QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Image result for Tháng Tư năm 1975 -----

==== ====



Monday, June 17, 2019

TÂM THƯ CỦA MỘT TPB VNCH


Một mặt trận hai kẻ thù 

Giặc cộng bán nước, tàu phù xâm lăng.




TÂM THƯ CỦA MỘT TPB VNCH 
NHÂN TRẦN

Các Anh kính quý,

Thật tình tôi không biết phải xưng hô với các Anh thế nào cho phải đạo, bởi lẽ dù sao đi nữa, các Anh cũng đã có một thời là thượng cấp, là cấp chỉ huy của chúng tôi. Giờ đây, cho dù thời gian có vô tình lặng lẽ đi qua hơn 35 năm, trong lòng chúng tôi vẫn khắc ghi hằng khối những kỷ niệm của một thời binh lửa, thời mà chúng tôi và các Anh còn xông pha giữa lằn tên mũi đạn, thời mà chúng ta còn được vinh dự cầm súng bảo vệ quê hương.

Những trận chiến càng về cuối của năm 1975 càng khốc liệt, người lính chiến chúng tôi đã không nao núng, không rời hàng ngũ mà càng sát cánh hơn với các Anh, không màng nguy hiểm, không sợ cái chết lúc nào cũng sẵn sàng đến với người lính trong thời lửa đạn. Quả tình lúc ấy trong lòng chúng tôi khâm phục các Anh nhiều lắm, các Anh là những người có học thức, được huấn luyện những kiến thức quân sự để trở thành những sĩ quan chỉ huy chiến trường, chỉ huy chúng tôi. Lòng dũng cảm cùng với kiến thức của các Anh đã phát sinh từ trong thâm tâm của chúng tôi một thứ tình đồng đội tình thầy trò trong thời chinh chiến, mặc dù kỹ luật quân đội đã bắt buộc chúng tôi luôn luôn chỉ biết tuân lệnh của các Anh, nhưng trong lòng chúng tôi không hề than oán mà còn cảm thấy thật vui mỗi khi thực hiện được một việc gì cho đơn vị, hay nói đúng hơn là cho các Anh. Chúng tôi là những người lính trơn ít học, nên với những suy nghĩ thật đơn giản lúc bấy giờ: Làm vui lòng các Anh chính là chúng tôi đã làm tròn nợ nước, nhiều lúc tuân hành và thực hiện mệnh lệnh xung phong vào mục tiêu, ôm súng băng mình qua tuyến, chúng tôi chỉ với hai điều tâm niệm: Thắng trận nầy thật nhanh và bảo vệ cho bằng được... các Anh.

Chúng tôi ít học chưa có ý niệm về quê hương dân tộc, chúng tôi thật tình lúc bấy giờ cũng chưa hiểu được thế nào là lòng yêu nước. Chính các Anh đã dạy cho chúng tôi những điều trọng đại ấy và với đầu óc của chúng tôi, chúng tôi chỉ hiểu nôm na: Bổn phận chúng tôi là những thanh niên Việt Nam, chúng tôi phải cầm súng bảo vệ Tổ Quốc, chấp nhận tất cả những hy sinh gian khổ cùng những hiểm nguy mà chiến trường đã dành riêng cho người lính. Và... chúng tôi đã cảm thấy vô cùng hãnh diện với việc làm của mình.

Cũng chính vì thế, chúng tôi đã lăn xả vào trận địa để trong mặt trận cuối cùng, chính tôi đã để lại chiến trường một phần thân thể. Không kịp nói lên một lời từ giã các Anh khi trực thăng bốc vội tôi về Quân Y viện. Sáu tháng dài ở bệnh viện đủ cho tôi lấy lại được chút hơi tàn mà đủ sức chống nạng khi di chuyển. Tôi rời khỏi quân đội trong một nỗi buồn không tả được, cuộc chiến đã đến giai đoạn sau cùng và tôi vẫn theo dõi tin tức của Miền Nam, nhất là bước tiến quân của đơn vị cũ của mình.

Ngày Miền Nam hoàn toàn sụp đổ làm tôi chết lặng người, bạn bè đồng đội tôi sẽ ra sao? và nhất là các Anh - những cấp chỉ huy của tôi sẽ ra sao? Mặc dù đã bị cắt phần tiền thương tật, “học tập” ở xã hết 1 tuần, tôi đã phải bán đi cái radio yêu quý đã theo tôi suốt đoạn đường chinh chiến để lấy tiền tìm đến nhà của các Anh mà hỏi thăm tin tức. Chị nhà cho hay Anh đã bị tập trung “cải tạo”. Tôi buồn quá lủi thủi về nhà, lòng vẫn luôn luôn van vái những an lành sẽ đến với các Anh.

