỳ. Đến đây gặp khó khăn là không ai có tần số hay hay biết cách liên lạc với Hoa Kỳ. Trong khi mọi người đang suy nghĩ thì đại tá Sơn lên tiếng than phiền mình bị cách chức Tư Lệnh Hạm Đội một cách bất công. (Uẩn ức này kéo dài đến ngày nay và tôi sẽ trở lại vấn đề này sau). Không đợi Phó Đô đốc Cang giải thích, đại tá Sơn cho biết luôn là ông có tần số liên lạc với Hoa Kỳ. Trở ngại được giải quyết và buổi họp chấm dứt. Các giới chức trở về chiến hạm có chở theo gia đình mình….

Đi đâu? Sáng sớm ngày 1 tháng 5, ông Armitage đại diện Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đến HQ 3. Ông ngỏ lời là Hoa Kỳ đồng ý tiếp nhận hạm đội Việt Nam và đề nghị hạm đội di chuyển đến Căn cứ Hải quân Hoa Kỳ tại đảo Guam. Khi duyệt lại tình trạng hạm đội, thấy rằng nếu đi Guam xa gần 2 ngàn 500 hải lý thì nhất định sẽ gặp một số trở ngại quan trọng, đáng kể là tình trạng kỹ thuật của một số chiến hạm không được khả quan và hạm đội phải đi theo vận tốc của chiến hạm có tình trạng máy tệ nhất là là khoảng 5 gút (hải lý/giờ), thời gian hải hành quá lâu. Thêm nữa các chiến hạm chở quá đông dân chúng di tản, ước lượng khoảng 30 ngàn người, chắc chắn là sẽ gặp nhiều khó khăn về ăn uống. Do đó Bộ tham mưu đề nghị đưa hạm đội đến Subic Bay xa chỉ khoảng trên 900 hải lý. Mặc dù ông Armitage luôn luôn nhấn mạnh đến mong muốn của Hoa Kỳ là phải đi Guam, Phó Đô đốc Cang vẫn nhất định đi Phi Luật Tân…
distance VNGuam
Ngày giờ khởi hành. Sau khi cân nhắc tình hình chung, Phó Đô đốc Cang cho lệnh khởi hành di tản ngay sáng ngày 1 tháng 5. Có nhiều lý do đưa đến quyết định này. Một là để mọi người có việc làm, chấm dứt bàn tán, từ đó những hoang mang dao động sẽ tan dần, tinh thần trở nên ổn định. Hai là nếu ai còn do dự chuyện đi hay ở, sẽ đương nhiên chấm dứt và trở lại sinh hoạt bình thường. Ba là Côn Sơn trở nên không còn an toàn dưới áp lực tù cộng sản được giải thoát, chính quyền mới có thể gây khó khăn cho hạm đội (Hải Sử trang 527-528). Quyết định khởi hành sớm này dù đã không thỏa mãn được yêu cầu của một số cá nhân, như trường hợp đại tá Đỗ Kiểm còn thất lạc gia đình và dù phải bỏ lại một vài đơn vị như Vùng 5 Duyên Hải, nhưng cho thấy là một quyết định đúng, đem lại sự an toàn và thành công của chuyến di tản.
Hải hành. Nhờ thời tiết thật tốt, sóng yên biển lặng, nên chuyến di tản thuận buồm xuôi gió. Hạm đội sắp thành đội hình hai hàng dọc, tốc độ trung bình 5 gút.
Trên phương diện tiếp vận, các tàu đã được cung cấp đầy dầu nước và thực phẩm trước khi rời Sài Gòn. Tuy vậy, vì số dân di tản quá đông nên vấn đề ăn uống cũng gặp một số trở ngại. Nhờ óc sáng tạo và tinh thần kỷ luật cao của các thủy thủ đoàn, mỗi chiến hạm đã tự giải quyết các khó khăn. Hải quân Hoa Kỳ trợ giúp phần thực phẩm và y tế trong trường hợp thật cần thiết…
HQ 1
Nhìn chung, đối với tập thể thì các trắc trở không có là bao. Sau vài ngày hải hành, không tuần Hoa Kỳ cho biết là hạm đôi không còn giữ được đội hình hai hàng dọc, các chiến hạm cũng không giữ khoảng cách đều nhau. Để chấn chỉnh, Phó Đô đốc Cang chia hạm đội thành 2 phân đội và Đề đôc Lâm Ngươn Tánh đi trên HQ 1 được chỉ định chỉ huy phân đội 2. Từ đó đội hình hải hành được duy trì tốt đẹp.  Vài biến cố nhỏ xảy ra trên chính chiếc soái hạm HQ 3. Một đám cháy trên sân thượng và cả hai máy chánh bất ngờ đều hư hỏng khi đến gần lảnh hải Phi nên phải cần đến tàu kéo của Hoa Kỳ.
Đối với từng cá nhân thì chuyến đi vất vả đau buồn. Có người gặp phải hoàn cảnh nan giải thương tâm. Cũng có người phải gánh chịu những hoàn cảnh đau xót riêng tư cần sự trợ giúp của đồng đội. Một số các trường hợp này- trường hợp Dương vận hạm HQ 502, Hải vận hạm HQ 402, Giang pháo hạm HQ 329 – đã được nhắc đến trong tập Hải Sử…
 HQ 502HQ402
1.5 Đến bến.
Chuẩn bị vào bến. Khi sắp gần đến Phi Luật Tân thì nhận được tin là chính phủ này không chấp thuận cho hạm đội VNCH vào vịnh Subic. Bộ tham mưu họp bàn tìm giải pháp. Quả là một trường hợp ngoại giao phức tạp, không dễ dàng giải quyết. Giải pháp đưa hạm đội đi Guam được đề cập, cân nhắc. Hoa Kỳ lãnh trách nhiệm đưa 30 ngàn đồng bào đến Guam bằng các tàu dân sự để hạm đội dễ điều động cho một hải trình tiếp tục dài này. Trong lúc còn đang thu xếp thì Phó Đô đốc Cang đưa ý kiến là với tình hình hiện tại, Hạm đội của Hải quân VNCH nên được trao trả cho Hải quân Hoa Kỳ vì trên danh nghĩa đó, các chiến hạm Hoa Kỳ sẽ vào căn cứ Hải quân Subic của mình.hq 329
Ý kiến này được chuyển đến giới chức Hoa Kỳ. Một vài giờ sau, hạm đội được thông báo là giải pháp được chấp thuận với điều kiện:
- Tất cả đạn dược phải được ném xuống biển.
- Cờ VNCH phải được thay bằng cờ Hoa Kỳ. Để thi hành điều kiện này, mỗi chiến hạm sẽ tiếp nhận một toán sĩ quan liên lạc Hoa Kỳ và thực hiện lễ hạ quốc kỳ VNCH và trương quốc kỳ Hoa Kỳ. Lễ hạ cờ VNCH được cử hành cùng một lúc trên tất cả chiến hạm vào đúng 12 giờ trưa ngày 7 tháng 5 năm 1975. Buổi lễ hạ cờ lịch sử trong không khí trang nghiêm và đầy xúc động, đã được kể lại trong nhiều bài viết trong mấy chục năm qua…
- Xóa bỏ danh hiệu và danh số Việt Nam. Để thực hiện công việc này, trong lúc thủy thủ đoàn Việt Nam vận chuyển con tàu theo khẩu lệnh của sĩ quan hải hành Hoa Kỳ, các tiểu đỉnh Hoa Kỳ chạy cặp sát sườn chiến hạm để sơn lấp bỏ các danh số và danh hiệu VN dọc hai bên hông.
subic baybay
Đến bến. Chiều ngày 7 tháng 5, hạm đội VNCH vào thả neo trong vịnh Subic. Chuyến di tản an toàn, bình yên và đầy đủ. Mọi người thở phào nhẹ nhõm. Sau khi tàu bỏ neo thì việc điều hành lên bờ thuộc phía Hoa Kỳ. Vị sĩ quan liên lạc yêu cầu các sĩ quan cấp tướng rời tàu trước vì lý do an ninh. Theo kinh nghiệm, trong trường hợp triệt thoái như thế này có thể có những binh sĩ uất ức, gây gổ với giới lãnh đạo, làm mất trật tự. Dĩ nhiên ta phải nghe theo nhưng để thủy thủ đoàn đỡ xôn xao thắc mắc, hai Phó Đề đốc Nghiêm Văn Phú và Hoàng Cơ Minh tự nguyện ở lại.
Đồng bào được các viên chức Hoa Kỳ thu xếp và hướng dẫn sang các thương thuyền để chuyển sang đảo Guam. Họ làm việc có tổ chức cao, lớp lang, khoa học và thực tế. Vì vậy công tác di chuyển rất tốt đẹp. Hai vị Phó Đề đốc cùng với đồng bào sang tận Guam và chỉ trở lại cùng gia đình khi mọi người được tiếp nhận.

