QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Sunday, June 29, 2014

Biểu tình 19/7 tại San Francisco & Hội luận 20/7 tại San Jose


Truong Nhan 
To 

Saturday, 28 June 2014 15:07
Written by Administrator
TÂM THƯ

Kính thưa quý đồng hương,

Ngày 2 tháng 5 vừa qua, Trung Cộng bất chấp các công ước quốc tế đã đặt giàn khoan HD 981 của chúng tại vị trí thuộc đặc quyền lãnh hải Việt Nam, ngang nhiênxâm chiếm vùng biển, trực thuộc chủ quyền Việt Nam chúng ta. Như bao người con dân Việt ở trong và ngoài nước, lòng chúng tôi đã không khỏi quặn thắt, uất nghẹn trước nỗi đau chung của tổ quốc: Ngoài biển khơi bọn Trung Cộng ngang ngược xâm chiếm, trên đất liền bọn Trung Cộng dày xéo miền Tây Nguyên, và nhiều nơi khác, bởi bàn tay bán nước của bạo quyền Cộng Sản Việt Nam. Lòng dân căm phẫn ngút trời, khắp nước rầm rộ đứng lên, biểu tình, lên án bọn xâm lược Trung Cộng và cả chế độ Cộng Sản Hèn Với Giặc, Ác Với Dân.
Tinh thần bất khuất, ý chí quật cường không cúi đầu khuất phục của cha ông trước ngoại xâm tại Hội Nghị Diên Hồng năm xưa còn đó. Âm vang như hịch truyền đã trỗi dậy, dạt dào trong huyết quản của mỗi anh em chúng tôi. “Trước VẬN nước, nên hòa hay nên chiến?” “Quyết chiến! Quyết chiến!” “Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh?” “Hy sinh! Hy sinh!”

Hôm nay, trước tình cảnh sơn hà nguy biến, giặc trong giặc ngoài, chúng tôi gồm một số hội đoàn và tổ chức thanh niên sinh viên thuộc thế hệ tiếp nối cùng với các Hội Đoàn Người Việt Quốc Gia tại Bắc Cali, sẽ phối hợp để tổ chức hai buổi sinh hoạt mang chủ đề:

“Mẹ VIỆT NAM ơi, Chúng Con Vẫn Còn Đây!”

· BIỂU TÌNH trước Lãnh Sự Quán Việt Cộng và Trung Cộng tại San Francisco THỨ BẢY, Ngày 19 tháng 7, 2014 lúc 11:00AM 1700 California Street, San Francisco, CA 94109

· HỘI LUẬN Tâm Tình Tuổi Trẻ về Tương Lai Việt Nam CHỦ NHẬT, Ngày 20 tháng 7, 2014 từ 1:00PM - 5:00PM Trường Independence High School 1776 Educational Park Drive, San Jose, CA 95133 (phía đường N. Jackson Ave. góc McKee Road)

Trân trọng kính mời quý đồng hương và các bạn trẻ sốt sắng đến tham dự.

Sự tham gia đông đảo của các thế hệ cha anh, của quý đồng hương, và đặc biệt của các bạn thanh niên sinh viên sẽ là một niềm khích lệ lớn lao cho Ban Tổ Chức. Sự tham dự của liệt quý vị còn chứng tỏ hùng hồn rằng lửa đấu tranh bất khuất của dân tộc sẽ mãi được tiếp tục thắp sáng để sớm ngày đốt tan chế độ Cộng Sản bán nước, đem lại Tự Do, Dân Chủ và giành lại toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải trên quê hương Việt Nam thân yêu.

Chúng tôi thiết tha kêu gọi và kính mong đón nhận sự tiếp tay phối hợp của các Hội Đoàn, Tổ Chức bằng cách ghi tên vào danh sách bảo trợ, để nội dung sinh hoạt được phong phú thêm và đạt được kết quả mong muốn.

Trân trọng,

San Jose, ngày 25 tháng 6 năm 2014
Thay mặt Ban Tổ Chức,


• Đoàn Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu Bắc California
• Hội Sinh Viên Việt Nam Independence High School
• Đoàn Thanh Niên Sinh Viên Cờ Vàng Bắc California

Liên Lạc:
- Nguyễn Minh Huy (408) 515-3478
- Cao Diễm Đoan Trang (510) 709-7172
- Cao Đức Thịnh (408) 768-9774
- Lê Phùng Ân (408) 887-5117
- Kevin Phan (408) 318-9133
- Nguyễn Thị Thu Vân (408) 887-5238
- Vivian Huỳnh (408) 618-9436
- Phạm Võ Thanh Danh (209) 969-5420

E-mail: tuoitrecovang@yahoo.com






Hồn Nhiên
To 
 Today at 5:31 PM
PHONG TRÀO LIÊN KẾT DÂN CHỦ

THÔNG CÁO BÁO CHÍ

Kính thưa các cơ quan truyền thông báo chí, kính thưa quý bậc trưởng thượng, quý thân hào nhân sĩ, quý hội đoàn và các đảng phái đấu tranh cho Tự Do, Dân Chủ tại quê nhà và các bạn trẻ đang tích cực hỗ trợ cho những công cuộc đấu tranh chung trong cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản.
Nhằm mục đích tạo sự liên kết giữa những anh chị em có tấm lòng quan tâm đến sự tồn vong của đất nước và dân tộc, theo truyền thống hàng năm,  Phong Trào Liên Kết Dân Chủ chúng tôi mỗi năm đều tổ chức một buổi họp mặt với tinh thần liên kết, tạo sức mạnh cho phong trào đấu tranh tại hải ngoại. Năm nay, chúng tôi chọn địa điểm là miền Nam Calfornia, với sự quy tụ của nhiều anh chị em đang sống rải rác khắp nước Mỹ và những anh chị em sống ngoài nước Mỹ như Na Uy, Úc, Canada, Pháp v.v…v.v. Trong buổi họp mặt này, chúng tôi tạo điều kiện thắt chặt tình thân, hiểu biết lẫn nhau, đem những kiến thức về kỹ thuật truyền thông mạng xã hội san sẻ cho nhau, hoặc cùng nhau vận động dư luận Hoa Kỳ chú ý hơn nữa về vấn đề Nhân Quyền, Dân Chủ tại Việt Nam, ngõ hầu giúp cho người dân Việt Nam thoát khỏi ách thống trị của nhà cầm quyền Cộng Sản độc tài.
Chương trình sinh hoạt sẽ bắt đầu từ ngày 24/7/2014 và kết thúc chiều ngày 27 tháng 7 năm 2014, và đặt trọng tâm vào 2 ngày quan trọng:
·        Hội luận với các diễn giả hải ngoại và các nhà đấu tranh trong nước với nhiều chủ đề khác nhau về Nhân Quyền, về sự toàn vẹn lãnh thổ. Địa điểm: Thư Viện Việt Nam. 10872 Westminster Ave. Garden Grove CA. Điện thoại 714-560-6190
·        Chương trình văn nghệ đấu tranh với những dòng nhạc ghi lại niềm trăn trở, thao thức của những tấm lòng trĩu nặng tình tự quê hương, dân tộc. Chương trình này sẽ do ca sĩ Thu Sương (tức Hạt Sương Khuya) từ Pháp Quốc đảm trách. Địa điểm: Hội Trường VNCR, 14861 Moran St. Westminster, CA.
 Chúng tôi tha thiết kêu gọi sự tham gia, góp mặt của quý vị, giúp cho công cuộc đấu tranh thêm phần hữu hiệu, vì công cuộc này, không chỉ là trách nhiệm của Phong Trào chúng tôi, mà là trách nhiệm chung của những tâm hồn đang khắc khoải hướng về quê hương Việt Nam.
Mong lắm thay,
T/M Phong Trào Liên Kết Dân Chủ
Đỗ Bùi Tiên Jane: j.dobui@gmail.com     _   https://www.facebook.com/jane.db.9ref=tn_
Nguyễn Đình Minh Quốc: quocnguyen_2000@yahoo.com _Điên thoại l/lạc: 832-866-7350




Hai chữ Việt Nam



Việt Nam, Việt Nam…
hai tiếng gọi thật êm đềm tha thiết
Nghe ngọt ngào nhưng buốt giá tận trong tim…

Người ta thường nói rằng thời gian là liều thuốc có thể chữa lành mọi vết thương nói chung, rồi khi vết thương lành thì hết đau… nhất là về tâm lý và tinh thần. Kinh nghiệm này đã sai đối với người Việt Nam và đặc biệt là khối người Việt Nam có tinh thần quốc gia sống trên phần lãnh thổ Miền Nam từ sau Hiệp định Genève.

