QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Friday, April 13, 2018

Tại sao Việt cộng tàn ác đến như vậy?

 

Một khung cảnh quá khủng khiếp hiện ra trước mắt, đã làm cho máu tôi ứa trào
lên. Tại sao Việt cộng tàn ác đến như vậy?
Đó là câu hỏi đầu tiên hiện ra trong trí tôi. Những cái ác mà tôi không thể tưởng
tượng nỗi, không thể chịu đựng nỗi, không thể chấp nhận được. Tôi vốn là một
Phật tử mà. Nhưng dù là một Phật tử, máu tôi không thể không sôi sục dâng trào
trước cảnh tượng bất nhân, tàn ác đó.
Trên mặt đường nhựa, xác người dân nằm la liệt, ngổn ngang. Thây người chết ở
mọi tư thế khác nhau, nằm sấp, nằm ngửa, nghiêng. Xác thì chân tay dang ra, xác
thì chân hay tay co lại. Xác nầy chồng lên xác kia, dồn đống, có xác một mình co
quắp bên lề đường… Cái mất đầu, cái mất tay, mất chân

From:

----- Message transmis -----

 
dongsongcu posted: " Lam Hà Buồn!... Lam Hà là bút hiệu của cựu Đại Uý, cựu Học Sinh TH Phan Chu Trinh Đà Nẵng, Sĩ Quan Tuỳ Viên cho Trung Tướng Ngô Quang Trưởng Tư Lệnh QĐ1/QK 1 /VNCH. Bài dưới đây trích từ Nhật Ký của một Tuỳ Viên Tưởng Ngô Quang Truởng. Ngày 23 tháng "
Respond to this post by replying above this line


New post on dòng sông cũ


Sắp đến ngày 30 tháng 4. Nhìn lại một góc của chiến trường xưa.