Phần 2 – Các nhân vật điều động cuộc di tản
Trong bất cứ hoạch định nào, luôn có hai nhân vật trọng yếu quyết định sự thành bại của công cuộc. Đó là người lãnh đạo và người chấp hành. Nếu người lãnh đạo suy tính sáng suốt và đưa ra các quyết định hợp lý thì triển vọng thành công đã được một nửa. Phần còn lại tùy năng lực của người chấp hành. Nhưng thường, người chấp hành có xuất sắc lắm thì mức thành công cũng chỉ đạt được 80% của triển vọng.
Trong chuyến di tản của hạm đội VNCH, Hải quân may mắn có được hai nhân vật xuất sắc nắm giữ hai vai trò này.  Đó là Phó Đô đốc Cang trong cương vị chỉ huy và Phó Đề đốc Minh trong cương vị điều hành. Và Phó Đề đốc Minh điều hành tận tụy đến nỗi mọi người đều nghĩ ông chính là người chỉ huy toàn bộ cuộc di tản. Sẽ là một bất công đối với Phó Đô đốc Cang nếu sự ngộ nhận tiếp tục kéo dài. Người viết xin nêu lên sự phân công rõ rệt…
2.1 Phó Đô đốc Chung Tấn Cang:
cang
Phó Đô đốc Cang mới trở lại chức vụ Tư lệnh Hải quân một thời gian ngắn trước ngày 30 tháng 4. Ngoài công tác yểm trợ cho việc triệt thoái miền Trung, phần nhiệm cuối cùng của vị này là lo duy trì hải lực trong thời kỳ suy yếu của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Quan trọng hơn cả là sự trù liệu cho hạm đội di tản khỏi Sài Gòn khi thành phố bị cộng quân đe dọa.
Trong việc này, có hai quan niệm khác nhau đưa đến việc cách chức Tư lệnh Hạm Đội của Hải quân Đại tá Nguyễn Xuân Sơn.
Theo nhãn quan của một số sĩ quan trong đó có thể lấy đại tá Sơn và đại tá Kiểm làm thí dụ điển hình. Theo sự trình bày công khai quan điểm của hai ông trong cuốn DVD “CHHCC”, thì:
1. Tình hình quân sự tại miền Nam là vô vọng, sự sụp đổ của VNCH là tất yếu.
2. Hoa Kỳ đã sẵn sàng giúp Hải quân triệt thoái khỏi Việt Nam. (Ông Armitage đề nghị với đại tá Kiểm và Đề đốc Holloway gián tiếp đề nghị với đại tá Sơn).
3. Như vậy phải chuẩn bị Hạm đội để di tản và mang theo tối đa dân chúng. Chính từ quan điểm này đã dẫn đến việc đại tá Sơn ra công điện chính thức cho gia đình thủy thủ đoàn đi theo tàu khi đi công tác để tránh trở ngại trường hợp có lệnh di tản. Quan niệm này được các sĩ quan cấp dưới tán thành vì hữu lý và cảm thông.
Tuy nhiên trên cương vị cấp lãnh đạo, Phó Đô đốc Chung Tấn Cang nhìn vấn đề không hoàn toàn thuần quân sự mà qua nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất là yếu tố chính trị quốc tế và một giải pháp chính trị dung hòa có thể được hình thành. Tình thế này đã được trình bày trong Hải sử Tuyển tập, trang 525: “…Trong buổi họp này, các công việc chuẩn bị đã được thảo luận và quyết định. Tôi không nghĩ là đã có một kế hoạch viết về dự trù di tản này. Vấn đề di tản dân chúng cũng không thấy được đặt ra. Chỉ nêu việc di tản hạm đội. Bao giờ di tản thì tùy tình hình quân sự quyết định. Còn làm gì tiếp sau thì tùy nhiều yếu tố chính trị phức tạp. Một số tình huống có thể xảy ra: Rút về Vùng 4 Chiến thuật và tiếp tục chiến đấu. Hoặc chia cắt đất hoặc lập chính phủ liên hiệp, chính quyền tan rã. Lúc bấy giờ không ai nghĩ đến việc đại tướng Dương Văn Minh ra lệnh buông súng!”
Theo Đề đốc Trần Văn Chơn thì ông không di tản vì “còn nước còn tát”. Các tướng lãnh đều tán thành quan niệm này. Nhưng sáng 29 tháng 4, Phó Đô đốc Cang được Đại tướng Minh cho biết là: “Nước đã cạn rồi, đi đi…” Cho tới lúc này, quan niệm của Bộ Tư Lệnh Hải quân vẫn là di tản khỏi Sài Gòn để bảo toàn lực lượng chớ không phải để tỵ nạn ngoại quốc. Vì vậy mọi hành động bất thường đưa đến suy diễn có ý định đào thoát đều không được chấp nhận. Những hành động bất thường này có thể dẫn đến tình trạng hoảng loạn trong các đơn vị. Ngay cả các sĩ quan cao cấp trong Bộ tư lệnh cũng rất thận trọng khi di chuyển gia đình xuống tàu vào giờ chót.
Trong tình huống chưa ngã ngũ, việc đại tá Sơn chính thức gửi công điện cho phép thủy thủ đoàn đưa gia đình xuống tàu là một hành động tự tiện, vô nguyên tắc. Việc cho phép thân nhân xuống tàu sẽ kéo theo việc cho phép thân nhân vào các căn cứ trên bờ, và như thế sẽ tạo cơ hội cho Việt cộng trà trộn, xâm nhập toàn bộ các đơn vị Hải Quân. Vì vậy sự việc ông bị cách chức Tư lệnh Ham Đội là điều dễ hiểu. Quyết định dứt khoát, cứng rắn của Phó Đô đốc Cang có thể đã giúp ngăn ngừa được các hành động dẫn đến rối loạn, thiếu an toàn trong vòng đai Hải quân.
Quan trọng nhất là việc cách chức cũng là để phòng ngừa trường hợp Tư lệnh Hạm Đội bất tuân lệnh Bộ Tư Lệnh Hải Quân, tự mình dẫn Hạm đội rời Sài Gòn khi tình hình chính trị chưa ngã ngũ.
Tôi mong Đại tá Sơn đọc được những dòng này mà thông cảm với Phó Đô đốc Cang và bớt nỗi bực dọc ở trong lòng. Cũng chính nhờ bộ óc nhạy bén của Phó Đô đốc Cang đưa ra các quyết định đứng lúc kịp thời mà chuyến di tản được an toàn đến bến bờ tự do…