Bạn bè đồng ngũ về quê tôi khá đông nhưng không có công việc làm nên càng bi thảm hơn. Thằng vá xe đạp ở cuối phố, thằng khuân vác, thằng chạy xe ôm, chúng tôi không từ chối bất cứ một việc làm gì để kiếm được chút đỉnh tiền vừa để tạm sinh sống no đói qua ngày vừa gom góp lại được vài mươi đồng nhờ Chị nhà có đi thăm nuôi thì mua một ít thức ăn và đồ dùng cần thiết gởi đến Anh. Chúng tôi dù trong nhọc nhằn vẫn thường hay nhắc đến các Anh, ở trong tù dù buồn nhưng nhận được quà của chúng tôi chắc các Anh cũng vui được phần nào vì nghĩ rằng mấy thằng em vẫn còn nhớ đến ông thầy xưa.Đó !

Chúng tôi chắt chiu những tình cảm trân quý, thủy chung gởi đến các Anh, mong mỏi các Anh một ngày nào đó được tự do mà tính chuyện quang phục lại quê hương mình. Thằng thượng úy trưởng Công an phường lợi dụng việc cấp giấy phép đi thăm nuôi đã hãm hiếp bà Trung Úy Phúc, sự nhục nhã nầy đã khiến Bà Trung Úy Phúc phải treo cổ tự tử. Tôi nghỉ từ trong tù các Anh buồn và hận lắm. Ngày Anh được ra tù chắc Anh còn nhớ chứ? Chúng tôi đã đón mừng các Anh như đơn vị của mình được tái lập, bao nhiêu vui mừng không kể xiết, mừng đến rơi lệ, mừng vui khi nỗi mong mỏi rửa nhục của chúng ta đã được gần kề.

Rồi các Anh được sang Hoa Kỳ, niềm vui thật sự càng nhân lên gấp bội, ngày chia tay rượu hồng đã pha nước mắt, tiễn các Anh đi mà lòng thầm mong đợi một ngày về trong danh dự của các Anh. Chúng tôi - những người lính QLVNCH vẫn ấp ủ một niềm tin tưởng vào các Anh như ngày xưa. Sự ra đi của các Anh là điều kiện thuận lợi cho công cuộc đấu tranh với bọn Cộng sản vô thần đang thống trị quê hương.Các Anh a. ! Bây giờ thì buồn quá ! Các Anh - những sĩ quan hào hùng của QLVNCH ngày nào, những người Anh của chúng tôi, những Đại bàng, những Bắc Đẩu, Hắc Báo của một thời oanh liệt, một thời tung hoành ngang dọc khắp các chiến trường, các Anh đã có một thời vinh quang và một thời nhục nhã, giờ đây sau hơn 35 năm lặng lẽ, các Anh cũng bị nhòa đi hình ảnh của ngày xưa? Các Anh đã quên rồi sao? Quên rồi những chiến sĩ thuộc cấp của các Anh đã nằm xuống vĩnh viễn trên đất Mẹ thiêng liêng, quên đi những đồng đội còn sống sót trong một tấm thân tật nguyền đau khổ, sống lây lất ở đầu đường xó chợ.

Xin cảm ơn các Anh về những đồng Dollars mà các Anh đã gởi về cho chúng tôi trong chương trình giúp đỡ thương phế binh QLVNCH. Những đồng tiền đó dù có giúp cho chúng tôi trong một thời gian ngắn, dù có an ủi cho những đớn đau vật chất được đôi phần nhưng cũng không làm sao giúp chúng tôi quên đi nỗi nhục mất nước. Chúng tôi cần ở các Anh những chuyện khác, các Anh có thấu hiểu cho chúng tôi hay không?

Tôi đã hiểu vì sao thằng khuân vác ở xóm trên, thằng vá xe đạp ở đầu đường, thằng chống nạng đi bán vé số ở cạnh nhà lại ghét cay ghét đắng đám Việt Kiều. Họ là những người lính năm xưa, họ đã từng tuân hành lệnh của Đại bàng, Thần Hổ xông pha nơi trận mạc, họ đã từng chắt chiu từng đồng bạc nghĩa tình chung thủy gởi vào tận chốn tù đày cho các Anh, họ đã từng uống với các Anh chung rượu ân tình ngày đưa tiễn các Anh lên Phi cơ về vùng đất mới, họ đã từng nuôi nấng một hoài vọng, một kỳ vọng trong ngày về vinh quang của QLVNCH. Nhưng chính các Anh đã làm họ oán ghét, oán ghét đến độ khinh bỉ khi các Anh áo gấm về làng, chễm chệ ngồi dựa ngữa ở nhà hàng khách sạn 5 sao, tung tiền ra để chứng tỏ mình là một "Việt Kiều yêu nước” là "Khúc ruột xa ngàn dặm" về thăm "quê hương là chùm khế ngọt". Thậm chí có những Anh còn đú đởn với những đóa hoa biết nói biết cười tuổi đáng con hoặc đáng cháu nội cháu ngoại mình.Các Anh có biết không?

