QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Saturday, March 8, 2014

GIỚI THIỆU SÁCH “SMALL IS BEAUTIFUL” BÀI 2



GIỚI THIỆU SÁCH “SMALL IS BEAUTIFUL” BÀI 2

Tác  giả  : E F Schumacher 
( xuất bản lần đầu : Năm 1973)   
Như đã có dịp trình bày nơi bài 1 trước đây, cuốn sách “Small is Beautiful” đã được tờ New York Times xếp vào lọai “100 cuốn sách có ảnh hưởng nhất” kể từ sau thế chiến hai ( the most influential books). Và sau 30 năm kể từ khi ra mắt độc giả, thì đã lưu hành được tới trên một triệu cuốn riêng về ấn bản tiếng Anh; đó là chưa kể đến các bản dịch ra nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới.

 Tác giả Schumacher là một kinh tế gia đã từng làm việc lâu năm trong ngành quản lý về than đá tại Anh quốc, đặc biệt trong lãnh vực thống kê, nên ông đã đưa ra những số liệu khá vững chắc và khả tín để minh họa cho lý luận của mình. Xuyên suốt qua gần 300 trang sách, tác giả đã lần lượt trình bày suy nghĩ và tìm kiếm của mình trong suốt 40 năm vừa học tập, làm việc, trao đổi và nghiên cứu của mình về những vấn đề căn bản của nhân sinh trên phạm vi tòan cầu. 

Người đọc có thể thấy tác giả đã gửi gấm vào tác phẩm tất cả tài năng trí tuệ và tấm lòng tha thiết nóng bỏng đối với cuộc sống của con người, mà phần đông đang là nạn nhân khốn khổ của cái đường lối sai lầm vì coi nhẹ giá trị đạo đức nhân bản và nhân ái của giới điều hành guồng máy kinh tế tại chính các quốc gia tiền tiến trong thế giới hiện đại.

 Có thể coi cuốn sách là “lời cảnh báo” về mối nguy cơ trầm trọng đang đe dọa cuộc sống của nhân lọai ngày nay, và đồng thời tác giả cũng khơi mào cho việc tìm kiếm một lối thóat khả dĩ cho con người, đặc biệt là cho hàng tỉ con người kém may mắn (underpriviledged) trong các quốc gia được liệt kê vào lọai “ đang phát triển” ( developing countries)  
Nhan đề chính của cuốn sách là “Small is Beautiful” lại được kèm theo câu phụ diễn cho thêm rõ ý nghĩa nữa : “ Economics as if People Mattered”, xin tạm dịch là “Kinh tế học Dân Vi Quý”. Và riêng trong ấn bản năm 1999, thì lại còn kèm theo nhiều bình luận của các thức giả đương thời được in bên lề các trang sách nữa. Bài giới thiệu này chủ yếu dựa vào ấn bản năm 1999, nhân kỷ niệm 25 năm ngày ra mắt ấn bản đầu tiên năm 1973. 

Sách được trình bày thành 4 phần trong 19 chương như sau  :
                                Phần 1  :  Thế giới hịên đại      (Chương 1-5)
                                Phần 2  :  Tài nguyên               (Chương 6-10)
                                Phần 3  :  Thế giới thứ ba         (Chương 11-14)
                                Phần 4  :  Tổ chức và Sở hữu   (Chương  15-19). 
Nói chung thì sau trên 30 năm, các luận đề do Schumacher nêu ra trong cuốn sách vẫn còn giữ được tính cách thực tiễn khách quan và được coi như những gợi ý rất sâu sắc cho sự thảo luận và tìm kiếm của giới hàn lâm, cũng như của công chúng có sự quan tâm đến vấn đề sinh tử của con người trong bối cảnh văn hóa xã hội của thế kỷ XXI hiện nay. 

Nhằm trình bày sáng sủa, gọn gàng tư tưởng của tác giả, người viết xin được tóm gọn trong mấy luận điểm chính yếu được lựa chọn như sau đây : 
1/  Hai triệu ngôi làng trong thế giới thứ ba  :  Làm sao mà phát triển?             
Schumacher đưa ra con số hai triệu ngôi làng trong thế giới thứ ba mà gồm các quốc gia đang phát triển, với bình quân mỗi làng có 1000 người. Như vậy là trong 2 triệu ngôi làng, thì có đến 2000 triệu người (2 tỉ), tức là tương đương với dân số ở mức nghèo túng trên thế giới vào thập niên 1960 lúc tác giả viết cuốn sách này. 

Tình trạng sinh sống của người dân tại các vùng quê như ở Ấn độ đã được Schumacher rất lưu tâm quan sát, tìm hiểu và cố gắng đưa ra một phương thức kiến hiệu và hợp lý, hợp tình nhất để gây ra được một “khí thế phát triển” (development mood) thật là sinh động tại hạ tầng cơ sở các địa phương đó.
Từ sau thế chiến 2, các quốc gia Âu Mỹ giàu có đã đề ra các chương trình viện trợ khi thì đa phương thông qua Liên Hiệp Quốc, khi thì song phương nhằm giúp đỡ các nước nghèo thóat được cảnh bần hàn khốn khổ. 

Nhưng Schumacher đã chỉ ra là hầu hết cái lối viện trợ kiểu này không đem lại kết quả bao nhiêu, bởi lẽ là những chuyên gia viện trợ đã không nắm bắt được tâm lý và hòan cảnh phức tạp của đa số quần chúng nông dân vừa ít học, vừa bị giới trung gian khai thác lợi dụng. Và hơn nữa, các kỹ thuật áp dụng lại không thích hợp với hòan cảnh văn hóa xã hội và tâm linh truyền thống tại miền nông thôn địa phương. Vì thế mà Schumacher đã mạnh dạn đưa ra những đường hướng quyết liệt là : “ Viện trợ tốt nhất là thứ viện trợ trí tuệ (Intellectual aid), viện trợ kỹ năng hữu ích (gift of useful knowledge), chứ không phải là quà tặng vật chất. “ 

Lối viện trợ như vậy mới làm cho người nhận sớm trở thành tự lập và không còn bị lệ thuộc vào nguồn cung cấp mãi của thứ “con bò sữa” như vẫn thường xảy ra. Phương thức này vừa ít tốn phí, mà vừa kích thích được cái mầm mống tự cường, tự túc vẫn có sẵn trong tiềm thức của lớp người dân vốn có lòng tự trọng, tự tin ở khả năng của bản thân mình. Đây mới đích thực là cách thức hay nhất để thực hiện được chủ trương “Giúp dân để người dân có thể tự giúp bản thân họ” ( Helping the people to help themselves). 

Muốn đảy mạnh phong trào như vậy, thì phải lôi cuốn được các tổ chức thiện nguyện phi-chánh phủ (non-governmental voluntary agencies) ở cả hai phía quốc gia bên viện trợ cũng như bên nhận lãnh (donor/recipient countries); chứ không thể hòan tòan do hai bên chánh phủ độc quyền đứng ra hành động bao biện như từ bao lâu nay. Phương thức này, nói theo ngôn ngữ hiện nay, thì là : “Phải vận động Xã hội Dân sự từ cả hai nước cùng dấn thân nhập cuộc vào tiến trình phát triển và xây dựng tòan diện và điều hòa này” (total and harmonized development). Nhờ vậy mà cả một tập thể cộng đồng như được kích thích gây men ngay trong nội tâm sâu kín của mình (Mass fermentation and mobilization), để tạo ra được một thứ “năng động nhóm” (group dynamics) nhằm tiến hành được một sự phát triển bền vững lâu dài tại địa phương (self-sustaining community development).

Xin trích nguyên văn một đọan cuối của “ Chương 13 : Two million villages ” như sau :  “Phát triển kinh tế chỉ có thể thành công nếu nó được tiến hành như một phong trào quần chúng rộng rãi dấn thân vào công cuộc tái thiết (a broad, popular movement of reconstruction), tập trung chủ yếu vào việc tận dụng sự hăng say phấn khởi, sự tài trí và sức lao động của tất cả mọi người trong công đồng…Sự thành công chỉ có thể đạt tới là do quá trình phát triển bao gồm cả trình độ giáo dục, tính tổ chức và cả tính kỷ luật của tòan thể các thành viên trong cộng đồng. Thiếu một yếu tố nào kể trên, thì chỉ là gặt hái sự thất bại mà thôi “ ( trang 171).  
2/   Đi tìm lọai kỹ thuật thích hợp nhất ( Appropriate Technology AT)             
Với tinh thần thực dụng, Schumacher chủ trương cần phải phát triển lọai “kỹ thuật trung gian” để thích hợp với hòan cảnh kinh tế xã hội tại các nước đang phát triển. Ông dành hẳn Chương 12 cho đề tài này với nhan đề như sau :     “ Social and Economic Problems Calling For The Development Of Intermediate Technology ” (Những Vấn Đề Xã Hội và Kinh Tế Đòi Hỏi Phải Phát Triển Lọai Kỹ Thuật Trung Gian). Tác giả viện dẫn hai lý do chính yếu sau đây  :  Thứ nhất là kỹ thuật quá tân tiến thì lại tốn phí, nên các nước nghèo không thể áp dụng phổ biến rộng rãi khắp nơi được. Thứ hai là trình độ văn hóa kỹ thuật của dân chúng miền quê không thể dễ dàng thích nghi với cái kỹ thuật quá tinh vi, phức tạp do các nước phát triển đề xuất ra. Do đó mà cần phải tìm kiếm cho ra được lọai “kỹ thuật thích hợp” mà thường cũng được gọi là “kỹ thuật trung gian” (Intermediate Technology), tức là thứ kỹ thuật đứng giữa lọai kỹ thuật lạc hậu cổ truyền  (mà rất rẻ tiền) với kỹ thuật hiện đại ( mà rất là đắt tiền ).

Tác giả lại có kinh nghiệm thực tiễn về chủ trương này, khi ông cùng với một số bạn hữu thành lập hẳn một Nhóm riêng biệt để nghiên cứu và thử nghiệm lọai kỹ thuật này tại Luân Đôn vào năm 1965 gọi là “The Intermediate Technology Development Group” ( ITDG). Cụ thể như : Nếu dùng kỹ thuật cao cấp như máy gặt liên hợp (combine harvester), thì phải tốn phí hết 70,000 dollar cho một người làm việc (workplace); như vậy thì các nước nghèo khó mà có thể tạo ra đủ công ăn việc làm cho cả triệu người được. Nhưng nếu sử dụng lọai kỹ thuật trung gian chỉ tốn kém có 700 dollar cho một người lao động, thì với số tiền 70,000 nói trên ta có thể tạo ra việc làm cho cả 1000 người. Và rõ ràng đây là thứ kỹ thuật thích hợp nhất cho các nước nghèo của thế giới thứ ba vậy. Cho đến nay ITDG đã phát triển và phổ biến khá rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới, cả ở khu vực tiền tiến cũng như khu vực đang phát triển.

Cũng vì nhằm tạo ra thật nhiều công ăn việc làm ổn định hầu đáp ứng nhu cầu rất lớn cho nhiều khu vực nông thôn và các thị trấn nhỏ bé, mà việc nghiên cứu kỹ thuật trung gian này phải được thực hiện trong quy mô của một miền bao gồm nhiều cộng đồng nông thôn và đô thị nhỏ, chứ không thể làm theo cái lối khép kín, hạn hẹp trong môi trường quá hạn chế được. Do đó Schumacher đã khẳng định rằng “ Nếu mục tiêu của sự phát triển là giúp đỡ cho những người cần được giúp đỡ nhất, thì “ Mỗi một Miền hay Quận hạt trong một quốc gia phải có riêng một chương trình phát triển cơ hữu của mình.” Cụ thể như tại nướcThụy sĩ chỉ có chưa đày 6 triệu dân số, mà họ lại chia ra thành 20 quận hạt (cantons), mà mỗi đơn vị lại là một quận hạt phát triển riêng thích hợp với điều kiện đặc thù của mình (development district). Và chính nhờ vào sự “Phân quyền” (Decentralisation) như vậy, mà cả quốc gia này luôn giữ được sự phát triển điều hòa, ổn định trong một nền dân chủ mà mọi người dân đều có cơ hội tham gia vào công việc điều hành của cộng đồng nơi mình sinh sống (Participatory Democracy).   
3/  Vấn đề Cạn kiệt Tài nguyên Thiên nhiên ( Depletion of Natural Resources) 
Là người làm việc lâu năm trong ngành than đá, nên Schumacher rất chú trọng đến tình trạng sự dụng bừa bãi phí phạm về tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt trong các nước văn minh tiền tiến Âu Mỹ. Cụ thể là về dầu khí, than đá và nhất là rừng cây. Bằng những con số thống kê chính xác, tác giả đã nêu lên các sự thao túng, lạm dụng và ích kỷ của các nước giàu có trong việc xài hoang phí các tài nguyên thiên nhiên. Schumacher phân biệt rất rõ rệt hai lọai tài nguyên : lọai tái tạo được và lọai không tái tạo được (renewable/non-renewable resources). Ông còn chỉ rõ ra là :  Thiên nhiên luôn luôn hào phóng trong việc cung cấp cho con người những tài nguyên dồi dào phong phú, để mà khai thác đáp ứng nhu cầu sinh họat của nhân lọai. Nhưng thật  đáng buồn là con người trong mấy thế kỷ gần đây đã dùng khoa học kỹ thuật để mà khai phá quá mức đến độ tàn phá thiên nhiên một cách vô tội vạ, tạo ra cảnh cạn kiệt mau chóng các tài nguyên thiên nhiên (rapid depletion/exhaustion), tạo ra một sự mất quân bình giữa con người với thiên nhiên, cũng như giữa hiện tại với tương lai, và cả giữa con người với con người nữa. Ông còn nói rõ là : Phải coi thiên nhiên như một “ nguồn vốn” (Capital) và nhờ biết khai thác khôn khéo, chừng mực đối với thiên nhiên mà con người kiếm ra được các “ lợi tức” (Income). Và như vậy, thì chỉ được quyền sử dụng lợi tức trong việc thanh thỏa các nhu cầu chính đáng của mình; chứ không được tiêu xài vào cái nguồn vốn chỉ có giới hạn nhất định nào đó mà thôi. Schumacher đã rất nghiêm khắc phê phán cái sự kiêu căng, tham lam quá độ và nhất là cái thái độ bạo hành của con người đối với thiên nhiên, cũng như giữa con người đối với nhau nữa. 