2.2 Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh
 Minh
Tôi đã có dịp ghi trong Hải Sử Tuyển Tập: “Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh là một tướng lãnh giỏi, lanh lẹ, tháo vát, lại có sức bền bĩ không mệt mõi nên ông đã đóng góp nhiều trong chuyện di tản. Nhờ ông mà hệ thống truyền tin không bị phá rối, các chỉ thị chuyển đi được kịp thời, các tin tức thu nhận được đầy đủ giúp việc đánh giá đúng mức. Tiếng nói của ông đủ thẩm quyền để đem lại sự tin tưởng và an tâm cho mọi người. Ngoài ra, bất kể lúc nào, khi có đơn vị nào cần ông có mặt tại chỗ là ông lấy tiểu đỉnh đến tận nơi tìm hiểu giải quyết.
Tóm lược, Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh đã hoàn thành mỹ mãn nhiệm vụ được giao phó trong chuyến di tản là duy trì an ninh truyền tin, trật tự đội hình và giải quyết khó khăn trở ngại cho hạm đội và cá nhân.
Lấy trường hợp HQ Thiếu tá Vương Thế Tuấn, Hạm trưởng HQ 229; HQ Thiếu tá Nguyễn Văn Phước, Hạm trưởng HQ 231 (như trong DVD) làm thí dụ. Cả hai Hạm trưởng đều ở trạng thái hoang mang bất định và muốn trở về Sài Gòn.
Chính Phó Đề đốc Minh đã can gián, khuyên giải nên họ đồng ý di tản. Đây chỉ là hai trường hợp điển hình. Còn vô số rắc rối từ cá nhân thủy thủ đoàn… Nhờ kiến thức sâu rộng, nhờ tài năng ăn nói của mình, Phó Đề đốc Minh đã duy trì được kỷ luật và trật tự giúp cuộc hành trình êm xuôi… Cũng nhờ khả năng thu thập và phân tích tình hình, ông đã giúp Phó Đô đốc Cang đưa ra các quyết định nhanh chóng, hữu hiệu…
Sau nữa, nhưng không phải là sau cùng là vấn đề oai quyền của người ra lệnh. Bình thường người quân nhân được huấn luyện để tuân hành mệnh lệnh. Tuy nhiên mức độ tuân hành cũng tùy thuộc vào hoàn cảnh. Trong trường hợp nguy biến cấp bách, cấp bậc của người ra lệnh càng cao thì mệnh lệnh càng có uy lực và dễ được tuân phục. Ta gọi đó là “lấy lon đè người”. Đấy là lý do tại sao Phó Đề đốc Minh được chỉ định phụ trách hệ thống liên lạc mà không phải là đại tá Sơn.
Mặt khác, ngoài uy quyền của một tướng lãnh, cá tính của Phó Đề đốc Minh cũng rất đặc biệt và dễ ảnh hưởng mạnh mẽ đến người đối thoại. Trong mọi hoàn cảnh, ông rất bình tĩnh, tự tin, lưu loát và thuyết phục mà không có tính cách ép buộc hay áp chế. Hơn nữa, Phó Đề đốc Minh rất dai sức, bền bĩ. Ông có thể làm việc ngày đêm không nghỉ mà vẫn minh mẫn, không tỏ vẻ mệt nhọc. Trong suốt cuộc hành trình, Phó Đề đốc Minh luôn luôn hiện diện tại nhiệm sở. Đêm như ngày, tiếng nói của ông vang vang trên hệ thống chỉ huy đã mang lại cảm giác bình an cho mọi người. Với một cá tính như vậy, dù không là một tướng lãnh, Phó Đề đốc Minh vẫn có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách hoàn hảo. Nhưng có lẽ cũng chính nhờ vậy mà ông được thăng lên hàng tướng lãnh một cách nhanh chóng, trước các bạn đồng khóa….
2.3 Đại tá Nguyễn Xuân Sơn
Trong DVD “Chuyến Hải Hành Cuối Cùng”, Đại tá Nguyễn Xuân Sơn tỏ ra không nhớ lại những gì ông đã làm trong chuyến di tản. Hoặc giả ông đã chóng quên, hoặc giả ông coi những gì ông làm trong khi di tản chỉ là công việc bình thường của người quân nhân nên không đáng ghi nhớ.
Điều động một hạm đội triệt thoái không phải giản dị mà rất phức tạp. Nếu không nắm vững tình hình hạm đội về khả năng từng chiến hạm, tình trạng kỹ thuật, mức độ khiển dụng sẵn sàng, tình trạng nhân viên, tính tình cấp chỉ huy… thì rất dễ đưa ra các quyết định khiếm khuyết gây khó khăn cho sự điều hành và ảnh hưởng đến sự hoàn tất của công việc.
Vì nguyên là Tư lệnh Hạm Đội, đại tá Sơn là người độc nhất trong Bộ tham mưu hiểu thấu đáo tình hình Hạm đội và đã thực sự có những đóng góp đáng ghi nhận vào cuộc di tản.
Như ở phần tiểu đoạn Làm gì bây giờ, tôi đã kể đại tá Sơn là người duy nhất biết cách và đã liên lạc ngay với Hoa Kỳ. Nếu không nhờ ông, do tình hình biến chuyển mau lẹ, kết quả việc di tản không biết ra sao. Nên ghi nhận là vào ngày 29 tháng 4 đã có chiến hạm tự động cho tan hàng mà không về điểm tập trung. Hai chiến hạm đã bỏ ý định này để gia nhập hạm đội di tản.
Trong sự hoạch định công việc, các ý kiến của đại tá Sơn đều được lưu ý và tôn trọng như khi:
- Cứu xét tình trạng hạm đội để đưa đến quyết định đi Subic Bay thay vì đi Guam.
- Chọn lựa các chiến hạm đi trợ giúp các chiến hạm gặp khó khăn hay đi cứu vớt đồng bào tỵ nạn.
- Ấn định đội hình, vận tốc và lộ trình hải hành di tản.
- Sau hết, không nhớ rõ là trong những trường hợp nào, quá một lần người viết vẫn hình dung thấy bóng đại tá Sơn đi tới với câu nói” xong rồi” như khi vừa hoàn tất một công việc.
Kết
Gần 40 năm đã trôi qua kể từ ngày 30/4/1975, bây giờ hồi tưởng lại chuyện cũ, chỉ là những hình bóng lờ mờ trong tâm trí; kể lại những gì đã qua như trong một giấc mơ, đúng sai không chắc. Nếu có gì sai sót không đúng, xin độc giả cứ tự nhiên lên tiếng, không cần tham khảo với người viết.
Xin đa tạ.
Đinh Mạnh Hùng


Vu That

Sunday, March 2, 2014

ĐÔI ĐIỀU về TRẦN CHUNG NGỌC



From: danruong1
Date: Wed, 5 Feb 2014 18:40:02 -0800
Subject: Về Trần Chung Ngọc

 

                               ĐÔI ĐIỀU về TRẦN CHUNG NGỌC


                                                                                                                                            Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

      Sáng 30 Tết thức dậy ngồi vào bàn computer,  bản tin đầu tiên tôi đọc được là tin  ông Trần Chung Ngọc (TCN) qua đời. Chưa bao giờ nghe ông TCN bệnh, đột nhiên nghe tin ông chết, tôi hơi sửng sốt và trong lòng cảm thấy một chút nao nao. Bất chợt không hiểu sao tôi lại thở dài lo lắng chuyện con bò răng trắng: suốt năm rộng tháng dài không chết, TCN lại chết vào lúc năm cùng tháng tận, đúng cái ngày mà gia đình vợ con đón ông bà về ăn tết. Kẻ đi người về làm sao mà gặp gỡ, xum họp? Thông thái như TCN sao lại không biết chọn ngày?

     Nhưng chuyện đó gác lại, lo Tết cái đã…., và hôm nay đã là ra giêng.

     Tôi không quen biết ông Trần Chung Ngọc, và cũng chưa được hân hạnh gặp ông bao giờ. Sở dĩ tôi muốn viết đôi điều về ông là để trả ông một món nợ tinh thần, việc mà từ lâu rồi tôi đã rắp tâm nhưng chưa có dịp. Ông chết, đối với tôi là cơ hội cuối cùng để tôi sòng phẳng thanh toán nợ nần đối với ông, mà cũng còn để cho kẻ còn sống là ông Trần Tiên Long -Trần Văn Quý- (người đã có công ân cần giới thiệu và chuyển bài viết của ông TCN lên các diễn đàn điện tử) khỏi hiểu lầm, tôi là kẻ chạy làng vì đuối lý đối với ông TCN. Giản dị có thế thôi.

     Vấn đề là thế này, cách đây khoảng một năm, tôi có viết một bài phê bình triết gia Bertrand Russell và nhà vật lý học Stephen Hawking về quan điểm vô thần của hai ông này. Bài viết của tôi có tựa đề “Phủ nhận Thiên Chúa bằng lý luận: tào lao, bằng thực nghiệm: bế tắc.” Xin nhấn mạnh, tôi chỉ phê phán quan điểm vô thần của hai ông mà thôi, không đề cập đến bất kỳ một cái gì ngoài khác. Nhưng không hiểu sao, ông TCN lại viết một bài dài “Tôi đọc Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất phê bình Bertrand Russell & Sphen Hawking” phản ứng lại bài viết của tôi với giọng điệu gay gắt và lời lẽ đầy miệt thị để bênh vực triết gia Bertrand Russell và khoa học gia Stephen Hawking.

     Có 2 điều làm tôi không hiểu. Thứ nhất, tôi phê bình quan điểm vô thần của Bertrand Russell và Stephen Hawking thì mắc mớ gì đến TCN mà ông phải xía vào? Nhóm Phật giáo Giao Điểm - trong đó có ông TCN – đã xúm vào đả kích kịch liệt Đức Giáo Hoàng John Paul II khi Ngài nêu nhận xét, cho rằng trên bình diện tín ngưỡng đạo Phật là một tôn giáo vô thần. Giao Điểm và ông TCN đả kích đức Giáo Hoàng, như vậy thì TCN không phải là một người vô thần. Hơn nữa, là một Phật tử hữu thần thì tại sao ông TCN lại đứng ra bênh vực quan điểm của những kẻ vô thần? Thứ hai, ngay ở đầu bài, ông TCN miệt thị tôi rằng Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất là Một người viết văn không ra văn, ý không ra ý thì hà cớ gì lại phải phí công, tốn sức, mất thì giờ vì bài viết dở ẹc đó của tôi. Nếu thấy một bài viết văn không ra văn, ý không ra ý, TCN có thể tin chắc rằng độc giả chẳng ai thèm đọc, nói gì người trí thức có hiểu biết như ông. Ông đừng đọc nữa và cứ delete đi là xong thôi chứ có gì đâu.  Ông TCN chẳng là cái gì đối với tôi. Ông khinh miệt tôi, cái đó thực sự tôi không quan tâm. Tôi không phải là một tên đầu trộm đuôi cướp hay ma cô đĩ điếm, lừa thầy phản bạn v.v. là tốt rồi. Khả năng viết lách của tôi có bấy nhiêu, tôi không hổ thẹn vì điều đó. Điều tôi quan tâm là ông TCN đã đi ra ngoài và đi quá xa mục đích của một bài tranh luận liên quan đến tín ngưỡng: vấn đề hữu thần hay vô thần. Dựa vào bài viết của tôi, ông TCN đánh phá, chửi bới tín ngưỡng của tôi nói riêng và của người Thiên Chúa giáo nói chung, còn lăng nhục đến cả Thiên Chúa, Đấng mà tôi và hàng tỷ người trên trái đất này tôn thờ. Ông chửi bới Giáo Hội CG. Mặc sức ông. Ông phê phán giáo lý CG. Cũng mặc kệ ông. Nhung ông nhục mạ tín ngưỡng của tôi và nhục mạ cả Thiên Chúa, đó thuộc lãnh vực quyền tự do của tôi. Chuyện này thì không được. Tôi dứt khoát không thể im lặng, và tôi đã định bụng nhất định có ngày phải nói với ông cho rõ phải quấy. Và hôm nay ngày đó đã đến. Tôi nhấn mạnh điểm này là, trong bài viết của ông “Tôi đọc Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất …” ông TCN đánh phá tín ngưỡng của người Thiên Chúa Giáo và lăng nhục Thiên Chúa, chứ không phải phê phán Giáo Hội Công Giáo. Hai vấn đề hoàn toàn khác biệt. Vấn đề còn là thế này nữa, nếu ông TCN thực sự phản biện một cách xây dựng quan điểm hữu thần của tôi thì cho dù không đồng ý quan điểm của ông, tôi cũng sẵn sàng để tranh luận với ông với tư thế của một con người có hiểu biết và có giáo dục. Đàng này, ông TCN chỉ một luận điệu đánh phá, bôi bác, và nhục mạ đạo Công Giáo và Thiên Chúa. Chính nhờ điểm này mà tôi đã khám phá ra con người thực của TCN. Nên hôm nay tôi đành tốn công, tốn sức, và thời giờ với ông một phen cho xong, để cho mọi người thấy, TCN chỉ là một kẻ hợm hĩnh, một tên ngông cuồng, và là một con mọt sách. Chỉ một lần này thôi, vì chẳng còn lần nào nữa. Nghĩa tử là nghĩa tận.