Lam Hà
Buồn!...
Lam Hà là bút hiệu của cựu Đại Uý, cựu Học Sinh TH Phan Chu Trinh Đà Nẵng, Sĩ Quan Tuỳ Viên cho Trung Tướng Ngô Quang Trưởng Tư Lệnh QĐ1/QK 1 /VNCH. Bài dưới đây trích từ Nhật Ký của một Tuỳ Viên Tưởng Ngô Quang Truởng..
Ngày 23 tháng 10, năm 2010, tôi đi dự lễ tiễn đưa Đại Tá Đặng văn Phước về nơi an nghỉ cuối cùng. Ông là Không Đoàn Trưởng Không Đoàn 51, và chính ông là người đã nhận tín hiệu cuả tôi qua cái đèn bấm và cái Samsonite, ông đã can đảm đáp xuống cột cờ BTL/HQVI Duyên Hải để cứu Trung tướng Ngô Quang Trưởng Tư Lịnh Quân Đoàn I và tôi, ra khỏi vùng nguy hiểm vào khoảng 2 giờ sáng ngày 29 tháng 3 năm 1975.
Sau đó chúng tôi ghé núi Sơn Trà bốc Chuẩn Tướng Khánh, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Không Quân, rồi trực chỉ phi trường Non Nước để nhập cùng anh em Thủy Quân Lục chiến Việt Nam.
Tôi muốn giữ im lặng sau cuộc chiến, như bao nhiêu chiến binh chuyên nghiệp khác. Nhưng tôi không thể nào quên được bài báo của Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng đã đăng trong tuần báo Viet Tide cuả ông Vũ quang Ninh (chủ nhiệm) và cô Mai Khanh (chủ bút).
Là người học sử, hay viết sử, phải tôn trọng “sử xanh”, và là những người có phương tiện truyền thông để dẫn dắt dư luận quần chúng, xin diễn đạt vô tư, chính xác, và nhất là để cho các thế hệ con cháu biết sự thật là tại sao thế hệ cha ông phải chiến đấu và đã chiến đấu như thế nào.
Bài báo đã đăng ở trang 71 (Viet Tide số 421)
Lá thư tôi hỏi và trang báo xin đăng đã bị phớt lờ.
Chúng tôi, những người đã tận tình phục vụ quê hương xứ sở, quên cả thân mình, cha mẹ, vợ con cùng thân bằng quyến thuộc, đã làm hết khả năng và bổn phận của người quân nhân trong cuộc chiến, rất buồn lòng khi bị đánh giá sai sự thật.
Hôm nay, giờ này, khi tôi đang viết những dòng chữ nầy thì có nhiều người đã ra đi, có nhiều người ở lại quê nhà, và cũng có nhiều người đang chịu trăm cay nghìn đắng trong khắp bốn phương trời ở xứ người.
Trong lúc đó những ngưòi bạn cũ cũng như quân thù đã tìm cách bôi nhọ, hay đổ tội cho QLVNCH , để nhằm mục đích tự tôn vinh hay che dấu mặc cảm phản bội đồng minh.
Ba câu hỏi của tôi không được trả lời thì bây giờ tôi cũng xin được nói lên để mọi người cùng biết:
1. Khi Đà Nẵng đang cơn hấp hối, tôi đã theo sát Tư Lệnh Quân Đoàn I cho đến ngày ra khỏi nước.
2. Tương quan lực lượng đôi bên.
2a. Lực lượng quân đội Cộng Sản:
Những lực lượng Tiền Phương Cộng Sản đang bao vây Đà Nẵng gồm:
- Các Sư đoàn 324B, Sư Đoàn 325,
- Một Trung đoàn chiến xa,
- Hai Trung Đoàn Pháo làm nỗ lực chính.
Tất cả theo Elephant Valley tấn công phía Bắc Đà Nẵng.
- Một nỗ lực thứ hai là Sư Đoàn 711 cùng Mặt trận 44 tiến chiếm khu Kỹ Nghệ An Hòa (quận Đức Dục) và quận Đại Lộc rồi tiến về phía Nam Đà Nẵng.
Thành phố coi như nằm giữa hai gọng kềm của địch.
Tôi nhớ một phái đoàn dân chính gồm có các đại diện dân cử, đảng phái và thân hào nhân sĩ khoảng 10 người, trong số nầy tôi biết dân biểu Phước (cựu HS Phan Chu Trinh và chúng tôi thường gọi là Phước Lít), Giáo sư Trần ngọc Quế (giáo sư trường Phan chu Trinh và là một người cuả một đoàn thể chính trị), họ đến để yêu cầu Tư Lệnh Quân Đoàn có biện pháp quân sự để Đà Nẵng không nằm chịu trận địa pháo như lòng chảo Điện Biên Phủ.
Những đơn vị địch ở phía bắc đèo Hải Vân như:
- Các Sư Đoàn 304, SĐ 308, SĐ 320 B và SĐ 312 đang ở đâu? Có phải chúng đang ở sau lưng những nổ lưc chính không?
Đó là chưa kể những đơn vị địch ở Quân Khu II dồn lên vì QĐ II đã mất trước rồi.
2b. Lực lượng phía QĐVNCH gồm có:
- Sư Đoàn 3/BB, Sư Đoàn /TQLC trừ (vì Lữ Đoàn 147 xem như đã xoá sổ ở phía bắc đèo Hải Vân).
- Không Quân thì tất cả máy bay phải xuôi nam theo lệnh Bộ Tổng Tham Mưu.
- Pháo binh còn vài khẩu.
- Hải Quân chỉ có khả năng vận chuyển hạn chế.
- Sư Đoàn Dù thì đã hoàn toàn rút về Nam.
Quân thất trận đi tìm gia đình, dân lánh nạn từ phía Bắc và phiá Nam đổ về Đà Nẵng, khoảng 1.5 triệu người. Bình thường Đà Nẵng chỉ có khoảng 300,000 dân. Người đi đứng chật đường không thể chen chân được; dĩ nhiên trong số hổn loạn nầy có cả đặc công cùng tiền sát viên pháo binh Cộng Sản..
Đến đây thì Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng cùng quí độc giả đã thấy được quân số tham chiến đôi bên.
Sơ lược những biến cố cuối cùng tại Huế và Đà Nẵng:
- Đêm 25 tháng 3, 1975 Trung Tướng Ngô Quang Trưởng ra lệnh các lực lượng ở Huế rút về ĐN.
- Ngày 26 tháng 3 Trung Tướng Trưởng và tôi bay trực thăng dọc theo bờ biển và tôi thấy tận mắt quân dân bồng bế, gánh gồng dẫn dắt nhau di chuyển về phía Nam. Đi đầu là ĐPQ/NQ tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Kế đến là SĐ 1 rồi đến TQLC. Dân chúng thì chạy lẫn lộn trong đoàn quân và phiá sau. Đa số trong số họ là gia đình quân nhân. Trông thảm thương như cảnh Lưu Bị dắt dân Tân Dã chạy về Diễn Châu trong chuyện Tam Quốc Chí.
Trung Tướng Trưởng muốn tôi lên tầng số để Trung Tướng nói chuyện với Đại Tá Lương, Lữ Đoàn Truởng LĐ 147. Về sau tôi được biết qua Trung Tâm hành Quân QĐI là đoàn người đến cửa Tư Hiền thì tan tác vì không qua được cửa Tư Hiền. Hải Quân và Công Binh nhận lãnh công tác đánh đắm một chiếc tàu Hải Quân làm cầu nổi như dự định trong buổi họp trước đó tại BTL/QĐI, nhưng họ đã không thực hiện được.
Thêm nữa đoàn người bị VC tác xạ và mạnh ai nấy chạy. Bộ Binh và ĐPQ/NQ về đến Đà Nẵng được khoảng 1/3; Nhưng số nầy tan hàng trong hổn loạn để lo đi tìm gia đình nên không còn kiểm soát được.
Sư Đoàn 1 coi như bị xoá sổ cùng với ĐPQ/NQ ở phía Bắc đèo Hải Vân.
Trong ngày 26 tháng 3, 1975 Lữ Đoàn 147 TQLC không bốc được nên Lữ Đoàn đã chiến đấu đến khi hết đạn. Một số tự tử và một số bị địch bắt.
Ngày 26 tháng 3, 1975 Huế xem như đã mất.
Tình hình phía Nam đèo Hải Vân cũng bi đát chẳng kém gì Huế.
Ngày 10 tháng 3 thì hai quận Hậu Đức và Tiên Phước bị tràn ngập bởi Trung Đoàn 52 và Sư Đoàn 711 của Việt cộng.
Ngày 24 tháng 3 Tiểu Khu Quảng Tín rút chạy về Đà Nẵng, và cũng ngày nầy Tiểu khu Quảng Ngãi rút về Chu Lai.
Ngày 26 tháng 3 Sư Đoàn 2 rút ra Cú Lao Ré. Thành phố Đà Nẵng lên cơn sốt hỗn loạn. Cướp bóc đã xảy ra tại kho gạo gần thương cảng.
Sáng ngày 28 tháng 3 Tư Lệnh Quân Đoàn cho triệu tập các cấp chỉ huy để tìm biện pháp vãn hồi trật tự và tái trang bị cho những đơn vị có mặt trong thành phố. Nhưng kế hoạch không thi hành được vì không đủ quân số tác chiến, và hầu như một số lớn sĩ quan đã bỏ phòng sở để đi lo chuyện gia đình. Tôi thấy chỉ có văn phòng Tư Lệnh còn làm việc còn tất cả phòng ban trong bộ tư lệnh hầu như ngừng lại hết.
Vào khoảng 2 chiều ngày ngày 28 tháng 3 Tiểu khu Quảng Nam xem như mất liên lạc. Trung Tướng Trưởng và Tôi chỉ bay đến chi khu Hoà Vang rồi phải trở lại BTL/QĐ. Chi Khu Hòa Vang ở sát phi trường Đà Nẵng. Như vậy QĐI chỉ còn lại Thành Phố Đà Nẵng và Phi Trường chưa bị Việt cộng chiếm mà thôi.
Lực lượng đáng kể để phòng thủ Đà Nẵng chỉ còn Sư Đoàn 3 và 3 Lữ Đoàn TQLC mà thôi.
Trong suốt những tháng ngày ở Mỹ, Trung Tướng Trưởng vẫn thường gặp và đặt giả thuyết với các cấp chỉ huy thuộc quyền rằng nếu khi ấy chúng ta tử thủ Đà Nẵng thì chúng ta có giữ được không? Và việc gì sẽ xãy ra.?
Bây giờ tôi xin chuyển câu hỏi nầy lại cho quí độc giả.
Đến đây tôi cũng xin nhắc đến Sư Đoàn 3:
Sư Đoàn được thành lập với chủ lực là Trung Đoàn 2 cuả SĐ1 BB cùng với quân nhân đủ mọi thành phần: quân nhân văn phòng, quân phạm, hay bị trù dập và bị tống ra Sư Đoàn 3, và Sư Đoàn nầy ra trấn ải địa đầu giời tuyến. Sư Đoàn bị mang tiếng “chạy làng” khi Việt cộng ồ ạt tràn qua vùng giới tuyến phi quân sự, để tấn công quân ta. Ai giỏi hơn ai để không “chạy làng”?
Khi lực lượng Đồng Minh chưa rút đi, thì lực lượng cuả họ gồm:
- Sư Đoàn 3/ TQLC/ Hoa Kỳ
- Thêm Trung Đoàn 1/ TQLC/ Hoa Kỳ tăng phái.
- Sư Đoàn 101 Nhảy Dù/ HK,
- Lữ Đoàn 5 Cơ Giới.
Một tiểu đoàn cuả họ vừa tăng phái lẫn cơ hữu vào khoản 1,500 quân nhân – bằng quân số một trung đoàn chiến đấu của ta.
Hoả lực cuả một Sư Đoàn / Hoa Kỳ chấp cả Hoả lực cuả QĐVNCH không địch nổi. Họ có hỏa lực cuả Không, Hải, Lục yểm trợ tối đa. Mất một sư đoàn là rung chuyển cả nước Mỹ. Một sư đoàn chiến đấu nhưng cả 250 triệu người yểm trợ cả phương tiện lẫn tinh thần. Ngày tôi theo Tiểu Đoàn 3/1 TQLC /Hoa Kỳ hành quân ở vùng Quảng Nam thì một hồi chánh viên nói cho biết rằng các đơn vị Việt cộng rất sợ đụng trận với Mỹ. Tôi hỏi lại anh ta: vậy chúng tôi, QLVNCH, đánh giặc dở hơn Mỹ phải vậy không thì anh ta trả lời rằng không phải vậy - Chúng tôi ít sợ các anh vì các anh bắn ít hơn nhiều, còn Mỹ thì họ bắn như mưa. Anh xem các cây trong làng, có cây nào không đầy vết đạn chằng chịt. Thế nhưng ngày tôi theo Tiểu Đoàn 2/1 TQLC / Hoa Kỳ, tăng phái cho Sư Đoàn 3 / TQLC / Hoa Kỳ, tại phía nam Cồn Thiên vẫn phải chịu trận pháo kích 61 và 82 ly cuả quân chính qui Việt cộng mấy tháng trời.
Đám quân sinh Bắc tử Nam còn dám tấn công các đơn vị Mỹ ở vùng phi quân sự như ở Cồn Thiên, Khe Sanh huống gì một Sư Đoàn tân lập như Sư Đoàn 3?
Những ngày cuối cùng cuả Đà Nẵng nếu không có Sư Đoàn 3, thì Sư Đòan / TQLC / VN không rút xuống tàu được. Sư Đoàn 3 đã bị hi sinh ngăn chận địch và không có kế hoạch bốc Sư Đoàn 3.
Tổng Thống Thiệu đã đặt câu hỏi cho Trung Tướng Trưởng là nếu rút, thì rút được bao nhiêu quân? . Ưu tiên vẫn là rút Sư Đoàn Dù, Sư Đoàn /TQLC để có lực lượng làm hơi thở cuối cùng cuả VNCH.
Lữ Đoàn I Dù còn lại sau cùng chỉ được dùng để ứng chiến nhằm nâng cao tinh thần quân dân mà không được phép xử dụng tác chiến. Sư Đoàn / TQLC cũng vậy; phải làm sao rút được về Sài Gòn.
Khi Tư Lệnh Sư Đoàn 3 về họp lần cuối cùng đêm 28 tháng 3 tại BTL / Hải Quân/ VIDH thì chỉ được biết bất ngờ là phải rút về vùng Horse Shoe gần sông Thu Bồn mà không thấy nói di tản Sư Đoàn 3.
Phương tiện và tình thế chỉ có thể lo cho 2 Sư Đoàn tổng trừ bị mà thôi. Đến đây tôi xin trả lời nghi vấn cuả Đại Tá Phạm Bá Hoa trong “Đôi Dòng Ghi Nhớ” rằng không có quan Xịa nào khuyên đừng đánh cả. Phiá Việt cũng như Mỹ và kể cả Trung Tướng Trưởng chỉ muốn bảo toàn lực lượng để lo chuyện khác về sau, và khả năng chỉ có thể lo cho hai Sư Đoàn Tổng Trừ Bị mà thôi. Sư Đoàn 3 đã bị làm con chốt thí.