Ông đề cao chủ trương “Bất bạo động, Bất hại “ (Non-violence, Ahimsa) của thánh Gandhi cũng như của Đức Phật, mà ông có dịp khảo sát tại Ấn Độ và Miến Điện. Những suy ngẫm này ông đã ghi rõ ràng trong Chương 4 nhan đề là  : “Buddhist Economics” ( Kinh tế học Phật giáo) mà chúng tôi sẽ dịch nguyên văn ra Việt ngữ được trình bày với đày đủ chi tiết trong một bài sau.
Cũng trong dòng chảy suy nghĩ đó mà Schumacher đã dành hẳn một Chương 9 với nhan đề : “ Nuclear Energy – Salvation or Damnation ?” (Năng lượng Hạt nhân – Sự Cứu Rỗi hay là Án Phạt?) để bàn về cái lợi hay cái hại của năng lượng hạt nhân. Tác giả kiên quyết chống lại việc sử dụng lọai máy phát điện nguyên tử vì lý do chất thải của lọai máy này chứa nhiều chất phóng xạ rất nguy hiểm lâu dài cho nhiều thế hệ sau này. Và may thay, do các biến cố “rò rỉ tại nhà máy điện hạt nhân Three Miles Island” ở Mỹ và nhất là tai nạn thảm khốc Chernobyl ở Liên Xô, mà việc xây dựng bừa bãi các nhà máy hạt nhân này mới bị kìm hãm lại. Rõ rệt là Schumacher là một vị tiền phong đóng góp rất lớn cho phong trào bảo vệ môi sinh trên khắp thế giới từ mấy chục năm gần đây. 
4/   Phải Định Hướng lại cho Khoa Học và Kỹ Thuật ( The Re - Orientation of Science and Technology).           
Hơn ai hết, Schumacher là người luôn luôn cảnh giác về tính kiêu căng ngạo mạn và ngoan cố của giới khoa học ngày nay, nhất là trong ngành kinh tế học là lãnh vực họat động chuyên môn suốt cả cuộc đời của ông. Bàng bạc trong cuốn sách này, ta thấy tác giả luôn đề cao sự khiêm tốn, tinh thần nhân ái và nhân bản trong việc đề ra đường lối họat động cụ thể mà thiết thực, nhằm vào việc “Cải thiện thế giới” (World Improvement). Ta có thể thấy lời cảnh giác này đã có từ mấy trăm năm trước qua nhà hiền triết Rabelais ở Pháp mà dịch ra tiếng Anh là : “ Science without conscience is only the ruin of the soul” (Khoa học mà không có lương tâm thì chỉ là sự suy đồi của tâm hồn).
Tác giả đề cao tinh thần bao dung, đơn sơ, hòa ái của thánh Gandhi và nhất là của Phật Tổ, mà ông rất say mê nghiên cứu học hỏi trong thời gian làm việc ở Ấn Độ và Miến Điện. Nếu ta chú ý đến môi trường tôn giáo mà ông vẫn sinh họat tại nước Đức cũng như ở nước Anh, nhất là khi về già ông đã gia nhập đạo công giáo nữa, thì ta lại càng khâm phục cái thái độ thành tâm cầu thị, khiêm nhu và quý trọng của ông đối với Phật giáo và Thánh Gandhi ở Á châu. Ông đặc biệt đem thêm khía cạnh phẩm chất (qualitative aspects) và đạo đức (ethics) vào trong môn Kinh tế học là môn học mà các chuyên viên kinh tế thường chỉ chú trọng đến khía cạnh định lượng mà thôi (quantification). Tác giả luôn nhắc nhủ các nhà khoa học là phải tìm kiếm sự minh triết (wisdom) vốn đã ăn rễ sâu trong truyền thống đạo đức văn hóa trong các xã hội phương đông, mà thường bị người phương tây vì quá say mê và kiêu hãnh với tiến bộ khoa học, kỹ thuật vất chất nên đã xem thường. Vì thế ông mới gọi đó là môn “Siêu kinh tế học” (Meta-Economics).
Nói vắn tắt lại, các luận đề Schumacher đưa ra trong cuốn sách “Small is Beautiful” này hiện vẫn còn được thảo luận, khai thác rộng rãi trên tòan thế giới. Lọat bài viết ngắn ngủi này chỉ nhằm giới thiệu sơ lược về tư tưởng độc đáo, can đảm, mà lại rất táo bạo dứt khóat của Fritz Schumacher. Cuốn sách này là đúc kết kinh nghiệm họat động và suy nghĩ tìm kiếm trong suốt cuộc đời của tác giả, với tấm lòng tha thiết phục vụ cho nhân quần xã hội, đặc biệt đối với lớp đa số quần chúng kém may mắn nhất trên thế giới ngày nay. Bạn đọc có thể tham khảo thêm trên internet, để có số liệu cập nhật hóa rất đày đủ và phong phú về các đề tài mà Schumacher đã gợi ra trong cuốn sách thời danh này.          
Người viết mong ước giới trẻ Việt nam, ở trong cũng như ở ngòai đất nước, để tâm theo dõi sự phát triển của lọai tư tưởng đày tính nhân bản và nhân ái tương tự như thế này, mà hiện đang có sức rất thuyết phục, quyến rũ cho cao trào tranh đấu bảo vệ nhân phẩm, nhân quyền và cả bảo vệ môi sinh đang dâng cao khắp thế giới ngày nay trong thế kỷ XXI. Và cũng mong được sự tiếp tay trong việc đào sâu và phổ biến trào lưu tư tưởng tiến bộ này từ nơi các bậc thức giả trong những tổ chức chuyên về văn hóa khoa học, cụ thể như : Viện Việt Học, Lê Văn Duyệt Foundation, Hội Khoa Học Kỹ Thuật, Hội Chuyên Gia Việt nam, Các Viện Nghiên Cứu thuộc các Tôn Giáo Việt nam v.v…    
California, Mùa Phật Đản Kỷ Sửu 2009
Đòan Thanh Liêm


Linh, Kiệt và món bê thui




Góp vài chi tiết với
« Linh, Kiệt và món bê thui »
của Trần Hồng Tâm trên Đàn Chim Việt
Võ văn Kiệt và Võ văn Kẹt

Nguyễn thị Cỏ May
Từ trái sang phải: Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Xô, Phạm Thái Bường (Ba Bường), và Võ Văn Kiệt thời kỳ chiến tranh "giải phóng miền Nam" Việt Nam. Ảnh VNN
Từ trái sang phải: Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Xô, Phạm Thái Bường (Ba Bường), và Võ Văn Kiệt thời kỳ chiến tranh “giải phóng miền Nam” Việt Nam. Ảnh VNN

Sách " Bên thắng cuộc " của Huy Đức kể lại nhiều chuyện bí ẩn trong hàng ngũ cộng sản mà người ngoài, nhứt là người miền nam, ít ai biết và cả một số chuyện liên hệ tới giới chức miền nam sau 30.04/75 trong cải tạo và tù vượt biên dưới thời ông Võ văn Kiệt . 

Có chuyện tác giả kể hấp dẩn nhưng không đúng sự thật bỡi chính người trong cuộc, tức nạn nhơn, đọc qua chuyện của mình đã phải ngạc nhiên . Nhưng dầu sao, sách  " Bên thắng cuộc " vẫn có giá trị thông tin khá hơn nhiều sách khác của người cộng sản viết mà ta đọc qua .

Dân nam kỳ cũng kỳ

Trong lúc  làm việc ở Sài gòn, Ông Kiệt được cảm tình của một số trí thức miền nam thua cuộc . Họ chụp Ông Kiệt như cái bụp dừa để bám, không phải để lội qua sông, mà để khỏi chết chìm ngay trước mắt . 

Ông Kiệt lúc làm Thành Ủy ở Sài gòn đã dám mời một số trí thức miền nam, sau thời gian học tập, giúp ông giải quyết những khó khăn kinh tế xã hội do chánh sách bao cấp theo  cách quản lý xã hội chủ nghĩa gây ra để kịp tránh cho Việt nam khỏi bị sụp đổ . Khi nghe tin trí thức miền nam vượt biên bị bắt và ở tù, ông lập tức cho người đi lảnh ra và giử họ làm việc với ông . 

Bày tỏ sự cởi mở với anh em miền nam và niềm tin tình hình Việt nam sẽ khả quan , ông vui vẻ nói với anh em miền nam mà ông vừa lảnh về : " Mấy anh ở lại làm vìệc . Trong 5 năm nữa mà Việt nam không khá thì tôi để mấy anh ra đi tự do " .

Một anh phản biện : " Thưa ông, nếu 5 năm nữa mà Việt nam không khá, thì ông ra đi, để cho tụi tui làm việc . Chớ sao tụi tui lại ra đi ? ". 

Thế là cùng cười với nhau . Người phát biểu câu này còn sanh sống ở hải ngoại .
Ở Sài gòn trước 75, giới thương gia vải sợi đều biết Ông Phạm văn Hai, biệt danh là Cậu Hai An nhơn, chủ lò nhuộm . Màu đen là do ông khám phá ra từ trái rừng - trái mạc nưa . Màu đen của ông chế tạo rất tốt, đen nhánh, càng giặt càng đen, không phai màu . Lảnh mỹ a, vải ú đen, lụa đen,... đều nhuộm bằng màu đen mạc nưa . Sự tìm ra màu đen của ông đã tiết kiệm được cho chánh phủ Sài gòn hằng năm một số ngoại tệ khá lớn vì khỏi nhập cảng màu đen .

Sau 75, ông giao sự nghiệp của ông cho nhà cầm quyền cộng sản để phủi tay . Nhưng họ từ chối, bảo cái gì của ông, ông cứ giử . Cách mạng không lấy cây kim sợi chỉ của ai hết cả .

Ông giử và làm gác-gian cho kho hàng và cơ sở kỷ nghệ của ông . Những bành tơ sợi, thuốc nhuôm, bị bỏ lăng lóc ngoài sân dưới mưa nắng . Ông thấy xót ruột, phải tự đem vào kho cất .

Cán bộ Ban Khoa học cộng sản lấy hết tài liệu về nhuộm và bắt ông hướng dẩn cách thực hành . 

Xong đem ra Hà nội nạp . Nhưng họ không áp dụng được nên phải trở vào Sài gòn gặp lại ông và yêu cầu ông ra Hà nội làm việc nhưng công trình khoa học của ông, ông phải nói là do đảng lãnh đạo mà ông thành công . Ông từ chối và nói rỏ công trình đó vẫn là của ông nhưng ông cho, ai muốn xử dụng sao cũng được . 

Ông Hai là bạn cởi trâu với Ông Kiệt ở nhà quê Vũng Liêm . Con nhà nghèo chỉ mới đi học trong làng . Lúc vừa trưởng thành, có nhà điền chủ nhờ ông dẩn hai người con trai qua Pháp du học . Ông nhận lời . Ở Paris, có sẳn chổ ăn, chổ ở . Ngoài công việc dẩn hai công tử đi học, ông rảnh rang . Ông đi học thêm và sau cùng, ông ghi tên học ở Conservatoire National des Arts et Métiers là trường dành cho người lớn tuổi tới học đủ nghành nghề thực dụng tùy theo khả năng của mình . Điều kiện vào học rất dể nhưng thi lên lớp mới khó nên bằng cấp của trường có giá trị không thua nhiều trường kỷ sư có thi tuyển .

Ông tôt nghiệp kỷ sư Hóa học nên về Sài gòn lập Lò Nhuộm An nhơn .

Sau thời gian vài năm sống với cộng sản, ông quyết định phải tìm cách đi khỏi xứ . Ông vượt bìên nhiều lần bị bắt và mỗi lần bị bắt, thì được ông Kiệt can thiệp thả ra . Lần sau cùng, trước khi đi, ông viết thư để lại « chuyến đi này là hoàn toàn do tôi quyết định . Vợ con của tôi chỉ nghe lời tôi đi theo . Nếu tôi bị bắt, cứ  giết tôi nhưng hảy thả gia đình tôi » . 

Ông bị bắt . Và Võ văn Kiệt thêm một lần nữa can thiệp . Và lần này, Ông Kiệt nói với ông : « Tôi ký giấy cho anh đi chánh thức qua Thụy sĩ . Anh ở  đây có ngày tụi nó giết anh » .

Khi làm thủ tục xuất cảnh, công an giằn mặt ông : « Anh tưởng chúng tôi cần những thứ ngụy như anh à ? Chúng tôi làm xã hội chủ nghĩa hai mươi năm nữa cũng được . Miển là chính chúng tôi làm và thành công ».

Qua thời kỳ đổi mới, Ông Phạm văn Hai trở về Sài gòn và gặp Ông Kiệt . Ông Hai tìm hiểu về đá saphir của Việt nam . Theo ông, Thái lan qua mua đem về dồi mài lại, bán ra, hằng năm thu về được 600 triêu đô-la . Ông đem chuyện nói với Ông Kìệt là nếu để ông mua lại saphir và trau dồi tại Sài gòn, mỗi năm ông có thể thu về cho Việt nam tới cả tỷ đô-la .

 Ông Kiệt đồng ý yểm trợ thực hiện dự tính kinh doanh của ông . Có ngay 3 ngân hàng tham gia . Ông Hai trở về Los Angeles học nghề với một nhà kỷ nghệ saphir ở Los Angeles vốn là người kế nghiệp của nhà kỷ nghệ thụy sĩ tại Genève . Về mặt kỷ thuật, ông thành công qua vài cuộc triển lãm saphir ở Huê kỳ .

Ông trở về Sài gòn với những viên saphir sản phẩm của ông . Ông nhận tiền ngân hàng mở Labo và làm việc . Ông đào tạo một lớp chuyên viên . Khi những hột saphir bắt đầu bán ra thị trường thì cũng là lúc đảng cộng sản ra tay phát huy quyền làm chủ cơ sở của ông . Thế là ông chạy trở về Mỹ . Ông Kiệt cũng “ kẹt ” nên không làm gì giúp người bạn thời niên thiếu đầy thiện chí .

Bạn bè trách ông cứ để cho bọn cộng sản gạt . Ông thản nhiên nói “ Anh em biết tánh tôi mà . Tôi chỉ cần cho thấy là tôi thành công, còn ai giựt thì cứ giựt . Nhưng giựt rồi có làm được hay không ? ” .