   Trần Chung Ngọc,

1/  Kẻ hợm mình - Tôi phê bình quan điểm vô thần của triết gia Bertrand Russell và của khoa học gia Stephen Hawking từ sự suy nghĩ độc lập của tôi và bằng những lý lẽ của riêng mình. Cạnh đó, tôi dẫn chứng hay đưa ra thí dụ cụ thể để thuyết phục. Về triết học, tôi cho rằng bất cứ thuyết nào cũng chỉ là lý thuyết. Mà lý thuyết thì như sóng ngoài biển cả, lớp sau giồn lớp trước. Nghĩa là lý thuyết sau đánh đổ hoặc phủ nhận lý thuyết trước là chuyện thường. Tôi dẫn chứng, Duy Vật Sử Quan của Karl Marx (Materialistic Conception of History) là một lý thuyết vô thần hấp dẫn nhất từ trước đến nay, bởi vì nó dựa trên cơ sở đáng tin cậy nhất để thuyết phục người ta là dùng lịch sử giải thích sự tiến hóa của xã hội, thế mà ngày nay cũng đã nằm im lìm ngoài cái “Nghĩa Trang Tư Tưởng” của loài người mà người đời gọi là Triết Học. Như thế thì thử hỏi ba cái lý sự cùn của Russell có nhằm nhò gì, đứng vững và tồn tại được bao lâu? Trong thời chiến tranh VN, Russell lập tòa án khắp Âu Châu để bênh vực VGCS, xử tội VNCH và Mỹ. Ai xâm lược, ai bị xâm lược mà Russel cũng không nhìn ra. Giản dị là, chuyện dưới đất mà Russell còn mù tịt thì làm sao ông ta biết được việc trên trời. Về khoa học, tôi đưa ra thuyết Big Bang làm luận cứ vì Big Bang là một lý thuyết giải thích sự hình thành vũ vụ hấp dẫn nhất hiện nay đối với phần lớn các nhà khoa học, nhất là đối với Stephen Hawking. Lý thuyết Big Bang khẳng định rằng vũ trụ có khởi đầu, và Big Bang là sự khởi đầu của vũ trụ vạn vật. Tôi xin hỏi ông Hawking một câu ngắn thôi xem ông trả lời như thế nào rồi hãy nói đến chuyện có Thiên Chúa hay không có Thiên Chúa. Vậy thì trước Big Bang là cái gì? Stephen Hawking có trả lời được không? Vũ trụ này còn hằng hà sa số những vấn đề khúc mắc khác mà khoa học chắc chắn không thể và không bao giờ trả lời nổi. Căn cứ trên những bế tắc đó, tôi cho rằng cả Russell lẫn Hawking đều như nhau, luận thuyết chối bỏ Thượng Đế của họ không thể đứng vững. Từ dó, tôi kết luận mà không sợ sai lầm rằng nếu không tin có đấng Tạo Hóa (Creator) thì sẽ triền miên gặp bế tắc, cả triết học lẫn khoa học. Trái lại, nếu tin có Đấng Tạo Hóa thì mọi bế tắc sẽ được giải quyết ổn thỏa ngay. Nếu đức tin là một điều phi lý như Russell và Hawking nghĩ thì thà chấp nhận phi lý để giải quyết được mọi bế tắc còn hơn là phủ nhận phi lý để phải triền miên ngập chìm trong bế tắc. Đằng nào thuận lý, có lợi, và dễ chấp nhận hơn?

     Tôi suy nghĩ một cách vụng dại và đơn giản thế thôi, và tôi cứ tưởng rằng ông TCN sẽ khai sáng cho những u mê của tôi bằng lý lẽ của ông. Chẳng dè, ông TCN không đưa ra một luận cứ nào để bắt bẻ tôi, hoặc bác bỏ tôi. Trái lại, ông trích dẫn hàng lô lời người khác để cố át giọng tôi một cách khinh mạn với thái độ ngạo nghễ. Đọc bài của ông, tôi có cảm tưởng, hoặc là ông quá khinh thường người khác, hoặc là ông chẳng biết phản biện là cái gì. Ông cứ hiêu hiêu tự đắc rằng mình là một nhà biện sĩ, một tay thông kim bác cổ nên rất hợm hĩnh, tự coi mình là cái rốn của vũ trụ và chẳng coi ai ra gì, nhưng thực chất chẳng là cái gì cả.

2/  Tên ngông cuồng -  Ai cũng thấy, TCN chống Thiên Chúa và đạo Công Giáo đến điên cuồng. TCN luôn nuôi dưỡng trong đầu óc cái định kiến: người Catô (danh từ ông dùng để khinh miệt người CG) là bọn ngu si và mê tín, lũ bất lương. Giáo Hội CGVN là bọn phản quốc, lũ theo Tây bán nước. Đạo Công Giáo đại để là một thảm họa của loài người. Thiên Chúa (GOD) tào lao, ác ôn, và côn đồ. Trước kia, đôi khi tôi còn tưởng TCN là một nhà ái quốc, một người có tinh thần dân tộc cao, mặc dầu thấy ông chống Công Giáo triệt để. Do đó tôi vẫn có đôi phần kính nể ông. Nhưng từ khi thấy ông ca tụng Hồ Chí Minh là một người yêu nước, có tinh thần dân tộc, đảng VGCS có công đuổi Pháp, thắng Mỹ, thống nhất đất nước, thì hỡi ôi, tôi mới nhìn ra con người thật của TCN. Một sĩ quan VNCH được Quân Đội cho đi du học thành tài, để rồi được an nhàn trọng dụng trong thời chiến, đến khi chiếc mặt nạ CS đã rơi xuống phơi bầy ra sự thật lõa lồ về những cái gọi là dân tộc, yêu nước, giải phóng v.v. thì tiến sĩ TCN mới trở mặt ca tụng CS, kẻ thù bán nước của Dân Tộc VN. Có muộn quá không, và ai giải thích nổi. Chó không bao giờ phản chủ. Nhưng TCN đã phản bội kẻ cưu mang và cho ông biết bao nhiêu ân huệ. Nếu TCN sinh sống ở Thái Lan hay Ấn Độ v.v. những quốc gia theo đạo Phật để chửi Thiên Chúa thì cũng chẳng có gì đáng nói cho lắm. Nhưng TCN sinh sống và đang hưởng những bảo đảm đời sống trên đất nước có truyền thống Thiên Chúa Giáo để báng bổ và lăng mạ Thiên Chúa. Như thế là TCN thiếu liêm sỉ và mất đi cả tinh thần tự trọng của một người có ăn học. Tiếc rằng loài vật lại không có liêm sỉ và cũng chẳng biết tự trọng nên không thể so sánh vào đâu được. Cho dù không có Thiên Chúa thật sự đi nữa, TCN lớn tiếng chửi bới Thiên Chúa, tức là ông ta chửi bới hơn một tỷ người tôn thờ Ngài. Thái độ đó đánh giá bằng hai chữ "ngông cuồng" e rằng là quá nương tay. Xưa nay và ở khắp nơi, không hề thấy một tín hữu Công Giáo nào dám lăng mạ Phật Tổ. Điều đó chứng minh tư cách của người tín hữu. Đó là điều đáng tự hào và là niềm hãnh diện cho đạo Công Giáo. Riêng kẻ hèn này, đã hai lần rồi, và đây là lần thứ ba, công khai tuyên xưng rằng Đức Phật là một vị thần linh đáng tôn kính. Mỗi khi đi ngang qua tượng ảnh Ngài tôi vẫn cúi đầu cung kính bái chào Ngài.

