QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Saturday, April 27, 2013

Hồi Ký của Trung tướng VNCH Trần Văn Đôn


 

 


Việt Nam Nhân Chứng


Hồi Ký của Trung tướng VNCH Trần Văn Đôn

Phó Thủ Tướng kiêm Thanh Tra Các Kế Hoạch Quốc Gia 1974-1975


Chương :
 Những Năm Chót Của Nguyễn Văn Thiệu

Từ trang 435 => 444             Xuất bản tại Hoa Kỳ 1989

 

Kể từ sau khi ký Hiệp Định Paris, suốt hai năm 1973-1974 chính phủ gặp nhiều khó khăn từ quốc ngoại cho đến quốc nội, tình thế càng ngày càng bi đát. Việt Cộng mở cuộc đánh lớn chiếm tỉnh Phước Long chỉ cách Sài Gòn 150 cây số để thử xem Mỹ có yểm trợ quân đội Việt Nam Cộng Hòa tái chiếm hay không.

Sau khi chiếm xong Phước Long, Việt Cộng biết rõ ràng là Mỹ hoàn toàn bỏ rơi Miền Nam Việt Nam. Quốc tế cũng im lặng không nước nào lên tiếng phản đối việc Bắc Việt vi phạm Hiệp Định Paris.

Việt Nam Cộng Hòa mất hẳn tỉnh Phước Long vào cuối năm 1974.

Tháng 03 năm 1975, ông Thiệu phái tôi đi viếng thăm các nước phi liên kết ở Phi Châu. Sẳn dịp nầy tôi cũng muốn tìm phương thức thi hành thuyết Dân Tộc Tự Tồn mà chúng tôi đề ra năm 1969.

Tôi đến Zaire ngày 12 tháng 03 năm 1975 để nhờ Tổng Thống Mobutu vận động với các quốc gia Phi Châu ủng hộ mình có một giải pháp chính trị sau khi giải thích tình hình cho họ rõ.

Ngày 23 tháng 03 năm 1975, khi Việt Nam Cộng Hòa đã mất Ban Mê Thuột rồi, ông Thiệu điện thoại qua bảo tôi hủy bỏ chương trình đi Pháp và Mỹ. Tôi ghé lại Paris để lấy vé máy bay về nước. Tại đây trong lúc chờ chuyến máy bay, tôi có gián tiếp liên lạc với Thủ Tướng Pháp Chirac.

Ông Chirac nhắn với tôi :

- Miền Nam hết rồi ! Phải lo di tản những người nào không thể sống dưới chế độ cộng sản. Ba siêu cường quốc đã đồng tâm cho Hà Nội thống nhứt Việt Nam, đó

là Mỹ, Nga và Trung Cộng. Chính phủ Pháp sẳn sàng làm trung gian giữa Sài Gòn và Hà Nội để hai bên gặp nhau, chuyển giao cho Hà Nội một cách ôn hòa. Tôi biết ông có mặt tại Paris nhưng không có nhiệm vụ liên lạc với chính quyền Pháp về vấn đề nầy. Nếu ông trở lại với nhiệm vụ chính thức, chúng tôi sẽ tiếp. Chúng tôi cần một người chính thức đại diện Sài Gòn để chúng tôi làm trung gian giữa Sài Gòn và Hà Nội. Chúng tôi chờ đợi một tuần lễ. Lúc nào Pháp cũng sẳn sàng, nhưng phải có lời yêu cầu của Sài Gòn, chứ Pháp không tự ý đưa ra.

Nghe tin đó tôi vội bay qua Anh rồi lấy vé máy bay British Airway bay về Sài Gòn qua ngã Hong Kong. Tôi nhờ Tòa Tổng Lãnh Sự Việt Nam ở Hong Kong cho tôi điện đàm gấp với Tổng Thống Thiệu những điều quan trọng.

Ngày 03 tháng 04 năm 1975, ở Hong Kong tôi gặp Tổng Lãnh sự Mỹ, Đại sứ Robert nên hiểu phần nào về tình hình và kế hoạch cũa Mỹ. Cấp bực ông là Đại Sứ nhưng chức vụ là Tổng Lãnh Sự vì tất cả đại diện cho các quốc gia ở Hong Kong đều là Tổng Lãnh Sự hoặc Lãnh Sự chứ không có Đại Sứ. Ông ta cho biết tình hình tại Miền Nam khá trầm trọng.