Ông Võ văn Kiệt trước sau vẫn là người cộng sản mà với người cộng sản thì “ áo làm sao mặc qua khỏi đầu ” được ? Nên người ta đặt cho Ông Kiệt cái tên phù hợp với ông “ Võ văn Kẹt ” . Nhờ biết giử  thế “ kẹt ” mà ông leo lên tới ghế Thủ tướng và sống giàu sang tới 85 tuổi với bà vợ  trẻ, Bà Phan Lương Cầm, biệt danh là« Bà 10% » khi xây dựng đường giây cao thế Bắc-Nam . Bà Cầm có thời du học về môn Hóa học ở Hòa lan .
Khi cưới Bà cầm, Ông Kiệt đã có tuổi nên dân chúng Sài gòn hát tặng ông :
Bà Phan Lương Cầm.
Bà Phan Lương Cầm.
Cụ Kiệt cưới Cô Cầm .
   Cái Cô Cầm cần, Cụ Kiệt cốc có
  Cái Cụ Kiệt có, Cô Cầm cóc cần ” .

Vì chuyện gia đình, Ông Phạm văn Hai thường qua Paris . Một hôm, tình cờ gặp lại Ông TVB lúc đang bán sửa đặt có đường  Ông Thọ, ông bảo ông TVB hảy làm chả giò bán kiếm lời nhiều hơn . 

Ông cho bí quyết làm chả giò giử giòn được lâu . Ông thương Ông TVB vì lúc ở Sài gòn, ông thấy Ông B là một thanh niên có tài buôn bán vải . Ông B nắm trong tay một khúc vải, vò vò rồi buông ra, có thể cho biết khá chính xác thành phần vải có bao nhiêu phần trăm coton, polyester, …Từ đó Ông TVB phất lên làm « vua chả giò » (cũng là vua chớ bộ ?) và ngày nay cũng là Đại gia ở Sài gòn nhờ biết cách làm ăn theo định hướng xã hội chủ nghĩa .

 Vã lại Ông TVB là người gốc tàu thì chổ nào có dưởng khí là sống được để theo đuổi triết lý « lượm bạc cắc » ! Mà bạc cắc thì xưa nay là thứ xuyên quốc gia và không có mùi, cả mùi cộng sản !

Mười bốn năm trước, đang dự tính đi qua Miên tìm saphir làm nữa vì vùng có saphir lúc đó không còn dưới sự kiểm soát của Khờ-me đỏ nữa, Ông đột ngột qua đời, viết thiệp chúc Noel bạn bè chưa kịp gởi đi .
Không có người cộng sản khác hơn

Nguyễn văn Linh, tự Mười Cúc, gần như suốt đời hoạt động trong Nam . Ông phải am hiểu tâm tình người nam hơn ai hết . Các bà già trầu nam kỳ đều thương ông vì thấy ông chỉ có một thân một mình ở đây đi làm kháng chiến . Ông sống xót để leo lên tới tột đỉnh danh vọng trong hệ thống cộng sản là hoàn toàn nhờ gáo nước, nồi cơm của đât nam kỳ . Nhưng khi có quyền, không chỉ vô ơn bạc nghĩa theo bản chất người cộng sản chuyên chính, mà ông còn tìm cách ám hại, triệt tiêu những đồng chí nam kỳ của ông .

 Như Hồ Chí Minh đã hạ Nguyễn văn Cừ giử quyền lãnh đạo đảng cho Miền Bắc, sát hại tất cả những người yêu nước chơn chánh thời kháng chiên để cướp công kháng chiến cho đảng cộng sản . Vì bản chất thật của người cộng sản là « mục tiêu » . Mục tiêu giờ đây sẽ không phải là mục tiêu của lát nữa . Tình cảm, ơn nghĩa, có trước, có sau, …là những thứ sản phẩm của tiểu tư sản, không phải đạo đức cách mạng của cộng sản thứ thiệt .

Tháng 3 năm 1988, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng đột ngột qua đời. Theo Hiến pháp thì ông Kiệt sẽ lên thay cho đến khi Quốc hội bầu ra người mới.
Tháng 6 cùng năm, Quốc hội nhóm họp đã bầu Đỗ Mười mặc dù rất nhiều đoàn đại biểu đề nghị ông Kiệt. Hơn nữa, ai cũng biết Đỗ Mười dốt đặc cán mai và còn mang bịnh tâm thần trầm kha, đêm từng leo lên cây bàng cạnh bịnh viện hát nghêu ngao « Ai yên Bác hồ hơn …. » .

Ông Linh cho tới lúc hấp hối vẫn hô hào hạ bệ cho kỳ được Ông Kiệt khỏi những chức vụ lãnh đạo tối cao. Giữa năm 1995, Chính phủ ông Kiệt gặt hái được nhiều thành tích, uy tín của ông lên cao. Khi đó Tổng bí thư Đỗ Mười đã ở tuổi 80. Ông Kiêt trở thành một ứng cử viên nặng ký cho chức tổng bí thư vào kỳ Đại hội VIII.
Điều này đã làm cho BaTàu bắc kinh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, và đặc biệt là ông Linh trở nên quyết liệt hơn, tàn nhẫn hơn đối với Ông Kiệt .

 Ông Linh tung ra trận đánh tổng lực với nhiều chiến thuật khác nhau . Vừa triệt hạ uy tín Ông Kiệt, ông Linh tìm cách cô lập và loại ông Kiệt ra khỏi Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị. Ông Kiệt không được tham dự vào các quyết định quan trọng nữa.

Đồng thời, ở Hà nội, ông Linh lôi kéo Ông Nguyễn Hà Phan khi Phan được Ông Kiệt cất nhắc ra Hà nội làm Phó cho ông năm 1986 . Ở đây, Phan tưởng tương lai sẽ rộng mở cho mình nên cấu kết với nhóm của Ông Linh . Phan bắt đầu trở mặt tấn công nhằm hạ bệ Ông Kiệt để giựt chiếc ghế Thủ tướng .

 Nhờ thành tích tấn công Ông Kiệt, tháng 1/1994, nhơn Hội nghị giữa nhiệm kỳ, Phan được kết nạp vào Bộ Chánh trị .

Trước thế lực mới và âm mưu thâm độc của đối phương trong đảng, Ông Kiệt kỳ này sẽ thật sự bị kẹt và suy vong luôn ?

Nhưng không . Nhờ một cựu cán bộ đảng ở Cà mau tố cáo tội lỗi của Nguyễn Hà Phan vừa cứu nguy ông, vừa giành chiếc ghế Thủ tướng cho cánh nam kỳ của ông cho tới ngày nay . 

Võ văn Kiệt là người cộng sản đặc sệt, gốc nam kỳ, tranh đấu gần như trọn đời ở trong Nam hẳn phải hiểu rỏ hai điều . Lý do di cư 54 khi cộng sản về Hà nội và vượt biển 30/04/75 khi cộng sản hà nội chiếm được Miền nam . 

Điều thứ hai là lịch sử xuyên suốt của cộng sản, đối với đối phương, là cướp đoạt chánh quyền bằng bạo lực và dôi trá ; đối với đồng chí, là thẳng tay hạ nhau để trẻo lên .

Cộng sản bạc đầu, Ông Kiệt phải lao mình vào trò chơi tương quan lực lượng theo qui luật biện chứng “ ai thắng ai ” .  

Ông muốn làm Võ văn Kẹt mà ! 

Nên thấy trong con người của Ông Kiệt, tuy nam kỳ nhưng không có chất nam kỳ thứ thiệt vì ông không phải nông dân mà cũng không phải tiêu tư sản, với hai thứ này, thật lòng lên đường làm kháng chiến giành độc lập dân tộc !

Nguyễn thị Cỏ May



BĂNG ĐẢNG VẸM TÂN LÀ NGUYÊN NHÂN LÀM PHÂN HÓA, RỐI LOẠN CỘNG ĐỒNG HẢI NGOẠI.



Date: Thu, 6 Mar 2014 21:52:11 -0800
Subject: Fwd: Bài cũ chửi Việt Tân, có thì giờ nên coi
From: ngokycali@gmail.com

FYI.
Ngô Kỷ




T  H  Ờ I   -   S Ự
   
 BĂNG ĐẢNG VẸM TÂN LÀ NGUYÊN NHÂN
LÀM  PHÂN HÓA, RỐI LOẠN CỘNG ĐỒNG HẢI NGOẠI.
    
    Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ và thế giới Tự Do cấp vận Trung Cộng từ sau năm 1949, khi Mao Trạch Đông chiếm Hoa Lục, đến năm 1972, Hoa Kỳ mới xã vận, bang giao, bình thường hóa mậu dịch và đưa Trung Cộng vào W.T.O, từ đó đến nay, thị trường thế giới có lắm chuyện về các mặt hàng mang nhãn hiệu" made in China": hàng dỏm, giả, nhái, không bền, độc hại, dùng bừa bãi các hóa chất cấm….đúng hơn là từ năm 1949 đến 1972, không có mặt Trung Cộng trên thị trường tự do cạnh tranh, thì thế giới vẫn phát triển và đâu có gì trở ngại:
" Có mợ thì chợ vẫn đông.
Không mợ thì vẫn có không bửa nào".

     Tại hải ngoại, hàng triệu người Việt bỏ nước ra đi tìm tự do bằng nhiều hình thức: di tản, vượt biển, đường bộ, O.D.P và cả đoàn tụ gia đình, đều không chấp nhận chế độ phi nhân cộng sản. Cuộc sống mọi người vẫn bình thường, đi làm, lập lại cuộc đời từ hai bàn tay trắng, con cái học hành…tuy nhiên, kể từ ngày có sự xuất hiện của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam, do phó đề đốc Hoàng Cơ Minh, cùng với em của ông và một số người thân tín, đã đưa tập thể người Việt hải ngoại đi vào tình trạng: phân hóa, nghi kỵ, mấy lòng tin vào các tổ chức, ngày nay tình trạng rối ren càng gia tăng, tạo cơ hội cho bọn Vẹm nằm vùng hoạt động, thu phục đón gió trở cờ, mưu toan khuynh đảo các tổ chức và xa hơn mà tiếp thu hải ngoại lần nữa..

     Mặt Trân đại bịp Hoàng Cơ Minh có mặt, gây hậu quả và hệ quả cho người Việt hải ngoại, nay chúng vẫn tiếp tục" thanh tâm trường quấy rối" với băng đảng Vẹm Tân và các tổ chức quan hệ. Nói đúng hơn là anh em Hoàng Cơ Minh tập đoàn gian bịp nhứt ở hải ngoại sau năm 1975, là lũ ăn hại, núp dưới chiêu bài kháng chiến, đấu tranh dân chủ đa nguyên.

   Lúc mới thành lập, Mặt Trận Hoàng Cơ Minh đã nhanh chóng trưng bày" mặt hàng" KHÁNG CHIẾN, biến chuồng gà của một ông tướng Thái cho mướn, thành chiến khu và sau nầy thì mọi người khám phá ra sự thật mà KHIẾN CHÁN, tuy nhiên đã quá trễ, bọn gian manh nầy đã lợi dụng lòng yêu nước của mọi người để móc túi nhanh, móc mạnh và móc bằng mọi cách ( vĩ thuốc kháng chiến, lon gạo kháng chiến, thùng tiền kháng chiến…ĐỐNG TIẾN cho 3 đợt ĐÔNG TIẾN…) nên chỉ sau thời gian vài năm, mà Mặt Trận đã chĩa được hơn 22 triệu Mỹ Kim từ mồi hôi của những người bỏ nước ra đi tìm tự do, tưởng lá thoát khỏi vòng xiềng xích, trấn lột của đảng Vẹm Cộng, nào ngờ lại bị trấn lột khá kỷ từ Mặt Trận đại gian bịp nầy.

     Cùng thời kỳ ấy, có một số tổ chức ra đời, đa số là bịp, như lực lượng dân quân yểm trợ phục quốc do trung tá Võ Đại Tôn thành lập, với cái gọi là" chí nguyện đoàn hải ngoại phục quốc quân". Như tại Úc Châu, cả hai tổ chức bịp cùng nhau " cạnh tranh thu tiền", nên người Việt hải ngoại gặp cảnh tranh đua thu tiền giữa 2 tổ chức:" phục quốc kiếm tiền và kháng chiến vụ lợi" phát triển mạnh ở những nơi có người Việt định cư. Chính sự cạnh tranh thu tiền mà hai tổ chức không thuận với nhau, dù bề ngoài họ giả vờ như là thân thiện, nếu hai tổ chức có cùng một hoài bảo, thực tâm, thì đã kết hợp thành một như câu" một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao" là điều mà mọi người mong muốn; nhớ ngày xưa thời nhà Minh sang cai trị nước Việt, trước khi Lê Lợi khởi nghĩa, đã có những tổ chức chống giặc như Nguyễn Chích là thủ lãnh Hoang Nghêu Cốc và Nguyễn Bật chỉ huy Đường Sơn Cốc, khi nghe Lê Lợi khởi binh, là hai thủ lãnh nầy mang quân về kết hợp và nhập vào nghĩa binh Lê Lợi. Đó là những người yêu nước thực sự, không màng lợi danh, đến với nhau vì đại nghĩa. Nhưng tại Úc Châu là trường hợp điển hình, cả hai tổ chức chống cộng lại không kết hợp, trái lại người của hai tổ chức, thay vì chống cộng, thì ghìm nhau, tranh nhau thu tiền, đó là thực trạng đau lòng mà một số nơi có vài tổ chức mệnh danh" kíu nước". Riêng tại tiểu bang Tân Úc, cư sĩ Lê Tấn Kiết, vào thời điểm năm 1983, bị một người tên Tuấn, xưng là thư ký cho cư sĩ Lê Tấn Kiết, đăng trên tờ Chuông Saigòn, tố cáo Lê Tấn Kiết là trưởng ban lương thực thành Hồ sau 1975, thế là ông nầy sợ, tình nguyện làm công tác" yểm trợ phục quốc" cho lực lượng Võ Đại Tôn, thì những người quốc gia không dám nói gì, chung quanh" bác Một" bao bọc bởi lực lượng tại địa phương. ( sau nầy cư sĩ Lê Tấn Kiết đã bị" tẩu hỏa nhập ma" vì luyện" pháp MÔN LẰN" và ít năm sau thì tiêu diêu nơi miền nào đó, chưa ai nhận được cell phone của đương sự báo là đến nơi bình an).