Từ trong sâu thẳm của cuộc đời, những người lính của QLVNCH đang lê lết ở ngoài cửa các nhà hàng mà các Anh đang ăn uống vui chơi, đang nhìn các Anh với một ánh mắt hận thù.

Hận thù lớn nhất của người lính là sự bội bạc, là sự phản bội. Không biết khi tôi kết tội các Anh là phản bội có quá đáng hay không, nhưng các Anh tự suy nghĩ một chút sẽ hiểu rõ hơn chúng tôi. Tôi không tin là tất cả các Anh đã biến thái thành những tên Việt gian, nhưng sự trở về như các Anh trong hiện tại là đồng nghĩa với sự phản bội. Các Anh đã phản bội lại Tổ quốc và rõ ràng nhất các Anh đã phản bội lại chúng tôi. Các Anh chống Cộng mà cứ về Việt Nam hà rằm thì còn chống Cộng gì nữa? Ôi ! không lẽ nỗi nhục nầy đời ta không rửa được?

Các Anh kính quý, chúng tôi là những người lính năm xưa của các Anh đây. Toàn thể quân nhân và đồng bào đang tin tưởng vào các Anh. Tin tưởng một ngày về rửa nhục, để Mẹ Việt Nam không còn cất lên tiếng than ai oán, để chúng ta cùng nhau trở lại kiếp làm người, chấm dứt đêm trường u tối đã phủ trùm lên Tổ quốc hơn 35 năm dài. Người lính chỉ biết tuân hành mệnh lệnh của cấp chỉ huy, nhưng qua bức thư góp ý nầy, mong các Anh thứ lỗi cho những suy nghĩ của chúng tôi.

Các Anh, cho dù đã chậm, nhưng chúng tôi vẫn mong mỏi các Anh ở một ngày về.

Trân trọng,

Nhân Trần


__._,_.___

Posted by: Batkhuat nguyen 

NGHÌN THU NHỚ ANH


Một mặt trận hai kẻ thù 

Giặc cộng bán nước, tàu phù xâm lăng.