Càng đọc kỹ lại lịch sử cận đại và nhìn vào hoàn cảnh đất nước hiện nay càng thấy rõ ràng là kể từ khi có cái chủ thuyết cộng sản du nhập, quê hương Việt Nam bắt đầu mang thêm tai ách của một cái nghiệp chướng bên cạnh những khổ nạn đến từ chế độ nô lệ ngoại lai. Miền Đất Mẹ chẳng những đã bị bầm giập với các vết thương do ngoại nhân chia cắt mà còn mỗi ngày thêm những vết nội thương nhức nhối hơn, bởi chính một số người Việt Nam vong thân, mất gốc gây nên. Cái số người này nếu còn có thể nói chung là “đồng bào”, là anh em theo nghĩa của huyền sử một bọc trăm trứng thì đấy chính là những đứa con bất hiếu, bất mục và phá gia chi tử… mà cứ động mở miệng ra thì toàn là lưỡi cú diều uốn nắn ngôn từ thành những khẩu hiệu trí trá như những vết cắn xước da, nát thịt anh em. Đến nay thì miền Đất Mẹ đã giống như một thân thể bị làm độc thành lở loét vì những vết thuơng do các đứa con mất nết kết bè lập đảng gây ra trong hơn ba phần tư thế kỷ nay. 

Cái mô hình xã hội chủ nghĩa mà ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đã thêm vào hai chữ Việt Nam để cưỡng gán cho đất nước, dùng nó làm đạo bùa ma quái dối gạt bao lớp người Việt bấy lâu, nay chỉ còn là tờ văn tự bán nước với chữ ký của gần ba triệu đảng viên lớn nhỏ. Cái đám người cộng sản này đã biến hai chữ Việt Nam thành một nhãn hiệu thật tội nghiệp, thật đau xót cho tổ tiên, cho gần chín chục triệu con dân còn lại.

Những thứ phù phép chính trị của người cộng sản Việt Nam đã tận dụng như đấu tranh giai cấp, giải phóng dân tộc, xây dựng một xã hội bình đẳng giữa người với người để không còn bất công, bóc lột, đàn áp… vân vân… và… vân vân… giờ đây chỉ còn là sự thật trần trụi của cái bánh vẽ với các đường nét vụng về đã nhoè nhoẹt thành tỳ ố. Người dân đã nhìn thấy đủ hết hai mặt của một tấm phông vẽ. Những gì là thực sự bất công; là thực sự bóc lột; là những thủ đoạn nham hiểm và bạo lực để đàn áp dân chúng… cũng chính là nền tảng của chế độ hiện nay. Và cũng từ đó suy ra, bất cứ cái gì đã được nêu lên thành khẩu hiệu thì đó là cái không có thật trong cuộc sinh hoạt của xã hội Việt Nam kể từ khi những người cộng sản nắm quyến. 

Cho đến nay, khối dân tộc gần chín chục triệu đã chia nhau bao nhiêu kinh nghiệm xương máu với những ung nhọt càng ngày càng xưng tấy lên... cắn rứt hết những con người Việt Nam nào miệng còn thơm mùi sữa mẹ Âu cơ với một tấm lòng đầy trắc ẩn về tiền đồ của đất nước, của dân tộc. 

Ai đến miền Bắc Việt Nam sau năm 1954 và cả miền Nam sau năm 1975 đều nhận thấy cái khẩu hiệu “không có gì quý hơn độc lập, tự do” luôn luôn được đem vẽ vời ở khắp nơi; từ những mặt tiền cơ sở uy nghi bề thế của chế độ đến những bức tường loang lổ khắp hang cùng ngõ hẻm, quả là trâng tráo và mỉa mai. Nó chẳng khác gì một lời xác nhận với cả nước là thứ quý hiếm này ở đây không có đâu. Thành vậy mà phải có những người mạnh dạn quyết đòi cho có, quyết đấu tranh để tìm cho được cái thật hiếm hoi này.

Năm nay là năm thứ 39 Miền Nam tự do mất vào tay đảng cộng sản. Năm nay cũng là năm thứ 39 cả nước cùng chung nhau một cái ách bằng chữ nghĩa thậm xưng là “thống nhất” để cả nước khốn khổ; để cả nước dắt díu nhau làm nô lệ Tầu. Đã 39 năm những người Việt ở Miền Nam bỏ nước ra đi sống đời du mục kiểu mới; lang thang khắp cùng thế giới mà chưa có ngày về. 

Dân Do thái trong thời gian bị mất nước, lang thang đủ nơi xứ lạ quê xa nhưng chắc chắn họ không khi nào quên về thân phận của họ là những người dân mất nước. Bởi thế, như một nỗi thao thức khó nguôi, họ đã nhắc nhở cho nhau mối tình hoài hương bằng lời chào mang tròn ý ước hẹn “Năm tới ta về Jérusalem – L’an prochain à Jérusalem”. Thế rồi họ đã về, về trong vinh quang đẫm đầy mồ hôi, máu và nước mắt nóng. 

Chúng ta mỗi người Việt Nam, cách riêng người dân của phần đất tự do còn lại sau hiệp định chia cắt năm 1954, còn lại ở trong nước hay ngoài nước sau cuộc đổi đời 30/4/1975, tưởng cũng đã nếm đủ những tủi hờn nơi mỗi cuộc đời; đã đếm đủ những mất mát, những đổ vỡ từ hậu quả về một cuộc phế hưng của dân tộc và nhất là cũng thật thấm thía cho một bài học lịch sử với những giá trị bị lật ngược; những trật tự bị đảo lộn; những sinh hoạt nền tảng từ trong nhà đến ngoài xã hội; những mất còn rối tung… cứ như thời gian bị quay ngược vòng kim đồng hồ. Một bài học lịch sử vừa mở ra.

Các danh nhân như Winston Churchill hay George Santayana và nhiều người nữa đã từng chia sẻ chung một kinh nghiệm rằng “Những ai không học những kinh nghiệm từ lịch sử thì sẽ tái diễn nó”. Học không phải chỉ là nhớ suông hay để mang nặng hận thù mà là để nhắc nhở cho từng thế hệ kế thừa rằng gắn bó với quá khứ không phải chỉ để tự hào, hãnh diện về những chiến thắng kiêu hùng của tiền nhân anh dũng mà còn là cơ hội để những người trong hiện tại phải đấm ngực ăn năn về những điều ê chề đáng tủi hổ mà mỗi người đều chung trách nhiệm… để lấy đó làm gương mà giảm bớt đi những tai ương, những kiếp nạn có thể tránh cho đất nước. 

Bài học lịch sử của Việt Nam hiện nay không những chỉ học mà còn phải thuộc nằm lòng nữa. Học để rồi truyền lại cho con cháu như những bản chúc thư của hàng hàng lớp lớp người đã ngã xuống trên giải đất chữ S. Của cả một dân tộc đã nếm đủ mùi vị đau thương của chiến tranh vừa do ngoại bang xâm chiếm, nhưng cũng vừa bởi tham vọng của một số người đã làm nên trang sử nội chiến. Kết quả là đất nước như một thị trường bỏ ngỏ cho các siêu cường thi đua thử nghiệm và rao bán vũ khí. Như một tấm vải để người ta nhuộm thử mầu cờ sắc áo. 

Những người trẻ Việt Nam của thế hệ 1945 – 1975 đã phải oằn vai dưới gánh nặng của một giai đoạn lịch sử nghiệt ngã. Rồi sự chia cắt đã đem đến cuộc nội chiến tối tăm nhất của đất nước suốt 20 năm. Rồi chỉ thoáng một cái là nửa miền đất nước như rơi vào định mệnh giống như câu Thánh vịnh “con như người thợ dệt, đang mải dệt đời mình, bỗng nhiên bị tay Chúa cắt đứt ngay hàng chỉ…” Song ở đây lại là một định mệnh không có phần tâm linh mà chỉ là những áp đặt oan khiên của trò chơi chính trị… Chỉ như một thoáng ngủ gục ơ hờ, một cái vấp chân vừa ngã xuống chưa kịp gượng dậy thì đã tối tăm cả mặt mũi vì cơn lốc chủ nghĩa trườn tới mà lúc mở được mắt ra nhìn mới biết rằng đã chậm. 

Bây giờ cũng đã 39 năm trôi qua và hình như cũng đã có những người không còn muốn nhớ gì nữa để buông bỏ quá khứ. Nếu chỉ nhìn cái mốc điểm 30/4/1975 như là một khúc quanh của lịch sử phải chấp nhận theo lẽ biến thiên thường tình thì xét cho cùng, người ta muốn quên cũng đúng thôi. Song nếu nhớ ra rằng cái ngày lịch sử này là kết quả tất yếu phải đến chỉ vì những quan niệm lầm lạc, những cố chấp không chính đáng theo phe nhóm, những tham vọng bất cập của cá nhân và tập thể, những tà niệm đầy sân si… mà đã chôn vùi miền tự do còn lại của đất nước vào chung một hố thẳm diệt vong thì có quyền quên hay không? Và tại sao lại phải quên khi vì vậy mà cả nước đã phải hấng chịu nó như là một thử thách của nhận thức, như một cái giá đã phải trả quá đắt về cái gọi là ý hệ này, ý thức nọ? Lại nữa, bản thân mình còn đây, con cháu mình đang cần phải được biết về một nguồn cội và dân tộc phải sinh tồn trong độc lập, tự do, no ấm thì có nên quên hay không? Thái độ buông xuôi của mỗi người phải chăng sẽ như lời Đức Hưng Đạo Vương kết tội là… "khác nào như quay ngọn giáo mà đi theo kẻ thù…” vậy.