Trong quân sử chiến tranh Cao Ly: khi chí nguyện quân Cộng Sản Trung Hoa ồ ạt tấn công thì quân Mỹ và Nam Hàn phải rút về phiá Nam. Sư Đoàn 1/ TQLC/ Hoa Kỳ phải làm nút chận cho quân bạn rút lui . Sư Đoàn nầy đã chiến đấu oanh liệt; nhưng họ phải trả một giá quá đắt: hơn 800 Sĩ Quan và nhiều ngàn binh sĩ hi sinh sau khi họ tự giải cứu và rút sau cùng.
Sư Đoàn 3 cuả chúng ta không làm được như vậy, không có quân bạn gíúp đỡ, để dựa lưng, trưóc mặt là địch, sau lưng là bạn. Sư Đoàn đã phải tứ bề thọ địch.
Hơn nữa chính phủ và nhân dân cuả Sư Đoàn 1 / TQLC / Hoa Kỳ không bỏ rơi họ, trong khi các bạn (Sư Đoàn 3) hoàn toàn bị bỏ rơi. Các bạn ( Sư Đoàn 3) đã chiến đấu oanh liệt trong một hoàn cảnh nghiệt ngã. Xin đứng nghiêm kính chào các chiến hữu Sư Đoàn 3 đã nằm xuồng, hoặc đang quằn quoại đau thương tại quê hương Quảng Đà!
Giờ phút cuối cùng tại Đà Nẵng:
Sáng sớm ngày 29 tháng 3, năm 1975 chúng tôi tiến ra bờ biển để lội lên tàu. Ngoài TQLC ra, tôi đếm BB có khoảng 13 người: Tr/T Trưởng, Tôi , Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ (Tỉnh trưởng Thưà Thiên), Đại Tá Kỳ (Tỉnh Trưởng Quảng Trị), Trung Tá Tuân (Phòng 3 QĐI) và mấy người nữa tôi không nhớ tên.
Tôi đi lòng vòng để tìm một cái phao cho TR/T Trưởng nhưng không tìm được. Các phi cơ trực thăng và Chinooks đang tiếp nhiên liệu bằng cái mũ sắt. Họ phá hai chiềc để lấy nhiên liệu đổ vào một chiếc. Đi đến đâu thì những người trên phi cơ cũng đều chĩa súng vào tôi.
Tôi gặp Thiếu tá Hiếu, người trước đây từng lái trực thăng cho Tr/T Trưởng, và ông la to:
“Đừng bắn nó, nó là bạn tao,”
Ông hỏi: “Mầy có đi thì lên đi với tao.”
“Không,” tôi trả lời”
Thiếu tá có cái phao nào cho tôi một cái cho Tr/T Trưởng.”
“không, tao không có.
Mầy có đi không?” Ông lại hỏi
“Không, tôi còn phải lo cho Tr/T Trưởng “ tôi trả lời.
Ông chúc tôi may măn và tôi cũng chúc lại ông may mắn.
Tôi trở lại tìm TR/T Trưởng thì thấy Thiếu Tá Phương (TQLC) đã nhường cái phao mang cho Tr/T Trưởng mặc dù Th/T Phương không biết lội. Đại Tá Trí kẹp Tr/T trưởng một bên, một bên thì Th/T Phương kẹp. Tôi vớ một khúc gỗ cuả một cái bunker cũ để làm cái phao. Một tay tôi nắm thắt lưng TR/T Trưởng để đẩy ông, một tay ôm khúc gỗ và cả ba chúng tôi dìu ông lội ra tàu.
Biển động, sóng lớn, không có cầu tàu. Nhiều lúc sóng phủ tôi bị chìm lĩm. Chúng tôi lội đến vừa lút đầu thì lên được tàu.
Sau khi lên đến nơi thì TR/T Truởng mê sảng và tôi cũng ngất đi một khoảng thời gian dài vì một phần đói, một phần uống nhiều nước mặn khi sóng phủ, một phần vì quá mệt.
Theo Trung Uý Bình, Hạm Phó LST 404, thì Tr/T Trưởng đã nói trong lúc mê sảng:
“Bây giờ Tổng Thống biểu tôi phải làm gì?”
“Làm như vậy thì làm sao tôi nói với các Tướng dưới quyền tôi được.”
Khi tàu đang lênh đênh ngoài khơi Đà Nẵng thì chúng tôi nhận được lệnh Tổng Thống Thiệu “phải tái chiếm ĐN”.
“Bây giờ tôi đi với ai và lấy gì để tái chiếm.”
Tr/T Trưởng nói một mình và ông ra lịnh cho HạmTrưởng đưa ông và TQLC xuôi Nam.
Trên đường xuôi Nam, tôi và Chuẩn Tướng Khánh, mỗi bữa hai người chia nhau nửa muỗng cơm và nửa muỗng nước của anh em hải quân nhịn miệng để dành cho. Chúng tôi không có thực phẩm và nước uống. Theo anh em HQ cho biết tàu vừa xong công tác và trên đường về bến thì nhận được lệnh quay trở ra Đà Nẵng vận chuyển QĐ I nên không có tái tiếp tế.
Về đến Saì Gòn thì Tr/T Trưởng đã kiệt lực nên được đưa vào Tổng Y Viện Cộng Hoà. Vài ngày sau ông tỉnh táo lại và đã khóc khi tôi đứng bên giường bệnh cuả ông, và ông đã than thở rằng: “Nhờ trời giúp tôi với Hòa mới vào được tới đây.”
Còn nhiều chi tiết nhưng bài báo giới hạn. Một ngày nào thuận tiện tôi sẽ viết nhiều hơn. Trước khi tạm chấm dứt bài nầy tôi xin thưa rằng trong sách “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu” cuả Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng có đề cập đến “Sư Đoàn 1 tự động tan hàng ở Huế” là không đúng. Đối với Tr/T Trưởng một đôi khi một đaị đội BB do một Thiếu Úy chỉ huy đang chạm địch ông cũng đáp xuống xem xét và tôi đã toát mồ hôi hột vì sợ không bảo vệ được ông. Chuyện một đại đơn vị cấp Sư Đoàn tự động giải tán mà Tr/Tướng Trưởng không biết, thì không thể nào có thể xảy ra được. Chuyện lệnh lạc tiền hậu bất nhất cuả Tổng Thống Thiệu thì có và đúng “solid 100%”. Tôi còn vài tài liệu để chứng minh điều này.
Ngày tháng qua đi, qua đi…Mọi sự rồi cũng chẳng còn gì cả. TT. Thiệu đã ra đi, Đại Tướng Viên đã ra đi, vị tướng tài ba và đức độ Tr/T Ngô Quang Trưởng ngày nào của lòng tôi kính mến cũng đã ra người thiên cổ. Các niên trưởng cuả tôi như Chuẩn Tướng Khánh, Đ/T Duệ, Đ/T Phước cũng đã ra đi, và rồi chúng tôi cũng sẽ mờ dần theo năm tháng… Nếu có còn chăng là đôi dòng lịch sử vậy xin tôn trọng “sử xanh” và đừng bẻ cong ngòi bút vì bất cứ lý do nào.
“Biết thì nói rằng biết, không biết thì nói rằng không biết.” Nếu dẫn chứng cho lập luận cuả mình thì xin nêu rõ xuất xứ (foot notes). Xin đừng nói rằng nghe người nầy, người kia nói, là vô căn cứ.
Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng và Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng đã làm buồn lòng những người đã ra đi và những kẻ còn ở lại. Chúng tôi đã từ bỏ tất cả kể cả gia đình thân yêu để làm hết sức mình cho tổ quốc, cho quân đội và cho lý tưởng.
Quân đội nào cũng có một vài cấp chỉ huy hèn mọn, khi địch chưa đến đã bỏ chạy. Quân Đoàn I cũng không ra ngoài cái thông lệ tầm thường đó; nhưng không phải tất cả cấp chỉ huy đều hèn nhát bỏ chạy về đến Sài Gòn trong lúc còn 100,000 quân còn ở lại chiến đấu tại Đà Nẵng.
Tôi là một cá nhân nhỏ bé tầm thường nhưng may mắn còn sống sót sau biến cố 1975. Ở một góc độ nhỏ bé nào đó tôi đã thấy, đã nghe và đã chịu đựng những điều đã xảy ra vì vậy tôi phải nói cho những người không còn nói được nữa, hay họ không bao giờ muốn nói.
Nhìn lại một góc chiến trường xưa....
2/ Cổ Thành Quảng Trị… Trị-Thiên vùng dậy
Cổ Thành Quảng Trị
48 giờ nghỉ dưỡng quân tại hậu cứ, ở ngã tư An Sương, Hốc Môn, đối với tôi, ra Saigon làm một chầu cà phê ở quán Mai Hương, Pagode thế là đủ.
Khi chưa kết hôn, 7 ngày phép với tôi là… quá dài, tới ngày thứ tư, tôi đã thấy bồn chồn, ngày thứ năm, tôi nhớ đồng đội, nhớ đơn vị… Rồi tôi không thể nghỉ phép hết ngày thứ sáu. Tôi về đơn vị, không khí ở đó mặn nồng hơn, vui vẻ hơn, so với những ngày phép ở ngoài, sao nó lạt lẽo, đôi khi vô vị. Đúng vậy, chẳng có mùi vị gì hết. Vì vậy, khi người bạn học cũ hỏi tôi:
“Mày mới từ tử địa An Lộc về, giờ lại ra Miền Trung, bộ không ngán súng đạn sao?”
“Bây chừ thì chưa, bây chừ tao thấy đi hành quân với đơn vị, anh em, mà lại còn về Huế nữa, là… vui lắm.”
Với cái vui ấy, tôi cùng anh em 81 Biệt Cách Nhảy Dù lên mấy chiếc C-130 của quân đội Mỹ, bay ra phi trường Phú Bài ngày 28 Tháng Sáu, năm 1972.
Chúng tôi phải đi gấp vì lệnh của tổng thống đấy.
Hôm đại lễ kỷ niệm Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu năm 1972, tổng thống đọc diễn văn và ra lệnh cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, trong vòng 3 tháng, phải chiếm lại Cổ Thành Quảng Trị. Kể từ hôm tổng thống ra lệnh, đến ngày chúng tôi lên máy bay chỉ mới 9 ngày. Ngoài ấy, Tướng Ngô Quang Trưởng đang là tư lệnh chiến trường, ngoài các đơn vị của Quân Đoàn I, thì các Sư Đoàn Dù, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến cũng đã có mặt rồi. Không những Quân Đội chúng ta giữ được phòng tuyến sông Mỹ Chánh, mà lại còn đang phản công ra phía Bắc con sông nầy.
Xuống ở phi trường Phú Bài, chúng tôi được quân xa đưa thẳng ra PK.17, tức là Đồn Cây Số 17, như dân chúng thường gọi. Đây là căn cứ của Trung Đoàn 3, Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Trung Đoàn đã ra trận, chỉ còn một ít binh sĩ ở lại phòng thủ doanh trại.
Đêm đó, như thường lệ, trước mỗi cuộc hành quân, chúng tôi nhận 7 ngày lương khô và được Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn chỉ thị nhiệm vụ cho từng đại đội. Ông đã được vinh thăng đặc cách đại tá tại mặt trận Bình Long, An Lộc, cũng như về sau này tất cả quân nhân khác trong đơn vị có tham dự tại chiến trường An Lộc, mỗi người đều được thăng một cấp.
Tôi, đại đội trưởng Đại Đội 4, cùng Đại Úy Nguyễn Ích Đoan, đại đội trưởng Đại Đội 1, được lệnh đưa hai đại đội ngày mai lên đường tăng phái cho Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù của Thiếu Tá Lê Văn Mễ. Đơn vị nầy mới từ Charlie về, vừa bổ sung tái huấn luyện, ra Quảng Trị hồi đầu tháng 5, ngay sau khi thành phố Quảng Trị bị mất, nay đang hành quân từ phòng tuyến Mỹ Chánh, tiến dọc theo các ngọn đồi sát chân núi Trường Sơn, phía Tây Quốc Lộ 1. Mục tiêu của Tiểu Đoàn 11 Dù là Nhà Thờ La Vang. Tiểu Đoàn 11 Dù đã hoàn thành nhiệm vụ.
Đại đội tôi được quân xa chuyển đến gần ngã ba đường vào xã Ưu Điềm, từ đây chúng tôi men theo hai bên Hương Lộ, để di chuyển về hướng Mỹ Chánh, vượt qua cầu Mỹ Chánh vào khoảng trưa, Đại Đội phân làm 2 cánh, tiến ra hướng Bắc, ở hai bên Quốc Lộ mới do Công Binh Mỹ vừa xây xong.. Đường nầy không đi qua Diên Sanh, Phủ Lỵ Hải Lăng cũ. Trong một ngày đường là chúng tôi tới khu vực Đại Lộ Kinh Hoàng.
Một khung cảnh quá khủng khiếp hiện ra trước mắt, đã làm cho máu tôi ứa trào lên. Tại sao Việt cộng tàn ác đến như vậy?
Đó là câu hỏi đầu tiên hiện ra trong trí tôi. Những cái ác mà tôi không thể tưởng tượng nỗi, không thể chịu đựng nỗi, không thể chấp nhận được. Tôi vốn là một Phật tử mà. Nhưng dù là một Phật tử, máu tôi không thể không sôi sục dâng trào trước cảnh tượng bất nhân, tàn ác đó..
Trên mặt đường nhựa, xác người dân nằm la liệt, ngổn ngang. Thây người chết ở mọi tư thế khác nhau, nằm sấp, nằm ngửa, nghiêng. Xác thì chân tay dang ra, xác thì chân hay tay co lại. Xác nầy chồng lên xác kia, dồn đống, có xác một mình co quắp bên lề đường… Cái mất đầu, cái mất tay, mất chân.
Có xác đàn ông, có xác đàn bà, có xác trẻ em, có xác không còn nhìn ra là đàn ông hay đàn bà nữa. Không thể nào tả hết được!!!
Đoạn đường Việt Cộng giết người nầy, xảy ra ngay ngày Việt Cộng chiếm thành phố Quảng Trị, ngày 1 Tháng Năm, năm 1972 và những ngày tiếp sau đó.
Vậy là đồng bào nằm đây đã gần hai tháng, da thịt đã rữa. Có nơi xương trắng đã bày ra, sọ, tay chân hay xương sườn. Dù quân nhân mặc đồ trận hay thường dân, thì đồ trận, áo quần cũng đã phai màu, mục nát. Mái tóc dài của mấy mẹ, mấy chị, mấy cháu đã tróc khỏi sọ não, bay là đà theo từng cơn gió thoảng, trên mặt cát còn xông đầy mùi tử khí.