NGHÌN THU NHỚ ANH
TRÀ KHAN 


 Kỷ Niệm Ngày Quân Lực VNCH 19/6
__________

Nghìn thu nhớ anh

Làng Côn Đan tên một làng miền quê tỉnh Quảng Trị giáp tuyến với dòng sông Bến Hải. Tất cả nơi đây đều mang những địa danh tuyệt đẹp như Cồn Tiên, Trung Lương, Gio Linh, Ái Tử v.v… Nhưng oan nghiệt thay, những địa danh này cũng là những nơi hứng chịu gió đạn mưa bom tàn khốc đêm ngày không ngơi nghỉ.. Và cũng nơi này là vùng đất cày lên sỏi đá, có người bừa thay trâu cày.
Người em gái thuộc cư dân nơi miền đất kể trên. Em mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ, bởi trái pháo oan nghiệt đã giết chết cả cha lẫn mẹ em, kể từ lúc em ba tháng tuổi. Em được viện mồ côi nuôi dạy và đặt cho tên Lệ Mi, cái tên định mệnh cho đến cả cuộc đời nàng, lúc nào tiếng khóc cũng thay cho tiếng cười trên gương mặt ôm trọn nỗi buồn của nhân thế.
Những địa danh gió tanh mưa máu, nơi đây có những gia đình đều chết hết, không còn một ai để nhớ để thương, hay để oán trách hận gì thù nữa!
Dòng sông Bến Hải là nơi chia hai miền Nam-Bắc. Nhưng chỉ một dòng chảy nhỏ, một con lạch nhỏ cũng có thể chia con người thành đôi bờ, chẳng còn lệ thuộc về một ai nữa, trên cả lĩnh vực tình yêu cũng như ý thức hệ.
Lệ Mi, như cây trụi mùa Đông, nàng vẫn là cây cổ thụ miệt mài dẫu Đông có về nhưng hoa lòng vẫn nở, nàng có biết gặp ai không để đợi chờ! Nàng chỉ hy vọng một chút nắng chiều dầu là hắt hiu, mong rọi đến để nàng thắp sáng chút hy vọng, nhưng cũng thấy rất hiếm hoi.
Lệ Mi chờ và chờ mãi người bạn đời của nàng là người lính mang tên Vũ đồn trú nơi đầu giới tuyến, vừa quen nhau lúc nàng ở tuổi mười tám, lứa tuổi đầy mộng mơ cho một ngày mai tươi sáng. Họ cưới nhau chưa tròn những chiếc hôn, chàng phải quay bước ra đi về đơn vị, và cũng từ đó chồng nàng đã xa và xa mãi.
Tình yêu giữa nàng và chàng đã chết ngay giữa hoàng hôn, thế mà Lệ Mi cứ ngỡ rằng ảo ảnh ấy vẫn còn nguyên vẹn.
Nàng biết yêu lính là chấp nhận cuộc sống buồn, “chinh phu tử sĩ mấy người” và mấy người đi rồi trở lại. Thế nhưng nàng vẫn yêu lính, như một thứ tình yêu thiêng liêng, nàng vẫn phải tiếp tục đi cho trọn nghĩa tình thủy chung.
Nhạc buồn đời lính là những tình khúc thời chinh chiến làm cứu cánh của những người ở hậu phương, và cũng là nguồn an ủi duy nhất khi lính dừng chân nghỉ, hay nơi tiền đồn nay rừng mai mốt núi thẳm. Vặn nhỏ chiếc radio qua chương trình Dạ Lan người em gái hậu phương “nếu em không là người yêu của lính” hay thăm hỏi gởi qua làn sóng điện “giờ nay anh ở đâu, Bến Hải hay Cà Mau” 
Người lính cho đó là sân khấu thu nhỏ nơi chiến trường, hạnh phúc mong manh từng phút qua từng giây trong giờ phút đêm khuya, đôi khi lời ca tiếng nhạc hòa lẫn những đốm mắt hỏa châu soi sáng, người lính tưởng đang mơ một ngày về phép nơi kinh thành. Nhưng dầu sao cũng là nguồn xúc tác to lớn cho người lính VNCH đang xông pha ngoài trận tuyến, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng.
Người lính ngày ấy dẫu ở tiền đồn hay biên khu xa thẳm, thì vợ con và người yêu anh nơi hậu phương, xem như những cánh hoa thời loạn bên dây kẽm hầm chông, là nguồn tiếp liệu tinh thần vô giá để người lính có thêm sức sống.
Hy vọng ngày chinh chiến tàn, Lệ Mi cũng như những người vợ lính khác, mong đợi ngày đoàn viên cùng các anh trong khúc khải hoàn ca. Nhưng thời gian trôi qua, năm tháng trôi theo không như ý, và những ai đã từng yêu lính mang một niềm thương tiếc vô bờ, khi nghe tin anh gục ngã trước đạn thù.
Và chính nơi này là cái bến cuối cùng của cuộc sống. Người lính đã về đây lạnh ngắt, máu đông khô cứng từng cục, hay còn rịn máu tươi nguyên. Dòng máu ấy, máu nào là của mẹ và tình thương nào là của em! Người thân anh, vợ con anh và bạn bè anh, “nào ai gọi mặt nào ai gọi hồn”!
Nhưng đau thương hơn hết, khi hình hài anh không còn nguyên vẹn trở về, thân xác anh đã gói tròn trong tấm poncho, mà trước đây chính anh đã dùng nó để che mưa trắng nắng. Ngòi bút nào dẫu có điêu luyện sâu sắc đến đâu, cũng không diễn tả hết cảnh thực, người thực, đớn đau tột cùng trên hiện trường giờ phút cuối ấy, khi anh đã trở về thực thụ bằng một thể xác lụn vụn thịt xương, giữa những vật vã đau thương gào thét của vợ con anh và người thân anh, bên cạnh những vành khăn sô và hai hàng nến trắng.
Giờ đây, anh nằm đó trong chiếc quan tài phủ lá cờ vàng, và chỉ còn một “tấm thẻ bài mang tên anh.” Anh chỉ có ngần ấy để lại em và cho người thân anh. Anh đã chết cho em, và cho Dân Tộc anh, qua hai thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa.