Ngày 30/4 năm tới là đúng 40 năm Miền Nam bị mất tự do, cả nước bị xiềng chung một cái cùm chủ nghĩa và gần chín chục triệu đồng bào mang danh con Hồng cháu Lạc sẽ bị chôn chung trong cái hố diệt vong. 

Tuy nhiên, hơn lúc nào hết, từ trong nước ra đến khắp nơi ở hải ngoại, căn bệnh thờ ơ, vô cảm vẫn đang lây lan và càng ngày càng phát tác như một khối u ác tính. Đây không đơn giản là một thứ dịch mà còn nguy hiểm hơn tội ác vì đã đồng loã với tập đoàn bán nước, buôn dân. 

Trong một năm này, ước chi mỗi người Việt Nam lưu vong khắp nơi trên thế giới sẽ chịu bắt đầu hỏi nhau khi gặp gỡ: “Bốn mươi năm rồi đủ chưa”.... Rồi từ câu hỏi này, sẽ tuỳ vào câu trả lời nơi thâm tâm mỗi người mà kết nên lời hẹn ước “Năm tới ta về Sài gòn, về Việt Nam” bằng quyết tâm như David Ben Gourion, thủ tướng đầu tiên của Do thái đã nói “Một quốc gia thì phải xây dựng bằng mồ hôi và nước mắt”.

Có vậy mới hy vọng hai chữ Việt Nam không còn bị ghép vào với những tên gọi đảng cộng sản hay nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa. Cùng trong một hướng tới này, các danh xưng cộng đồng Người Việt ở nơi này, nơi khác sẽ hân hoan góp vào cho hàng chữ Quốc gia Việt Nam được phục hưng trên trường quốc tế, như những vì sao đêm tắt đi nhường chỗ cho một ngôi sao mai bừng sáng.





8 CÂU NÓI TUYỆT VỜI NHẤT TRÊN THẾ GIỚI (NÊN ĐỌC). 

---------------------------------------------------------------------------
1. "Đừng bao giờ đùa giỡn với cảm xúc của người khác, bởi vì bạn có thể giành chiến thắng, nhưng hậu quả là bạn chắc chắn sẽ mất đi người đó trong suốt cuộc đời của bạn.” - (Shakespeare).

2. "Thế giới phải chìm đắm trong đau khổ không phải vì tội ác của những kẻ xấu, mà là vì sự im lặng của những người tốt". - (Napoleon).

3. "Tôi rất biết ơn tất cả những người đã nói KHÔNG với tôi. Nhờ vậy mà tôi biết cách tự mình giải quyết sự việc." - (Einstein).

4. "Nếu tình bạn là điểm yếu lớn nhất của bạn, thì bạn chính là người mạnh mẽ nhất trên thế giới." - (Abraham Lincoln).

5. "Một người tươi cười không có nghĩa là họ không có nỗi buồn. Điều đó có nghĩa là họ có khả năng đối phó với nỗi buồn đó.” - (Shakespeare).

6. "Cơ hội giống như bình minh, nếu bạn chờ đợi quá lâu, bạn có thể bỏ lỡ nó". - (William Arthur).

7. "Khi bạn ở ngoài sáng, tất cả mọi thứ đều theo bạn, nhưng khi bạn bước vào bóng tối, ngay cả cái bóng của bạn cũng không đi theo bạn nữa." - (Hitler).

8. “Đồng tiền luôn phát ra âm thanh. Nhưng tờ tiền thì luôn im lặng. Vì vậy, khi giá trị của bạn tăng lên, thì hãy luôn luôn giữ yên lặng.” - - (Shakespeare).




__._,_.___

Posted by: hung vu

NHỮNG LÝ LUẬN ĐƠN GIẢN, SAI LẦM VÀ ẢO TUỞNG CỦA KARL MARX CÙNG NHỮNG NGƯỜI CỘNG SẢN


                NHỮNG  LÝ LUẬN ĐƠN GIẢN, SAI LẦM VÀ ẢO TUỞNG CỦA

                             KARL MARX CÙNG NHỮNG NGƯỜI CỘNG SẢN
   

MỘT CƠN MƯA ĐÁ VÀO CS 113 - HÃY CÓ THÊM NHIỀU CƠN BÃO ĐÁ VỀ CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN


   Cách đây cả bao ngàn năm, trong Kinh Thánh, có câu : » Nó tự ru ngu bằng những lý luận đơn giản, sai lầm và ảo tưởng.Nó tự khoác lên người một cái áo đạo đức giả ; nhưng bản chất đích thực của nó là gian manh, lừa đảo, ác ôn và côn đồ. Nó đã hạ thấp hình ảnh tốt đẹp và cao thượng của con người xuống hàng loài bò xát và rắn rết. »

   Suy ngẫm lý thuyết của Marx, việc làm của những chế độ cộng sản trong thế kỷ qua và của một vài chế độ còn lại trong thế kỷ nay, có người cho rằng câu Kinh Thánh trên, mặc dâu đã cách đây hàng ngàn năm, lại áp dụng đúng cho lý thuyết của Marx, cho việc làm và bản chất đích thực của người cộng sản.

   Có phải như thế không ?

I)                   Những lý luận đơn giản, sai lầm và ảo tưởng của Marx

Thực vậy, Marx đã đơn giản hóa tối đa lý thuyết của mình, vì vậy nó trở nên sai lầm và ảo tưởng ; mặc dầu Marx tự nghĩ rằng lý thuyết của mình đúng và không ảo tưởng. Marx viết : «  Những người cộng sản có thể tóm gọn lý thuyết của mình trong một câu duy nhất : bãi bỏ quyền tư hữu. » ( K. Marx – Le manifeste du Parti communiste – trang 36 – Union générale d’Editions - Paris – 1962).

Đây là một câu nói vô cùng đơn giản mọi vấn đề, mọi sự việc. Marx viết câu này làm cho người ta có thể hiểu thêm là những gì Marx viết về triết học duy vật, về duy vật biện chứng, duy vật sử quan là phụ, không quan trọng, không cần cho người cộng sản, vì người cộng sản chỉ cần để trong đầu câu : «  Bãi bỏ quyền tư hữu. »  là đủ rồi. 

Trên thực tế là như vậy, Hồ chí Minh mà nhiều người cộng sản, nhất là cộng sản Việt Nam cho là «  vĩ đạỉ », khi theo cộng sản còn chưa phân biệt nổi Đệ Nhị và Đệ Tam Quốc tế Cộng sản, như chính ông ta tự thú trong quyển Cuộc đời Hồ Chủ Tịch,  tác giả là Trần dân Tiến, chính là ông. Và ngay dù ông có đọc Marx, thì với trình độ học chua qua khỏi lớp năm trường làng, thì làm sao hiểu nổi. 

Cách đây bốn năm, ông Lý thụy Hoàng, nhân vật thứ tư của Đảng Cộng sản Tàu lúc bấy giờ, có họp một số cán bộ cao cấp của đảng ở Quảng Đông. Ông có hỏi : Quí Vị ở đây có ai dọc hết Marx chưa, có ai hiêu lý thuyết của Marx không, thì không ai trả lời. Và ông không ngần ngại nói. Chính tôi cũng chẳng hiểu lý thuyết của Marx là gì cả.

   Câu : «  Người cộng sản có thể tóm lược lý thuyết của mình trong câu duy nhất : bãi bỏ quyền tư hữu. » Câu này không những đơn giản mà còn sai lầm và ảo tưởng.

   Sai lầm ở chỗ quyền tư hữu không thể bãi bỏ mà chỉ có thể chuyển nhượng.Xin quí Vị coi rõ vấn đề này trong bài của tôi : «  Cách mạng tất yếu không xẩy ra ở những nước tư bản, mà cách mạng tất yếu đã xẩy ra và còn sẽ xẩy ra tại những nước cộng sản » đăng trong những báo Việt Nam ở hải ngoại. 

Thật vậy, những người cộng sản đấu tranh chính trị và cướp quyền nhà nghề như Lénine, Mao trạch Đông, Hồ chí Minh, lợi dụng thời cơ, đảo chính cướp quyền, như Lénine lợi dụng tình thế xứ Nga vào cuối Đệ Nhất Thế Chiến, do Bộ Tham Mưu Đức đưa từ Thụy Sỹ về Nga đảo chính chánh quyền Kérenski, Hồ chí Minh do Đệ Tam quốc tế giúp đỡ, lợi dụng tình thế sau Đệ Nhị Thế Chiến, đảo chính chính quyền Trần trọng Kim, tất cả những chính quyền cộng sản Đông Âu là đều được dựng lên dưới gót giày của quân Đội Liên Sô thời đó. 

Chưa có một chính quyền cộng sản nào do người dân hay thợ thuyền bầu ra, mặc dầu họ tự nhân là đại diện giai cấp công nông. Một khi có được chính quyền, những người cộng sản bắt đầu áp dụng lý thuyết « đơn giản, sai lầm và ảo tưởng » của Marx, bằng cách đánh tư bản, mại sản, bảo rằng bãi bỏ quyền tư hữu, nhưng thực tế chỉ là chuyển nhượng quyền tư hữu. Quyền tư hữu đang ở tay đại đa số dân, nay qua những cuộc đánh tư bản mại sản, được chuyển nhượng qua tay những đảng đoàn, cán bộ cộng sản. Chẳng hạn tôi đang là chủ một ngôi nhà và một chiếc xe, nay đánh tư bản, mại sản, tôi phải bỏ nhà, bỏ xe. 