Họ là những người trốn chạy, dù họ là dân sự hay quân nhân. Họ trốn chạy Cộng Sản. Họ trốn chạy chiến tranh. Họ trốn chạy tên bay đạn lạc, dù không biết rõ của phe bên nào. Giết chết những người trốn chạy! Vậy là vô nhân đạo, là vô lương tri, là kẻ giết người dã man, họ đã đi tới chỗ tận cùng của lương tâm.
Trên mặt đường và cả hai bên vệ đường, bên cạnh xác người là lỗ chỗ các hố sâu của đạn súng cối, đại bác, hỏa tiễn mà giặc cộng đã nhẫn tâm rót xuống để giết hại đồng bào và những trẻ thơ vô tội.
Xe cộ nằm dọc theo đường đi, mũi xe hướng về Nam, xe quân đội, xe dân sự, xe hàng, xe đò chở khách, xe lớn nhỏ đủ các loại. Nhiều chiếc bị cháy sạm đen, nhiều chiếc bị đạn pháo bắn hư hại một phần hay hoàn toàn. Rải rác đây đó là các loại xe gắn máy, Vespa, Lambretta, Honda, Mobylette và khá nhiều xe đạp, hầu hết, bị hư, cong vành bể lốp chỉ còn là đồ phế thải.
Dù là một người lính trận, từng vào sinh ra tử, tôi không dám nhìn kỹ những cái xác ấy. Kinh hoàng quá! Kinh hoàng quá! Tàn ác quá! Tàn ác vô cùng tận!!!
Chúng tôi lặng yên di chuyển trong đau buồn và tức giận, vừa sẵn sàng súng đạn để phản công nếu địch phục kích, lại cũng vừa để tránh địch phát hiện. Chúng sẽ pháo, pháo dồn dập nếu thấy chúng tôi.
Đêm mùa Hè, trời tối chậm, chúng tôi được lệnh dừng quân nghỉ qua đêm. Tôi cho lệnh các trung đội đào hố cá nhân phòng thủ ở cả bốn hướng, trải rộng dọc theo hai bên Quốc Lộ 1, để tránh tổn thất khi bị địch pháo kích, đồng thời là để phản ứng ngay nếu bị địch tấn công. Tôi và Ban Chỉ Huy Đại Đội đóng cạnh một chiếc xe GMC của phe ta bỏ lại.
Đêm trôi đi trong bóng tối tĩnh mịch, thỉnh thoảng có ngọn gió thổi qua, tôi thấy dễ chịu đôi chút. Nhưng suốt cả đêm, tôi chỉ chợp mắt từng chặp. Tôi không sợ chết, nếu thần chết có đến, tôi sẽ chống lại, như cái bản năng sinh tồn của muôn loài muôn vật.
Chính tôi đã viết trên tường Đài Tử Sĩ ở An Lộc: “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.” Nói câu đó, và khắc viết lại câu nói đó của người xưa, tức là tôi đã chấp nhận cái kỷ kiến ấy rồi, có chi mà tôi phải thắc mắc.
Nhưng những thây người nằm ngổn ngang đang rửa mục, trên đoạn đường đi qua hồi chiều ám ảnh tôi, làm tôi không ngủ được. Chiến tranh là tàn ác. Những người đi đánh trận như tôi, vì Tổ Quốc, vì đồng bào, tôi chấp nhận nó. Nhưng với những người nằm chết kia, tôi thấy tội nghiệp cho họ, hay như câu Mạ tôi thường nói: “Tội vô cùng.” Tội cho họ quá, không làm sao một con người còn có lương tâm, có thể chấp nhận được.
Sáng hôm sau thức dậy, nhìn vô thùng xe, nhìn chung quanh lại đầy rẫy xác người chết khô, nằm co quắp, nằm dọc dài trên thảm cát, bên vệ đường.
Thật là quá thương tâm, não ruột. Tôi không kềm chế được nỗi xúc động, hai dòng nước mắt ứa trào.
Đại đội tiếp tục tiến ra hướng Bắc, tới một cây cầu, có phải là Cầu Dài như tên dân chúng thường gọi, đã bị sụp đổ, chúng tôi phải trầm mình lội nước vượt qua sông.
Tôi xem lại bản đồ, bên cạnh Quốc Lộ 1, về phía trái hướng Tây, song song với Quốc Lộ là đường xe lửa Saigon-Đông Hà. Bên kia đường xe lửa là khu đồi hoang, lúp xúp cây dại, cây mua và cây sim. Có lẽ vùng nầy tới mùa hoa nở, hoa mua và hoa sim phủ kín ngọn đồi. Nó giống như những ngọn đồi miền Trung, Bình Trị Thiên hay Thanh Nghệ Tĩnh vậy. Đây là “Những đồi hoa sim, màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt.” Tiếc rằng, tôi cũng là người chiến binh, không có thì giờ lang thang qua những đồi sim nầy để thấy màu tím của quê hương.
Di chuyển thêm chừng cây số nữa, bên trái là một căn cứ pháo binh của Sư Đoàn Dù, tình cờ tôi gặp Chuẩn Úy Hoàng Công Thức, Khóa 25 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, là em một người bạn học cùng xóm, con trai Thầy Hoàng Văn Ngũ, giáo sư Sinh Ngữ Trường Trung Học Công Lập Nguyễn Tri Phương, Huế. Anh là Tiền Sát Viên Pháo Binh của Sư Đoàn Nhảy Dù, đang hoạt động vùng nầy.
Sau cùng, đại đội tôi cũng đã tiếp cận tuyến phòng thủ của Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù, tôi trình diện Mê Linh, tức là Thiếu Tá Lê Văn Mễ, tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 11 Dù. Cùng gặp Mê Linh với tôi sau đó là Đại Úy Nguyễn Ích Đoan, đại đội trưởng Đại Đội 1 Biệt Cách Nhảy Dù.
Mê Linh giao nhiệm vụ cho hai đại đội Biệt Cách Dù là tái chiếm Nhà Thờ La Vang, tên mới là Vương Cung Thánh Đường La Vang: “Đại đội các anh phải chiếm lại nhà thờ nầy và giữ nó, không cho địch chiếm lại.” Có nghĩa là Dù đã chiếm nó. Đó là công lao của “Hùng Móm,” nhưng Hùng phải bỏ nó lại đi tiếp xuống để đánh vào thành phố Quảng Trị, thừa cơ hội đó, VC chiếm lại mục tiêu nầy.
Con đường tiến quân của Cộng Sản đánh vào Quảng Trị là con đường từ Ba Lòng xuống Như Lệ, Phước Môn, bên hữu ngạn Sông Thạch Hãn, theo một con đường bỏ hoang đã lâu, có cái tên cũ là đường Bảo Đại. Nó không giống như con đường Trần Lệ Xuân ở Phước Long, con đường đi lấy gỗ rừng của dân xe be khai thác gỗ.
Ở đây, đường Bảo Đại là con đường đi săn của nhà vua trước năm 1945, khi ông vua ham săn bắn nầy còn ngồi trên ngai vàng. Quân Cộng Sản đã theo con đường này, đưa quân chiếm lại Nhà Thờ La Vang. Nó cũng có nghĩa là khi Tiểu Đoàn 11 Dù từ hướng Tây đánh vào thành phố, thì coi như Tiểu Đoàn đưa lưng ra cho địch từ sau đánh tới. Trong ý nghĩa đó, hai đại đội Biệt Cách Dù có nhiệm vụ lấy lại Nhà Thờ La Vang, và giữ nó là nhằm mục đích bẻ gãy ý đồ của địch.
Bây giờ chúng tôi lại phải áp dụng chiến thuật sở trường: đánh đêm.
Vị trí giữa địch và ta đã thay đổi. Trước kia, chúng ta ở trong đồn, VC công đồn, chúng phải đánh ta vào ban đêm, chúng ta khó phát hiện địch. Bây giờ thì chúng ta phải công đồn, chúng ta cũng đánh đêm, địch không thể phát hiện được ta.
Nhà Thờ La Vang mặt quay về hướng Đông. Đại Đội 1 đánh từ hướng Tây Tây Nam, phía có Hang Đá Đức Mẹ. Đại Đội 4 tôi cũng đánh từ hướng Tây, Tây Bắc, phía có con đường đi lên Nhà Thờ Phước Môn ở phía Tây Nhà Thờ La Vang, gần chân núi Trường Sơn hơn.
Vào nửa đêm, chúng tôi âm thầm hai cánh quân tiến sát vòng đai Nhà Thờ La Vang, vừa dàn quân lại gặp một trận mưa lớn, chúng tôi án binh bất động.
Trời vừa sáng, dứt cơn mưa, quan sát các bố phòng của địch, tôi điện báo cho Đại Úy Đoan để phối hợp tác chiến, rồi bắt đầu phát lệnh xung phong, tấn công chớp nhoáng, ào ạt, địch quá bất ngờ, nên một số đã bị tiêu diệt, một số vất súng đầu hàng, vài ba tên tháo chạy vào bên trong nhà thờ, dùng B.40, AK.47 tác xạ chống trả, nhưng đã bị cánh quân hướng Tây Bắc của Đại Đội 4 chúng tôi ném lựu đạn triệt hạ 20 tên và bắt sống 05 tên. Chúng tôi 03 tử thương và 12 bị thương. Thu dọn chiến trường xong, Đại Đội 1 được lệnh ở lại bố phòng Nhà Thờ La Vang. Đại Đội tôi tiếp tục tiến về hướng Đông Đông Bắc để thanh toán mục tiêu kế cận là Chi Khu Mai Lĩnh.
La Vang 1972
Chi Khu Mai Lĩnh, thuộc Quận Mai Lĩnh, tọa lạc trên đoạn đường rẽ, tên thường gọi là Ngã Ba Long Hưng, là con đường cũ đi vào thành phố, phía ngoài sân vận động Quảng Trị cũ, kế cận trường trung học Nguyễn Hoàng.
Trên con đường tiến quân từ Nhà Thờ La Vang đến Chi Khu Mai Lĩnh, đại đội tôi bị tử thương một khinh binh và một tiểu đội trưởng vì đụng chốt VC tại ngã ba đường La Vang và Quốc Lộ 1. Nhổ chốt là sở trường của Biệt Cách Nhảy Dù, theo chiến thuật của Đại Tá Huấn. Pháo Binh cho nổ một tràng vào vị trí địch, buộc địch phải lụt đầu xuống, núp trong các hố cá nhân. Các viên đạn cuối là đạn lép. Trong khi, nghe tiếng đạn đi, VC còn núp, thì chúng tôi biết đó là đạn lép, không có gì nguy hiểm, liền nhanh chóng áp sát chỗ chúng ẩn núp, nhờ đó, chúng tôi thanh toán bọn chúng không mấy khó khăn.
Đại đội tôi cũng áp dụng chiến thuật đánh đêm để tiến chiếm Chi Khu Mai Lĩnh. Đơn vị VC chốt lại đây không đông, khoảng 15 hay 20 tên, chúng nằm trong các công sự có sẵn trong Chi Khu để chống trả, và vì thế mà chúng đã không ngờ binh sĩ của đại đội tôi, một nửa ém quân bên ngoài, thỉnh thoảng tác xạ súng phóng lựu M.79 vào bên trong Chi Khu, một nửa lợi dụng trời tối đen như mực đã bò vào nằm sát bên ngoài công sự, khi chúng tác xạ chống trả đã để lộ mục tiêu, nên bị chúng tôi ném lựu đạn giết chết và làm trọng thương hầu hết.
Ở lại trấn thủ Chi Khu Mai Lĩnh được hai hôm, đại đội tôi được lệnh tăng phái cho Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Bùi Quyền, Thủ Khoa Khóa 16 Võ Bị Đà Lạt, đang hành quân ở phía Đông Thành Cổ. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đang đóng tại khu vực Thôn An Thái cách Cổ Thành khoảng 3 km về hướng Đông Nam. Trình diện danh tánh, cấp bậc, chức vụ với Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5, Thiếu Tá Bùi Quyền nhìn tôi nói đùa:
“Tôi thì nhỏ con, Trung Úy Lực thì to con, vậy tôi gọi ông là Lực Đô nhé, à… à… mà Lực Đô nói lái là Lộ Đức, vậy thì Lộ Đức là ám danh đàm thoại vô tuyến tôi đặt cho trung úy trong cuộc hành quân này, trung úy, có chịu không?”
Nói xong, Thiếu Tá Quyền cười vui vẻ vì cái sáng kiến độc đáo của ông. Nhờ ông, mà cái biệt danh Lộ Đức đã đeo đẳng theo tôi từ đó cho tới bây giờ.
Hôm sau Đại Đội 3 của Đại Úy Phạm Châu Tài cũng được điều động đến tăng cường cho Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù.
Thiếu Tá Bùi Quyền họp các đại đội trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù và Biệt Cách Dù để ban lệnh hành quân. Ông giao cho tôi nhiệm vụ tấn công chiếm cứ nhà thờ Hạnh Hoa Thôn, thuộc làng Cổ Thành, quận Triệu Phong. Đai Đội 3 là lực lượng trừ bị. Thôn nầy ở bên sông, đẹp như cái tên của nó, nằm trên con đường đất hẹp, từ phía Đông Thành Cổ ra tới bờ sông Vĩnh Định, Thôn Hạnh Hoa có những ngôi nhà cổ, vườn rộng, cây lá xanh tươi, nhiều gốc mai lưu niên, có thể là trồng từ lâu lắm, đã mấy chục đời.
Nhà thờ Hạnh Hoa nhỏ, đối diện với bên kia đám ruộng nhỏ là nhà thờ Tri Bưu cao lớn, có tháp chuông vươn khỏi những ngọn tre làng.
Địch đang chiếm cứ trong nhà thờ.
Đánh trận ở đây, khi thấy địch chiếm đóng nhà thờ, tôi thường nhớ lại một câu trong bài hát: “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”:
“Từ khi giặc tràn qua Xóm Đạo,
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương.”
Vâng, tôi là người chiến sĩ giữ quê hương và tôi đang đuổi giặc ra khỏi xóm quê nầy, mặc dù tôi chẳng có một em nhỏ nào cả “để nghe khe khẽ lời em nguyện” mà chỉ có “Luyến thương chan chứa Tình Quê Mẹ” mà thôi.