    Các tổ chức cộng đồng, hội đoàn, quân nhân…là những nơi mà hai tổ chức" phục quốc và kháng chiến" nhắm đến để giành phần thắng, nên tại Úc Châu, thời kỳ vàng son của Võ Đại Tôn, một số hội đoàn nằm trong tay" lực lượng", đến khi Võ Đại Tôn được thả về và ra cuốn Bạch Thư, làm nhiêu người chán nản và hoài nghi, nên uy tín của Liên Minh Quang Phục dần dần hao mòn, từ đó đám Mặt Trận Hoàng Cơ Minh" thừa thắng xông lên", trám vào, nên từ lâu, hầu hết các tổ chức cộng đồng tử từ tiểu bang đến liên bang lọt vào tay Mặt Trận và nay là băng đảng Vẹm Tân.

    Từ Mặt Trận đến Vẹm Tân, đoàn viên, đảng viên thường sinh hoạt và có khuynh hướng muôn giành độc quyền hoạt động để dễ khuynh đảo, hầu dắt hải ngoại đi theo tấm bản chỉ đường của đảng Vẹm cộng. Do đó, tổ chức do Hoàng Cơ Minh thành lập luôn tìm cách loại các tổ chức, đảng phái khác ra khỏi các tổ chức cộng đồng và hội đoàn, bằng những thủ đoạn rất giống như" đồng chí Vẹm cộng" của chúng:

-Xâm nhập vào các tổ chức và dùng thủ đoạn" trèo cao lặn sâu" trong cơ cấu đầu não, mà ban đại diện là nơi mà chúng nhắm đến. Do đó, nhiều tổ chức đã lọt vào quỷ đạo Vẹm Tân, chúng lái sang hoạt động có lợi và theo chính sách như: thu tiền, ủng hộ khối 8406, yểm trợ các nhà dân chủ dỏm, tù nhân lương lẹo…quảng bá ngục khỉ Nguyễn Chí Thiện, Thích Quảng Độ, Nguyễn Đan Quế, ra mắt sách, vận động quốc hội, lếu láo là vào" điều trần"…

-Triệt hạ cá nhân: thấy những ai hoạt động mạnh, lập trường vững, quyết tâm chống cộng là chúng tìm cách triệt hạ cá nhân, khai thác những sơ hở và nếu cần mạ lỵ, chụp mũ như trường hợp của Trương Minh Hòa, bị cơ quan tuyên truyền Vẹm Tân là Ly huong.net, dùng danh sách Việt Cộng nằm vùng, về Việt nam làm ăn" mới nhứt" để chụp mũ, đây là trò" tự biên tự diễn", chúng tự vẽ ra để" đấu tố", hạ uy tín cá nhân. Kim Phạm còn bày ra những chuyện" không có" để bêu xấu…lối đánh phá cá nhân của đám Mặt Trận và Vẹm Tân thành công, những người thiện chí chán, bỏ công việc" ăn cơm nhà vác sừng trâu", thế là đám Vẹm Tân điền vào chỗ trống, nên ngày nay, Vẹm Tân có mặt tại nhiều ban đại diện cộng đồng, hội đoàn, quân nhân…khiến những nơi nầy bị mất uy tín, ủng hộ của quần chúng, vì biết trong cơ cấu đầu não đã có" Giòi Vẹm Tân" nằm điều khiển.

-Những hỏa mù mang danh hiệu" đấu tranh dân chủ đa nguyên, bảo toàn đất tổ, đáp lời sông núi" vô tích sự, hao hơi tổn sức. Đưa cuộc đấu tranh của người Việt hải ngoại thành trò hề, đưa đến nhàm chán và không bao giờ thành công. Băng đảng Vẹm Tân chỉ" đáp lời sông núi" chống Trung Cộng, nhưng thái thú Vẹm Cộng thì né tránh, bằng chứng là ngày quốc hận ở Pháp, chúng tìm cách né tránh biểu tình ở sứ quán Vẹm, thay vào là ở phố Tàu...

-Chạy tội cho Vẹm là cái" mục đích yêu cầu khẩn trương" của băng đảng Vẹm Tân, ngày quốc hận hàng năm cũng đã bị đánh phá thường trực bằng thủ đoạn thay tên, ban đầu làm nhẹ bớt như: diễn hành cho tự do, ngày thuyền nhân, ngày tỵ nạn…Những đánh phá nầy có hai mục đích: nếu thay tên thì chúng hoàn thành công tác một cách xuất sắc, nếu bị phản ứng, thì gây nhiều tranh cải, làm mất thời giờ; tức là đường nào chúng cũng đạt mục đích gây rối hải ngoại, để làm suy yếu cộng đồng.

-Mở rộng vòng tay đem những con chốt Vẹm sang sông như Bùi Kim Thành, kẻ vẫn luôn một lòng" bác hồ kính yêu", Nguyễn Chính Kết là đại diện khối 8406…Đây là những con chốt, thỉnh thoảng tung ra những bài viết cổ động hòa hợp hòa giải và gây tranh cải, cũng là cách phá rối như du kích trước năm 1975 ở miền nam.

-Thỉnh thoảng băng đảng Vẹm Tân gây ồn ào bằng cách gởi vài nhà dân chủ dỏm như Võ Hồng, Nguyễn Quốc Quân…với màn:" khổ nhục kế", bị bắt, được đảng đối xử tử tế và nhân đạo, đòi ăn thịt, uống sửa, báo đọc, điện thoại…Trong khi bị bắt thì ồn ào vận động đủ thứ, sau khi thả về do đảng dàn cảnh, thì được tấn phong" nhà dân chủ, nhà đấu tranh, tù nhân lương tâm"…đây là trò hề" tự biên tự diễn" đã xảy ra quá nhiều lần về những người về, thành tù nhân lương lẹo.

-Áp dụng lời dạy Hồ Chủ tặc:" mười năm trồng cây, trăm năm trồng người" với lực lượng nồng cốt là Hội Chuyên Gia, nơi nầy có một số trí cứt bình vôi, thu phục trí cứt trẻ, họ phát triển bằng những thủ đoạn: dạy học, mở lớp luyện thi…để những mầm non được thu phục từ nhỏ, lớn lên là nối gót, nhập vào hội chuyên gia. Đó là nguyên do mà trong cộng đồng có một số thành phần khoa bảng trẻ, trở thành trí cứt khi lọt vào làm hội viên hội chuyên gia. Những mầm non được cha mẹ cho ăn học, khi lớn lên đi theo lũ phá rối, làm cha mẹ đau buồn, nhứt là con cháu của những gia đình chống cộng, đảng phái, quân nhân…công họ nuôi dưỡng thành mây khói, khi lớn lên, bị Hội Chuyên Gia vớt. Đây cũng là nguyên nhân nội tại làm ung thúi cộng đồng hải ngoại.

    Người Việt hải ngoại muốn sống bình yên, nhưng cây muốn lặn, mà gió chẳng đặng đừng, từ ngày có đám kháng chiến, phục quốc, chính phủ…xuất hiện, như là lũ" thảo khấu" núp dưới chiêu bài" kíu nước", thì tài chánh, của, công sức và thời giờ đã bị nướng vào những lò" yêu nước giả hiệu" nầy. Ngày nay tổ chức nguy hiểm nhứt là băng đảng Vẹm Tân, chúng có tài chánh và một số chất xám " quá độ" thành chất đỏ, là thế lực nội thù " ăn cơm tự do, đội mo cộng sản". Muốn bình an, đi đúng con đường đấu tranh cho dân chủ, tự do, tốt nhứt là mạnh dạn tẩy chay bất cứ cái gì của Vẹm Tân bày ra, không hợp tác với bất cứ ai dính vào Vẹm Tân. Khi Vẹm Tân mất hậu thuẫn quần chúng, là những hoạt đông gây rối giảm dần và chấm dứt, trả lại sự ổn cố cho cộng đồng hải ngoại./.
Trương Minh Hòa
25.02.2014


Tuesday, March 4, 2014

ĐỊNH-NGUYÊN : Tên Nằm Vùng Tay Sai Của NGUYỄN-ĐẮC-XUÂN



LINKS TO IMPORTANT WEBSITES:




 


 
On Saturday, February 22, 2014 8:45 PM, Duc Vu Tran <vuongvu@hotmail.com> wrote:
      Trân Trọng Kính Chuyễn  : Để rộng đường công luận .
       Kính Thưa Học Giả Trần T. Minh và qúy vị ;
       Tiêu đề " Định Nguyên : Tên nằm vùng tay sai của Trần Kiêm Đòan và sát thủ Nguyễn Đắc Xuân : được Học Giả Trần T. Minh , tổng luợc nội vụ , phân tích sự kiện ( Matters Of Fact ) , kiến  giãi  diễn biến , luận nghiệm tâm thức  ... về việc Cựu Thiếu Tá Liên Thành đã ấn tống , phát hành nhiều tài liệu lịch sử vô cùng có giá trị , trong đó có cuốn " Biến Động Miền Trung " . Học giả Trần T Minh có nêu đích danh Định Nguyên và kết kuận " Như đã kết luận trong bài viết : Tay Sai Định Nguyên !
     Trân trọng kính chuyễn  : kính mời đọc và luận nghiệm :
      1 - Những sự thực lịch sử , là sự thực thì nó đã hiện hữu , sẽ trường tồn và bất biến ... những nhơn vật được nêu đích danh là tội phạm , hung thủ , tội đồ ... với tất cả tội ác vô cùng to lớn và cực kỳ dã man  : Qúy vị " kính  " nhờ các cơ quan hình sự quốc tế bắt giam , truy tố và xét xử trước toàn án hình sự quốc tế là việc làm đúng đắn , nhơn đạo và công bằng .
     2 - Nhơn vật Định Nguyên : " kiến thị rằng là tên tay sa " ; nhưng trong một thế giới nhơn đạo , hài hòa , trong sáng ... nhơn vật này vui lòng có thể  " biện luận hay phản biện luận " như là giãi trình những sự thực ... và thẳng thắng đối diện với sự thực và giãi nghiệm nó , đây là phương pháp thanh lọc tâm hồn mình  và minh chứng  chân lý . Sự giãi trình nên được viết bởi một văn phong trong sáng , minh triết , nhơn ái ... và trưng dẫn tài liệu , chứng từ .. để công luận nghiệm luận là con đường  làm trong sáng sự việc ; không nên để : tước hiệu  " Tay Sai " gắn chặt vào tên tuổi của mình suốt kiếp  ... ! Mong lắm thay !
    3 - Trên đường tiểu trừ độc tài cộng sản , qúy vị làm ơn ghi lại chính xác , trung thực ... tội ác của quốc tặc Hồ chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam ... là qúy vị đã giúp rút ngắn đoạn đường quang phục quê hương .

                                                   Trân Trọng
                                                 Vương Thiên Vũ
                                  ( Người Lính Già Gác Cổng Thành Cộng Hòa )
 
To: ChinhNghiaViet@yahoogroups.com
From: tphhsc
Date: Sat, 22 Feb 2014 11:51:39 -0800
Subject: Re: [ChinhNghiaViet] ] ĐỊNH-NGUYÊN : Tên Nằm Vùng Tay Sai Của NGUYỄN-ĐẮC-XUÂN

 

 
 

ĐỊNH NGUYÊN - Tên nằm vùng tay sai của Trần Kiêm Đoàn và sát thủ Mậu Thân Nguyễn Đắc Xuân

6/21/2013  UBTTTADCSVN  10 COMMENTS
Xin phổ biến lại để quý vị tường.
      
(Bài viết của Trần.T.Minh)

Thưa quý vị, cách đây ba năm, khi tên tuổi của ông Liên Thành nổi bật với cuốn sách Biến Động Miền Trung, thì đồng thời cũng có những tên tuổi khác được cuốn theo chiều gió ngược, chống lại ông Liên Thành. Những người Việt Quốc Gia hay theo dõi các bài viết về chính trị lịch sử của ông Liên Thành đều nhận thấy rằng những bài viết ký tên Định Nguyên trong nhóm chiều gió ngược, không phải là những bài viết có giá trị. Cho nên, mặc dù cố lãi nhãi nói hưu nói vượn, nhiều người chẳng buồn đếm xỉa những bài viết của Định Nguyên làm gì. Tôi cũng không khác. Tuy nhiên đôi khi sự im lặng không phải là vàng.
 Sự im lặng của chúng ta làm cho hắn và đồng bọn tưởng bở làm tới, đến độ hỗn láo, nghĩ rằng người quốc gia chúng ta vẫn còn tưởng hắn là người quốc gia thứ thiệt. Cho nên hôm nay tôi dành chút thì giờ cuối tuần đọc bài viết mới toanh của hắn và có vài nhận xét về các kiểu lý luận và lời lẽ của hắn, hy vọng hắn bớt phun châu nhả ngọc, làm bẩn diễn đàn, làm quý vị bực mình. Lâu lâu ai cũng phải quét nhà là vậy!
    Cách đây gần 3 năm, khoảng đầu năm 2009, khi ông Liên Thành cựu Trưởng Ty CSQG Thừa Thiên Huế bắt đầu tường thuật các hoạt động cộng sản nằm vùng đã xảy ra tại quê hương miền trung đầy sóng gió của ông là Huế, ví dụ như bài “Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan”, bài “Trịnh Công Sơn và các hoạt động nằm vùng”, và cuốn sách Biến Động Miền Trung v.v, thì lập tức có các loạt đạn bắn trả lại của phe màu cam (ruột đỏ vỏ vàng) và phe nó, tức là phe màu đỏ, và tất nhiên cũng có tiếng súng của phe “Liên Thành” tạm gọi là phe màu vàng nghệ.
  Ai cũng biết lý do của các đợt giao tranh đã đem lại nhiều sôi nỗi thú vị là vì ông Cò Thừa Thiên đã chạm nọc phong trào Phật Giáo Tranh Đấu. Một phong trào đã từng một thời làm mưa làm gió trên chính trường Miền Nam. Phong trào tuy chỉ là do một thiểu số cầm đầu nhưng vì được nghiên cứu, lãnh đạo và tổ chức bởi Hà Nội, nên đã tạo ra một sức mạnh nhờ đáng kể vào danh hiệu Phật Giáo. Sức mạnh này đã ám ảnh nhiều người đến nỗi cho đến mấy chục năm sau mà vẫn có người cho rằng đây là lãnh vực “nhạy cảm”.  
  Thế nào là “nhạy cảm”? Đó là “Thầy” là một danh từ không thể được bàn tới, dù cho “Thầy” có làm cộng sản, có những hành vi sai trái với đạo lý giáo lý với luật pháp. Ông Cò Thừa Thiên đã làm gì mà chúng nó nổi dóa như thế? Có gì đâu, chỉ là ông ta lôi đầu một số ông thầy tu ra tố là cộng sản, nên phe cam và phe đỏ bị shock mạnh phản ứng lại. Từ đó có những bài viết online dài có, ngắn có, có học cũng có, vô học cũng có, nói rằng ông Cò dựng chuyện, ông Cò dám “phạm thượng” (sic!). 