Nhưng ngôi nhà và cái xe vẫn còn đó và thuộc về một ông cán bộ, thì chỉ là chuyển nhượng thôi. Xã hội đùng một cái trở thành xã hội lưỡng cực, một bên thì đại đa số dân thì quá nghèo, một bên là thiểu số đảng đoàn cán bộ, nay trở thành những ông tư bản đỏ, thì quá giầu. Chính vì vậy mà cách mạng tất yếu đã xẩy ra tại những nước cộng sản, như ở Liên sô và Đông Âu và còn sẽ xẩy ra tại những nước cộng sản còn lại.

   Ảo tưởng ở chỗ Marx cho rằng quyền tư hữu là nguyên do đưa đến việc xã hội chia thành giai cấp, và xã hội chia thành giai cấp nên mới có chính quyền, nhà nước, công cụ đàn áp của giai cấp nắm quyền. Nay bãi bỏ quyền tư hữu, tất nhiên giai cấp không còn nữa, và một khi giai cấp không còn nữa thì nhà nước tự biến mất hay tự «  tắt » ( danh từ của Engels).

   Marx viết : «  Nếu sự đối kháng giai cấp biến mất, và nếu sự sản xuất ở trong tay những công dân liên đới, chính quyền sẽ mất ý nghĩa chính trị của nó. Quyền hành chính trị theo đúng nghĩa chỉ là quyền hành được tổ chức bởi một giai cấp để đàn áp một giai cấp khác. Nếu giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư bản, qua một cuộc cách mạng, nó phá hủy bằng bạo lực chế độ sản xuất cũ, và một khi nó phá hủy chế độ sản xuất này, đồng thời nó phá hủy tất cả những điều kiện phân chia giai cấp, nó phá hủy giai cấp nói chung, và như vậy có nghĩa là nó phá hủy luôn cả sự thống trị của nó như một giai cấp. » ( Sách đã dẫn – trang 46).

   Engels tiếp thêm sau khi người cộng sản nổi lên cướp chính quyền: «  Hành động đầu tiên trong đó nhà nước xuất hiện thực sự như đại diện cho toàn xã hội, - chiếm hữu những phương tiện sản xuất nhân danh xã hội – hành động này cũng là hành động cuối cùng của nhà nước…. Chính quyền của con người nhường chỗ cho sự quản trị các sự việc và cho sự điều hành những công tác sản xuất. Nhà nước không bị bãi bỏ, mà nhà nước tự tắt ( L’Etat n’est pas «  abolỉ » , il s’éteint)   ( Engels – Socialisme utopique et socialisme scientifique – trang 114 – Editions sociales- Paris- 1969).
   
Quả thật Marx và Engels đơn giản hóa, làm sai lạc và ảo tưởng tối đa ; mặc dầu tên đề quyển sách là Chủ nghĩa xã hội không tưởng và Chủ nghĩa xã hội khoa học.Không cần lý luận dài dòng. Mong quí Vị coi những bài tôi viết mang tựa đề Phê bình Marx trên phương diện triết học hay Sự hồ đồ của Marx theo K. Popper trên báo Việt Nam ở hải ngoại. Ở đây chúng ta chỉ nhìn thực tế cộng sản trong thời gian qua coi nhà nước có tự tắt không. Không, nhà nước cộng sản không tự tắt mà còn trở lên to lớn và đàn áp gấp cả trăm lần nhà nước tư bản. 

Nhà nước này không đại diện cho dân, cho giai cấp thợ thuyền như Marx và Engels ảo tưởng nghĩ, mà chỉ đại diện cho một thiểu thiểu số, đó là đảng đoàn, cán bộ, và chỉ có một mục đích duy nhất là kéo dài sự thống trị của mình bằng bất cứ giá nào. Đúng như lời của bà Rosa Luxemboug, bạn thân của Lénine, viết thư cho Lénine vào năm 1919, trước khi bà chết : «  Nguyên tắc đầu tiên của xã hội xã hội chủ nghĩa là dân chủ. Đảng và Nhà nước độc đoán, độc tài mà anh thiết lập nên không những không phục vụ cho giai cấp công nông, mà chẳng phục vụ ai cả. »

   Marx viết rằng : «  Phương pháp của tôi là phương pháp khoa học, trái với phương pháp của Hégel, vì nó đi từ cái gì cụ thể tới  cái gì trừu tượng, đi từ cái gì đơn giản tới cái gì phức tạp. » Trên thực tế Marx đi hoàn toàn ngược lai, đi từ cái gì trừu tượng nhất, đi từ một lời tiên tri, một ảo tưởng xây dựng một xã hội thiên đàng cộng sản, sau đó Marx bẻ cong tất cả những lý luận của mình, những công trình nghiên cứu khoa học, như của Darwin, để cho đi đúng với lời tiên tri của mình.

   Thật vậy, Marx là gốc người Do Thái, cụ thân sinh của Marx là một vị mục sư. Mặc dầu Marx không nói ra, nhưng Marx bị ảnh hưởng xâu đậm bởi tư tưởng Do Thái-Thiên Chúa giáo, theo đó, con người đang sống trên địa đàng, nhưng vì con người ăn phải trái cấm, nên bị đày xuống trần gian, con người phải chịu sự đày đọa cho tới khi có một Đấng Cứu Thế xuống cứu con người. Marx đã lấy tư tưởng này, nhưng thay đổi, thay vì là địa đàng thì Marx thay thế bằng xã hội cộng sản nguyên thủy, thay vì là trái cấm, thì Marx đổi thành quyền tư hữu, thay vì là Đấng Cứu Thế, thì Marx thay thế bằng giai cấp vô sản.

 Tư tưởng của Marx trở thành : con người đang sống sung sướng ở địa đàng xã hội cộng sản nguyên thủy, không có giai cấp vì không có quyền tư hữu ; rồi con người ăn phải trái cấm, đó là quyền tư hữu ; con người bị đọa đày, vì phải sống trong xã hội có quyền tư hữu đưa đến phân chia giai cấp. Sự đọa đày của con người sẽ được cứu thóat khi giai cấp công nhân đứng lên làm cach mạng, xóa bỏ quyền tư hữu, nguyên do của mọi đau khổ của con người, nguyên do của việc xã hội trở thành giai cấp ; và một khi quyền tư hữu bị bãi bỏ, thì giai cấp cũng tự bị bãi bỏ,  đưa con người trở lại xã hội cộng sản, thiên đàng cũ. 

Quả là ảo tưởng và không có một tý gì là khoa học. Những ai còn tin tư tưởng của Marx là khoa học, thì thật là không tưởng. Xin nghĩ lại. Quí Vị muốn rõ về tính chất không tưởng của Marx, xin xem thêm bài Sự không tưởng của Marx và Sự hồ đồ của Marx trên lãnh vưc khoa học theo K. Popper của tôi trên báo chí của Cộng Đồng Việt Nam ở hải ngoại.

   Chúng ta nên nhớ, cuối đời, Marx không còn tin tưởng ở lý thuyết của mình nên nói câu : «  Tôi không còn theo chủ nghĩa của Marx nữả ( Je ne suis plus marxiste). Và một trong những người con gái của ông, bỏ lý thuyết của bố, và trở về đi theo đạo Do Thái giáo của ông bà, tổ tiên.

        I I )  Marx và Engels đã hạ thấp hình ảnh tốt đẹp và cao thượng của con người xuống hàng bò xát, rắn rết

    Engels viết : «  Thiên nhiên là viên đá thử vàng của biện chứng pháp và phải nói rằng khoa học thiên nhiên hiện đại đã cống hiến cho những thử thách này những vật liệu vô cùng quí giá và mỗi ngày một phong phú ; khoa học đã chứng tỏ rằng thiên nhiên cuối cùng ( en dernière intance) đã biến chuyển theo phương pháp biện chứng chứ không theo phương pháp siêu hình, nó không biến chuyển theo một chu kỳ lập lại như nhau, mà nó có một lịch sử thật sự. 

Về điểm này, trước tiên chúng ta phải nhắc tới Darwin, người đã dáng một đòn nặng nề cho quan niệm siêu hình về thiên nhiên, bằng cách chứng minh rằng toàn thể thế giới hữu cơ, như nó hiện hữu ngày hôm nay, chảng hạn như cây cỏ, động vật, tất nhiên trong đó có con người, chỉ là sản phẩm của một tiến trình phát triển có từ bao triệu năm. «  ( Engels dẫn bởi Staline trong quyển Les Questions du Léninisme – tombe 2 – trang 788 – Edition : Norman Béthume – 1969).

   Marx và Engels viết tiếp : «  Toàn thể thiên nhiên, từ những phần nhỏ nhất tới những phần to nhất, từ hạt cát cho tới mặt trời, từ chất protiste ( tế bào sống đầu tiên) cho tới con người, đều đi vào một tiến trình vô tận xuất hiện và biến mất, trong một sự di chuyển và thay đổi không ngừng. » ( Engels dẫn bởi Staline trong cùng quyển sách – cùng trang)

   Ở đ ây tôi xin trình bày 2  vấn đề : 1) Thiên nhiên biến đổi theo phương pháp biện chứng như Marx v à Engels viết ; 2) Vấn đề Marx và Engels dẫn chứng Darwin.