Hình như quân Cộng Sản chỉ quen với chiến thuật tấn công hơn là chiến thuật phòng thủ. Nhờ vậy chúng tôi lần nữa sử dụng kỹ thuật đánh đêm. Tôi bung bốn trung đội men theo các nhà dân bị đổ nát, song hành tiến sát nhà thờ Hạnh Hoa Thôn.. Lại một trận mưa rào đổ xuống đã giúp xóa bớt tiếng động di hành của chúng tôi, và nhờ đó mà đại đội đã vào chiếm cứ nhà thờ không một tiếng súng nổ. Đáng buồn là khi trời hừng sáng, địch đã nổ súng phản công và trong lần đụng độ này, tôi mất người hiệu thính viên mà tôi rất thương mến: Hạ Sĩ Chấn. Anh đã hy sinh ngay khi đang cầm ống nghe liên lạc báo cáo với Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, thì bị một viên đạn địch bắn trúng đầu.
Vào ngày hôm sau, từ tờ mờ sáng đại bác của VC tác xạ liên hồi từ hướng Tây vào các vị trí phòng thủ của các đơn vị Nhảy Dù, đại đội tôi và rải rác quanh khu vực phía Đông của Cổ Thành. Vừa ngưng pháo thì VC bắt đầu mở cuộc tấn công qui mô với một đơn vị Cộng quân đông hơn quân số đại đội tôi tới khoảng 5 lần.
Bọn chúng từ một ngôi làng ở hướng Bắc Thôn Hạnh Hoa, ồ ạt xung phong biển người tấn công vào nhà thờ Tri Bưu và nhà thờ Hạnh Hoa. Chúng tôi sử dụng hết hỏa lực của mình để ngăn giặc. Nhưng kỳ lạ chưa? Bọn chúng như điên cuồng, như rồ dại, như uống bùa mê thuốc lú, hết lớp nầy ngã xuống, lớp sau tiến lên. Lớp sau ngã xuống, lớp sau nữa tiến lên. Không những chúng tôi ngạc nhiên, thấy kỳ lạ mà còn kinh hoảng nữa, tự hỏi: “Sao bọn chúng ngu xuẩn, điên rồ vậy?” Cứ tình trạng nầy, đại đội tôi, với quân số ít ỏi, chưa kịp bổ sung sau trận An Lộc, sẽ bị chúng tràn ngập mất thôi.
Nhưng cuối cùng, trước hỏa tập TOT của Pháo Binh Dù và Sư Đoàn 1, cùng sự chiến đấu dũng cảm của các Đại Đội Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù và Đại Đội 4 chúng tôi. Bọn chúng quay đầu tháo chạy như lũ chuột, bỏ lại trên bãi chiến trường la liệt xác chết của đồng bọn, của những tên giặc cộng cuồng tín, vô thần, mất hết cả lương tri, nhân tính.
Tôi ngồi nghỉ mệt, lật tấm bản đồ ra xem lại vị trí của mình, tôi bỗng chợt nhớ câu chuyện của một người bạn cũ kể lại. Tết năm Mậu Thân, VC dùng con đường nầy để tiến quân đánh vào Thị Xã Quảng Trị, ngay tại điểm nầy, chỗ tôi đang ngồi, Thôn Hạnh Hoa, VC đụng phải một Tiểu Đoàn Nhảy Dù và thiệt hại không ít. Nhờ đó mà Quảng Trị được yên hơn Huế là vì vậy.
Hèn chi, VC cố chiếm lại nhà thờ Hạnh Hoa Thôn, là vì nó nằm trên con đường chiến thuật. Mất nhà thờ Hạnh Hoa Thôn, là chúng mất con đường tiếp cận với binh lính của chúng đang cố thủ trong Cổ Thành. Giữ được nhà thờ Hạnh Hoa Thôn là đại đội tôi đã đóng góp sức mình cho công việc tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị.
Tình hình chiến sự ở khu vực cận Cổ Thành vẫn còn sôi động, súng đạn từ trong bắn ra từ ngoài bắn vào nổ liên tục. Tiểu Đoàn 5 Dù được tăng cường thêm Đại Đội 1 và Đại Đội 2 Trinh Sát Dù, đang nỗ lực tấn công chiếm Cổ Thành. Thiếu Tá Bùi Quyền ra lệnh cho Đại Đội 3 và Đại Đội 4 Biệt Cách Dù, cùng tiến lên chiếm lĩnh phòng thủ tại Nhà Thờ Tri Bưu, để phụ trách sườn cánh phải, hướng Bắc của Cổ Thành.
Tôi dẫn đại đội thi hành nhiệm vụ. Chẳng còn thằng cùi hủi nào trong nhà thờ Tri Bưu cả. Bọn chúng đã bị Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù triệt hạ hầu hết trong lần tập kích trước, nên rút chạy cả rồi.
Ngay cả nhà dân chúng chung quanh nhà thờ, dân thì đã di tản đã lâu, từ đầu trận đánh, bây giờ chẳng còn thằng nào bén mảng đến đây.
Tôi vẫn cho binh sĩ lục soát kỹ ở nhà thờ, không có gì hết, ngoài một số xác chết của đám “sinh Bắc tử Nam” bị sình thối, nằm vương vãi một vài nơi, trong và ngoài khuôn viên nhà thờ. Nhưng tôi rất buồn khi nhìn lên Bàn Thờ Thánh, tượng Chúa Giê Su còn đó, một mình trên Thập Giá. Cha xứ và con chiên chạy trốn giặc Cộng hết cả rồi. Cảnh tượng ấy làm cho tôi thấy đau lòng hơn cả câu thơ của Phạm Văn Bình: “Chúa buồn trên Thánh Giá. Mắt nhạt nhòa mưa qua!” Tôi không khóc, vốn dĩ từ nhỏ tôi ít khi khóc. Nhưng xúc động thì tình cảm của tôi không thua kém ai, nhất là khi tôi nhìn lên gác chuông nhà thờ. Gác chuông đã bị đổ sập, chỉ còn một nửa. Là một Phật tử, không mấy khi tôi vào quì lạy trong nhà thờ để nhìn lên tượng Chúa, nhưng gác chuông nhà thờ là một hình ảnh không xa lạ gì với số đông người Việt Nam. Vì vậy, khi nhìn cái gác chuông bị gãy đổ, lòng tôi xúc động hơn. Nơi đây không còn tiếng chuông nhà thờ nữa, tiếng chuông rộn rã mà tôi đã từng nghe khi tôi còn tuổi ấu thơ.
Đại đội được lệnh nằm án ngữ tại nhà thờ Tri Bưu, ban đêm bung quân ra bên ngoài, để ngăn chặn địch có thể trở lại quấy phá. Trong một lần kích đêm, tiểu đội tiền đồn của Trung Sĩ Khưu Công Quí đã bắn tử thương 02 giặc cộng đang mò mẫm đi vào hướng khu nhà đổ nát của dân, tôi nghĩ chắc để tìm kiếm lương thực (?). Không lâu sau đó, Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù ra lệnh Đại Đội 3 và 4 chúng tôi đưa quân về hướng Đông, tiếp cận Cổ Thành. Có đơn vị Nhảy Dù đang chờ ở đó.
Từ nhà thờ Trí Bưu, đại đội đi lom khom, lẩn khuất trong các khu vườn nhà dân, từ vườn nầy qua vườn khác, để tránh địch phát hiện. Tới phía ngoài Cổ Thành, trong vị trí bố phòng của các đại đội Nhảy Dù, tôi nhìn thấy có một số binh sĩ Nhảy Dù tử thương, bị thương, đang nằm trên các băng ca, chưa kịp di tản. Cũng vào lúc đó hàng loạt trái đạn do Pháo Binh tác xạ, rồi tiếp theo sau là các chiến đấu cơ A.37, Skyraider của Không Quân Việt Nam đang thay nhau oanh tạc, nổ dồn dập, inh ỏi trên Kỳ Đài Cổ Thành Quảng Trị. Nhưng, bỗng dưng, không rõ từ đâu có hai chiến đấu cơ loại F.5 của Mỹ, bay vào khu vực giội bom, nổ lạc hướng về phía phòng thủ của Nhảy Dù, gây nên tổn thất nặng nề về nhân mạng cho Đại Đội 51 và 52 của Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù và một ít cho hai Đại Đội 3 và 4 Biệt Cách Nhảy Dù đang bố phòng kế cận. Sự kiện nầy làm cho quân số của Nhảy Dù hao hụt nhiều hơn. Họ tham gia cuộc hành quân tái chiếm Quảng Trị kể từ đầu Tháng Năm cho đến giờ, vậy là đã hơn 2 tháng. Hai tháng đánh trận liên miên, ngày đêm không ngơi nghỉ, sức voi cũng không chịu nổi. Tôi nghĩ thầm mà thấy thương cho các chiến hữu của tôi.
Ngày 27 Tháng Bảy, năm 1972, ba lữ đoàn Nhảy Dù và hai Đại Đội 3 và 4 Biệt Cách Dù có lệnh triệt thối để bàn giao chiến trường cho Thủy Quân Lục Chiến. Vì là lực lượng tăng phái, Đại Đội 3 và 4 Biệt Cách Dù được rút trước. Nhảy Dù còn ở lại, chờ quân bạn tiến lên tiếp nhận phòng tuyến.
Barbara và Helène là hai cao điểm nằm ở thượng nguồn, giữa sông Ba Lòng và sông Nhùng về phía Tây Tỉnh Quảng Trị, gần Trường Sơn. Đỉnh Helène cao hơn, thường bị mây mù bao phủ sớm chiều, nhất là về mùa mưa, mây che mờ mịt. Còn Barbara thì thấp hơn một chút, ít mây mù hơn, thuận tiện công việc quan sát đường chuyển quân của Cộng Sản quanh mật khu Ba Lòng.
Rút khỏi Quảng Trị, mấy chiếc Chinook bốc thả Đại Đội 1 và Đại Đội 4 Biệt Cách Nhảy Dù xuống căn cứ Barbara, với nhiệm vụ là từ cao điểm này, tung các toán thám sát của đại đội, thâm nhập vào phía Nam mật khu Ba Lòng để theo dõi, phát hiện sự chuyển, rút quân của địch, mà hướng dẫn pháo binh tác xạ và khu trục oanh kích.
Căn cứ nầy trước kia là của quân đội Mỹ trú đóng. Họ đã rút đi, nay chỉ còn lại những công sự ngầm và hàng rào phòng thủ bao quanh phòng tuyến.
Chiến trường Quảng Trị vẫn còn tiếp diễn, nhưng có lẽ địch đã núng thế rồi, không còn hy vọng gì giữ Cổ Thành lâu hơn được nữa, do đó, các toán thám sát đã báo cáo thấy địch rút quân ra nhiều hơn là đưa quân vào tăng cường cho quân phòng thủ trong thị xã. Các toán thám sát nhận lệnh theo dõi và định vị chính xác đường mòn, căn cứ địch. Từ đó, tôi thông báo về Bộ Chỉ Huy để xin pháo binh và phi cơ tiêu diệt.
Công việc cứ tuần tự như thế cho đến khi nghe tin chiến thắng. Sư Đoàn Thủy Quân Lục chiến đã giương cao ngọn Cờ Vàng ba sọc đỏ của Tổ Quốc Việt Nam trên Cổ Thành Quảng Trị, hôm ấy là ngày 16 Tháng Chín, năm 1972, trước kỳ hạn ba tháng của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, tổng tư lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Có một điều, trong suốt gần ba tháng dài cùng phối hợp chiến đấu bên cạnh các tiểu đoàn Dù, tôi vẫn không hiểu tại sao Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù là một đơn vị tinh nhuệ, chiến đấu can trường, đã mang lại nhiều chiến công hiển hách, mà gần nhất là An Lộc điển hình, nhưng khi đưa vào chiến trường Quảng Trị lại không là một nỗ lực chính, giao phó riêng một vùng trách nhiệm như hồi Mậu Thân ở Ngã Ba Cây Quéo, Cây Thị, hay vừa qua tại An Lộc, mà lại xé lẻ, riêng rẽ từng đại đội, để tăng cường cho các tiểu đoàn Dù và đặt dưới quyền điều động, sinh sát của họ mà thôi.
Phải chi với sở trường đánh địch trong thành phố, với chiến thuật du kích, đánh đêm tài tình, điêu luyện, với tài chỉ huy mưu lược của Đại Tá Phan Văn Huấn, khi tham chiến tại Quảng Trị mà được hoạt động riêng rẽ, chắc chắn Liên Đoàn sẽ lại tái diễn thêm một kỳ công, chiến tích lẫy lừng, để sớm mang lại chiến thắng, rút ngắn thời gian tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị mà Sư Đoàn Dù đã đổ máu không phải là ít.
Thế là tàn một trận chiến. Lòng tôi vui mừng vì chúng ta đã chiến thắng, nhưng không khỏi bâng khuâng tự hỏi: “Tại sao họ không ở yên ngoài kia mà đem quân xâm lăng chúng ta, tạo ra hàng vạn, hàng vạn người sinh Bắc tử Nam.” Câu hỏi không dễ trả lời, nhưng có bao nhiêu người khi gây ra một cuộc chiến, nghĩ đến câu: “Nhất tướng công thành, vạn cốt khô!”
Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù trong đó có Đại Đội 4 Biệt Cách Nhảy Dù do tôi chỉ huy, một lần nữa đã góp một phần công lao, xương máu, để viết lên thêm một chiến thắng oai hùng, lừng lẫy trong trang Sử Chiến Tích của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, để mãi mãi lưu truyền cho Hậu Thế.
***
Cùng chung chiến hào
“Mình ba đứa hôm nay gặp nhau….
Xuất thân khác quân trường
Thủ Đức hay Võ Bị,
Đều chung một con đường.
Xông pha khắp chiến trường,
Vẫy vùng nơi trận địa,
Hy sinh vì lý tưởng.
Quyết bảo vệ quê hương.
Tay buông súng đầu hàng,
Nhục hờn căm lính trận,
Tha hương chung phận số,
Kiếp lưu đày vong nô.
Bốn phương về hạnh ngộ,
Áo trận dẫu mờ phai,
Vẫn kiêu hùng phong độ.
Bất tử mãi thiên thu.
Nang Van Le
nangvanl@aol.com
dongsongcu | April 12, 2018 at 9:19 pm | Categories: Uncategorized | URL: https://wp.me/p7euFv-edZ
   Like