Phe ta thứ thiệt chống trả ngoạn mục và chiếm số đông, còn phe ta thuộc loại vàng lợt (hèn nhát) biết ông Cò nói thật, nhưng trùm mền không dám lên tiếng sợ bị chữi. Nhưng xưa nay có ai chết vì bị chữi không quý vị? Đảng cộng sản và tay sai có ngon thì nhào vô, tôi xin tiếp chiêu, nhưng với điều kiện đối phương phải cho ra lò những bài viết có giá trị, chứng minh bằng sự kiện, không bằng tình cảm chửi bới vô học và ảo tưởng.
   Phe nó, tức phe cộng sản, tức phe màu đỏ, thấy tuyệt chiêu “giương cao ngọn cờ tôn giáo” bách chiến bách thắng đang bị bể dĩa nên quýnh lên, bằng mọi giá phải cứu nguy chiêu bài này. Phe đỏ phải phản pháo kịch liệt “liên lũy”, lãi nhãi đi lãi nhãi lại một điệp khúc “quý thầy là Phật Giáo”, phong trào Phật Giáo Tranh Đấu là phong trào chống sự đàn áp Phật Giáo của chính quyền Nhu-Diêm Thiệu-Kỳ. Suốt ba năm vẫn nhai đi nhai lại một bản đồng ca cũ rích không có gì khác. Dĩ nhiên, phe đỏ phải thuê mướn tên tuổi của phe màu cam, tức là những kẻ bên ngoài mang nhản hiệu quốc gia, bên trong thờ ma cộng sản, viết bài, may ra mới ép phê.
    Đó là lịch sử ra đời của nhiều bài viết và nhiều tác giả mầm non văn nghệ trường phái chống Liên Thành và tập đoàn Liên Thành, tức là tập đoàn “Cần Lao gia nô phù Ngô phục hận”. Tuy nhiều nhản hiệu, nhưng đọc qua thì thấy ngay những bài viết này chỉ từ 2 lò mà ra: một là lò Giao Điểm hai là lò Thông Tấn Xã nước CHXHCNVN. Mà lò Giao Điểm lại là nhánh thông tin ngoại vi hải ngoại của Thông Tấn Xã nước CHXHCNVN. Nên, tóm lại, tất cả các bài phản pháo chống Liên Thành đều xuất phát từ cái lò mẹ của nước CHXHCNVN mà ra. Điểm đồng dạng rất dễ nhận thấy đó là các bài này chỉ dùng một công thức: Liên Thành là đồ ngu dốt, là đồ có “viễn đồ phi dân tộc”, Liên Thành là tên phỉ báng Phật Giáo dám phạm thượng với các vị lãnh đạo tối cao của Phật Giáo. Tìm đỏ con mắt cũng không thấy một bài phản pháo nào tương đối cao cấp, có phong cách lịch sự, đưa ra được những chứng cứ có giá trị để chứng minh các đương sự “ thầy tu” được ông LT đề cập tới không là cộng sản.
   Để tiết kiệm thời gian vàng ngọc của những ai chưa có dịp đọc qua loại văn chương màu đỏ này, tôi xin được phép tóm gọn sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong các bài viết đó, được ký tên bởi các nhân vật trong Giao Điểm, Trần Chung Ngọc, Định Nguyên, Trần Kiêm Đoàn, Hoàng Văn Giàu, Nguyễn Đắc Xuân, và bè lũ tội ác Mậu Thân khác như Hoàng Phủ Ngọc Phan, Ngọc Tường v.v và vv  như sau:

Nhận xét của Trần Minh tôi: Vũ khí gia truyền độc nhất, cái “key” của các bài viết loại này, đó là Phong Trào Phật Giáo Tranh Đấu. Phe đỏ cho rằng đây là một phong trào chống đàn áp tôn giáo của Nhu- Diệm lẫn Thiệu- Kỳ. Còn đối phương tức phe Liên Thành thì gọi Phong Trào Phật Giáo Tranh Đấu là Phong Trào Phật Giáo Phản Loạn. Vũ khí của phe đỏ bắn ra các tuyên truyền, tuyên cáo, tuyên bố, tuyên ngôn rằng Liên Thành là một tên “Phỉ Báng Phật Giáo”, dám động đến các thánh nhân Thích Đôn Hậu Thích Trí Quang, và kêu gọi biểu tình xuống đường tử vì đạo giống hệt như thời oanh liệt 1962-1966. Một ví dụ cụ thể là chùa Điều Ngự đã email kêu gọi tổ chức biểu tình ngày ông Liên Thành ra mắt sách Thảm Sát Mậu Thân ở Santa Ana năm 2011. 

Email của huynh trưởng Phật Tử chùa Điều Ngự Trần Đinh Minh, một tên được xác nhận có gốc nằm vùng trước 1975, được đánh đi cho rất nhiều người trong ban lãnh đạo chùa Điều Ngự, trong đó chánh án Nguyễn Trọng Nho, Đại Tá Lê Khắc Lý, Giáo Sư Lê Trung Khảo. Ông Liên Thành đã đi thưa cảnh sát chuyện này, do đó phe Điều Ngự đã rút lui án binh bất động. Kẻ viết bài này đã liên lạc với ông Liên Thành để tìm hiểu. Ai thắc mắc xin gọi hỏi thẳng ông ta cũng như các đương sự được nêu tên trên. Tiếc cho giấc mộng biểu tình không thành tại Santa Ana của chùa Điều Ngự, Trần Minh tôi xin tặng ông Trần Đình Minh và chùa Điều Ngự một câu trong bài hát của Cung Tiến: “Thời hoàng kim xa quá chìm trong phôi pha!” “Chờ đến bao giờ tái sinh cho người!”

Để công bằng cho cả hai phía Phật Giáo Tranh Đấu và Liên Thành, xin tóm tắt các cáo buộc chính của phe Phật Giáo Tranh Đấu chống lại Liên Thành, như sau nói rằng Liên Thành đã bỏ quên lịch sử “yêu nước” của Phong Trào Phật Giáo Tranh Đấu như sau:

“Các hoạt động của phong trào Phật Giáo Tranh Đấu từ khoảng năm 1962 đến 1966 đều là do sự đàn áp Phật Giáo của cả hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa, cụ thể là các tên Nhu -Diệm và Thiệu- Kỳ. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa bọn Cần Lao Nhu Diệm đã tiếp tục thi hành Đạo Dụ số 10, coi Phật Giáo chỉ là Hiệp Hội, tức là thấp cơ hơn phe Công Giáo. Bọn Cần Lao Nhu Diệm đã chỉ thị ném lựu đạn vào đài phát thanh Huế giết 8 trẻ em, chỉ thị cấm treo cờ Phật Giáo ngày Phật Đản ngoài đường phố, trong khi phe Thiên Chúa Giáo của Ngô Đình Thục được treo cờ xả láng. Cần Lao Nhu Diệm lập Ấp Chiến Lược và khu Dinh Điền để đày Phật Tử vào chổ rừng thiêng nước độc, chứ không phải để chống cộng. Do đó, nhiều Phật Tử bị bịnh mà chết. Vì thế một số nhà tu đã cực chẳng đã phải lãnh đạo phong trào Phật Giáo Tranh Đấu để cứu nguy đạo pháp và cứu nguy Phật Tử đang bị bọn Nhu Diệm đày vào chổ chết.

Ngài chân tu anh minh Thích Trí Quang đã buộc lòng phải tổ chức cho nhân dân Miền Nam anh hùng vùng lên, lên đường xuống đường tự thiêu để bảo vệ đạo pháp, chỉ thuần túy bảo vệ đạo pháo mà thôi, không cần bảo vệ giang sơ gấm vóc. Còn cộng sản thì kệ cha nó, nó không đàn áp Phật Giáo là ok rồi. Ai nắm chính quyền who care? Miễn là Phật Giáo trở thành quốc giáo là được. Đó là chiêu bài tuyên truyền của phe Phật Giáo Tranh Đấu. 

Nổi tiếng nhất và ầm ỉ nhất là vụ tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức, ở ngay cộng lộ ngã tư Lê Văn Duyệt -Phan Đình Phùng Sài Gòn, chổ đông traffic nhất. Vì có chánh nghĩa và vì có good location nên vừa mới tự thiêu xong thì cả thế giới đều biết, nên tự thiêu xong thì ngay lập tức Hòa Thượng Thích Quảng Đức thành chánh quả, trở thành Bồ Tát, tức là ngang hàng với Phật liền. Cũng vì có chánh nghĩa cho nên vụ tự thiêu này đã làm cho bọn Nhu Diệm Cẩn bị quả báo, cả nhà Diệm Nhu Cẩn phải bị giết chết hết. 

Bọn đầu sỏ Cần Lao này bị giết một cách dã man tàn bạo (có hình chứng minh) như vậy, mà bọn Đệ Nhị Cộng Hòa vẫn chưa tởn, không chịu bàn giao chính quyền cho thầy Thích Trí Quang. Vì vậy mà thầy Trí Quang phải nằm trong tư thế buộc lòng phải tổ chức Bàn Thờ Phật xuống đường, chức thực ra thấy đâu có muốn đem bàn thờ Phật xuống đường làm chi, tội chết. Nếu tụi nó ngoan ngoãn bàn giao chính quyền VNCH cho thầy, thì làm gì có sự đứng lên của phong trào Phật Giáo Tranh Đấu. Công của thầy Trí Quang trong việc lật đổ và giết Nhu Diệm Cẩn là quá lớn, giúp đưa tụi Đệ Nhị Cộng Hòa nắm chính quyền, thì tụi nó phải dành cho thầy chức Quốc Sư hoặc Quốc Phụ, để cho Phong Trào Phật Giáo tham gia chính quyền mới công bằng chứ! Lịch sử ghi nhận, sau khi Nhu Diệm Cẩn bị sát hại, Phật Giáo Tranh Đấu và ngài Trí Quang đã phải vùng lên tự thiêu nhiều gấp bốn lần hơn thời Nhu Diệm để chứng tỏ cho Liên Hiệp Quốc biết bọn Đệ Nhị Cộng Hòa cũng đàn áp Phật Giáo không kém bọn Nhu Diệm Cẩn vậy. Các vụ tự thiêu được mùa rộn rã nhộn nhịp. Tự thiêu ngay cả trước mặt Phái Đoàn Liên Hiệp Quốc cho ép phê (Điểm này xin lưu ý, sở dĩ phái đoàn LHQ qua Việt Nam là vì GHPGVNTN đi thưa chính phủ VNCH tại Liên Hiệp Quốc, chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa tức quá bèn mời phái đoàn sang mau mau). 

Nhưng thật không fair cho phong trào Phật Giáo Tranh Đấu chút nào. Tự thiêu rầm rộ như vậy mà phái đoàn LHQ đã báo cáo rằng không tìm thấy bằng chứng đàn áp Phật Giáo! Rõ ràng là đã có tự thiêu gấp bội hơn thời Nhu Diệm, tự thiêu ngay trước mắt phái đoàn Liên Hiệp Quốc mà nói là không có bằng chứng đàn áp Phật Giáo à? Vì vậy mà Định Nguyên mới kết luận rằng Liên Thành là tên Việt Gian ngoại hạng cố tình bỏ quên lịch sử, bóp méo xuyên tạc lịch sử. Liên Thành đã không nêu lý do tại sao có tự thiêu, tại sao có bàn thờ Phật xuống đường, mà Liên Thành chỉ kết luận là do cộng sản tổ chức. Có tức cho Định Nguyên và phe Phật Giáo Tranh Đấu không chứ? (Xin hỏi nhỏ Định Nguyên chổ này, còn phe Phật Giáo Không Tranh Đấu ra răng? Họ có cùng phe với Phật Giáo Tranh Đấu không?) Rõ ràng là phái đoàn LHQ đã ăn hối lộ và gái giếc sao đó với chính phủ VNCH, nên đã bỏ qua tội ác tày trời này của Nhu- Diệm -Cẩn và sau đó là Thiệu –Kỳ. 

Và một cái không fair nữa cho ngài lãnh đạo Phật Giáo Trí Quang là kế hoạch đang tiến triển tốt đẹp, việc tự thiêu đang nở rộ ngon trớn và lên như diều gặp gió, chính quyền Đệ Nhị Cộng Hòa sắp về tay Phạm Văn Bồng và Bác ở ngoài Bắc, thì tên Đại Sứ Cabot Lodge tự nhiên trở mặt, đi đêm với Thiệu- Kỳ. Không những không ủng hộ phong trào Phật Giáo Tranh Đấu nữa mà lại còn nháy mắt cho Đệ Nhị Cộng Hòa ra tay vớt anh bạn cũ Thích Trí Quang. Vì sự phản bội của tên đại sứ đế quốc Mỹ khốn nạn, ngài lãnh đạo Phật Giáo vĩ đại Thích Trí Quang mới đành phải tổ chức Bàn Thờ Phật xuống đường tại Huế chứ ngài đâu có muốn vậy! Liên Thành thấy đó, không có lữa làm sao có khói? Liên Thành bỏ quên lịch sử là chổ đó. Tại sao lại thầy lại chọn Huế? vì Huế là cái nôi đã đưa cho thầy đến tuyệt đỉnh danh vọng, Huế là cái lò lửa của Thầy. Phật Tử Huế mê thầy như điếu đổ, như Phật sống. Ngài phán gì là Phật Tử Huế răm rắp cái nấy, coi thầy còn hơn quốc gia Việt Nam Cộng Hòa. Vì rứa mà cộng sản mới chọn cho thấy làm đạo diễn Phong Trào Phật Giáo Tranh Đấu, còn nhà viết kịch và sản xuất thành phim là Bác Hồ. Vì có nhà làm phim có kinh nghiệm và giàu có nên trò bàn thờ Phật xuống đường mở ra thì thành công vượt bực và đạt nhiều thành tích rùng rợn. 