   Thiên nhiên, theo Marx và Engels định nghĩa, là những phần tử nhỏ nhất tới những phần tử lớn nhất, từ hạt cát cho tới mặt trời, từ chất protiste cho tới con người, đều biến chuyển theo phép biện chứng là biến chuyển thế nào ? Phép biện chứng là Đề - Phản Đề - Tổng Đề.. Theo Hégel của trường phái duy ý ( l’idéalisme), thầy của Marx, thì ý tưởng con người biến chuyển theo phép biện chứng ; có nghĩa là tôi có một ý A, tôi trao đổi với người khác, tôi gặp ý kiến B phản bác lại A. Hai ý kiến gặp nhau, đối chọi nhau, làm thành ý tổng hợp C. Ý tổng hợp này lại trở thành đề, lại trao đổi và cứ như vậy tiến triển làm cho ý kiến con người đi từ chủ quan tới khách quan. 

Nay Marx, của trường phái duy vật (le matérialisme), bảo triết lý của Hégel đi ngược đầu, lấy đầu làm chân và lấy chân làm đầu, đem phương pháp biện chứng áp dụng vào vật chất, bảo rằng thiên nhiên, vật chất biến chuyển theo biện chứng là biến chuyển thế nào. Thiên nhiên theo mắt thường thấy là là hạt cát, viên sỏi, mặt trăng, mặt trời, con người, con vật. Vậy bảo thiên nhiên, vật chất biến chuyển theo biện chứng là biến chuyển làm sao, cái gì là đề, hạt cát chăng, con người chăng ; cái gì là phản đề, mặt trăng chăng, con vật chăng ; cái gì là tổng đề, mặt trời chăng. 

Một sự vô lý vô cùng. Nếu bảo thiên nhiên đây là vật chất ( la matière), nhìn theo mắt khoa học, thì trước năm 1913, vào thời Thương Cổ, theo Démocrite (460-370), triết gia duy vật Hy Lạp, thì vật chất là cái gì nhỏ nhất, không thể phân chia được. Nếu là cái gì nhỏ nhất không thể phân chia được, thì đâu còn cái gì là đề, cái gì là phản đề và cái gì là tổng để, để biến chuyển theo phương pháp biện chứng, như Marx nói. Đợi đến năm 1913, hai nhà bác học Bohr và Sommerfeld mới phát minh ra thuyết nguyên tử, theo đó vật chất, theo con mắt khoa học là nguyên tử, gồm potron, neutron và électron. Nếu bảo vật chất là nguyên tử, biên chuyển theo biện chứng, là biến chuyển thế nào. Phải chăng potron là đề, électron là phản đề và neutron là tổng đề. Câu hỏi này, ngay cả những nhà duy vật sau Marx cũng không có câu trả lời.

   Marx và Engels đã dùng những kết quả của khoa học, rồi lái sang triết học, đưa ra những quyết đoán thiếu khiêm nhượng, thiếu căn bản khoa học. Xin xem bài Sự hồ đồ của Marx theo K. Popper của tôi đăng trên những báo Việt Nam ở hải ngoại.

   Đọc Darwin người ta thấy gì ? Theo ông, sự biến hóa của những sinh vật xẩy ra một cách rất tình cờ, máy móc, chứ không theo một tiến trình nào cả, và càng không phải là tiến trình biện chứng như Marx và Engels nói. Về sự tranh đấu để sống còn, người ta không thấy sự cộng hưởng hay sự đối lập của 2 chủ thể, của 2 sinh vật để sinh ra một sinh vật khác, ở mức độ tiến hóa cao hơn, như luật biện chứng qui định, mà người ta chỉ thấy hiện tượng cá lớn nuốt cá bé, con vật mạnh ăn con vật yếu, một sự đấu tranh sống còn tự nhiên như đề quyển sách chính của Darwin, Nguồn gốc của các sinh vật, bởi sự sinh tồn tự nhiên ( De l’Origine des espèces , par voie de sélection naturelle – 1859). Người ta không thấy Darwin nói gì đến biện chứng.

   Ngay cả giả thuyết cho rằng con người sinh ra từ một chuỗi biến hóa, từ đơn bào qua đa bào, đến loài cá, loài bò sát, rắn rết, đến loài có vú, loài khỉ, rồi cuối cùng tới loài người. Vấn đề này, ngay ngày hôm nay còn có rất nhiều sự tranh cãi giữa những nhà khoa học. Gần đây, qua những nghiên cứu về ADN, các nhà bác học đã nhận thấy có sự giống nhau giữa ADN con người và con khỉ Chimpamzé đến 99,98%, chỉ có 0,02% là khác ; nhưng họ cũng không dám quả quyết là con người do con khỉ Chimpamzé sinh ra ; thứ nhất vì họ chỉ nghiên cứu sự khác biệt và sự giống nhau về ADN của 2 sinh vật, chứ họ không nghiên cứu về nguồn gốc con người ; thứ nhì vì con nhiều yếu tố ngoại cảnh họ không nắm vững ; thứ ba về phần khác biệt họ cũng không nắm vững, biết đâu đólà phần chính, đấy là lời tuyên bố của những nhà khoa học về vấn đề này Trong khi đó thì một số lãnh đạo và trí thức cộng sản Việt Nam, học hành chẳng đi tới đâu cả, chẳng phải là bác học, mà cứ cho rằng đó là những chân lý khoa học hiển nhiên và vĩnh cửu. Tệ hơn nữa, vì là họ có quyền, họ còn bắt những người khác phải tin theo, nếu không thì bị bỏ tù.. 

Theo Encyclopédie Universalis thì : «  Vấn đề vượn trở thành người vẫn còn là một đề tài tranh cãi nóng bỏng » ( Le passage des grands singes à l’Homme est toujours le sujet d’un débat brûlant – Encyclopédie Universalis – tombe 18 – trang 1994 – năm 2005). Đấy là giả thuyết từ khỉ qua người, với nhiều dấu vết lịch sử tìm thấy ở những nước Ethiopie, Ouganda, Kénya ; nhưng những nhà khoa học thực sự họ còn rất thận trong, nói chi đến giả thuyết cho rằng loài cá biến thành loài bò sát, rồi biến thành loài có vú. Vấn đề này không có một dấu vết lịch sử nào cả. Tất cả những sự quyết đóan chỉ là hồ đồ, vội vã, không có một tý gì là khoa học.

        I I I )    Người cộng sản đã tự khoác trên mình một chiếc áo đạo đức giả ; nhưng bản chất đích thực của họ là gian manh, lừa đảo và ác ôn, côn đồ.

   Lý thuyết của Marx không những đơn giản hóa vấn đề, sai lầm và ảo tưởng, mà nó còn chủ trương bạo động lịch sử, đấu tranh giai cấp, phá hủy tôn giáo, phá hủy truyền thống quốc gia dân tộc, hàng rào luân lý, đạo đức cổ truyền, nên nó đã mang trong người của nó tất cả mầm mống của tội ác ( Xin xem thêm bài của tác giả Tư tưởng của Marx phản văn hóa, phản văn minh, đăng trên www.nghiencưlichsu.net.mss/www.anhduong.com,www.danchu.net, www.vietlandnews.net và một số báo Việt Nam ở hải ngọai). 

Lý thuyết với đầy những mầm mống tội ác này lại có  môi trường thuận tiện để phát triển. 

Đó là thời kỳ đầu và giữa thế kỳ XX, tại 3 nước Nga Sô, Trung Cộng và Việt Nam. Trong 3 nước này, một số trí thức tả đã tự nguyện đi theo lý thuyết Marx, và tìm bất cứ cách nào để cướp chính quyền, thực hiện lý thuyết đầy mầm mống tội ác này. Trái hẳn với những nước Đông Âu, chế độ cộng sản được dựng lên dưới gót giày quân đội chiếm đóng Liên Sô sau Đệ Nhị Thế Chiến.

   Thực vậy, lý thuyết Marx chủ trương chống tư bản, trong khi đó 3 nước Nga, Tàu và Việt Nam đang là nạn nhân hay bị hạ nhục bởi tư bản. Nga Sô thua cuộc chiến 1895 với Anh và Pháp, rồi thua cuộc chiến với Nhật 1905. Tàu thì vào giữa thế kỷ 19 bị liệt cường xâu xé. Việt Nam thì bị lệ thuộc Pháp. Hơn thế nữa, 3 nước này lại có truyền thống văn hóa cao, một số trí thức tả nghĩ rằng nay nhập cảng lý thuyết Marx, vừa chống tư bản, vừa được gọi là khoa học, thì không những bắt kịp những nước tư bản về khoa học kỹ thuật, mà còn không thua về văn hóa. 

Có thể nói những con người như Lénine, Mao trạch Đông và một số trí thức tả không đủ trình độ để hiểu tính chất không khoa học và những sai lầm của lý thuyết Marx, nói chi đến Hồ chí Minh của Việt Nam khi đi theo cộng sản còn chưa ở trình độ phân biệt nổi Đệ Nhị và Đệ Tam Quốc tế Cộng sản. Xin quí Vị xem thêm bài Lý thuyết của Marx là thần dược hay độc dược, Sự thất bại của Cách mạng cộng sản của tôi.