3/  Con mọt sách -  Khi viết đả kích tôi, tôi chỉ cầu mong ông TCN phản biện những lý luận đơn giản và quê mùa của tôi, nhưng ông đã không làm. Tự ông, ông không đưa ra - hay không đưa ra được - một luận cứ nào để phản bác tôi. Ông trích dẫn hết người này đến người khác, mà toàn là các tác giả xa lạ đối với đại chúng, nhưng cùng lập trường chống Thiên Chúa và chống Giáo Hội CG như ông. TCN trích dẫn rất nhiều có lẽ để chứng tỏ rằng mình đọc nhiều hiểu rộng. Điều đó thì cũng đúng, nhưng nó cũng cho thấy tri thức của ông không từ cái đầu của ông mà có, nó từ những cái đầu của những người khác. Lối học đó gọi là học vẹt. Lối học vẹt có 2 đặc tính: nhập vào là cái máy photocopier và phát ra là một con trâu, loài nhai lại. Vì học vẹt nên trong bài “Tôi đọc Duyên Lãng Hà Tiến Nhất …” của ông, người ta không thấy ông phản biện. Như thế rất có lý do tin rằng ông không có lý luận và không biết phản biện. Mấy tên bộ đội nhí học lý thuyết Marxist cũng thế, nên ở đâu chúng cũng gân cổ lên cãi: trăng Liên Sô tròn hơn trăng Mỹ, đồng hồ Thụy Sĩ không tốt bằng đồng hồ Liên Sô. Với TCN, những gì ông nhập tâm được từ sách vở của các tác giả chống Chúa đều là chân lý. TCN nói lại cái gì thì đó là chân lý. Vì nghĩ thế nên TCN mới dám cả gan trích dãn ông Joseph Lewis nào đó một câu xanh rờn như thế này: Chỉ những người nào không đọc Thánh Kinh mới tin Thánh Kinh, câu này đã trở thành một từ ngữ thông thường và là một định đề."

   Cái học vẹt của TCN là suy nghĩ bằng cái đầu của người khác, đội những nhân vật chống Thiên Chúa lên hàng đại trí để rồi miệt thị những ai dám phê phán lại những con người đại trí này. Ta hãy xem TCN viết: “Nhưng tại sao Hà Tiến Nhất lại  trơ tráo đến độ lên tiếng phê bình Bertrand Russell và Stephen Hawking?  Có hai lý do: thứ nhất là những giây thần kinh biết ngượng trong đầu Hà Tiến Nhất đã mất đi từ khi bị rửa tội, và thứ nhì vì Bertrand Russell và Stephen Hawking không chịu tin vào cái ông “gót” tào lao, ác ôn, côn đồ của Hà Tiến Nhất.” Thật đáng thương hại. Nhưng cuối cùng thì TCN cũng phải thừa nhận sự yếu kém của mình khi ông xuống nước gián tiếp thừa nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa, mặc dầu vẫn cố ý bẻ quẹo vấn đề để báng bổ và xỉ nhục Thiên Chúa. TCN Ngọc viết:  “Vấn đề không phải là Thiên Chúa có hiện hữu hay không, mà là Thiên Chúa đó như thế nào, và dù có hiện hữu thì có đáng để cho chúng ta tôn sùng không”. Hết ý!

     Thiết tưởng chúng tôi trả nợ ông TCN như thế cũng là đủ. Chân tướng TCN đã hiện ra rành mạch. Vấn đề vốn gây thắc mắc đối với tôi ngay từ đầu là tại sao ông TCN lại tức tối và nặng lời đối với một tên viết lách “văn không ra văn, ý không ra ý” như thế. Gần đây tôi nhận được câu trả lời từ một người bạn và tôi tạm chấp nhận câu trả lời này. Anh bạn tôi cho rằng vấn đề là do bởi phần kết luận trong bài viết của tôi ““Phủ nhận Thiên Chúa bằng lý luận: tào lao, bằng thực nghiệm: bế tắc.”  Đoạn kết như sau, tôi xin trích lại hầu bạn đọc:

    (trích) Có câu chuyện thế này xin kể lại hầu bạn đọc để thay cho phần kết luận của bài viết. Dĩ nhiên là chuyện liên quan đến Big Bang. Như chúng ta đều biết, khoa học ngày nay phát triển rất nhanh, và chắc chắn sẽ còn càng ngày càng nhanh hơn gấp bội nữa. Nhưng đúng như Dr. Joseph Likken tiên đoán là theo tính toán của các nhà khoa học thì hàng chục tỉ năm sau nữa vũ trụ mới gặp phải tai họa khủng khiếp (ý muốn nói tận thế.)

     Chuyện xẩy ra vào năm 73 tỉ 113, là năm nền văn minh nhân loại đã lên đến tột đỉnh. Lúc đó mọi sự khác bây giờ rất nhiều. Chẳng hạn người ta không cần phải có quần áo che thân, chỉ cần bôi một loại lotion ngoài da là thân nhiệt lúc nào cũng cảm thấy mát rượi, nóng không sợ mà lạnh cũng chẳng ke. Không đi xe hơi mà bay bằng hai ống phóng Heli lỏng cặp hai bên mình, tới nơi tháo hai ống phóng bỏ vào túi đeo lưng, nhẹ nhàng. Tất cả mọi thứ máy móc người ta có thể mở, tắt bằng một con số riêng ở trong đầu. Làm việc với nó cũng lệnh ban ra từ cái đầu. Dân số thế giới tuy càng ngày càng ít đi vì phá thai và triệt sản tự do, nhưng lúc đó con người đã tới sinh sống trên mặt trăng và trên sao Hỏa. Đi lại giữa trái đất và hai hành tinh này dễ dàng còn hơn đi chợ. Người nào có nhu cầu đi mặt trăng và sao Hỏa thì mua một con chip gắn vào dưới da. Máy móc sẽ đọc con chip đó, và người ta chỉ cần nhấn nút là vèo một cái tới nơi rồi. Những đại gia ở Saigon, Hànội bây giờ dẫn bồ nhí đi Hồng Kông, Thái Lan, Singapore ăn tối phải lấy máy bay là cổ lỗ sĩ quá so với lúc đó. Khoa học biến robot của năm 2013 thành người y như thật, có thất tình lục dục, có trí khôn và có cả con tim biết yêu. Vì dân số giảm nên người ta phải sử dụng robot trong quân đội để bảo vệ an ninh và giữ nước. Điều trớ trêu là robot bị bóc lột và lợi dụng quá mức nên chúng quay đầu súng chống lại loài người. Nhiều cuộc chiến xẩy ra giữa con người và robot, nhưng thường thì người thắng vì có trí tuệ và khôn ngoan hơn robot.

     Đang lúc văn minh cực thịnh đó, giới khoa học thông báo một tin tức chết người: không còn bao lâu nữa sẽ là ngày “doomsday” của vũ trụ. Lập tức các nhà khoa học trên toàn thế giới được triêu tập lại để tìm cách đối phó. Trong hội nghị, cho dù các nhà khoa học lừng danh nhất cũng lắc đâu thất vọng. Đang lúc cả phòng họp bồn chồn lo lắng thì bất chợt có một ông tiến sĩ giấy gốc mít lên cầm mic đưa ra sáng kiến khiến mọi người ngơ ngác. Trước một cử toạ đông đảo có đến hàng vạn người gồm các nhà khoa học, nhà báo, và đầy đủ đại diện các chính phủ của thế giới, ông tiến sĩ trình bầy giải pháp, giọng đủng đỉnh như việc chẳng có gì là quan trọng. Theo ông thì tưởng là chuyện gì chứ chuyện này thì đâu có gì phải lo. Nếu cái vũ trụ này không có khởi đầu thì mới là chuyện đáng lo, bởi vì người ta không biết đầu, biết cuối đâu mà mò. Học thuyết Big Bang quả quyết vũ trụ có khởi đầu thì cứ từ cái khởi đầu đó mà làm lại. Nghĩa là khoa học cần phải làm một cái Big Bang khác để tạo ra một vũ trụ mới, mặc cho cái vũ trụ hiện tại bị hủy diệt đi không sao. Ông hỏi mọi người: “Chứ không thì cứ ngồi đây mà chờ chết à?” Theo ông lý luận thì vũ trụ này có doomsday là bởi vì những định luật vật lý hiện nay chưa được hoàn chỉnh. Vậy chúng ta phải hoàn chỉnh các định luật để cái vũ trụ chúng ta tạo ra sẽ không có cùng, không có doomsday. Đó là việc thứ nhất. Việc thứ hai càng dễ dàng hơn theo ông nghĩ. Ông tiến sĩ kể, hồi nhỏ ông đi coi hát ở ngoài chợ có màn ảo thuật rất hấp dẫn.  Nhà ảo thuật  đứng trên một sân khấu giữa trời, trong tay không cầm cái gì cả. Ông ta quơ tay trong không khí mấy cái rồi chộp lấy từ trong thinh không một con chim câu trắng. Tay kia ông ta cũng làm như vậy và bắt được một con chim khác cũng mầu trắng. Chim thiệt đàng hoàng đấy nhá. Để chứng minh là chim thật, nhà phù thủy thả cả hai con bồ câu ra. Chúng bay bổng vào không trung. Ông tiến sĩ giấy gốc mít hí hửng giải thích, Big Bang cho rằng vũ trụ này được làm ra từ hư vô (the universe was made of nothing,) điều này là khẳng định, không có gì cần bàn luận nữa. Nhà ảo thuật cũng làm ra các con chim cũng từ nothing. Cả hai có gì khác nhau đâu. Vậy thì tai sao các nhà khoa học của chúng ta không làm được như nhà ảo thuật. Đó là việc thứ hai. Để kết thúc sáng kiến, ông tiến sĩ già lớn tiếng hỏi mọi người: “Can you do that?” Cả hội trường đồng loạt trả lời như một tiếng sấm: “Yes, we can” và vỗ tay rào rào. (hết trích)

    Tôi viết bâng quơ, không ám chỉ ai, nhưng có lẽ đã làm ông tiến sĩ TCN chạm tự ái. Đây chỉ là vô tình. Ông TCN, ông Charlie Nguyễn, ông Trần Tiên Long, hay bất cứ ông Giao Điểm nào khác nếu có tật mà dật mình thì cứ “vô tư” (xin lỗi chữ của VGCS) Tôi vô can.