Hỡi người chiến sĩ đã yên giấc nghìn thu, và những người lính hiện sống còn đang phiêu bạt trên khắp năm châu bốn bể, có phải các anh là hiện thân của “kiếp dã tràng xe cát biển động” thời đại hay của giấc mộng Nam Kha bất bình?
Sau khi phủi sạch tay, một đau thương ê chề đổ nát, cho những cô nhi quả phụ, những anh em thiếu hụt, người hao mòn, đang tiếp diễn trên quê hương người lính hôm nay.
Người dân miền Nam chân chính, hay những ai còn mang nặng vết thương lòng với người lính VNCH ắt phải còn thiếu món nợ tinh thần, mặc dầu các anh không đòi hỏi. Nhưng dân tộc anh cần phải có nhiệm vụ ơn đền nghĩa đáp, thiết thực bằng hành động không bằng lời. Các anh là những những bậc thánh đã có công với Tổ Quốc, vì nước quên mình, vì đồng bào anh hy sinh.
Cuộc sống của gia đình người lính nói riêng và của đồng bào miền Nam Việt Nam nói chung, là tình ruột thịt của những người cùng hội cùng thuyền, khi thấy máu chảy ắt ruột phải mềm, và lúc nào cũng mang theo sau một trang sử lòng, đang dày vò mãi đến hôm nay và đến tận mai sau, khi con đường đi không có đến.
Anh, hơn 40 năm sau ngày quốc biến, có còn chi không anh, hay chỉ còn là tấm thẻ bài mang tên anh, và hàng hàng lớp lớp nấm mồ người lính VNCH nơi nghĩa trang bị những kẻ may mắn thắng cuộc nhưng là lũ hèn hạ, tiểu nhân man rợ và vô nhân tính đào bới san bằng, hủy hoại bởi chúng rất sợ các anh, ngay cả sau khi các anh đã không còn trên cõi đời này nữa. 
Ôi, còn đâu “Nghĩa tử là nghĩa tận” anh ơi!
Người lính có thấy gì không anh! Tượng tiếc thương rơi xuống ngoài đường phố, để hồn thiêng anh phẫn uất những việc làm bất nhân của kẻ thắng, để từ đó anh đứng dậy đòi hỏi câu trả lời. Và anh sẽ tha thứ cho họ, để họ có dịp được làm người một lần nữa.
Và còn nhiều nữa nữa! Những nấm mộ nơi góc núi bìa rừng không tên tuổi, người thân của anh cũng chẳng biết đâu đi tìm.
Lệ Mi, người thiếu phụ phụ son trẻ góa chồng lúc tuổi 18. Nàng giữ lời sắc son, dầu không ai bắt buộc nàng phải ở vậy thờ chồng! Đến nay Lệ Mi 56 tuổi đời, nàng không bước thêm bước nữa.
Hằng năm, đến ngày 30 tháng 4 và dịp Tết Nguyên Đán về trước đó một tháng. Nàng âm thầm mua bông hoa nhang khói, và cầm bên tay nhiều tấm thiệp nàng tự làm, và viết sẵn trên trang giấy bìa cứng cỡ trang giấy học trò. Lệ Mi mượn mấy vần thơ “anh hùng vô danh” của Đằng Phương để cắm trên mộ người quá cố. Nàng tìm đến những ngôi mộ nơi nghĩa trang đã bị bọn tiểu nhân hèn hạ đào bới, hủy hoại, và những ngôi mộ người lính VNCH vô chủ.
Lệ Mi cắm thiệp, hoa, và thắp nhang trên những ngôi mộ. Nàng mím chặt môi để khỏi bật lên tiếng khóc, nhưng đau thương uất nghẹn vẫn dâng trào.
“Họ là những anh hùng không tên tuổi.
Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên.
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên.
Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật.
Nhưng máu họ đã len vào mạch đất.
Thịt cùng xương trộn lẫn với non song
Và anh hồn chung với tấm tình chung.
Đã hòa hợp làm linh hồn giống Việt.”
Nàng có linh cảm hồn thiêng của những người chiến sĩ đâu đây, hòa trong cơn gió chiều buông xuống, mang từng loạt tiếng thở dài vọng lên từ lòng đất lạnh, như muốn chia sẻ nỗi xót xa của người cô phụ bằng dư âm đáp lễ.
Rồi những ngày tháng quen thuộc ấy. Lệ Mi thường gặp những tiếng ca bên ngoài hè phố, bên góc chợ cuối đường. Anh em ấy đến ngày tàn cuộc chiến, mất tay thiếu chân, nay chỉ còn là thân xác rã rời, đã mượn lời ca bất đắc với cây đàn tự tạo một dây, qua bài hát tự tạo “không ai ngăn nỗi lời tôi ca” làm lay động lòng người, khi nghĩ đến tình cố cựu, và những ai còn giữ chút nghĩa xưa, bằng liên khúc tình ca rướm “sau cuộc chiến này có còn chi không anh”!
Tiếng ca ngoài đường phố, tiếng ca của lứa tuổi thanh xuân đầy nhựa sống, giờ đây đã mất hẳn. Những người anh em ấy ngày nay, họ bị xã hội thống trị bạc đãi và người đời lãng quên họ.
Ai quên ai nhớ đến người lính hiện đang sống còn trên quê mẹ. Họ là những người một thời đang ôm kín nỗi cô sầu, nhưng lương thiện trên đôi môi, sống nơi đây và chết cũng nơi đây! Để cho ai và cho những ai “nhất tướng danh thành vạn cốt khô.”
Người lính đi không ai tiễn, người lính về không ai đón, chỉ có vợ con người lính hiểu và biết được giá trị đều đó, và cũng không ai thương lính bằng vợ con người lính, một trái hỏa châu lập lòe về phía trời xa, nơi người lính đóng quân, cũng làm vợ con họ mất ngủ âu lo. Để cho những ai không mấy mẩy may, không một chút gì liên hệ đến người lính, cứ ngủ ngáy thẳng giấc trong chăn êm nệm ấm, và cho một ai đó chưa thức khuya làm sao biết đêm dài. Ngày nay, anh đã mượn sân khấu cuộc đời còn lại, bên chiếc nạng gỗ làm đôi chân đứng, với chiếc nón sắt phai màu thuở trước. Sau cuộc chiến tàn khốc và tang thương, anh chỉ còn có ngần ấy thôi.