   Tây phương có câu trâm ngôn : «  Con người là nửa thần thánh và nửa xúc vật ». Nếu con người sống trong một môi trường mà không có luật pháp ngăn chặn phần xúc vật, và không có đạo giáo, truyền thóng luân lý, đạo đức được đề cao, khuyến khích phần thần thánh, thì phần xúc vật của con người sẽ nổi lên ngự trị, dù con người đó là có học hay không có học, dù là giai cấp quí tộc hay giai cấp nào chăng nữa. Lý thuyết Marx mang đầy mầm mống tội ác, chế độ cộng sản là một môi trường thuận lợi cho tội ác nẩy mầm và phát triển. Vì vậy người cộng sản đã trở thành loài xâu bọ, rắn rết độc ác, loài quỉ ; mặc dầu nó khoác vào nó hai chiếc áo, hai mặt nạ quốc gia dân tộc và xã hội chủ nghĩa.

   Chúng ta chỉ cần nhìn hiện trạng Việt Nam hiện nay thì chúng ta thấy: cộng sản không có một tý gì là quốc gia dân tộc và xã hội chủ nghĩa như chúng đã từng và hiện còn rêu rao.
   Quốc gia dân tộc gì mà dâng đất nhượng biển cho Trung Cộng, qụy lụy ngoại bang.
   Xã hội chủ nghĩa gì mà xã hội đầy bất công, người dân không có đến 1$ một ngày để sống ; 70% dân Việt hiện nay khi bệnh không dám đi bác sĩ, nhất là đi nhà thương vì không có tiền ; trong khi đó thì đảng doàn cán bộ tiêu tiền vứt qua của sổ, đánh cá độ cả triệu $.
   Tôi xin dẫn chứng ở đây lời những người cựu cộng sản nói về người cộng sản, vì chính họ mới hiểu người cộng sản, chính họ nằm trong chăn, mới biết chăn có rận.

   Ông Gorbatchev, cựu Tổng Bí Thư Cộng sản Liên Sô : «  Tôi đã bỏ hơn nửa cuộc đời theo lý tưởng cộng sản. Nhưng ngày hôm nay tôi phải đau buồn nói rằng cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo. »
   Ông Yakolek, cựu Ủy viên Bộ Chính Trị Liên sô, vừa mới chết : «  Cộng sản là loài xâu bọ, rắn rết. Con trẻ nằm lên xác con gìà. Con già đè lên xác con trẻ. Nhưng trong đó có một con khỏe nhất, leo lên được chỗ cao nhất ; và trước khi leo lên được chỗ cao nhất, thì nó đã phải dẵm lên xác không biết bao con khác. »
   Ông Lê xuân Tá, cựu Phó Trưởng Ban Khoa học và Kỹ thuật Đảng Cộng sản Việt Nam : «  Sự ngu dốt và sự thấp hèn tự nó không đáng trách và không làm nên tội ác. Nhưng sự ngu dốt và sự thấp hèn mà được trao quyền lực, và được cấy vào vi trùng ghen tỵ, thì nó trở thành quỉ nhập tràng. Và con quỉ này, nó ý thức mau lẹ rằng cái đe dọa quyền và lợi của nó, chính là sự hiểu biết, trí thức, văn hóa và văn minh.

 Nên nó đã đánh những thứ này dã man, tàn bạo không thương tiếc. Nhưng chính vì ngu dốt và thâp hèn, nên những thứ này đã trở thành sỏi mật, sạn thận, sơ gan, cổ chướng trong ngục phủ, ngũ tạng của chế độ cộng sản, làm cho chế độ này không ai đánh mà tự chết. »
   Bà Dương thu Hương, nhà văn, lúc trẻ đi theo cộng sản, nay hồi tỉnh : «  Dân Việt Nam dầu có mù chữ chăng nữa, cũng thấy mặt giới lãnh đạo cộng sản vừa tối tăn, ngu đốt, vừa ác ôn, côn đồ và hèn hạ. »

   Quả thật lý thuyết của Marx vừa đơn giản, sai lầm và vừa ảo tưởng ; con người cộng sản vừa rắn rết, bọ xát, vừa quỉ quái ; đúng như câu Kinh Thánh :   

   «  Nó đã tự ru ngủ  bằng những lý luận đơn giản, sai lầm và ảo tưởng. Nó tự khoác lên người một cái áo đạo đức giả ; nhưng bản chất đích thực của nó là gian manh, lứa đảo, ác ôn, côn đồ. Nó đã hạ thấp hình ảnh tốt đẹp và cao thượng của con người xuống hàng loài bò xát, rắn rết. « 

 Có lẽ trong lịch sử nhân loại, chưa có một lý thuyết nào có tham vọng, nhưng lại đơn giản hóa, sai lầm và ảo tưởng như lý thuyết của Marx. Chính vì vậy mà khi áp dụng lý thuyết này, những chế độ cộng sản đã giết đến cả hơn 100 triệu người. Lịch sử nhân loại đã có nhiều trang lịch sử đẫm máu ; nhưng chưa có trang nào đẫm máu bằng trang sử cộng sản. 

Dân tộc Nga Sô, Đông Âu đã lật qua những trang sử này, chỉ còn những nước như Việt Nam, Trung Cộng, Bắc Hàn và Cuba, vì giới lãnh đạo và một số trí thức bênh vực chế độ, hoặc vì quá ngu độn không ý thức nổi tính chất đơn giản hóa, sai lầm và ảo tưởng của lý thuyết Marx, vẫn cho rằng « lý thuyết Mác Lê là nên tảng của chế độ «  như theo Hiến Pháp Việt Nam 1992, hay « kiên trì xã hội chủ nghĩa « như Nông đức Mạnh, Nguyễn khoa Điềm tuyên bố ; hoặc hiểu, nhưng vì quyền lợi cá nhân và bè phái, nên mới có thái độ như vậy. Lý thuyết Mác Lê và giới lãnh đạo cộng sản quả thật là một đại họa cho dân tộc Việt Nam. Dân Việt chỉ còn một cách là can đảm đứng lên đấu tranh vứt bỏ lý thuyết này và lật đổ bạo quyền cộng sản, hại dân, bán nước, vì bất cứ một cuộc cứu rỗi nào cũng bắt đầu bằng cuộc tự cứu ./.

                                              Paris ngày 31/03/2006
                                               Chu chi Nam






                              MÁC, LÊ NIN = TỘI ÐỒ CỦA  NHÂN LỌAI ; 
                              HỒ CHÍ MINH=TỘi ÐỒ CỦA DÂN TỘC VIỆT       
       
I)                   Mác, tội đồ của nhân loại qua lý thuyết vì những lý do sau :


a)      Lý thuyết của Mác chủ trương bạo động lịch sử, đấu tranh giai cấp dẫn đến cảnh chiến tranh triền miên : nội chiến qua những vụ đấu tố, con đấu cha, vợ tố chồng, bạn bè tìm cách sát hại lẫn nhau ; ngoai chiến qua việc nưóc này đánh nước nọ.
b)      Lý thuyết của Mác chủ trương phá hủy văn hóa và văn minh cũ, chủ trương tiêu diệt tôn giáo đưa đến cảnh luân lý băng hoại, đạo đức suy đồi.
c)      Mác chủ trương bãi bỏ quyền tư hữu, nhưng thực tế quyền tư hữu không thể bãi bỏ, mà chỉ có thể chuyển nhượng, gây ra cảnh, đùng một lúc, tất cả những dân tộc bị đặt dưới chế độ cộng sản, trở nên nghèo đói, qua những vụ đánh tư bản mại sản ; và một thiểu số người là đảng đoàn cán bộ trở thành những ông chủ tư bản đỏ ; xã hội trở thành vô cùng bất công.
d)      Mác chủ trương độc tài vô sản khơi mào cho quan niệm độc khuynh, độc đảng của Lê nin và của tất cả những nhà nước đàn áp bóc lột cộng sản sau này.

I I ) Lê nin, Staline, Trotski cướp quyền qua một cuộc đảo chanh vào tháng 10 năm 1917, áp dụng lý thuyết của Mác, chủ trương xuất cảng chế độ cộng sản, biến thế giới thành cộng sản, tạo ra một trang sử đau thương nhất của nhân loại vào thế kỷ 20 với gần 100 triệu nạn nhân theo như những sử gia S ; Courtois, Margollin v.v.. trong quyển Những Trang Sử Ðen của Chủ nghĩa Cộng sản ( Le Livre noire du Communisme).

a)      Chiến lược gián tiếp đánh tư bản của Lê nin
b)      Chiến lươc toàn chiếm các nước trên thế giới của Brejnev qua 2 sách lươc : 1) Thượng sách toàn chiến thắng để ngọn cờ cộng sản cắm mọi nơi trên thế giới ; 2) Trung sách chia thế giới ra làm 2.