Khai bút đầu năm Con Ngựa 2014
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

TB: Tôi xin attach cả 2 bài liên hệ, của ông TCN và của chúng tôi, để quí bạn đọc có thể tham khảo nếu muốn và nếu có thì giờ. Xin chân thành cám ơn.



Cho Giới Trẻ: Ý Nghĩa của Ngày Quốc Hận 30/4



Cho Giới Trẻ: Ý Nghĩa của Ngày Quốc Hận 30/4

GS TRẦN THỦY TIÊN – M.S.



Nhân Ngày Quốc Hận 30 Tháng 4 sắp đến, trước hết xin nhắc giới trẻ sinh sau năm 1975, một ý nghĩa quan trọng mà nhiều em vẫn chưa biết: Ngày Quốc Hận là ngày buồn thảm, vì đó là ngày mà chúng ta, những người Việt ở Miền Nam Việt Nam, bị mất đất nước vào tay cộng sản Bắc Việt tàn ác, từ Hà Nội, bằng sự xâm lăng bạo lực và bất hợp pháp của bộ đội Miền Bắc vào lãnh thổ tự do của dân Miền Nam, năm 1975. Tóm tắt, Ngày Quốc Hận 30/4 là Ngày Mất Đất Nước, nói rõ hơn là Ngày mất nước Việt Nam Cộng Hòa, của tất cả những người Việt yêu tự do, nhân quyền, dân chủ, và hòa bình.

Vậy mà, có những em sinh viên ở Mỹ còn tụ tập thành nhóm, để ăn uống, vui chơi, và nhảy múa, ngay trong ngày và đêm 30/4, như đã thấy trong các năm qua. Năm nay, xin các cha mẹ nhắc nhở và giải thích cho con cháu hiểu về ý nghĩa lịch sử của Ngày 30/4 đau buồn này, vì sau ngày đó, vào khoảng nửa triệu dân Việt ở Miền Nam đã bỏ mình trên biển Đông do vượt biển.

Tôi mong các phụ huynh người Việt vẫn còn nhớ để dạy con cháu một câu tục ngữ Việt thông thường đã được phổ biến trong các trường học Miền Nam của chính thể Việt Nam Cộng Hòa, trước năm 1975: Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ. Chúng ta nghĩ sao khi thấy loài ngựa biết chia xẻ nỗi đau cho nhau và biết cư xử với đồng loại của chúng tốt hơn con người cư xử với nhau? Sự hy sinh can đảm và đầy nước mắt đó của nửa triệu đồng bào vượt biển, đã Thức Tỉnh Lương Tâm của Liên Hiệp Quốc. Nên Cao Ủy Tỵ Nạn của LHQ đã lo chi phí cho các Trại Tỵ Nạn Cộng Sản (CS) được dựng lên trên các đảo ở Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương, Thái Lan… vào khoảng các năm 1978-1988, để đón nhận những người Việt Tỵ Nạn đến sinh sống tạm thời ở đó. Rồi những người Mỹ có lòng tốt và Quốc Hội Mỹ đã kêu gọi được chính phủ Mỹ chấp thuận cứu xét giấy tờ cho người Việt Tỵ Nạn CS được định cư với cuộc đời mới ở Mỹ. Dần dần, các nước Tự Do khác trên thế giới cũng ủng hộ và cho phép chúng ta định cư trên đất nước họ, với lý do tỵ nạn chính trị, như: Úc, Gia Nã Đại, Pháp, Đức, Anh, Tân Tây Lan, Bỉ, Đan Mạch, Na Uy… Đồng bào của chúng ta đã chết cho chúng ta được sống. Vậy nỡ nào bây giờ, cha mẹ, những người Việt tỵ nạn trước đây, thản nhiên (hoặc vô tình không biết) để cho con cháu mình tụ họp, vui chơi, nhảy nhót trong các buổi tối, gần Ngày Quốc Nạn 30/4?

Kế đến, tôi muốn các em biết điều quan trọng thứ hai đã xảy ra vào hai năm 1988-1989: Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan đã hoàn thành một việc vĩ đại, giúp các tù nhân chính trị của Miền Nam, đang thống khổ lúc đó, do bị kỳ thị và bị đàn áp bởi sự độc tài của chế độ CS độc đảng trong nước. Năm 1988, Tổng Thống Reagan đã ký lệnh cho phép tất cả các Quân, Dân, Cán, Chính, của VNCH, thuộc mọi cấp bậc và trình độ (đã bị tù tập trung khổ sai, ít nhất 3 năm trở lên, dưới chế độ CSBV) và gia đình của họ, được nộp giấy tờ xin đi Mỹ, hợp pháp. Nghĩa là, họ và gia đình, không phải đi trốn bọn công an VC một cách lén lút, đầy nguy hiểm, bằng cách vượt biên như đi bộ qua Thái Lan, Cam Bốt…, hoặc vượt biển với những con thuyền nhỏ bé như một chiếc lá mong manh và chết trên sóng biển đại dương nữa.

Trước đó một năm, vào năm 1987, nhiều Nghị Viên của Quốc Hội Mỹ thuộc cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ, cùng với Phụ Tá Bộ Trưởng Ngoại Giao lúc đó, là ông Robert Funseth, đã nỗ lực hoạt động như những người điều đình để trình bầy Nghị Quyết 212. Khi họ mang nội dung của Nghị Quyết này đến thương lượng với VC trong việc thả tù chính trị của VNCH đang bị hành hạ trong các trai tù tập trung khổ sai (mà VC gian manh gọi là “học tập cải tạo”) thì bị VC chống đối mãnh liệt. Đảng CS Hà Nội nói rằng: “Không, chúng tôi không thả. Nếu thả hết bọn tù chính trị và tù quân đội VNCH này ra thì chúng đứng lên làm loạn cả nước, làm sao đảng cai trị dân được? Nước Mỹ của các anh có dám nhận hết tụi tù (dơ dáy) này qua Mỹ không thì chúng tôi mới thả…”

VC không ngờ TT Reagan đã nhanh chóng xác nhận là Mỹ sẽ nhận các tù nhân VNCH vào nước Mỹ ngay, vậy VC cứ thả họ đi. Nhờ vậy, một hiệp ước thỏa thuận đã được ký ngày 30/7/1989 bởi Hoa Kỳ và nhà cầm quyền VC. Nghị Quyết 212 hợp pháp đã giải thoát khoảng 300.000 tù nhân chính trị, và cùng với gia đình, họ được rời khỏi Việt Nam để định cư ở Hoa Kỳ.

Rõ ràng, đối với các cựu tù nhân chính trị VNCH: sau cơn mưa, trời lại sáng. Hãy hy vọng và cầu nguyện, ngay cả khi chúng ta bị phản bội, đang thất bại, hoặc gặp hoạn nạn… Tất cả rồi cũng trôi qua với cuộc đời tạm thời này… Và hãy tin rằng những ai làm việc cho chính nghĩa và nhân nghĩa, sẽ có cơ duyên hội tụ và ủng hộ nhau để thành công.

Hậu quả 30-4: tù cải tạo, công an đàn áp.

Viết Cho Ngày Quốc Hận 30/4 – GS TRẦN THỦY TIÊN – M.S.

************************************************

YOUNGER GENERATION: THE MEANING OF BLACK APRIL 30


With the coming of April 30, I’d first like to remind the younger generation, born after 1975, of one important issue many of you still don’t realize: The National Mourning Day of April 30 is a sad day because on that day, we, the South Vietnamese, lost our country into the brutal hands of North Vietnamese communists from Hanoi. With their aggressive and illegal invasion by North Vietnamese army they forced themselves into the free democratic territory of the South citizens, in 1975. Briefly, the National Mourning Day is the Day We Lost Our Country, the home land of all Vietnamese who cherish liberty, human rights, democracy and peace.

Despite this, many Vietnamese college students in America ignorantly gather in groups to party or socialize, have fun and dance on that day and night, as seen in the past years. This year, parents, please explain to your children the historical meaning of how tragic April 30th is. After that day, approximately half a million Vietnamese in the South died on their way to escape communist brutality on the Eastern Sea.

I hope Vietnamese grandparents and parents still remember to teach their children the common Vietnamese proverb that was widely taught in our Southern schools in the Republic of Vietnam before 1975: When one horse gets sick, the others in the whole stall don’t eat. We should reflect on how horses have the ability to share their pain and treat their own better than we, the human race, are able to.