Anh đã từng vào sinh ra tử nhờ nó che chở, để tránh những viên đạn thù bắn thẳng vào đầu anh. Anh đã dùng nó như người bạn đời ngoài trận tuyến. Chính nó đã giúp anh trong mọi lãnh vực của sự sống lúc quân hành, nấu nướng, xách múc, tắm rửa. Giờ này anh không xem nó là vật kỷ niêm, mà chính Chiếc Nón Sắt đã trở thành một thứ tình yêu thiêng liêng mầu nhiệm đối với đời anh.
Rồi hôm nay đây, nó theo sát anh bên cạnh. Anh xem nó như một “người tình không chân dung” “anh đâu em đó.” Anh đã đem sinh mạng đời mình, đặt trên đường bay của tầm đạn, và đặt niềm tin vào sự sống còn nơi anh trên nòng súng thân quen. Anh đã quen trong gian khổ, và làm bạn với hiểm nguy.
Xin ai đó, đừng hiểu lầm là anh đã bán nó một cách dễ dàng, hay những ai lợi dụng sự nghèo đói của anh, mua về làm mũ bảo hiểm che chở cho người thân quen họ! Không! Tất cả đều không! Dầu anh là lính quê mùa dốt nát. Nhưng anh vẫn còn một chút liêm sỉ, anh không bán rẻ lương tâm, nhất là “bán” với ‘buôn.” Anh muốn nhắn lời gửi đến những ai còn tự coi mình là “con người”: Nếu có bán buôn gì thì buôn bán, xin đừng “bán nước” và “buôn dân.”
Giờ phút này, anh đặt nó bên cạnh chân anh, để anh “mua lòng từ tâm” những ai còn có chút tình người qua lại nơi đây. Tiếng hát của anh chỉ là tiếng ca ngoài đường phố, chỗ đứng của anh chỉ còn vỏn vẹn trên nạn gỗ. Anh đã về từ bốn vùng chiến thuật, từ những quân binh chủng kiêu hùng, đã từng một thời làm bạt vía kinh hồn quân giặc.
Thế nhưng, có kẻ nào đó không một chút gì thương xót đến người bạc phận hôm nay, đã liệng vào nón sắt anh những trái chanh chua hơn giấm, thay vì cho anh một vài tờ “bạc cụ” để anh mua được dĩa xôi cho ngày.
Hành vi đó, không làm anh tổn thương chút nào. Anh sẵn sàng đưa tay đón nhận kẻ đã cho anh trái chanh chua, nếu có cả quả cam sành hay quít hôi anh cũng nhận tất cả.
Anh nghĩ rằng “chanh chua khế chín cũng chua.” Anh không chê chua và cũng không trách đắng. Anh sẽ biến những quả chanh, hay quả cam sành thành những ly chanh đá có đường uống rất hữu ích, vừa giải nhiệt vừa đỡ khô cổ. Anh chẳng biết nói gì hơn, bằng hai chữ cảm ơn người cho chanh! Dầu anh hôm nay thân tàn ma dại, nhưng lương tâm anh không ma dại.
Lòng khoan dung của người lính vừa thua trận hôm qua, luôn luôn là tấm lòng vị tha đáng giá nhất trên đời, cho những ai thật tâm kể cả những kẻ manh tâm.
Chế độ VNCH trước đây, đã giáo dục người lính qua bài công dân giáo dục, “hãy trọng người để được người trọng lại.”
Và giờ đây anh không còn là những ngày xưa thân ái thuở trước. Tiếng hát của kẻ đã bị tước đoạt mọi quyền sống. Tiếng hát của anh thăng trầm không theo phách nhịp, có lúc gào thét vùng vẫy như con mãnh thú bị đạn, thoát ra từ con tim se thắt, đôi mắt anh mở to rồi từ từ nhắm nghiền lại, giọng hát trầm lắng mang nhiều đau thương rồi tắt lịm, đã làm những ai còn chút tình người, dừng chân đứng nghe chắc chắn sẽ làm não lòng không ít.
Ai đã yêu lính bằng lời, qua sách vở, trên màn ảnh tivi, và những hoạt cảnh mang nặng phần trình diễn, bên quân phục mũ xanh mũ đỏ, mũ nâu, với bộ Trelli “cáu cạnh” ủi hồ thẳng nếp, và dưới chân với đôi boot bóng loáng, để cho người xem thấy rằng người lính “nhìn quân phục biết tư cách.” Và nhịp nhàng lâm ly hơn, bên những vần thơ ngậm ngùi “Sông Dịch tiễn anh đi” rồi dũng cảm trong tiếng vó ngựa “thét roi Cầu Vị ào ào gió thu..”
Thế thì, nước mắt nào là của Lưu Bị, và nước mắt nào là của Tào Tháo, xin người “ngoài vòng cương tỏa” trả lời giúp.
Nhìn lại hôm nay, những người lính VNCH đang bước đi những bước cuối đời trên quê hương mình; một quê hương đã quá tang thương, khốn khổ, nhục nhằn sau cơn binh lửa ngút trời, nhưng bây giờ, trên chính quê hương mình, những kẻ tiểu nhân lại không muốn chừa một chỗ nào cho các anh. 
Lịch sử giờ đây tạm sang trang nhưng cuộc chiến này vẫn chưa hề thật sự chấm dứt. Dân Tộc Việt Nam nói chung và gia đình bạn bè anh nói riêng, đã ghi chiến công các anh vào trang sử xanh hào hùng của Dân Tộc. Ngày nay, những người con dân Việt yêu Tổ Quốc, yêu Dân Tộc, yêu Tự Do, vẫn luôn ghi khắc câu “Tôi nhớ tên anh” trong trái tim của họ. 
Người viết bài này, xin mượn hai câu thơ Nguyễn Du thay lời kết: 
“Áo xiêm ràng buộc lấy nhau, 
Vào luồn, ra cúi, công hầu mà chi!”
(Sài Gòn trong tôi - Trà Khan)