I I I )  Hồ chí Minh, tội đồ của dân tộc Việt vì :

1)      Ðã nhập cảng và áp đặt lý thuyết Mác Lê lên đầu cổ dân tộc Việt Nam
2)      Ðã áp dụng lý thuyết Mác Lê qua những vụ đánh tư bản, mại sản, “ trí phú hào, đào tận gốc, trốc tận ngọn "
3)      Hồ chí Minh là tội đồ của dân tộc vì đã đặt Việt Nam vào gong cùm Ðệ Tam Quốc Tế Cộng sản, biến nước Việt thành một bãi tranh hùng tư bản-cộng sản
a)      Chiến lược tấn công các nước tư bản một cách gián tiếp qua các nước thuộc địa của Lênine;
b)      Chiến lược nhuộm đỏ thế giới của Brejnev qua 2 sách lược: 1) Thượng sách đẩy mạnh công cuộc chinh phục thế giới để ngọn cờ cộng sản tung bay trên toàn thế giới;2) Trung sách chia đôi thế giới. Hồ chí Minh và Lê Duẫn đã tự biến mình và dân tộc Việt thành một người lính đánh thuê cho đế quốc Liên sô, vì vậy nên đã cưỡng chiếm miền Nam, xua quân sang Căm Bốt và gây hấn với Trung Cộng.
4)      Hồ chí Minh và đảng cộng sản là tội đồ của dân tộc vì đã dâng đất, nhượng biển cho Trung cộng.

IV) Kết luận : Hồ chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam quả thật là tội đồ của dân tộc; vì vậy cuộc đấu tranh chống cộng sản hiện nay là một công cuộc đấu tranh cứu dân, cứu nước.

                                           Paris ngày 21/10/2004
                                                    CCN




SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P1)


SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P2)


SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P3)






Nguyễn Ngọc Giao - Vụ án gián điệp Trương Đình Hùng

 

Nguyễn ngọc Giao & Trương đình Hùng, hai trí  thức phản chiến, ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng Sản. Sau 1975, bị Đảng bỏ rơi. Nguyễn ngọc Giao bị cấm về VN. 

Cha của Trương  Đình Hùng là Luật sư Trương Đình Dzu bị CSVN bỏ tù, quản chế 10 năm

Nguyễn Ngọc Giao - Vụ án gián điệp Trương Đình Hùng

  • Chính trị - xã hội
  • Lịch sử
Nguyễn Ngọc Giao
Theo Diễn Đàn
Tiễn đưa một người bạn quý
Trương Đình Hùng
(2.9.1945 - 26.6.2014)
Trưa nay, 26.6.2014, về tới nhà, tôi nhận được thư anh Ngô Vĩnh Long báo tin anh Trương Đình Hùng đã từ trần buổi sáng, tại Penang (Malaysia). Tin buồn ập tới, đột ngột và choáng ngợp, mặc dù nó đã được báo trước. Cuối tháng 5, chúng tôi được tin anh mắc một chứng bệnh ung thư hiếm và nguy hiểm (pleomorphic liposarcoma/sarcoma mỡ đa hình), qua bàn mổ hai lần, nhưng cái u ác tính vẫn tiếp tục phát triển. "Mình vẫn làm việc và hoạt động hàng ngày nhưng yếu đi nhiều, vài tháng mà xuống đi mấy ki lô. Trông mình bây giờ như một nhà sư (toàn ăn chay, tập thở, tập thiền, trừ khi gặp bạn thì uống một ly rượu nho)", đó là mấy dòng Trương Đình Hùng gửi cho Ngô Vĩnh Long ngày 28.5, báo tin "chung cuộc không thể tiên đoán thế nào" (tạm dịch từ tiếng Anh).

 Hai ngày sau, anh viết cho tôi: "Tụi mình đã sống một cuộc đời lý thú, đã giúp nhiều đồng bào và bầu bạn, và (những năm gần đây, ở Malaysia) giúp xây dựng gia đình cho một số bạn trẻ trong vùng. Như thế cũng là nhiều rồi. Hi vọng là chung cuộc sẽ tới mà không quá nhiều phức tạp" (tạm dịch từ tiếng Pháp).

Trương Đình Hùng sinh năm 1945 tại Sài Gòn, vào đúng ngày Tuyên ngôn Độc lập 2.9, tạ thế ngày 26.6.2014 tại Penang, thọ 69 tuổi.

Trong thời sự Việt Nam thập niên 1970 và sau này, anh thường được biết với cái tên David Truong. Wikipedia (tiếng Anh) nói tới David Truong, chủ yếu về "vụ án gián điệp" năm 1978: một nhân viên của cục điều tra liên bang FBI, trên là Dung Krall, được cục tình báo CIA "mượn", tố cáo Trương Đình Hùng là "điệp viên Bắc Việt", bị bắt với hai "tài liệu mật" của Bộ ngoại giao Mỹ, do một nhân viên của Bộ ngoại giao Mỹ, Donald Humphrey, trao tay (với hy vọng là David Truong có thể giúp anh ta đoàn tụ với người vợ người Việt bị kẹt ở Việt Nam từ 1975). Kết quả: Trương Đình Hùng bị kết án 15 năm tù, đại sứ Đinh Bá Thi (đại diện Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc) bị chính quyền Mỹ trục xuất với tư cách "một đồng lõa không bị truy tố"). Trương Đình Hùng đã ở tù 7 năm 4 tháng, trước khi được trả tự do trước kỳ hạn, với điều kiện ra khỏi nước Mỹ. Từ cuối thập niên 1980, anh sống và làm việc ở Châu Âu (Amsterdam) và Châu Á (Hà Nội, nhân viên của Liên hiệp Châu Âu; rồi Malaysia).

Nguồn ảnh: Corbis/Đặng Mỹ Dung
"Vụ án Trương Đình Hùng" được báo chí Âu Mỹ nói nhiều vào cuối thập niên 70, rồi nhanh chóng rơi vào quên lãng. Giới thạo tin nhanh chóng hiểu ra bối cảnh đã sản sinh ra "vụ gián điệp" này với hai nhân tố chính. Một là, sau thất bại chua cay ở Việt Nam, trong giới cầm quyền Mỹ, có nhu cầu "bức xúc" là tìm ra được một con vật tế thần. Đơn giản và tiện lợi nhất là: "ta đã mất Việt Nam không phải vì thất trận, mà vì kẻ thù nằm ngay ở Washington". Hai là, nếu năm 1977, Washington muốn bình thường hóa quan hệ với Việt Nam (nhưng Hà Nội mắc sai lầm là khăng khăng đòi khoản 3,25 tỉ đô-la mà Nixon đã cam kết trong một lá thư gửi Phạm Văn Đồng khi ký Hiệp định Paris 1973), thì tới cuối năm, Mỹ đã chuyển hướng, liên minh với Bắc Kinh để chống Liên Xô. Không phải ngẫu nhiên mà Đại sứ Đinh Bá Thi bị trục xuất vào đầu năm 1978: ít lâu sau đó, Zbigniew Brzeziński, cố vấn đặc biệt của tổng thống Carter, đứng trên Vạn lí trường thành, nhìn sang Liên Xô, nói với người Trung Quốc đồng hành: "Chúng ta cùng đi săn con Gấu Bắc Cực". Và đầu năm 1979, Đặng Tiểu Bình tuyên bố tại Washington sẽ "dạy Việt Nam một bài học", và "Trung Quốc là NATO ở phương Đông, Việt Nam là Cuba ở phương Đông". "Vụ án Trương Đình Hùng" và việc cắt đứt quá trình bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, là cái nhẫn "dạm hỏi" của Washington, chuẩn bị cho cuộc hôn phối linh đình sau đó.

Nếu như "vụ án" đã rơi vào quên lãng trong báo chí quốc tế, thì sang thập niên 1990, nó lại được hâm nóng trong dư luận Việt Nam ở Hoa Kỳ với cuốn sách "Ngàn Giọt Lệ Rơi" của nữ điệp viên Dung Krall.

 Cuốn sách có thể đọc như một thứ tiểu thuyết với những pha gây cấn của phim trinh thám tồi. Giá trị "chứng từ" của nó rõ hơn khi người ta được biết tác giả tung ra cuốn sách này sau khi vòi CIA thêm tiền vì sau khi "lộ hàng" trong "vụ án", bà ta không hành nghề được nữa (và tất nhiên CIA đã từ chối). Không rõ số tiền bán sách được mấy phần so với số tiền "đền bù" mà bà ta muốn được CIA trả. Chỉ có thể nói cuốn sách cũng đáng tin như những thông tin trên Wikipedia (bản tiếng Anh) khẳng định Trương Đình Hùng là con trai... Trương Như Tảng!!!

Thân sinh Trương Đình Hùng, như nhiều người biết, là luật sư Trương Đình Dzu. Ông nổi tiếng như là "ứng cử viên hòa bình" trong cuộc tranh cử tổng thống VNCH năm 1967 với biểu tượng con chim bồ câu hòa bình, chủ trương thương lượng với Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Theo những nguồn thạo tin, ông được nhiều phiếu nhất tại khu vực Sài Gòn - Gia Định (kết quả "chính thức" thì liên danh Trương Đình Dzu - Trần Văn Chiêu về nhì trong số 11 liên danh, sau liên danh Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ trên toàn miền Nam, nghĩa là trong những vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát được). Đó cũng là lí do đủ để tổng thống Thiệu bỏ tù ông. Luật sư Dzu bị giam ở Chí Hòa rồi Côn Đảo cho đến tháng 4.1975 (những ngày ông Trần Văn Hương lên thay Nguyễn Văn Thiệu). Chính quyền Thiệu tố cáo ông Trương Đình Dzu là thân cộng "ngụy hòa", nhưng thực ra họ gờm ông vì biết ông có thể là một con bài dự trữ của phái "liberal" Hoa Kỳ.