Unsubscribe to no longer receive posts from dòng sông cũ.
Change your email settings at Manage Subscriptions.



__._,_.___

Posted by: "Patrick Willay" 

Thursday, April 12, 2018

Nhớ về một người bạn: Anh Nguyễn Hữu Thông 02


Nhớ về một người bạn:
Anh Nguyễn Hữu Thông, Trung Đoàn Trưởng 42 mất tích sau 30/4/1975
Bài của GS Nguyễn Lý-Tưởng, cựu Dân Biểu VNCH

-Hơn mười năm rồi không gặp nhau mà anh còn nhớ đến tôi. Cám ơn anh nhiều. Nghe tin anh vào học trường sĩ quan Đà Lạt (khóa 16), chương trình đào tạo bốn năm, về văn hóa tương đương Đại học như bên Mỹ, tương lai sẽ là cấp chỉ huy quan trọng trong quân đội. Mừng cho anh.
Anh Thông đáp lại:
-Tôi cũng được tin anh đã vào được trường Đại Học Sư Phạm, tương lai sẽ làm Giáo Sư ban Tú Tài, trong các bạn cũ, phần nhiều vào ngành Cảnh sát, dạy tiểu học hay vào quân đội. Vào được Sư Phạm như anh và cô Thanh (cháu Cha Định) rất ít. Bạn cũ ngày xưa chưa có ai học Y Khoa, Dược Khoa,v.v...


Ở Khe Sanh có giáo xứ Công giáo do Linh Mục người Pháp phụ trách và có nhà thờ Tin Lành do các Mục Sư người Mỹ và người Việt, hoạt động truyền giáo cho người Thượng (dân thiểu số vùng núi Trường Sơn). Ở chơi Khe Sanh mấy ngày, chúng tôi được ông Quận Trưởng cho đi thăm Bản Phường gần sông Tchépône (Xê Pôn), sông này chảy về phía Tây là nước Lào, chảy về hướng Đông là sông Thạch Hãn của Việt Nam, chỗ chia hai giòng nước gọi là đường phân thủy chia ranh giới giữa hai quốc gia Lào – Việt. Theo chính sách “ấp chiến lược” của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, chính quyền đã gom dân thiểu số lại một chỗ tại Bản Phường, cấp súng để tự vệ...Từ Khe Sanh có đường đi tới Ba Lòng (chiến khu cũ của Việt Minh trước 1954), và Cùa (chiến khu của vua Hàm Nghi năm 1885), khi Pháp chiếm kinh thành Huế (5/7/1885), Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghị chạy ra Quảng Trị, lên Tân Sở (Cùa), vượt sông Tchépône qua Lào...Một số lính VN theo vua ở lại vùng này đã sống với người thiểu số nên hiện nay có nhiều người ở Bản Phường trông giống người Việt. Họ nói tổ tiên họ là người Việt. Có người còn giữ được những đồng tiền và kiếm vua ban cho (loại tiền vàng quý giá)...Dân địa phương thưởng kể chuyện về con voi của vua Hàm Nghi,không qua sông được vì quá sâu, nên chỉ có vua và một số tùy tùng qua sông bằng thuyền, voi và lính ở lại. Người ta thường thấy voi xuất 

hiện ở vùng này nhưng nó sống một mình, không đi theo voi đàn. Có lần vua Bảo Đại đi săn với viên Đại Tá người Pháp tại Quảng Tri, bi voi này đuổi. Đại Tá người Pháp bị voi giết chết, chôn tại Quảng Trị gần nghĩa trang Công Giáo Trí Bưu. Nhưng voi không xúc phạm đến vua vì nó nhận ra đó là chủ cũ của nó nên nó bỏ đi. Có người giải thích sự kiện này, theo họ thì các vua nhà Nguyễn thường sử dụng một thứ nước hoa đặc biệt dành cho hoàng gia, vì thế voi đã quen với mùi nước hoa này, nhận biết đó là vua nên bỏ đi...Chúng tôi cũng đi qua những đồi cỏ xanh tươi của Làng Vei trong khi ở Quảng Trị, Đông Hà mùa này đồng khô, cỏ cháy vì nắng nóng và gió lào...
Năm 1963 xảy ra vụ tranh đấu của Phật giáo chống TT Ngô Đình Diệm khắp miền Trung và Sài Gòn, rồi biến cố 1/11/1963, đảo chánh lật đổ chế độ đệ I Cộng Hòa, chiến tranh càng ngày càng leo thang, năm 1964, quân Mỹ công khai đổ bộ vào bãi biển Đà Nẵng, Mỹ bắt đầu tăng quân số tại Việt Nam và cho B.52 ném bom Bắc Việt...Mùa Xuân 1966, nhân vụ Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Đoàn I tại Đà Nẵng bị cách chức, Thượng Tọa Thích Trí Quang hô hào Phật tử xuống đường ủng hộ Nguyễn Chánh Thi, đòi lật đổ Thiệu- Kỳ (Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương)...Lúc đó tôi có mặt ở đại học Huế nên biết rõ hoạt động của nhóm sinh viên thân Cộng và sự xâm nhập của cán bộ CS nằm vùng tại Huế và các tỉnh Miền Trung nhất là trong các trường học. Ngày 31/5/1966, Thiếu Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư Lệnh Sư Đoàn 2 BB tại Quảng Ngãi được đưa lên làm Tư Lệnh Quân Đoàn I sau khi các Tướng Nguyễn Văn Chuân, Tôn Thất Đính và Huỳnh Văn Cao được Trung Ương đưa ra thay thế Nguyễn Chánh Thi nhưng không ổn định được tình hình. Thiếu Tướng Hoàng Xuân Lãm với quyết tâm dẹp loạn, được sự phối hợp của Biệt Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Nhảy Dù,v.v. đã tái lập trật tự. Sau cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến 9/1966, tôi được về Bộ Giáo Dục làm việc tại Văn Phòng Công Cán Ủy Viện đặc trách Thanh Niên bên cạnh Tổng Trưởng là BS Nguyễn Văn Thơ...Hiến Pháp do Quốc Hội Lập Hiến soạn thảo, được ban hành ngày 1/4/1967, tiếp đến là tổ chức bầu cử Tổng Thống, Thượng Nghị Viện, Hạ Nghị Viện...Tôi đã nộp đơn ứng cử Dân Biểu tại tỉnh Thừa Thiên, trong khi đi vận động bầu cử Dân Biểu, tôi tình cờ gặp anh Thông đang chỉ huy một tiểu đoàn từ Quảng Trị vào Huế tăng cường an ninh cho cuộc bầu cử. Anh Thông hứa sẽ giới thiệu tôi là bạn của anh từ thời còn học tiểu học và xin lính của anh ủng hộ. Ngoài anh Thông, tôi còn được anh Phạm Văn Đính (Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Hắc Báo 