__._,_.___

Posted by: Batkhuat nguyen 

KÍNH MỜI THAM DỰ LỄ KỶ NIỆM NGÀY QL VNCH




KÍNH MỜI THAM DỰ LỄ KỶ NIỆM NGÀY QL VNCH 
Thưa quý Quý Niên Trưởng, các Chiến Hữu và cùng toàn thễ anh chị em..
        Năm nay chúng ta tổ chức Lễ Kỷ Niệm Ngày QL/VNCH 19/6 , ngày toàn dân ngưởng mộ QLVNCH  anh hùng của những năm trước 1975, khi mà những thanh niên của Miền Nam đã hy sinh tuổi trẻ đem mạng sống của mình đễ Bảo Quốc, An Dân, đễ Thủ Đô SaiGon là môt Hòn Ngọc của Viễn Đông, dù là đang phải chống trả với sự xâm lăng của cả khôi cộng sản quốc tế mà cộng sản Hà Nội là tay sai, là đánh thuê cho Nga Tầu.     
 Sự đông-đủ của chúng ta khi tổ-chức Ngày Quân Lực 19/6, ngày 30 tháng 4, hay biểu tình. . . . . .
Đó là niềm khích lệ lớn lao cho người dân trong nước. Hải ngoại yễm trợ quốc nội nổi dậy. Phải NỔI DẬY thôi và khi bị cộng sản Hà Nội đàn áp khốc liệt thi LHQ mới có cớ can thiệp bài học Venezula sẽ cho dân Viet Nam thấy  ngày tàn của chế độ CS độc tài . .    44 năm đã quá đủ rồi, tình-hình thế giới sẽ có lợi cho trên 90 triệu dân VietNam. Bây  giờ còn lại là ở lòng dân trong nước và hải ngoại có khôn-ngoan hành-động hay không ? ?       Thời cơ đã đến, đồng bào hảy tham dự, các Cựu Quân Nhân , công nhân viên  chức, hảy bõ chút thì giờ đến ủng hộ Lễ Kỷ Niệm Ngày Quân Lực 19/6, ngỏ hầu thế giới thấy được NGUYỆN VỌNG của dân Viet Nam ở hải ngoại nói thay cho trên 90 triệu trong nước là một nước Viet Nam  Tự Do,Dân Chủ và không Cọng sản.
                                         Cám ơn quý Niên Trưởng và toàn thể anh chị em.
                                                 TM.Ban Tổ Chức Ngày QLVNCH
                                                               Trưởng Ban  
                                                          Nguyễn Thanh Lương  







__._,_.___

Posted by: hiep long

Tuesday, June 11, 2019

Di Sản Của Người

 
Một mặt trận hai kẻ thù 

Giặc cộng bán nước, tàu phù xâm lăng.