Thân sinh bà Dung Krall là ông Đặng Quang Minh, nguyên đại sứ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) tại Liên Xô (ít nhất điều này, cuốn sách của bà nói đúng). Đây cũng là một thảm kịch đau lòng của hơn một gia đình cách mạng: cha rời Sài Gòn đi kháng chiến (Mùa thu rồi, ngày hăm ba...) rồi tập kết ra Bắc, tình báo Mỹ đã khôn khéo khai thác tâm lý "bị cha bỏ rơi" để lôi kéo một số người con.

 Đặng Mỹ Dung là một trong những người ấy: lấy chồng là sĩ quan tình báo của Hải quân Mỹ, bản thân làm việc cho cục FBI trước khi được cho mượn, làm điệp viên (hay đúng hơn: nhân viên khiêu dụ) của CIA...

Hành trình của Trương Đình Hùng, bắt đầu từ đối cực. Cha anh, năm 1945, khi Pháp tái chiếm Sài Gòn, làm chánh văn phòng cho "ủy viên cộng hòa" Jean Cédile (xem Wikipedia). Gia đình bên ngoại là thế gia vọng tộc đất Thần Kinh (anh có một người cậu, nếu tôi không lầm, làm đại diện của VNCH ở Liên Hiệp Quốc với tư cách quan sát viên thường trực). Học Jean-Jacques Rousseau rồi sang Mỹ du học (Stanford, California).

 Năm 22 tuổi, luật sư Dzu bị bắt, anh bắt đầu hoạt động chính trị là vận động đòi trả tự do cho thân sinh, có quan hệ khá chặt chẽ với những chính khách "liberal" có thế lực như thượng nghị sĩ Mike Mansfield. Hình ảnh người thanh niên David Truong mà giới báo chí và phong trào hòa bình Mỹ ghi nhận là một "lobbyist" lúc nào cũng chỉnh tề bộ "complet" với đầy đủ "gilet", cà-vạt... Các bạn ở Mỹ cho biết, những năm về sau, anh vẫn đóng bộ "trois pièces" như một thói quen, hay như một công cụ giao tiếp, nhưng trong căn phòng ở, toàn bàn ghế, đồ đạc lượm ở hè đường, do người ta sa thải. Trương Đình Hùng đã trở thành một thành viên tích cực của Trung tâm Hòa giải Đông dương (IRC), trụ sở đặt tại Washington DC.

Mãi tới cuối thập niên 1980, tôi mới được gặp Trương Đình Hùng lần đầu tiên, tại Paris, khi anh từ Amsterdam sang cùng với vợ anh, chị Carolyn Gates, một chuyên gia về chính trị Trung - Cận Đông. Nhưng chúng tôi đã liên lạc với nhau qua thư từ (thời đó, chưa có internet) từ khoảng 1970. Chính do mối quan hệ sớm trở thành thân thiết này, mà trong "vụ án" năm 1978, tôi có vinh dự được FBI phong làm "unindicted accomplice" (đồng lõa không bị truy tố). 

Bây giờ, anh Hùng đã mất, "cái quan định luận", tôi xin tiết lộ về sự nghiệp "gián điệp" của chúng tôi. Đúng là chúng tôi đã trao đổi khá nhiều tài liệu. 

Tôi gửi cho anh những thông tin, tuyên bố của Mặt trận, của Chính phủ Cách mạng Lâm thời CHMNVN. Anh Hùng gửi cho tôi những thông tin Mỹ, chủ yếu là những tập "Congressional Record" mà Quốc hội Mỹ công bố hàng ngày. Đó là những tập dầy cộm, nặng chịch, in chữ nhỏ li ti ("co" chữ 8). 

Đó không phải chỉ là những phát biểu của các dân biểu và thượng nghị sĩ trong các phiên họp toàn thể hay tiểu ban, mà tất cả những bài báo, tài liệu nào mà bất cứ một đại biểu Quốc hội nào thấy cần thiết. Tóm lại, đó là một kho tài liệu vô song, mà chúng tôi khai thác đến mỏi mắt, và cung cấp cho hai phái đoàn VNDCCH và CPCMLT tại Hội nghị Paris.

 Có thời gian, tôi làm phiên dịch cho ông Nguyễn Thành Lê, người phát ngôn của VNDCCH tại Hội nghị Paris. Hơn một lần, trong cuộc họp báo sau mỗi phiên họp, tôi đã phải dịch sang tiếng Pháp những trích đoạn "Congressional Record" từ bản dịch tiếng Việt (mà chúng tôi đã góp phần dịch từ nguyên tác tiếng Anh). Không thiếu gì những thông tin mà các nhà báo Mỹ, phóng viên của New York Times, Washington Post... được nghe lần đầu, như vậy. Tất nhiên họ càng không biết rằng đó là công lao của Trương Đình Hùng, mà sau này họ phong là "David Truong, North Vietnamese Spy".

Có lần tôi hỏi Hùng: cái gì đã khiến Hùng xuất thân như vậy, lại chọn con đường chống chính sách chiến tranh của Mỹ, ủng hộ cuộc kháng chiến Việt Nam. Hùng cười, nụ cười hiền triết: "Có lẽ tại mình chẳng may sinh vào đúng ngày 2 tháng 9 năm 1945"!!!

Câu nói nửa đùa nửa thật rất có ý vị. Càng ý vị hơn nữa khi ta biết anh đã trải qua những thảm kịch gì. Tôi không chỉ nói tới những năm tháng hoạt động ở Washington DC, tới hơn bảy năm trong tù Mỹ. Tôi nghĩ tới những thử thách không ngờ mà anh đã gặp phải, từ một hướng khác. Như đã nói ở trên, ông Trương Đình Dzu, trong con mắt của nhiều người (đầu tiên là ông Nguyễn Văn Thiệu), là một "lá bài dự trữ" của Washington, nghĩa là một "người của Mỹ". Đầu năm 1978, khi đại sứ Đinh Bá Thi bị trục xuất vì "nhận tài liệu mật từ David Truong", thì ở Hà Nội, không ít người cho rằng Trương Đình Hùng là "agent provocateur" của Mỹ. Cũng thời gian đó, khá nhiều "âm mưu phản loạn" của những cựu quân nhân VNCH bị tóm gọn, với danh sách những "chính phủ lâm thời", trong đó tên họ của ông Trương Đình Dzu thường được kể hàng đầu.

 Thế là ông bà Trương Đình Dzu và người con trai út (em của Hùng) bị đưa đi quản chế ở miền Bắc (khoảng 10 năm). Những năm tháng ấy, đôi lần tôi được Hùng nhờ làm "giao liên" với gia đình anh. Năm 1978, anh vừa kết hôn với Carolyn, chuẩn bị vào tù và biết gia đình ở Sài Gòn lại bị tình nghi, nên mùa hè khi biết tôi sắp về nước, anh gửi tôi tấm ảnh hai vợ chồng chụp ở Washington (trên nền phông là đài tưởng niệm Monument), một tấm ảnh chụp bằng máy polaroid, nhờ tôi trao cho ông bà Dzu để ông bà thấy mặt con dâu. 

Một lần sau, mùa đông năm 80 hay 81, Hùng ở trong tù, cha mẹ bị quản chế ngoài Bắc, anh nhắn qua chị Hélène, em gái anh, đang ở châu Phi, nhờ tôi mua ba cái áo anorak chống lạnh cho cha mẹ và em trai... Do đó, mà tôi hiểu thêm những thử thách mà Trương Đình Hùng đã trải qua.

Hùng đã an nhiên ra đi sáng hôm nay. Đêm nay, nhớ lại những lần ngắn ngủi tôi được gặp anh, ở Paris, ở Amsterdam, ở Hà Nội (khi anh làm việc cho một chương trình hợp tác của Liên hiệp Châu Âu), ở Singapore (tháng 8 năm ngoái, sau Hội thảo Hè)..., tôi mạn phép nhắc lại những điều trên, để bạn đọc biết và hiểu về một con người chân chính.

Và để gửi tới Carolyn, người bạn đời, suốt 36 năm, cho đến sáng hôm nay 26.6.2014, đã luôn luôn ở bên cạnh Trương Đình Hùng, những tình cảm và lòng biết ơn chân thành nhất, không phải chỉ của riêng tôi.

Maisons-Alfort, 26.6.2014
Nguyễn Ngọc Giao

__._,_.___


Posted by: tuong pham <

Featured Post

Tên các Quốc gia mà người Sài Gòn hay gọi trước năm 1975

https://www.facebook.com/groups/miennamvietnam/posts/1953798441526381/ https://www.facebook.com/buianhhuy095096/posts/t%C3%AAn-c%C3%A...

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List