The brave and tearful sacrifices of half a million Vietnamese, escaping by boat in the vast sea awakened the conscience of the United Nations. The UN High Commissioner for Vietnamese Refugees took care of the expenses to set up Refugee Camps in the Philippines, Malaysia, Indonesia, Thailand and more… from 1978 to 1988. These camps received Vietnamese refugees escaping from the communist regime and allowed temporary living. But the compassion didn’t end there. Americans citizens and US Congress appealed to the American government for documents to approve Vietnamese refugees settling in America to start their new life. Gradually, other free countries in the world supported and allowed South Vietnamese to seek asylum in their home countries, including Australia, Canada, France, Germany, England, New Zealand, Belgium, Denmark and Norway… Our compatriots died for us to live. And now how can those parents, i.e., the former Vietnamese refugees, indifferently (or unintentionally) allow their adult children to meet, have fun, and dance at night in the approaching of the National Tragic Day of April 30?

Next, I’d like the younger generation to acknowledge another important part of history from 1988 to 1989. US President, Ronald Reagan was successful in his great task, helping former political prisoners of South Vietnam who were tremendously suffering from being discriminated against and oppressed by the dictatorship of the single party communist government regime in Vietnam.
In 1988, President Reagan signed a decree permitting all Military, Citizens, Professionals and Government Officials of the Republic of Vietnam (RVN), all ranks and levels included (who suffered for at least 3 years in the VC concentration camps) and their families, could apply for settlement in America legally. Meaning, the political prisoners and their families didn’t have to escape by hiding dangerously and walking to Thailand or Cambodia, or by riding on a small boat resembling a fragile leaf and perishing on the sea waves.

Just one year before, in 1987, many US Congress members from both Republican and Democrat parties, along with former Deputy Assistant Secretary of State, Mr. Robert Funseth, made great efforts as the main negotiators to present Resolution 212. When the diplomats traveled to Vietnam to talk with Vietnamese Communists to liberate prisoners of RVN, who were enduring torturous treatment in VC concentration camps with severe hard labor (that treacherous VC called “re-education” places), the VC argued against them roughly. They said: “No, we don’t let them free. If we free those political and military prisoners of RVN, they would stand up and rebel across the country. Then, how can we control the people? Does your America accept all the (dirty) prisoners if we let them free…?”

The VC did not anticipate President Reagan would quickly affirm and reply that the RVN prisoners were welcome to immigrate to America if they were free to go. Thanks to President Reagan, an agreement between the US and VC party was signed on July 30, 1989. Therefore, Resolution 212 was considered as the legal document that liberated more than 300,000 South Vietnamese political prisoners. These Vietnamese people were allowed to leave communist Vietnam with their families to resettle and start a new life in America.

Clearly, to the former prisoners of  RVN: After the heavy rain, comes a bright sky. Let’s hope and pray, even when we are betrayed, deceived, failed, or meet adversity… All things shall pass… along with the temporary human life. Let’s trust those who work for the right cause and have kindness. We will rise above adversity, have opportunities to come across, and support one another for success.
Commemoration for April 30

TRẦN THỦY TIÊN – M.S
.


From: sangthai4
Date: Sat, 1 Mar 2014 21:32:44 -0500
Subject: Chiến dch tháng 4 đen 2014.

Chiến dch tháng 4 đen 2014.


Kính thưa quý bà con đng hương,
Nhìn nhng chiếc thuyn mong manh như thế này mà bà con đã liu mình b nước ra đi ,cũng vì không th sng chung vi CS, cũng vì hai ch T DO.
Ra đi là chp nhn mười chết mt sng , làm mi cho cá , cho hi tc. y thế mà bây gi bà con quên ri sao?
Bà con v VN , gi tin và ym tr cho VN, vô tình bà con tiếp sc cho ti ác ca CSVN tiếp sc cho vic đc tài cai tr lâu dài ca tà quyn CS. Vô tình bà con làm cho dân lành vô tôi càng ngày càng đói kh thêm , cướp git càng nhiu hơn , ph n VN b bán ra ngoi quc nhiu hơn - và mi th càng ti t hơn.
Tháng tư đen là tháng đau thương nht đó bà con , chúng tôi thiết tha kêu gi bà con

KHÔNG ĐI, KHÔNG GI , KHÔNG YM TR CHO VN TRONG THÁNG TƯ ĐEN 2014.













Doanhdoanh

Đừng mắc mưu bọn Việt cộng nằm vùng, nếu không chúng ta sẽ còn thua Cộng Sản dài dài




 
 ( bài phân tích rt hay . Xin đc k )

On Sunday, February 23, 2014 9:43 PM, an Do <> wrote:

Kính chuyển tiếp,

From: Nhân Lưu Vong <>
Sent: Saturday, February 22, 2014 8:09 PM
Subject: Dung mac muu ...

Đừng mắc mưu bọn Việt cộng nằm vùng, nếu không chúng ta sẽ còn thua Cộng Sản dài dài


Cuộc chiến Việt Nam mặc dầu đã được kết thúc trên ba chục năm nay, nhưng nhiều người vẫn còn tự hỏi: “Quân đội của chúng ta hùng mạnh như vậy, tinh thần chiến đấu của quân đội chúng ta anh dũng như vậy, nhiều quân nhân còn xâm chữ “Sát Cộng” vào cánh tay, còn đồng bào ta thì sợ Việt Cộng như cùi, như hủi, bọn chúng tới đâu là đồng bào ta bỏ chạy tới đó, vậy mà tại sao chúng ta lại thua Cộng Sản?”

Đành rằng nguyên nhân gần và trực tiếp là vì chúng ta bị đồng minh (tức Hoa Kỳ) bỏ rơi, nhưng còn nguyên nhân sâu xa là gì? Đã có rất nhiều chính trị gia, chiến lược gia, sử gia (Việt Nam cũng như ngoại quốc) đã phân tích và đưa ra rất nhiều lý do – chủ quan cũng có, khách quan cũng có – nhưng chưa thấy tác giả nào nói tới hai lý do Đạo Đức và Luật Pháp. Vì đạo đức, nên chúng ta đã không thể hành động như Cộng Sản, là: “thà giết lầm còn hơn tha lầm”. Bắt được những tên Cộng Sản hay những tên Việt Gian “Ăn Cơm Quốc Gia Thờ Ma Cộng Sản”, chúng ta vẫn đối xử với chúng một cách nhân đạo. Hẳn chúng ta còn nhớ, vào khoảng năm 1955-1956, một phong trào có tên là “Phong Trào Hòa Bình” đã được các tên như: Phạm Huy Thông, Lưu Văn Lang, Trần Kim Quan v.v…thành lập. Đây là một phong trào Thiên Cộng, hoạt động với mục đích hỗ trợ cho Việt Cộng nổi dậy. Nhưng khi bị phá vỡ (và bị bắt), thì chính phủ Ngô Đình Diệm cũng chỉ tống xuất một vài tên chủ mưu qua cầu Hiền Lương (ra Bắc) mà thôi.

Đến đầu năm 1965, cũng có một phong trào khác mang tên tương tự là “Phong Trào Tranh Đấu Bảo Vệ Hòa Bình” do những tên Việt Gian “Ăn Cơm Quốc Gia Thờ Ma Cộng Sản” thành lập. Như Thượng Tọa Thích Quảng Liên; Bác Sĩ Thú Y Phạm Văn Huyến; Nhà Báo Phi Bằng tức Cao Minh Chiếm; Giáo Sư Tôn Thất Dương Kỵ; Bác Sĩ Lê Khắc Quyến.. v..v… Gần 30 thành viên của phong trào này đã bị bắt giữ, trong đó có Cao Minh Chiếm, Tôn Thất Dương Kỵ và Phạm Văn Huyến. Tướng Nguyễn Chánh Thi đã đề nghị thả dù bọn này ra bắc vĩ tuyến 17 tức bên kia cầu Hiền Lương cho Việt Cộng. Nhưng Thủ Tướng Phan Huy Quát vì lý do nhân đạo, sợ làm như vậy bọn chúng có thể gẫy chân, què tay vì bọn chúng đâu biết nhẩy dù, nên đã lấy cớ rằng nếu làm như vậy thì quốc tế sẽ chỉ trích, và chỉ đồng ý giải giao bọn chúng cho Việt Cộng bằng đường bộ qua cầu Hiền Lương.

Vì luật pháp, chúng ta cũng không thể cho chúng “mò tôm” (như bọn Cộng Sản đã làm đối với những Người Quốc Gia) mà chúng ta phải đưa chúng ra tòa để xét xử theo luật pháp. Nhiều khi chúng ta còn rất nhẹ tay với chúng. Dù có tội, thì cũng chỉ giam giữ ít lâu rồi lại thả ra. Trường hợp tử hình, thật là hiếm. Không những thế, nhiều khi còn để tình cảm lấn áp. Do đó, có những trường hợp kẻ bị bắt có thế lực hoặc có liên hệ với các ông lớn trong chính quyền VNCH được can thiệp và cho tại ngoại ngay từ lúc mới bị bắt, hoặc được cho biết trước để chạy trốn hay phi tang chứng cớ.

Trường hợp điển hình là trường hợp của Trần Đình Ngọc, giáo sư trường Đại Học Khoa Học Saigon; vì có hoạt động cho Việt Cộng nên bị bắt. Ông Nguyễn Chung Tú, Khoa Trưởng Trường Đại Học Khoa Học Saigon đã lấy tư cách và uy tín của mình để bảo lãnh cho ông Ngọc. Vì thế, ông Ngọc không những đã được tại ngoại mà cũng chẳng phải ra toà lãnh một án nào cả.