Di Sản Của Người

  Hôm nay, theo như đảng ta gọi là ngày sinh của “Người”. Mặc dù người đã khuất lâu, nhưng nhưng tôi thế hệ sau, cũng xin nhắc lại vài điều, để ôn lại cho thế hệ sau hiểu thêm. Có khi những điều, nhất là các bạn trẻ có khi chưa biết. Cũng như là theo truyền thống “đảng ta” hay ôn lại để tưởng nhớ về “người”.

    Hồ chủ tịch sinh ra và mất đi cũng như những nhà lãnh đạo cộng sản trên thế giới, đều có những bức tranh thêu dệt hoa lụa, gấm vóc. Nhưng những điều này sẽ không khó để kiểm chứng trên Internet thời đại hôm nay.

  Di sản HCM để lại lớn nhất, hệ lụy nhất, ấn tượng nhất cho dân tộc hôm nay, điều đầu tiên kể đến là sự độc tài toàn trị, thiết lập chế độc độc đảng duy nhất, duy ý chí để lãnh đạo quốc gia, đưa quốc gia từ tang thương này đến đau khổ khác. Để làm được điều đó, HCM là người phát động chủ trương độc đảng bằng cách tiêu diệt các đảng phái chánh trị khác, và thủ tiêu các lãnh tụ chánh trị quốc gia. Trong đó HCM dựng lên vụ án Ôn Như Hầu, thủ tiêu Tạ Thu Thâu, mượn tay Pháp tiêu diệt Việt Quốc, Việt Cách, cướp chính quyền Trần Trọng Kim...chưa hết, lo sợ ảnh hưởng tới con đường chính trị của mình sau này, vì kẹt tiền, muốn có tiền làm cách mạng,  đình đám nhất là HCM bán cụ Phan Bội Châu. Một vị tiền bối đáng kính, nhà hoạt động yêu nước chân chính. Không biết bác là thứ gì.

Trong khi vụ án Tạ Thu Thâu đang có tranh cãi, thì trong buổi phỏng vấn ngày 25 tháng 6 năm 1946, Hồ Chí Minh đã trả lời đảng viên Xã hội Daniel Guérin về cái chết của Tạ Thu Thâu như sau: Ce fut un patriote et nous le pleurons... Mais tous ceux qui ne suivent pas la ligne tracée par moi seront brisés (Tạ Thu Thâu) là một nhà ái quốc, chúng tôi đau buồn khi hay tin ông mất... Nhưng tất cả những ai không theo con đường tôi đã vạch đều sẽ bị tiêu diệt. Tạ Thu Thâu xuất thân là Tây học, không có đi làm phụ bếp, về nước là lãnh tụ nỗi bật không theo chủ trương bạo động như hồ.

Thứ 2: “người” thực hiện cải cách ruộng đất giết 172.008 người để cướp tài sản. Người đầu tiên bị đấu tố là ân nhân cách mạng Cát Hanh Long. Nỗi đau đó kéo dài tới bây giờ.

Thứ 3 HCM chủ trương thảm sát vụ nỗi dậy Quỳnh Lưu xin xem bài (https://www.facebook.com/100031170515485/posts/149859036063113?s=100025474742676&sfns=cl) ở đây.

Thứ 4 Chủ trương đưa chủ nghĩa cộng sản vào VN. Cho quân đội trung cộng vào chiếm đóng, trong khi lùa thanh niên miền  Bắc vào Nam. Để bây giờ tình báo hoa nam cài cắm đầy Rẫy trong bộ máy chính quyền cấp cao nhất. Làm sao nhân dân VN tin được đâu là quyết định của giặc, đâu là quyết định của ta?

Thứ 5: nhượng chủ quyền Hoàng Sa để đổi lấy chi viên thông qua công hàm Phạm văn Đồng 1958. Để từ đó trung cộng có cớ chiếm HS trong lúc miền Nam lâm nguy.

  Thứ 6: phát động chiến tranh nhân dân gây đỗ máu trong miền nam năm Mậu Thân. Làm hơn 10.000 dân thường bị sát hại oan ức.

Thứ 7: Đã áp đặt chủ nghĩa cs trên toàn cõi lãnh  thổ VN và tất cả mọi quyết sách ở VN hôm nay  đều theo ý của tàu cộng.

Viết về người thì tốn rất nhiều mực, nên chỉ nhiêu đó thôi, để chúng ta thấy “người” vĩ đại thế nào.


__._,_.___

Posted by: Batkhuat nguyen <

Featured Post

Tên các Quốc gia mà người Sài Gòn hay gọi trước năm 1975

https://www.facebook.com/groups/miennamvietnam/posts/1953798441526381/ https://www.facebook.com/buianhhuy095096/posts/t%C3%AAn-c%C3%A...

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List