Thuở đời, đem Phật bỏ xuống đường mà Phật Tử cũng làm luôn, mặc dù đường cái là chổ ô uế vô cùng! Kết quả ngài Trí Quang đã thành công rực rỡ trong việc dùng hình ảnh Phật thực hiện thánh chiến chống lại chính quyền địa phương và chính quyền trung ương. Cho nên lịch sử đã gắn liền tên tuổi ngài Trí Quang với thành ngữ “bàn thờ Phật xuống đường” là vậy. Chính quyền Đệ Nhị Cộng Hòa cũng như Đệ Nhất Cộng Hòa sợ bị đổ vạ là đàn áp Phật Giáo nên không dám động tới bàn thờ của Phật, nên hình ảnh Phật phải bị đày ở ngoài đường hơn một tháng. Một chuyện mà từ xưa tới nay, từ Đông sang Tây không ai dám chường mặt hãnh diện, không ai dám lấy Phật đi hù chính quyền như vậy. Phật là một nhà triết học lớn của nhân loại, ngai vàng ngài còn không màng huống gì cái chính quyền VNCH, ngài cũng không thù không oán gì với chính quyền VNCH, vậy mà Trí Quang cứ đem ngài xuống đường để chống lại chính quyền VNCH! (Đúng là một bọn tiếm danh lường gạt!). 

Có “Bàn thờ Phật” làm vũ khí, ngài Trí Quang tha hồ tung hoành. Sư đoàn I BB cũng sợ ngài, một ông Tướng vài ông Tá cũng nghe ngài ngài răm rắp. Vì vậy, ngài đã block được Quốc lộ I trên một tháng, tụi VNCH và kể cả đám dân thường không lưu thông được, các anh Giải Phóng Quân tha hồ vượt Trường Sơn áp sát thành phố Huế. Thành phố Huế đã có Thầy Trí Quang take care, cần nghĩ vacation nên không cần hoạt động, chỉ nằm tê liệt cho khỏe: Trường không mở, chợ không họp, bệnh viện không đủ thuốc men thầy thuốc y tá, mọi người cứ việc ra đường với bàn thờ Phật cho vui. 

Trên một tháng làm chủ tình hình, phong trào Phật Giáo Tranh Đấu đã lập được các thành tích lịch sử đáng nể như sau: đốt xe cảnh sát, tịch thu vũ khí của bọn Mỹ Ngụy, đốt phòng văn hóa thông tin Hoa Kỳ, sĩ quan Nguyễn Đại Thức anh hùng bắn máy bay chở ông Tướng chạy có cờ. Không khí Huế thật là sôi sục và vui vẻ như Tết. Phật Tử Tranh Đấu thật anh hùng y hệt những o du kích bắn máy bay Mỹ. Khí thế tranh đấu bừng bừng lửa dậy, oai phong một cõi. Nhà nhà tự do, người người tự do làm loạn mà không thằng nào dám bắt. Huế hơn một tháng tự do với Trí Quang như chốn sơn lâm thảo khấu, trẻ con khỏi phải đi học, mọi người đều win-win situation, thật là một kỹ niệm vui vẻ biết bao! Chỉ tội nghiệp nhóm Phật Giáo và Công Giáo Không Tranh Đấu bụng đói meo vì không có chợ.

 Rõ ràng là Phong Trào Đấu Tranh của Phật Giáo do các ngài chân tu như Đôn Hậu Trí Quang lãnh đạo xảy ra từ nguyên nhân bị bọn chính quyền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa đàn áp quá mức, mà bằng chứng này không ai có thể chối cãi được. Chỉ có tên Liên Thành phản động cố cãi bướng, cố tình bỏ quên cái nguyên nhân của nó. Tóm lại, phong trào Phật Giáo Tranh Đấu là phong trào có nguyên nhân, có chánh nghĩa, có lý tưởng, có hợp pháp. Chứng minh: nếu không hợp pháp thì Nhu Diệm hoặc Thiệu Kỳ đã dọng đám này vào tù hết rồi. Mà đã không dọng vào tù thì phong trào này rõ ràng là phong trào hợp pháp đúng luật và có chánh nghĩa. Trúng chóc tam đoạn luận, bố thằng nào cãi được!.

   Thắc mắc của Trần Minh về lý luận này: Hay là Đệ Nhị Cộng Hòa bị lạnh cẳng không dám bắt? sợ bị giết như Nhu Diệm Cẩn chăng?
   Phong  trào Phật Giáo Tranh Đấu được quần chúng nhân dân ủng hộ mãnh liệt, đặc biệt là Bác Hồ ở ngoài Bắc. Do đó, bọn nào bôi bác phong trào Phật Giáo Tranh Đấu và bôi bác các ngài Trí Quang Đôn Hậu là một bọn phản động phỉ báng Phật Giáo, cha mẹ dòng dõi nhà nó đáng bị đem ra chửi. Vì vậy, Liên Thành, một tên đại Việt Gian phản động, theo Tàu chống lại Giáo Hội PGVNTN, tên cứng đầu nhất phải bị Bửu Chánh, chủ tịch Hội Đồng Hoàng Tộc của Mặt Trận Tổ Quốc khai trừ ra khỏi dòng họ. Liên Thành, tên cố tình bỏ quên lịch sủ và cố tình bóp méo lịch sử hào hùng oanh liệt của Phong Trào Phật Giáo Tranh Đấu, bôi bác phong trào này là phong trào của cộng sản đáng bị đào ông bới bà. Trong lúc đó, Định Nguyên và Trần Kiêm Đoàn lúc nào cũng nhớ lịch sử, không bỏ quên lịch sử. Trần Kiêm Đoàn và Định Nguyên cùng các anh Trần Đình Minh, Chơn Diệu Hoàng Văn Phong của chùa Điều Ngự lúc nào cũng một lòng một dạ không dám phạm thượng với các ngài thầy tu, cho dù các ngài có công khai làm cộng sản cũng không nhằm nhò gì. Dưới sự lãnh đạo của các thầy, Việt Nam sẽ được siêu thoát khỏi chế độ cộng sản, không cần phải đi lính VNCH đánh thuê cho Mỹ, xài bạc tỷ mà không làm được gì để bảo vệ Miền Nam (lời ngài Quảng Độ và Võ Văn Ái, website queme.net ngày 18 tháng 1 năm 2010). 

Tên Trưởng Ty Liên Thành đích thực là cánh tay nối dài của Cần Lao Công Giáo Phù Ngô Phục Hận. Tên Liên Thành là tên hèn nhát phản quốc đã bỏ chạy sau năm 1975. Tên Liên Thành là tên đầu sỏ gây ra tình trạng chia rẽ khối đoàn kết dân tộc trong tình hình việc chống cộng tại hải ngoại đã quá chín rục như chuối mùi, chỉ chờ ngày hải ngoại mau mau về tiếp thu chính quyền cách mạng. Vì tên Liên Thành phá hoại sự đoàn kết dân tộc như vậy nên hậu quả là sự thành công của việc chống cộng ở hải ngoại bị cản trở và chậm trễ, thậm chí có nguy cơ tan tành. Vì vậy phải liên lũy không mệt mỏi chửi cha mắng mẹ tên Liên Thành, kiếm thằng khùng Bửu Chánh giả mạo Hội Đồng Hoàng Tộc khai trừ nó, lấy lý do nó dám đụng tới Phật Giáo, mặc dù trên lý thuyết nhà Nguyễn là một triều đại vua chúa, mà vua chúa tức là thiên tử đâu cần phải thờ Phật. Liên Thành đáng bị đào mả nhà nó, ngay cả tới đời ông Gia Long, người có công tìm ra hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trong lúc ông bị vua Quang Trung đuổi chạy ra biển. Ngay cả tới chín đời Chúa Nguyễn đã tạo ra một dãi dài Miền Nam Việt Nam từ sau Thuận Hóa ra tới mũi Cà Mau cũng không đáng coi trọng bằng các thầy Đôn Hậu Trí Quang. Who care công trạng nhà Nguyễn? Cứ việc đào mả nhà Liên Thành tức nhà Nguyễn ra mà chửi! Chỉ có công trạng của Phong Trào Phật Giáo Tranh Đấu, công trạng của thầy Đôn Hậu Trí Quang Chánh Trực Thiện Siêu là số một. Tố cáo nó lừa tiền đồng bào cho nó nhục, cho đến khi nào nó câm miệng và dẹp cái Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Cộng Sản của nó đi, lúc đó thì cách mạng mới thành công, phe nó mới im miệng, lúc đó phe ta mới tha hồ chống cộng bằng mồm, mới có thể giải thể được cộng sản. Lúc đó Bác và Đảng mới thực sự là hoan hỷ…”
 Trên đây là tóm tắt những điểm chính các bài viết thuộc thể loại Phật Giáo Tranh Đấu v.v.
 Xin trở lại bài viết mới ra lò của Định Nguyên, được ghi rất hot là vào “trung tuần tháng 3 năm 2012”, nhưng đọc xong thì cũng y chang như mấy mùa lá đổ trước. Ba thu rồi mà Định Nguyên, Trần Kiêm Đoàn, và Phong Trào Phật Giáo Tranh Đấu không có gì tiến bộ. Xin “điểm ” hai cái mới trong bài mới của Đại Úy Cảnh Sát Quốc Gia Nguyễn Hữu Đỉnh, bạn của Nguyễn Đắc Xuân và Trần Kiêm Đoàn, tức nhà văn Định Nguyên như sau:
     Một là gia đình Liên Thành là loại vô giáo dục không biết dạy con, đã để cho con dám phạm thượng gọi các ngài tu hành như Đôn Hậu Trí Quang Quảng Độ là đồ “C.,Đ.”.

     Hai là Liên Thành là tên Việt Gian ngoại hạng đang hoạt động cho cộng sản ngoại bang (Tàu Cộng?)

   Thưa quý vị, hai cái “mới” này,  phải công bằng mà nói, là công của ngài Võ Văn Ái, đại diện VP II Viện Hóa Đạo/GHPGVNTN, đã sáng tác cách đây hơn một năm, chứ không phải Định Nguyên. Coi chừng Định Nguyên vi phạm luật bản quyền với Võ Văn Ái. Võ văn Ái nói như sau: GHPGVNTN là tổ chức duy nhất có tiềm năng chống cộng mạnh nhất nên Tàu Cộng nó phải mướn tên Liên Thành để phá Giáo Hội PGVNTN. Giáo hội PGVNTN có phải là một tổ chức chống cộng thật sự hay không, có phải là một tổ chức có thực lực mạnh nhất hay không, tôi xin miễn lời bình mà xin để quý bạn đọc đánh giá. 
  Trở lại việc “điểm” bài viết của tác giả Định Nguyên, một sĩ quan CSQG thuộc cấp cũ của ông CHT/CSQG  Liên Thành,  tôi xin đưa ra vài nhận xét như sau:
 1/ Định Nguyên - một tên vừa ăn cướp vừa la làng
Định Nguyên la làng thế này: “Chưa bao giờ tình trạng xúc phạm, bôi bác tôn giáo giữa người Việt Nam với nhau lại xẩy ra một cách tồi tệ như hiện nay. Phật, Chúa, Hòa Thượng, Giáo Hoàng, Giám Mục…đã bị lôi ra “xài xể” đến múc khó chấp nhận được như trong vòng ba bốn năm nay. (Ai có theo dỏi sinh hoạt trên internet mới thấy rõ điều nầy)!...
   Nhưng liền sau đó hắn lại chữi dân Công Giáo như sau: 
  “Liên Thành chống cộng”  bằng cách đào bới quá khứ, bóp méo lịch sử, chống phá Phật giáo vực dậy đám Cần Lao gia nô thời Tổng thống Diệm…
   Còn nữa, hắn phối hợp với tên Tống Phước Hiền giả email của ông Liên Thành chữi ông Thích Quảng Đức là đồ “chó đẻ” rồi đổ vạ cho ông Liên Thành, y hệt trò của Chí Phèo tự rạch mặt để đổ vạ cho Bá Kiến. Vậy ai thực sự là người chữi ông HT Thích Quảng Đức? Định Nguyên hay tongphuochien@yahoo.com, hay Liên Thành? Nên nhớ, email gởi trực tiếp đến người nhận là email có giá trị 100%. Còn loại email forward không có giá trị 100%, vì ai cũng có thể sửa đổi nội dung lá thư forward. Cái trò lưu manh vặt này lừa được ai hả tongphuochien?
   