Trong Tết Mậu Thân 1968, đã không thiếu gì những tên Việt Cộng giết người một cách dã man, giết người một cách vô tội vạ, giết người hàng loạt, vậy mà đâu có ai đưa bọn chúng ra tòa? Còn chúng ta, nếu vì quá tức giận trước những hành động độc ác, dã man của bọn chúng, rồi tự ý giết một tên Việt Cộng nào đó, thì dù cho ta có đầy đủ lý do chính đáng đến đâu đi nữa, cũng vẫn bị kết tội là dã man, là vô nhân đạo! Nếu không bị đưa ra tòa, thì cũng bị nhiều người phê bình và thế giới nguyền rủa. Đó là trường hợp của Tướng Nguyễn Ngọc Loan, đã xử tử tên Việt Cộng Nguyễn Văn Lém (tự Bẩy Lớp), kẻ đã sát hại cả gia đình một vị Sĩ Quan Cảnh Sát vào Tết Mậu Thân 1968.

Ngày nay, ở hải ngoại cũng vậy. Những Người Chống Cộng luôn luôn bị một số người thích vịn vào lý do Đạo Đức, Văn Hóa (để) chỉ trích. Nếu chống cộng hăng say quá thì bị họ chỉ trích là quá khích. Nếu dùng từ ngữ mạnh mẽ quá, hay bình dân quá, thì sẽ bị họ phê bình/chỉ trích là ấu trĩ, là thiếu văn hóa, là phản tuyên truyền. Có khi còn bị họ nhục mạ là hạ cấp, là vô học này nọ. Bọn Việt Cộng ăn gian nói dối cả trăm ngàn lần, nhưng dân chúng sống trong nước đâu ai dám nói gì! Trái lại, ở hải ngoại, nếu có ai vì chống cộng mà nói sai một chút, nói quá lời một chút (mà đâu có phải nói họ, chỉ là nói bọn Việt Cộng hoặc bọn Việt Gian Cộng Sản) là sẽ bị họ chỉ trích/phê bình liền. Thậm chí sẽ còn bị họ mạ lỵ. Bọn người này, không biết họ thuộc loại nào? Có thể là bọn Việt Cộng nằm vùng, có thể là bọn Việt Gian Cộng Sản, cũng có thể chỉ vì cảm tình cá nhân. Nhưng nếu ta nói ra, chỉ mặt, thì họ lại la làng là bị chụp mũ này, mũ nọ. Có điều chắc chắn, là ta không bao giờ thấy họ viết một bài nào chống cộng, hoặc nếu có thì cũng chỉ hời hợt, vô thưởng, vô phạt để chứng tỏ ta đây cũng là “Người Chống Cộng”…

Còn khi viết những bài viết để chỉ trích những Người Chống Cộng thì họ phê bình/chỉ trích tới nơi, tới chốn! Gọi ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam là Chính Quyền Việt Nam mà bị chỉ trích thì đã đành. Nhưng viết hai chữ Cộng Sản là CS hay Việt Cộng là VC mà cũng bị chỉ trích, hoặc khi ta gọi bọn bưng bô cho Việt Cộng (làm lợi cho Việt Cộng) là Việt Gian Cộng Sản mà cũng bị chỉ trích, thì thật là hết chỗ nói! Trong khi đó, bọn Việt Cộng đang tung ra hải ngoại không biết là bao nhiêu là cán bộ đội lốt ca sĩ; “du sinh”; thầy tu; bất đồng chính kiến ..v.v…thì chẳng thấy những người này nói tới.

Chính vì vậy, mà ngày nay, “văn hóa phẩm” của Việt Cộng tha hồ bày bán trên thị trường hải ngoại, và bọn Việt Gian/bọn tay sai Cộng Sản tha hồ tung hoành để tổ chức đại nhạc hội gây qũy từ thiện, nhiều khi bọn chúng còn dám tổ chức triển lãm, hội thảo nữa, mà cũng chẳng mấy ai dám nói tới, nên càng khiến cho bọn chúng thêm lộng hành. Trường hợp Cô Tim và “Căn Nhà May Mắn” là một thí dụ điển hình. Cô được Hội Người Việt tại San Fernando Valley, California tổ chức buổi “Văn Nghệ Gây Quỹ” cho cô vào ngày 25 tháng 10 năm 2008. Cô Tim không những không chào cờ Việt Nam Cộng Hòa đã đành, cô còn ra lệnh cho ông Chủ Tịch Richard Mười Trương và những người trong ban tổ chức phải dẹp bỏ Cờ Càng Ba Sọc Đỏ đi, thì cô mới chịu “đăng đàn” nói chuyện. Vậy mà ông Chủ Tịch Mười Trương và những thành viên trong ban tổ chức cũng răm rắp nghe theo (?). Thà cứ như chùa Pháp Vân ở Canada trong buổi gây qũy cho cô Tím, chẳng cờ quạt gì cả còn hơn. Đằng này, ông Chủ Tịch Mười Trương cũng chào cờ Quốc Gia, cũng hát quốc ca VNCH, cũng mặc niệm, nhưng khi nhân vật chính là cô Tim, lên diễn đàn nói chuyện, thì ông lại nghe lệnh cô Tim để dẹp Cờ Vàng đi. Hành động này không khác gì mượn danh từ thiện để hạ nhục Cờ Quốc Gia VNCH! Ấy vậy mà vẫn còn có kẻ bênh vực cho cô Tim, vẫn đòi hỏi phải có bằng cớ rõ ràng, mới có thể kết tội cô là người của Việt Cộng. Chắc bọn Việt Gian Cộng Sản muốn chúng ta phải trưng ra thẻ đảng viên của cô, hay ít nhất cũng phải có giấy công tác của cô do Việt Cộng cấp (?).

Và gần đây, ngày 7/5/09, Tiêu Dao Bảo Cự, một tên bất đồng chính kiến cuội, đã được bọn Việt Cộng cho sang Hoa Kỳ và đã tới trường Đại Học Berkeley, thuyết trình về nhà thơ Hữu Loan, với bài thơ Đồi Tím Hoa Sim, nhưng chẳng thấy y nói gì tới bài thơ Đồi Tím Hoa Sim, mà chỉ thấy y khuyến dụ sinh viên về nước giúp ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam. Ngày nay, bọn Việt Cộng đã biết rằng cái “chính nghĩa” của chúng (do sự tuyên truyền và bịp bợm mà có) không còn có thể che dấu ai được nữa, nhất là với đồng bào hải ngoại. Do đó, chúng đã tìm mọi cách để xâm nhập vào cộng đồng Người Việt Hải Ngoại, để tìm cách chia rẽ và phá hoại sự đoàn kết của chúng ta. Chúng như con bạch tuộc! Nếu con bạch tuộc có nhiều chân, thì bọn Việt Cộng lại có nhiều tiền. Bọn chúng sẵn sàng tung tiền ra để mua chuộc những thành phần lưu mamh, ham danh, hám lợi.

Những thành phần ngu dốt, mê muội, tưởng chế độ Cộng Sản đã thay đổi, tưởng chúng thật sự muốn “hòa hợp – hoà giải” với Người Quốc Gia để xây dựng đất nước. Do đó, chúng ta thấy ở bất cứ nơi nào, hội đoàn nào, diễn đàn nào, cũng có đầy dẫy nhưng kẻ luôn luôn tìm cách phá thối, lũng loạn, để gây chia rẽ.

Tóm lại, đã gọi là chống cộng thì phải chống cộng tới nơi, tới chốn. Bởi vì bọn Việt Cộng là một bọn cướp vô học. Mà không những vô học, bọn chúng còn dã man, còn tàn bạo như dã thú. Chống chúng, ta không thể dùng những lý lẽ của Khổng Tử, những lời dạy của Đức Phật hay của Đức Giê-Su, mà ta phải dùng lời lẽ của những bà mẹ nông dân Việt Nam, hay ít nhất cũng phải là những lời lẽ của những người bình dân đang bị VC cướp của, cướp nhà hiện nay.

Những ai không chống cộng hay không dám chống cộng vì còn muốn về Việt Nam làm ăn với Việt Cộng hay về Việt Nam để ăn chơi du hí, thì xin hãy im mồm lại, để người khác chống cộng. Đừng giở trò Đạo Đức Giả, đừng làm “Quân Tử Tàu”, mà chỉ trích người khác.

Thật buồn, khi thấy trên các báo chí cũng như trên các diễn đàn, những bài chống cộng thì ít mà những bài chống nhau thì nhiều! Chúng ta phải coi chừng, đừng mắc mưu bọn Việt Cộng nằm vùng hoặc bọn Việt Gian Cộng Sản, rồi quên đâm thẳng mũi dùi vào bọn Việt Cộng, mà lại quay mũi dùi đâm vào anh em. Nếu không, chúng ta sẽ còn thua Việt Cộng dài dài. Cổ nhân đã dạy : “Đi với Bụt, mặc áo Cà Sa, Đi với Ma, mặc Áo Giấy.”

Thẩm phán Lê Duy San
 


Featured Post

Tên các Quốc gia mà người Sài Gòn hay gọi trước năm 1975

https://www.facebook.com/groups/miennamvietnam/posts/1953798441526381/ https://www.facebook.com/buianhhuy095096/posts/t%C3%AAn-c%C3%A...

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List