kiêm Quận Trưởng Quảng Điền (Thừa Thiên) và anh Trần Sơn (chỉ huy lính Nhảy Dù) đang đóng quân tại cây số 17 (trên Quốc Lộ I) hứa giúp...Kết quả cuộc bầu cử 23/10/1967, tôi đắc cử Dân Biểu tại tỉnh Thừa Thiên. Trong một lần đến thăm Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, tôi có giới thiệu với Trung Tướng anh Nguyễn Hữu Thông, Tiểu đoàn trưởng thuộc Sư Đoàn 1 BB là bạn học với tôi khi còn nhỏ, đồng hương Quảng Trị, xuất thân từ trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt khóa 16 năm, là người đạo đức, gương mẫu, cấp chỉ huy giỏi, được cảm tình của mọi người. Trung Tướng Lãm cũng là người đồng hương Quảng Trị, là cựu sinh viên Võ Bị Đà Lạt, du học Pháp, du học Mỹ...Cụ Hoàng Trọng Thuần, thân sinh của Trung Tướng là bạn thân của cha tôi...nên rất quý tôi. Trung Tướng có hứa sẽ quan tâm đến anh Thông khi có cơ hội sẽ tiến cử anh. Mấy năm sau, tôi được tin anh Thông đã lên Trung Tá, Trung Đoàn Phó Trung Đoàn 2 BB trấn giữ vùng Đông Hà, Bến Hải, phía Nam vĩ tuyến 17. Khoảng 1973, 1974, tôi xem TV Sài Gòn thấy anh Thông, mang cấp bậc Đại Tá, đang ở trong hầm chỉ huy của Trung Đoàn 42 SĐ 22 BB tại Pleiku.
Sau ngày 30/4/1975, tôi đã trải qua nhiều nhà tù dưới chế độ CSVN, từ Nam chí Bắc, tôi đã từng sống chung trong tù với các tướng lãnh, sĩ quan VNCH...gặp ai tôi cũng hỏi tin tức về anh Thông...nhưng chỉ biết anh mất tích vào giờ chót, còn việc sống chết ở đâu...thì không ai biết rõ. Tôi rất thương và chỉ biết cầu nguyện cho anh mà thôi.
Năm 1988, tôi được ra khỏi nhà tù CS , từ Miền Bắc trở về Sài Gòn, nhân dịp LM Simon Nguyễn Văn Lập, cựu Viện Trưởng ĐH Đà Lạt, mừng 50 năm Linh Mục tại giáo xứ Fatima Bình Triệu, tôi có đến chúc mừng ngài. Trong số cựu sinh viên có mặt trước sân nhà thờ, có một người chạy đến vỗ vai chúc mừng tôi “còn sống trở về sau 13 năm tù” Tôi không nhớ người đó là ai? Vì lâu ngày quá, gương mặt ai cũng thay đổi.
-Anh không nhận ra tôi à? Tôi là Thanh cháu cha Định đây.
GS Nguyễn Thị Thanh, dạy Pháp văn, vợ GS Trần Văn Thuấn, chị Thanh cùng học Sư Phạm Huế với tôi là cháu Cha Định DCCT, người bà con với anh Nguyễn Hữu Thông. Trước 1975, Cha Định có tổ chức Trung Tâm Văn Hóa Duy Linh tại đường Nguyễn Thông gần Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn, ngài mời tôi tham gia sinh hoạt văn hóa “duy linh”, lâu lâu có việc gì cần, ngài cho ông già...chạy xe mobylette đến gặp tôi...Ngài biết tôi là bạn học cùng lớp với anh Thông khi còn nhỏ và cũng là bạn học với anh Thuấn tại trường Thiên Hựu, chúng tôi đều quen nhau. Có lần Cha Định trao cho tôi hồ sơ của GS Nguyễn Thị Thanh, nhờ tôi xin với Bộ Giáo Dục cho GS Thanh về dạy ở Huế vì ngài biết tôi là đàn em của BS Nguyễn Văn Thơ, Tổng Trưởng Giáo Dục lúc đó. Ngoài ra tôi còn là Dân Biểu và cũng đã từng làm việc tại Bộ Giáo Dục thời BS Nguyễn Văn Thơ nên hy vọng lời nói của tôi sẽ được việc...Kết quả, GS Thanh được về Huế để gần gia đình bên chồng. Qua câu chuyện với chị Thanh, tôi được biết Cha Định hiện sống tại vùng Phương Lâm-Định Quán, mai danh ẩn tích sau ngày 30/4/1975...Ngài đã qua đời tại VN cách nay mấy năm. Gia đình GS Trần Văn Thuấn – Nguyễn Thị Thanh hiện sống tại Sài Gòn.

Tết năm 1989, LM Trần Văn Lộc (con ông bà Trần Văn Lợi ở Phủ Cam, Huế) mời tôi cùng đi thăm Cha Bề Trên Nguyễn Văn Đệ Dòng Bosco ở Thủ Đức, họp mặt đồng hương Quảng Trị. Tôi biết Cha Đệ có bà con với anh Thông, ngài cũng là cháu Cha Định DCCT Huế. Lần đầu tiên tôi đi thăm Cha Đệ...Tôi nghe tiếng Cha Đệ là người khôn ngoan, học giỏi, có uy tín trong Dòng Bosco, lại là người bà con với Cha Định, anh Thông...nên cũng muốn đi thăm ngài cho biết nhau. Tâm trạng của tôi, lúc đó mới thoát cảnh tù tội dưới chế độ Cộng Sản...nghe nói chuyện “họp mặt đồng hương” tôi cũng ngán, nhưng vì có Cha Trần Văn Lộc chở đi, nên tôi không ngại...Cha Lộc cũng đã từng bị tù vì liên quan đến vụ chuyển thư của Đức Cha Điền ở Huế cho Tòa Thánh (qua Tòa Đại Sứ Pháp ở sài Gòn)...Hôm đó, Cha Đệ dâng Thánh Lễ Tạ Ơn đầu năm và cho bà con “ăn Tết”...Tục ở quê tôi đi thăm nhau ngày Tết gọi là “đi ăn Tết” tất nhiên phải có bánh trái rượu thịt dọn ra để mời khách...Quả thật Cha Đệ vẫn còn giữ cái tục xưa của quê hương...Tôi vừa ra khỏi nhà tù mà được đãi một bữa ăn có rượu thịt, bánh tét, bánh chưng như “ăn Tết” ngày xưa ở Quảng Trị...thật không có gì thích thú bằng. Được nói chuyện với Cha Đệ tôi mới thấy được ngài là người khôn ngoan, đạo đức đúng như lời người ta nói. Tôi qua Mỹ được gặp Đức Cha Hoàng Văn Tiệm, Giám Mục Bùi Chu, cũng là bạn thân của Cha Đệ, dòng Thánh Bosco...Ít lâu sau nghe tin Cha Đệ được về làm Giám Mục Phó GP Bùi Chu, phụ tá cho Đức Cha Tiệm. Ai cũng ngạc nhiên về cái tin này, nhất là dân Bùi Chu ở Mỹ. Nhưng tôi không ngạc nhiên vì tôi biết Đức Cha Tiệm là đàn anh của Cha Đệ, người biết Cha Đệ hơn ai hết. Đức Cha Hoàng Văn Tiệm đã đề nghị với Tòa Thánh thì còn ai hơn nữa. Rồi từ Bùi Chu, Đức Giám Mục Nguyễn Văn Đệ lại được Tòa Thánh đưa qua làm Giám Mục Chánh Tòa GP Thái Bình, vựa lúa Miền Bắc, là tỉnh có dân số đông nhất Miền Bắc, tất nhiên là nơi quan trọng đối với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Thái Bình có một nhà thờ mới, nguy nga, tráng lệ, được xem là đẹp nhất Việt Nam lúc đó. GP Huế có ba Đức Cha là người Quảng Trị (ĐC Tổng Giám Mục Têphanô Nguyễn Như Thể người làng Cây Da và Đức TGM Phanxico Xavie Lê văn Hồng người làng Trí 
Bưu) Đức Cha Bùi Văn Đọc (người làng An Lộng, Triệu Phong, Quảng Trị, gia đình vào lập nghiệp tại Dalat...Đức Cha Đọc hiện là Tổng Giám Mục Sài Gòn) nay thêm Đức GM Nguyễn Văn Đệ, người làng Thạch Hãn...rõ ràng là con cháu Đức Mẹ La Vang. Người ta thường nói: “Quảng Trị là đất phát về tôn giáo” xưa cũng như bây giờ, bên Công Giáo cũng như bên Phật Giáo...đều có những nhà lãnh đạo danh tiếng.
Năm 1994, sau hai lần tù dưới chế độ CSVN tổng cộng 14 năm, tôi và gia đình được định cư ở Mỹ, tình cờ tôi được gặp chị Phùng Ngọc Hiếu, Giáo Sư Quốc Văn tại trường Nguyễn Hoàng (Quảng Trị) trước 1972...chị là vợ anh Thông...Tôi rất mừng khi được biết chị đã vượt biên cùng các con, hiện các cháu đã thành đạt, có người là Bác Sĩ Y Khoa tại Hoa Kỳ...Một số bạn bè ngày xưa của tôi và anh Thông như anh Nguyễn Hữu Minh (người Thạch Hãn) anh Nguyễn Văn Bình (Thạch Hãn), anh Nguyễn Văn Phẩm (Thạch Hãn) anh Lê Đình Học (Trí Bưu) anh Lê văn Vĩnh (Trí Bưu)...thường liên lạc với tôi...các bạn xưa vẫn còn nhớ anh Thông...Cá nhân tôi không quên gương mặt anh Thông, da sạm nắng, dưới mắt có nốt ruồi...Anh Thông người cao lớn hơn tôi nhiều, tướng bề ngoài đúng là sĩ quan, là cấp chỉ huy trong quân đội...còn tôi, tầm vóc vừa phải, hơi gầy từ khi còn nhỏ, thích làm thơ, viết văn, dạy học, hoạt động chính trị, tranh đấu...Một người là võ, một người là văn, tuy không có cơ hội sống gần bên nhau nhưng chúng tôi vẫn nhớ đến nhau.
Chị Hiếu (vợ anh Thông) có cho tôi biết lần cuối cùng chị nhận được tel của anh Thông từ chiến trường gọi về nhà ở Nha Trang là đêm 31/3/1975, sau đó thì không còn liên lạc được với anh ấy nữa. Sau ngày Ban mê thuột bị Việt Cộng chiếm đóng, Tổng Thống Thiệu ra lệnh cho Thiếu Tướng Phạm Văn Phú bỏ Pleiku, toàn bộ Quân Đoàn II rút về Nha Trang. Cuộc rút lui đó là một thất bại vô cùng thảm khốc của Quân Đội VNCH, đã làm tan rã toàn bộ Quân Đoàn II. Trên đường từ Pleiku về Phú Bổn, dân chúng bỏ nhà cửa chạy theo lính, đã bị Việt Cộng chận đánh, pháo kích chết rất nhiều. Nghe nói đơn vị của anh Thông đã về bãi biển Quy Nhơn, thế cùng, lực tận, nhiều người bơi ra ngoài khơi hy vọng được tàu của Mỹ và hải quân VNCH cứu vớt. Anh Thông cũng có mặt trong những người đó, đã kiệt sức và mất tích có thể ở trên biển. Trường hợp anh Thông, có một bác sĩ quân y đã viết một bài đăng trên nhật báo Người Việt ở Cali, nói rằng anh Thông đã tự tử chết bên cạnh đồng đội, chôn dưới cột cờ bệnh viện tại Nha Trang. Nhưng câu chuyện đó cũng không thuyết phục lắm vì gia đình cũng đã đi tìm mà không có chứng tích.
Tôi cũng có người bạn là Trung Tá Trần Văn Sơn, người làng Bố Liêu, Triệu Phong, Quảng Trị, liên đoàn trưởng liên đoàn Nhảy Dù, cũng bị mất tích vào giờ chót trước khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng tại Sài Gòn, nghe nói lúc đó đơn vị của anh đang chiến đấu tại Phan Rang. Trường hợp anh Phạm Văn Đính, Trung Tá Trung Đoàn Trưởng thuộc Sư Đoàn 3 đóng tại căn cứ Bastogne gần Đông Hà, vào mùa Hè 1972, quân Bắc Việt tấn công Quảng Trị, anh bị địch bao vây, không có tiếp viện nên bắt buộc phải ra đầu hàng giặc để cứu mạng sống cho lính. Các anh Nguyễn Hữu Thông, Trần Văn Sơn và Phạm Văn Đính là ba người bạn đã giúp tôi trong cuộc bầu cử Dân Biểu tại Thừa Thiên vào tháng 10/1967 đều đã ra đi.
Anh Trần Tiễn San, Thiếu Tá Biệt Động Quân là con trai của Cụ Trần Điền (Nghị Sĩ VNCH bị VC thảm sát trong Tết Mậu Thân 1968 tại Huế), là bạn bọc cùng lớp với tôi tại trường Thiên Hựu Huế, cho tôi biết về Khóa 16 Võ Bị Đa Lạt như sau: Khóa 16 nhập học vào cuối năm 1959 và mãn khóa vào cuối năm 1962. Vì nhu cầu chiến trường vào thời chiến nên Bộ Tổng Tham Mư đã rút ngắn chương trình học lại chỉ có ba năm thay vì bốn năm. Điều kiện nộp đơn thi tuyển không đòi hỏi phải có văn bằng Tú Tài II, nhưng sau một năm học, trường cho sinh viên đi thi để lấy văn bằng Tú Tài II, những người thiếu điểm văn hóa bị đưa về Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế (Nha Trang) tiếp tục học một năm và sẽ tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn Úy hiện dịch. Từ Khóa 19 trở đi, bắt buộc phải có bằng Tú Tài II mới được thi nhập học, sau bốn năm, các sĩ quan tốt nghiệp được cấp bằng tương đương với Cử Nhân Khoa Học ứng dụng. Khi thi vào khóa 16 Đà Lạt, anh Thông chưa có Tú Tài II, nhưng anh là một sinh viên siêng năng học tập và đã thành công trong Quân Đội. Năm 1972, Đại Tá Đạt bị tử trận tại Tân Cảnh, lúc đó anh Thông là Trung Tá Trung Đoàn phó, lên làm Trung Đoàn Trưởng, đã tổ chức lại hàng ngũ và đã đẩy lui được sự tấn công của địch, anh được thăng cấp Đại Tá tại mặt trận. Năm 1973, anh được lên Đại Tá thực thụ.
GS Nguyễn Lý-Tưởng, Cựu Dân Biểu VNCH