Căn cứ vào những gì Định Nguyên viết, thì phải kết luận rằng Định Nguyên chính là một tên phỉ báng Thiên Chúa Giáo, kích động chia rẽ Phật Giáo và Công Giáo. Có câu nào của Liên Thành phỉ báng Phật Giáo là cộng sản, là gia nô, là này là nọ, và ca ngợi mấy ông Linh Mục là khối đoàn kết hay không? Như vậy mới có thể cho ông ta là phỉ báng Phật Giáo vực dậy Cần Lao gia nô chứ? Ông ta chỉ thuần túy điểm mặt một số tên cộng sản đội lốt thầy tu thì sao gọi ông ta là chống phá tôn giáo? Gọi ông ta là kẻ chống phá mấy tên thầy tu theo cộng sản mới chính xác Định Nguyên và đồng bọn Phong Trào Phật Giáo Tranh Đấu và bè lũ tay sai nằm vùng ạ.
    Viết lách như vậy mà cũng bày đặt viết! Câu sau đá đít câu trước, câu trước chữi toáng câu sau. Cái thứ dấu đầu lòi đuôi, bản chất hận thù Công Giáo, mưu toan chia rẽ Phật Giáo Công Giáo, thực thi nhiệm vụ đảng giao phó, tự tôn tôn giáo của mình phỉ báng tôn giáo khác của Định Nguyên là do chính tự ĐN phơi bày ra chứ không ai nói láo cho Định Nguyên cả. Thóa mạ Công Giáo là gia nô cho TT Ngô Đình Diệm, ca tụng Phật Giáo là khối đại dân tộc, ca ngợi việc làm hại dân hại nước của phong trào Phật Giáo Tranh Đấu của Trí Quang là phong trào có chính nghĩa, đã khẳng định Định Nguyên hắn chính là tên gây kích động hận thù phỉ báng tôn giáo chứ không ai hết.
2/ Định Nguyên - một tên chuyên vu khống:
 Định Nguyên viết“Là chủ tịch của UBTTTAĐCSVN, ông LT chỉ việc lửng lơ con cá vàng kêu gọi đóng tiền nhưng không cần có những việc làm và lời nói cụ thể chứng tỏ trách nhiệm của cá nhân ông trong việc quản lý và chi tiêu tiền bạc do đồng hương đóng góp”.. “Kiện cáo VC trong điều kiện tù mù và mờ ám về tổ chức và quản lý tiền bạc, LT đang chơi một ván bài mà chỉ có ông ta là được, những người ủng hộ đóng góp tiền bạc cũng như tập thể người Việt Quốc Gia sẽ thua đậm”.
    Tiện đây xin hỏi Định Nguyên và Trần Kiêm Đoàn, hai ông có đóng góp được xu nào trong vụ kiện này chưa? Sao mà lớn tiếng vu khống người khác tựa như là ông đã là bảo trợ tài chánh chính của vụ kiện vậy?Cái trò phá thối này rẽ tiền lắm, cái thứ không làm thì hay vặn vẹo kiếm chuyện để khỏa lấp chuyện không làm là vậy.
  Trong thực tế ông Liên Thành đã công khai tài chánh của của UBTTTACS trên các hệ thống internet, cũng như có việc làm cụ thể đó là đã đưa hết số tiền thu được cho luật sư để khởi động vụ kiện. Đưa ra một sự tố cáo nhưng lại không có bằng chứng, là một Cảnh Sát, Định Nguyên có biết loại tố cáo này bị xếp loại gì không? Loại vu khống!
  Y còn nói Người Việt Quốc gia thua đậm! Thua cái gì và thua đậm làm sao? Yêu cầu chứng minh? Đơn giản thế này, nếu vụ kiện thua, thì cùng lắm những người đóng tiền mỗi người mất một vài trăm bạc. Còn những loại không làm mà hay làm thầy nói hớt như Định Nguyên Trần Kiêm Đoàn thì thua cái gì? Hả?
   Kết luận, lời tố cáo ông Liên Thành gian lận tiền bạc lường gạt đồng hương thuộc loại tin chó cán xe made in Thống Tấn Xã nước CHXHCNVN, còn tư cách của kẻ đứng tên cho bài viết là tư cách của dân hèn hạ đầu đường xó chợ ghen tị lắm mồm chửi đổng.
 Thứ hai, ĐN viết: “Trước hiện tượng gây chia rẽ dân tộc nầy của LT, người ta tự hỏi ông ta là ai?” Xin mời Định Nguyên đưa ra bằng cớ ông Liên Thành chia rẽ dân tộc. Láo vừa thôi ông! Đừng đem một vài bài viết chữi bới online của đám Định Nguyên Vũ Ánh Trần Kiêm Đoàn, Giao Điểm, Vietherald ra nói đó là khối đai diện dân tộc. Xin hỏi, dân tộc Việt Nam trước khi cuốn sách BĐMT và Thảm Sát Mậu Thân ra đời đoàn kết được một khối lớn ra răng? Sau khi cuốn sách Biến Động Miền Trung ra đời thì khối này bị chia nhỏ làm mấy miếng? Ai là trưởng khối? Khối nào chống khối nào? Đánh nhau ra sao? Có biên bản của Cảnh Sát và tòa án nào không? Rồi sự chia rẽ của các “khối dân tộc” này ảnh hưởng ra sao với công cuộc chống cộng? Bằng chứng đi kèm? Xin mời ông Đại Úy CSQG cho bằng chứng đầy đủ, như vậy thì lời tố giác của ông mới có giá trị, nếu không thì người ta xổ toẹt đó là thằng nói nhảm. Võ Văn Ái viết bài nói rằng Liên Thành có “viễn đồ phi dân tộc”. Viễn đồ phi dân tộc! Cha mẹ ơi, từ nhỏ đến lớn mới nghe có loại viễn đồ như thế! Võ Văn Ái học lực trung học nói bậy nói bạ người ta không chấp nhất, còn mình dù gì cũng mang danh một người tốt nghiệp Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia VNCH, học hớt Võ Văn Ái làm gì? Viết thì phải hiểu mình viết gì, không thể cứ chữi toáng lên là có người tin. Đã là Cảnh Sát thì nói đâu phải có bằng chứng đó mới là dân Cảnh Sát chứ ông Đại Úy Nguyễn Hữu Đỉnh?
  Một  thí dụ mà Định Nguyên nên học ông Liên Thành khi ông ta khẳng định Diệp Trương Thuần tức Thích Đôn Hậu là cộng sản, thì ông đưa ra các bằng chứng sau: một là ông Liên Thành cài cảnh sát trong chùa Linh Mụ thấy Hoàng Kim Loan đến tiếp xúc với Thích Đôn Hậu nhiều lần, hai là lời khai của Hoàng Kim Loan vào năm 1972 xác nhận Thích Đôn Hậu là cơ sở của Hoàng Kim Loan, ba là Thích Đôn Hậu sau năm 1968 đã cùng với bè lũ Việt Gian như Tôn Thất Dương Tiềm đi khắp  Đông Âu diễn thuyết bênh vực cho cuộc chiến tranh xâm lăng Miền Nam của cộng sản, bốn là năm 1978, chính ông Thích Đôn Hậu đã đọc bài phát biểu trước quốc hội kể công là ông ta và “Phật Giáo” của ông ta có công với cách mạng. Không có ông ta và Phật Giáo thì cách mạng không có ngày hôm nay, cách mạng không nên quên ơn Phật Giáo. Như vậy mới thuyết phục người đọc. Viết bài chỉ toàn chửi rủa thì thuyết phục được ai?
Hình chụp năm 1976 tại chùa Thiên Mụ: Thích Đôn Hậu, Chủ tịch Ủy ban Hòa bình Thống nhất Dân tộc của MTDTGPMN vui vẻ trò chuyện với TBT Lê Duẩn (trái) và TTL Võ Nguyên Giáp (phải) - Ảnh VNExpress
Có đúng là "Thích Đôn Hậu bị bắt cóc đem ra Bắc 1968" như lời tuyên truyền của 1 số việt gian tại hải ngoại? Xem nụ cười của Thích Đôn Hậu khi đi Mông Cổ tuyên truyền chống VNCH năm 1969, Việt cộng Tôn Thất Dương Tiềm (phía sau) tháp tùng.
 Thích Đôn Hậu    Nguyễn Hữu Thọ                             bà Tuần Chi  
Định Nguyên phải học sách của ông Liên Thành thì may ra mới tiến bộ trong công cuộc giải thể Liên Thành và tập đoàn Liên Thành.
3/ Định Nguyên - một tên lưu manh láu cá vặt:
Xem Định Nguyên viết đây: 
“…Đây là một lập luận có tính lấp liếm…. Câu hỏi được đặt ra: Nếu “nửa đường đứt gánh”, ông LT tuổi đã già sức đã yếu, nếu một mai ông trở nên lú lẩn hoặc có thể qua đời bất ngờ trong khi vụ kiện chưa đi tới đâu thì ai là người kế tục?”..., “..tại sao ông LT không chịu công bố danh sách những người trong UBTTTAĐCSVN cho mọi người biết?"
Vừa chửi ông Liên Thành là đồ lường gạt ở trên, liền ở dưới lại bảo ông Liên Thành phải đào tạo hậu duệ để chống cộng và khai tên khai tuổi hậu duệ ra cho Định Nguyên biết!

Thưa quý vị, đồng bào Việt Nam cần biết vụ kiện hay cần biết ủy ban TTTACS?, hay chỉ có Định Nguyên và Trần Kiêm Đoàn cần biết để thi hành nhiệm vụ được giao? Trò khích tướng con nít cũng biết, lưu manh vừa thôi ông Đại Úy! Việt Cộng xài cái cái trò khỉ này hơn cả năm rồi cũng chẳng cạy miệng được ông Liên Thành. Mà người Việt Quốc Gia thứ thiệt lại càng không muốn ông Liên Thành tiết lộ chuyện này sợ mắc bẫy bọn cộng sản. Bể dĩa rồi, kiếm trò khác đi Định Nguyên.
4/ Định Nguyên - một tên vô giáo dục:
    Hắn viết: “Khi nhục mạ các vị tu hành với những lời lẽ vô lễ như thế, LT đã không quan tâm đến nhân cách, không quan tâm đến giáo dục gia đình, đến lễ giáo, đến tinh thần tôn sư trọng đạo của người Việt Nam”.
    Nên nhớ việc Định Nguyên phải làm đó là chứng minh những tên như Đôn Hậu Trí Quang không là cộng sản rồi từ đó mới có thể chửi bới Liên Thành và gia đình ông ta được. Làm được như vậy thì Định Nguyên có được thiên hạ, người ta sẽ tin Định Nguyên. Phản bác không có chứng cớ mà chỉ bằng cách chữi bới gia đình đối phương, chứng tỏ Định Nguyên thực sự là một kẻ hỗn láo vô giáo dục, nhất là đối với cấp trên.
5/ Định Nguyên - một tên nô bộc cho cộng sản:
    Việt Cộng ý thức được sức mạnh của tôn giáo và biết yếu điểm của chính quyền VNCH đó là sợ bị mang tiếng đàn áp tôn giáo, nên cộng sản đã dùng những tên cán bộ nằm vùng giả dạng tu hành hoạt động chính trị, hoạt động cộng sản. Nay tấm vải thưa của chiêu bài này đã rớt xuống, cộng sản và Định Nguyên ráng cứu vãn bằng cách tôn những tên “thầy tu” cộng sản này là “khối đại dân tộc”, giống hệt việc Việt Cộng tự phong Đảng Cộng Sản là Tổ Quốc. Từ đó mới có thể lý luận chống đảng là chống tổ quốc! Cha mẹ ơi, chỉ có tụi cộng sản không biết xấu hổ mới lý luận như đứa mất trí vậy!.\\
 Mánh lới của Định Nguyên có khác gì mánh lới của Việt Cộng ? Định Nguyên nói những tên cộng sản như Đôn Hậu Trí Quang là Phật Giáo, mà Phật Giáo là khối đại đa số dân tộc, suy ra Đôn Hậu Trí Quang là đa số dân tộc, suy ra Liên Thành chống Đôn Hậu Trí Quang tức là Liên Thânh chống dân tộc. Hắn viết: Những gì ông LT đang làm không nhằm mục đích đoàn kết dân tộc để chống cộng mà ngược lại có chủ tâm gây chia rẽ và hận thù, nhất là hận thù tôn giáo. Viết sách, hội luận bôi bác, chống phá Phật giáo, gây phẩn uất tận cùng trong hàng ngũ con Phật, một thành phần đông đão nhất của dân tộc.
  Để lý luận của mình có chút mùi chống cộng, Định Nguyên đem tên của Hòa Thượng Thích Quảng Độ  bỏ vào chung với các tên Đôn Hậu Trí Quang nhập nhằng đánh lận con đen. Nhưng hắn cố tình không viết một điều đó là Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã phỉ báng quân lực VNCH là lính đánh thuê cho Mỹ, chính quyền VNCH là bộ máy chống cộng cho Mỹ.
   Về điểm này,để công bằng với những người đã cầm súng chiến đấu và bỏ mình cho lý tưởng của quốc gia VNCH, tư cách và quan điểm chính trị của Hòa Thượng Thích Quảng Độ và tên hoạt đầu Võ Văn Ái cần phải được đánh giá lại.
  
6/ Định Nguyên tên nói láo như vẹm:
Việc tấn phong các ông Đôn Hậu Trí Quang và HT Thích Quảng Độ ngang hàng với dân tộc là cái cái láo toét thứ nhất của Định Nguyên, cái láo toét thứ hai của hắn như sau: “...ông LT chính là thủ phạm chủ trương kích động hận thù tôn giáo”. Trong khi hắn lại căm thù chửi cha Công Giáo là Cần Lao gia nô.
   Ai cũng biết ông Liên Thành viết về mạng lưới hoạt động nằm vùng tại Huế trong đó có các tên như Đôn Hậu Trí Quang Chánh Trực Thiện Siêu v.v chưa bao giờ ông ta bàn đến lý thuyết của Phật Giáo hay Thiên Chúa Giáo hoặc chữi Phật chữi Chúa như bọn Giao Điểm. Thế nhưng tên Định Nguyên viết cứ như là ông Liên Thành là kẻ chữi Chúa chữi Phật chữi Giáo Hoàng. Cái lưu manh của Định Nguyên là vậy. Định Nguyên Nguyên nói láo vì ĐN ngu dốt? hay cố tình ngu dốt để làm việc theo chỉ thị của cục Tình Báo Hải Ngoại?
   Việc nói láo thứ ba của Định Nguyên như sau:  Đôn Hậu Trí Quang là những tên cộng sản có cầu chứng hẳn hoi, nhưng Định Nguyên vẫn lếu láo họ là lãnh đạo Phật Giáo thuần túy.  Định Nguyên viết: “…đồng hương Phật tử sẽ không ủng hộ LT bất cứ một điều gì cho kẻ đã đánh phá tôn giáo của họ, đã dám phỉ báng các cấp lãnh đạo tinh thần của họ như LT”.
    Đợi đó Định Nguyên, đồng hương tin Định Nguyên hay tin Liên Thành thì ai cũng đã biết. Chuyện mỗi lần Trần Kiêm Đoàn ra chợ Sacramento liền bị đồng bào la ó thằng cộng sản! Thằng cộng sản! Định Nguyên có giấu được không? Coi chừng Định Nguyên cũng sắp cùng chung số phận rồi đó!
7/ Định Nguyên - một tên dốt hay nói chữ:
   Đọc toàn bộ bài viết của Định Nguyên, ba năm ròng vẫn kiểu dùng chữ sai bét và lý luận ngô nghê, ý trước ý sau đá đít lẫn nhau.
   Thứ nhất, Định Nguyên viết ông Liên Thành phạm thượng khi chửi bới các vị Hòa Thượng là đồ “chó đẻ”. Định Nguyên có biết chữ phạm thượng chỉ dành cho quan hệ giữa vua chúa và quan lại thần dân thời quân chủ không? Ngoài  ra tất cả đều bình đẳng, mọi người chỉ có sự kính trọng và lễ độ với nhau, không có chuyện hễ làm thầy tu thì ai phê phán hoặc chửi mình cũng đều là phạm thượng. Và tất cả những tên đã đi theo cộng sản từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn Phạm Văn Đồng, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết v.v đến Thích Đôn Hậu, Thích Trí Quang,  thì tất cả đều xứng đáng nhận sự phỉ nhổ của người quốc gia, bất kể chúng là ai.  
   Thứ hai, Định Nguyên không có khả năng hiểu sự khác nhau giữa tội ác chiến tranh và hợp đồng chiến tranh. Hắn viết như sau: “Nếu kiện VC vi phạm hiệp định Paris, lùa quân chiếm đoạt miền Nam Việt Nam vào năm 1975 để đòi “Công Đạo” cho VNCH thì nghe còn hợp lý hơn”.
   Vấn đề “Vi phạm Hiệp Định Paris” trên nguyên tắc không phải là một tội ác mà là sự vi phạm hợp đồng quân sự và chính trị giữa các bên ký kết với nhau. Trong trường hợp đó thì các thành viên ký kết hợp đồng nếu mạnh hơn đối phương thì sẽ chế tài các thành viên vi phạm, hoặc hợp đồng đó đương nhiêm mất giá trị vì một hay nhiều bên không thực thi... Ở đây, vì Mỹ là thành viên mạnh nhất có khả năng chế tài quân sự và kinh tế các thành viên còn lại, đã bội ước không viện trợ quân sự cho VNCH nữa trong lúc Việt Cộng vẫn được Trung Cộng và Nga viện trợ mạnh. Việt Cộng xâm lăng tức là vi phạm hiệp định, và nếu chúng ta được viện trợ quân sự đầy đủ thì VNCH sẽ đánh trả lại, và hợp đồng Paris đương nhiên bị mất giá trị.