(viết ngày 20/7/2017 kỷ niệm 63 năm ký kết hiệp định Geneve, chia cắt đất nước 20/7/1954)


Nhớ về một người bạn: Anh Nguyễn Hữu Thông 01


Nhớ về một người bạn:
Anh Nguyễn Hữu Thông, Trung Đoàn Trưởng 42 mất tích sau 30/4/1975
Bài của GS Nguyễn Lý-Tưởng, cựu Dân Biểu VNCH

Theo yêu cầu của GS Phùng Ngọc Hiếu là vợ của anh Nguyễn Hữu Thông, Trung Đoàn Trưởng Trung đoàn 42 SĐ 22 BB tại Pleiku, mất tích trong biến cố 30/4/1975...Tôi viết lại những gì tôi biết về anh Nguyễn Hữu Thông từ 1949, lúc đó tôi mới 10 tuổi, học cùng lớp với anh Thông tại trường Têrêxa, Thạch Hãn, Quảng Trị cho đến sau này...
Do hoàn cảnh cha tôi bị Việt Minh (CS) bắt giam (1946) và đã chết trong tù tại Trại Đưng,(1947) miền núi tỉnh Hà Tĩnh. Anh tôi cũng bị Việt Minh bắt giam tại Trại Đưng nhưng sau đó đã trốn thoát từ Hà Tĩnh về đến nhà vào dịp Tết Kỷ Sửu (1949), chừng 05 tháng sau, anh tôi bị Việt Minh phục kích, giết chết khi mới 28 tuổi. Chị tôi lấy chồng xa, trong nhà chỉ còn chị dâu, một đứa cháu gái mới 6 tuổi. Việt Minh thường đến bao vây và tấn công vào lực lượng tự vệ Công giáo làng tôi, đốt nhà, giết người, mẹ tôi quá lo sợ, nên phải tìm cách cho tôi trốn lên tỉnh học vì tôi là con trai duy nhất còn lại trong gia đình.
Năm 1949, chưa được 10 tuổi, tôi tạm trú nhà bà Tham Thanh tại làng Trí Bưu, cách thị xã Quảng Trị hơn một cây số. Niên khóa 1949-1950, tôi vào học lớp nhì (tương đương lớp 4)trường tiểu học tư thục Têrêxa, bên cạnh nhà thờ Thạch Hãn, Quảng Trị. Cùng lớp với tôi có bạn Nguyễn Hữu Thông (sinh 1937), Nguyễn Hữu Minh (sinh 1938), Nguyễn Hữu Kế (sinh 1937 hay 1938)...đều lớn hơn tôi một, hai tuổi...Qua niên khóa 1950-1951, chúng tôi đều thi đỗ tiểu học, mỗi người chia tay nhau, có người vào tu học tại Huế, có người vào tu học tại tiểu chủng viện An Ninh (Cửa Tùng)...Niên khóa 1951-1952, tôi vào học lớp đệ thất (lớp 6) trường Trung học tư thục Quảng Trị, trường mới lập chỉ có hai lớp đệ thất và đệ lục. Từ đó, tôi không gặp lại hai anh Nguyễn Hữu Thông, Nguyễn Hữu Kế. Tôi nghe nói hai bạn này có người bà con là Linh Mục Gioakim Nguyễn Định (hay Nguyễn Hữu Định) tu Dòng Chúa Cứu Thế và đã chịu chức Linh Mục năm 1949 nên mới biết đường xin vào Huế học. Anh Nguyễn Hữu Minh, bạn cùng lớp với tôi cho biết: anh Nguyễn Hữu Thông vào Tiểu chủng viện An Ninh (Cửa Tùng) cùng lớp với anh Minh. Mấy năm sau, anh ra khỏi chủng viện và về lại Quảng Trị tiếp tục học bậc Trung học tại trường Phước Môn (sau này đổi tên là trường Thánh Tâm do các Thầy dòng Thánh Tâm Huế phụ trách). Anh Thông học lên đến Tú Tài I thì vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, khóa 16.

Anh Kế, bà con với anh Thông, cũng là bạn học một lớp với tôi khi còn tiểu học, năm 1951, anh Kế vào tu Dòng Chúa Cứu Thế, mấy năm sau thì xuất, tiếp tục học, đậu Trung học đệ nhất cấp, thi vào trường Sư Phạm tiểu học Huế, ra trường đi dạy tiểu học. Anh tự học và thi đậu Tú Tài I, rồi Tú Tài II và ghi tên học Đại Học Văn Khoa Huế. Có lần tôi đến trường Đại học Văn Khoa Huế tìm một người bạn giáo sư tại đó, bất ngờ anh Kế đang ngồi trong phòng thi chạy ra chào tôi và nhờ tôi nói giúp với vị Giáo sư bạn tôi đang làm giám thị phòng thi. Về sau tôi được biết anh Kế tốt nghiệp thủ khoa ban Anh văn. Năm 1972, trên đường vào Sài Gòn, anh bị tai nạn máy bay, gia đình tìm được xác đưa về Đà Nẵng.

Niên khóa 1952-1953, nghe lời khuyên của anh Nguyễn Văn Chương, chồng chị tôi, mẹ tôi cho tôi vào học trường Dòng La San Pellerin, Huế, học lớp 6 chương trình Pháp (tương đương với lớp đệ Thất chương trình Việt) vì phải bổ túc tiếng Pháp nên tôi phải vào lớp 6 gọi là lớp sixième (six là 6). Năm sau đó, 1953, tôi chuyển qua học trường Thiên Hựu do các Linh Mục người Pháp thuộc Hội Truyền Giáo Paris (MEP) phụ trách. Trường Thiên Hựu rất gần với Dòng Chúa Cứu Thế, Huế, nên tôi thường tham dự Thánh Lễ tại nhà thờ Dòng và nghe các Cha Dòng giảng thuyết mỗi ngày Thứ Bảy, nhờ vậy tôi mới có cơ hội quen biết các Cha nhất là các Cha cùng tỉnh Quảng Trị với tôi trong đó có Cha Trần Hữu Thanh và Cha Định (làng Thạch Hãn, bà con với anh Thông, anh Kế), Cha Lê Viết Phục (làng Trí Bưu)...


Năm 1962, sau khi đậu Tú Tài II, tôi thi vào trường Đại Học Sư Phạm Huế, trong số sinh viên cùng học với tôi có cô Nguyễn Thị Thanh là cháu Cha Định, bà con với anh Thông, anh Kế. Trong những lần sinh hoạt Đoàn sinh viên Công Giáo, tôi thường gặp cô Thanh và quen biết nhau. Mùa Hè 1963, tôi được Trung Úy Bửu Oai, quận trưởng Hướng Hóa (Khe Sanh) cho quá giang từ Huế lên Khe Sanh (cách Lao Bảo, biên giới Lào chừng 30 cây số) là nơi khí hậu mát mẻ vào mùa hè, vùng đất đỏ basalte rất tốt, người Pháp đã lập đồn điền cà phê, trồng cam,v.v. Người Việt Nam cũng đến lập vườn trồng mít và trái cây, mở quán ăn, quán buôn bán tạp hóa chung quanh quận lỵ, đặc biệt mua bán trao đổi với người thiểu số (Quảng Trị gọi họ là người Mọi, người Cà Lơ...) Tôi có người bạn học cùng lớp tại Đại Học Sư Phạm là Trần Vinh Anh có gia đình cha mẹ, họ hàng lập nghiệp tại Khe Sanh nên mấy anh em sinh viên chúng tôi quá giang xe của Trung Úy Quận Trưởng từ Huế ra Quảng Trị, Đông Hà, lên Cam Lộ rồi mới đến Khe Sanh. Mùa Hè, tại Quảng Trị, Đông Hà có gió Lào, danh từ địa lý gọi là gió Phơn (Foehn) vừa khô vừa nóng rất khó chịu nhưng mùa Hè ở Khe Sanh thường hay có mưa, khí hậu mát mẻ như Đà Lạt, cây cối xanh tươi...Trong số các gia đình người Pháp lập nghiệp ở đây, có một người Việt Nam lấy chồng Pháp, gia đình này thường đi lễ ở nhà thờ Công giáo, con cháu họ học ở Huế, về nghỉ hè, tôi thường gặp mấy người con trai học trường Thiên Hựu, con gái học trường Jeanne d’Arc...Chúng tôi vào tiệm phở trước mặt trụ sở hành chánh quận Hướng Hóa, tình cờ gặp anh Nguyễn Hữu Thông trong bộ quân phục với cấp bậc Thiếu Úy. Anh nhận ra tôi và chạy đến bắt tay. Tôi nói:
-Hơn mười năm rồi không gặp nhau mà anh còn nhớ đến tôi. Cám ơn anh nhiều. Nghe tin anh vào học trường sĩ quan Đà Lạt (khóa 16), chương trình đào tạo bốn năm, về văn hóa tương đương Đại học như bên Mỹ, tương lai sẽ là cấp chỉ huy quan trọng trong quân đội. Mừng cho anh.

02
https://vulep-books-links.blogspot.com.au/2018/04/nho-ve-mot-nguoi-ban-anh-nguyen-huu_12.html


Featured Post

Tên các Quốc gia mà người Sài Gòn hay gọi trước năm 1975

https://www.facebook.com/groups/miennamvietnam/posts/1953798441526381/ https://www.facebook.com/buianhhuy095096/posts/t%C3%AAn-c%C3%A...

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List