 Tòa án quốc tế nào tham gia vào các hợp đồng quân sự chính trị giữa các quốc gia mà đòi đi thưa kiện? Chuyện như vậy đem ra ai xử? Tòa án nào có tư cách để xử hiệp định Paris mà Định Nguyên bày đặt nói cho ra vẻ thông thái? Tòa án hình sự quốc tế không được lập ra để xử những vi phạm hợp đồng quân sự chính trị, mà chỉ lập ra để xử những tên trong chính quyền vi phạm tội ác chống lại con người, chống lại thường dân. Đó là kiến thức sơ đẳng mà ai cũng phải biết, chỉ có Định Nguyên là không biết. Ngoài ra, theo lý luận của Định Nguyên, chính phủ VNCH không còn nữa thì làm sao có chuyện đòi cộng đạo cho người dân Miền Nam được, vậy làm sao Định Nguyên lại xúi người khác đi kiện hiệp định Paris? Chính phủ ở đâu? Có phải Định Nguyên đã tự vả vào mặt mình không vậy?
  Định Nguyên được kết luận là dốt vì hắn dùng chữ một cách ngu dốt và lý sự một cách ngu dốt. Toàn bộ bài viết chứng minh Liên Thành là tên Việt gian ngoại hạng của Định Nguyên chỉ dựa vào một điểm là: Liên Thành đã nói Đôn Hậu Trí Quang là đồ cộng sản “chó đẻ”, suy ra Liên Thành là một tên Việt Gian ngoại hạng.
   Muốn dùng công thức của cộng sản để chứng minh Liên Thành là Việt gian, thì điều căn bản là Định Nguyên phải chứng minh các ông Đôn Hậu, Trí Quang, Thích Quảng Độ là những người quốc gia triệt để, đã có nhiều thành tích chống cộng hăng say và có kết quả cụ thể, rồi sau đó mới có thể lý luận rằng Liên Thành chống những người yêu nước yêu thể chế VNCH, như vậy suy ra Liên Thành là Việt Gian cộng sản. Tối thiểu phải là như vậy. Không phải cứ khơi tuyên bố Liên Thành chống thầy tu, mà thầy tu là Phật Giáo, mà Phật Giáo lại là khối đại đa số dân tộc chống cộng, tức là Liên Thành là Việt Gian cộng sản. Lý sự cùn của cộng sản và Định Nguyên còn tệ hơn tam đoạn luận sau đây: “con heo ăn đồ thiu thúi, mà ta ăn con heo, tức là ta ăn đồ thiu thúi”?
   Định Nguyên phải chứng minh cho được Đôn Hậu và Trí Quang cũng như HT Thích Quảng Độ là những người quốc gia xuất sắc, đã từng giúp chính phủ và quân đội VNCH lãnh đạo các phong trào chống cộng rầm rộ có hiệu quả rồi hãy viết bài cho thiên hạ nể mấy cái bồ chữ của Định Nguyên và thầy của Định Nguyên là Đảng Cộng Sản. Khơi khơi tự phong cho GHPGVNTN là một tổ chức quốc gia có khả năng chống cộng duy nhất kiểu Võ Văn Ái, trong khi trên thực tế thì ngày 30 tháng 4 năm 1975 Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất này đã rầm rộ xuống đường đón tiếp bộ đội cụ Hồ ăn mừng chiến thắng 75, mừng sinh nhật Bác 19 tháng 5 năm 1975. Lý sự lếu láo kiểu Định Nguyên chỉ tổ làm người đọc sôi máu thêm cái giáo hội này, và càng lộ rõ Định Nguyên là màu gì, màu đỏ chứ không phải màu vàng.
   Giáo Hội PGVNTN Họ là ai? Họ chỉ là một nhóm tu sĩ trong số các tu sĩ Phật Giáo Việt Nam thuần túy. Họ lấy danh hiệu là GHPGVNTN để tổ chức hoạt động chống chính phủ VNCH, tạo quyền lực cho ngang hàng với Công Giáo chứ có gì ghê gớm? Hãy đọc những hồi ký của các vị tu sĩ đã từng nằm trong tổ chức GHPGVNTN, chẳng hạn bức tâm thư của HT Thích Tâm Châu tố cáo Thích Trí Quang và tổ chức GHPGVNTN phải chịu trách nhiệm trong việc tiếp tay cho cộng sản chiếm Miền Nam, được viết vào năm 1996, hoặc những bức tâm thư của HT Thích Huyền Quang được đăng trong Kỷ Yếu mang tên ông ta xuất bản từ chùa Pháp Luân Houston trang 37, 38, 39, 40, 41 chẳng hạn. HT Thích Huyền Quang bằng chính thủ bút của mình đã bộc lộ sự oán ghét hai chính quyền VNCH còn hơn là cộng sản nữa. Sau đó khi va chạm thực tế cộng sản thì ông ghét cộng sản có phần hơn. Đó là toàn bộ các bức tâm thư ông để lại cho Phật Tử. Hòa Thượng Thích Huyền Quang tố giác rằng chính sách Dinh Điền và chính sách Ấp Chiến Lược chính sách tố cộng là những chính sách nhằm bách hại Phật Tử! Chính quyền Đệ Nhị Cộng Hòa cũng đàn áp Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không khác gì chế độ nhà Ngô! HT Thích Huyền Quang đi tu mà còn tham sân si như vậy thì vai trò lãnh đạo một tổ chức Phật Giáo của ông cần phải được đặt lại. Thảo nào HT Thích Tâm Châu và một số các tu sĩ khác đã không tham gia tổ chức GHPGVNTN.
   Trong lúc Hồng Y Phạm Minh Mẫn tuyên bố mẹ Việt Nam có lúc mặc áo vàng có lúc mặc áo đỏ, lập tức bị cộng đồng hải ngoại biểu tình chống đối, đặc biệt là dân Cộng Giáo, còn Thích Trí Quang thì tổ chức hoạt động chính trị, tổ chức biểu tình tự thiêu, tổ chức phong tỏa Huế và quốc lộ I hơn một tháng, Hòa Thượng Huyền Quang thì viết tâm thư oán ghét chính phủ VNCH, HT Thích Quảng Độ thì nói chính quyền VNCH là bộ máy làm thuê cho Mỹ, quân đội VNCH là lính đánh thuê cho Mỹ. Xin hỏi, ai đáng trách và đáng chống hơn ai, ai tội nhiều ai tội ít? Xin nhường lời cho những ai có công tâm lên tiếng.
   Câu hỏi và vấn đề đặt ra cho Định Nguyên và những tên tay sai cộng sản vẫn núp bóng lá cờ vàng là:
1/ Là một sĩ quan CSQG, Định Nguyên giao du thân mật với Trần Kiêm Đoàn, một tên mà sau vào năm 1975, khi Việt Cộng vào Huế, hắn đã mang dép râu đội nón tai bèo lưng đeo ba lô, bắt cựu quân nhân và CSQG đi khiêng những tấm thép đúc làm phi đạo của phi trường về làm sân khấu văn nghệ nhân dân tại quận Hương Trà. Rồi chính Trần Kiêm Đoàn đã đứng trên sân khấu nhục mạ chính quyền và quân lực VNCH. Vậy Đinh Nguyên có xứng đáng đem cái mác đại úy CSQG ra lòe thiên hạ nữa không?
   Định Nguyên, “cái áo không làm nên thầy tu”, cái mác Đại Úy Cảnh Sát không làm ông đương nhiên thành người quốc gia đâu ông bạn.
2/ Cách đây mấy năm, tên Nguyễn Đắc Xuân có sang Hoa Kỳ, được Trần Kiêm  Đoàn tiếp đón tại phi trường, đem về nhà ăn ở. Vợ chồng Định Nguyên có đến nhà Trần Kiêm Đoàn tiếp đón Nguyễn Đắc Xuân và đi ăn nhiều nơi với tên sát thủ này. Hai cặp vợ chồng Trần Kiêm Đoàn và Định Nguyên có đến nhà hàng của Đại Úy Trịnh Quang Hà, em của Trịnh Công Sơn, nhưng Trịnh Quang Hà từ chối không tiếp. Chuyện này Định Nguyên không thể chối với nhiều nhân chứng tại Sacramento, trong đó có Trung Tá Trần Văn Ngà.
   Vậy thì kể từ nay, Định Nguyên tức Nguyễn Hữu Đỉnh có nên dùng tiểu sử Đại Úy CSQG của mình ra để làm tấm vải thưa che mắt thánh nữa không?
   Yêu cầu tập thể quân nhân và lực lượng CSQG có thái độ thích hợp với hành động lừa đảo và bôi nhọ danh dự tập thể CSQG Việt Nam Cộng Hòa của Định Nguyên.
   Phong Trào Phật Giáo Tranh Đấu và Định Nguyên, ông Liên Thành không phải là người duy nhất kết luận Trí Quang là cộng sản. Các ông như Tổng Thống Trần Văn Hương, Thẩm Phán Lê Nguyên Phu, Thẩm Phán Nguyễn Kim Khánh, bộ trưởng Lâm Lễ Trinh và rất nhiều vị nữa trong chính quyền VNCH cũng kết luận Trí Quang là cộng sản. Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Nguyễn Văn Linh cũng đã nói với Trần Bạch Đằng Linh nghi ngờ Trí Quang là tên tình báo chiến lược hai mang, không trung thành với Đảng. Đó là lý do tại sao Thích Trí Quang không được Đảng tưởng thưởng, mặc dù đã có công lớn trong việc giật sập Miền Nam. Ông Định Nguyên biết chứ?
   Phần ông Đôn Hậu, với thành tích như sau: đi Đông Ấu cổ võ cho chính quyền Viêt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, mấy năm liền làm Đại Biểu Quốc Hội Cộng Sản, các bài viết sau năm 1975 ca ngợi bác Hồ, bài phát biểu trước quốc hội cộng sản năm 1978 khi ông ta làm đại biểu quốc hội  kể công rằng Phật Giáo đã che chở cho cách mạng đặc biệt là trong vụ Mậu Thân, nếu không có các chùa và các gia đình Phật Tử thì cách mạng không thể thành công như ngày hôm nay, bấy nhiêu đó đã đủ chứng minh hai ông  Đôn Hậu Trí Quang là cộng sản chưa Định Nguyên và bè lũ Việt Cộng nằm vùng? Nếu Định Nguyên còn tiếp tục cho cộng sản mượn danh để lãi nhãi những điều ngu dốt vô nghĩa mà không dám trực diện đối mặt với ông Liên Thành thì tôi đành phải kết luận Định Nguyên chính là một tên Việt Cộng nằm vùng, dùng các ông Thích Đôn Hậu, Thích Trí Quang, Thích Quảng Độ để núp bóng.
   Cái trò dùng những ông tu sĩ Phật Giáo để hoạt động cộng sản, tự bao phủ cho họ cái quyền năng của tôn giáo, tự cho các ông tu sĩ này là Phật Giáo, của bọn cộng sản và tay sai đã lộ liễu và quá nhàm chán, không lừa ai được và cũng không làm ai sợ. Và những kẻ bóp méo lịch sử như Định Nguyên và Trần Kiêm Đoàn sẽ không bao giờ học được bài học lịch sử, suốt đời chỉ làm tay sai cho bọn cộng sản bán nước.
   Lời kết luận: Bài viết này hơi dài, vì không phải chỉ dành cho một tên tay sai mạt hạng Định Nguyên, hoặc cho những danh từ riêng như Đôn Hậu, Trí Quang, Võ Văn Ái, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan,  v.v. hoặc những kẻ đồng dạng như vậy. Định Nguyên hay Đôn Hậu hay Trí Quang chỉ là những danh từ riêng đại diện cho những con chốt thí của cộng sản, mà bài viết này mục đích chính là dành cho tất cả những kẻ đã từng hãnh diện nằm trong “Phong Trào Phật Giáo Tranh Đấu” biểu tình lên đường xuống đường, những kẻ đã từng ngưỡng mộ phong trào Phật Giáo Tranh Đấu, những kẻ đã từng sợ phong trào Phật Giáo Tranh Đấu, tất cả ít nhiều đã đóng góp vào việc làm mất Miền Nam, và cuối cùng, cũng là quan trọng nhất, là bài viết này dành cho toàn bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam. Lời nhắn với Đảng Cộng Sản Việt Nam: Kịch bản tôn giáo đã bị vạch mặt, chiêu bài núp bóng tôn giáo để triệt hạ người quốc gia đã hoàn toàn bị bẽ gãy, những tên cộng sản và tay sai Việt gian sẽ có một bản án thích đáng với lịch sử.
     Chó sủa mặc chó, đoàn lữ hành vẫn đi, Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng Cộng Sản Việt Nam cứ tiếp tục công việc của mình!
Chủ Nhật ngày 25 tháng 3 năm 2012


Trần T. Minh

Featured Post

Tên các Quốc gia mà người Sài Gòn hay gọi trước năm 1975

https://www.facebook.com/groups/miennamvietnam/posts/1953798441526381/ https://www.facebook.com/buianhhuy095096/posts/t%C3%AAn-c%C3%A...

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List