 

Tôi về đến Sài Gòn lúc 12 giờ 30 ngày 05 tháng 04 năm 1975, nhân viên văn phòng tôi đón tại phi trường Tân Sơn Nhứt cho biết ông Thiệu nhận được công điện, yêu cầu tôi đến gặp ông gấp, nên tôi đi thẳng đến dinh Độc Lập. Đến nơi tôi thấy Phó Tổng Thống Trần Văn Hương, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Phó Thủ Tướng Phan Quang Đán, Phó Thủ Tướng Nguyễn Văn Hảo và Thủ Tướng chỉ định Nguyễn Bá Cẩn. Họ vừa họp xong nên mời tôi qua phòng bên dùng cơm trưa luôn.

Tôi khuyên Tổng Thống Thiệu nắm vững tình hình quân sự, hành động cứng rắn, phải độc tài, cương quyết trừng phạt những người không tuân lệnh, nếu cần giết năm ba người để cứu hàng vạn hàng triệu người !

Mọi người nghĩ rằng tôi đi xa mới về không rõ tình thế trong nước nên mới nói cứng như vậy, nhưng không ai phê bình hay phản đối gì hết, chỉ có ông Phan Quang Đán đặt câu hỏi :

- Anh đề nghị cứng rắn như vậy, anh dám xử tại chổ những người phạm kỷ luật không ?

- Dám ! Tôi trả lời.

Sau bữa ăn trưa tôi xin gặp riêng để trình bày với ông Thiệu về những lời của Thủ Tướng Pháp Chirac :

- Tôi không đủ phương tiện xác nhận lời Thủ Tướng Pháp nói có đúng không. Tổng Thống có phương tiện thì tìm hiểu lại. Nếu đúng thì ta xét xem nên phải làm gì.

Ông Thiệu nói :

-Xin Trung Tướng giữ bí mật những gì mà Trung Tướng vừa nói, sợ dân chúng nghe được sẽ mất tinh thần. Tôi sẽ xác nhận lại cho rõ. Nhưng tôi không tin Mỹ bỏ mình, năm 1973 thì đúng nhưng bây giờ thì không thể được !

 

Lúc này khoảng 3 giờ trưa ngày 05 tháng 04 năm 1975. Hôm sau tôi được biết chuyện Việt Cộng tấn công Ban Mê Thuột trong thời gian tôi công du.

Thật ra những ngày trước đó Bộ Tham Mưu Quân Đoàn II đã cảnh giác, vì đã mất Phước Long. Phối kiểm nhiều nguồn tin, Bộ Tham Mưu Quân Đoàn II nghĩ thế nào cộng sản cũng tấn công Cao Nguyên, vì Cao Nguyên bao bọc bởi núi rừng dễ bề cho Việt Cộng chuyển quân, tiếp tế. Chiếm được Cao Nguyên xong, Việt Cộng dùng đó làm bàn đạp lan xuống đồng bằng.

Điện đài ở đó báo động Pleiku, nhưng Tham Mưu Trưởng là Đại Tá Lê Khắc Lý nghĩ rằng Việt Cộng nghi binh để mình lầm, Việt Cộng sẽ giương đông kích tây mà đánh Ban Mê Thuột. Tướng Phú có nguồn tin riêng nên không tin Bộ Tham Mưu mà nghĩ rằng Việt Cộng sẽ đánh Pleiku nên cho phòng bị Pleiku.

 

Trong khi đó thì Việt Cộng chuẩn bị đột nhập Ban Mê Thuột và đánh vào Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Ban Mê Thuột với hai xe tăng dẫn đầu, Không quân đến ném bom xe tăng nhưng trái bom lại rớt ngay trên nóc Trung Tâm Hành Quân cho nên Việt Cộng chiếm Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Ban Mê Thuột dễ dàng.

Sư Đoàn 23 do Tướng Lê Trung Tường điều khiển chia một Trung đoàn từ Pleiku xuống để tái chiếm Ban Mê Thuột nhưng đến nơi thì nhiều cơ quan đã bị mất. Tướng Tường đáng lẽ ra lịnh tiến chiếm lại các cơ quan quân sự nhưng lại ra lịnh tiến về phía gần chợ Ban Mê Thuột để bảo vệ bãi đáp trực thăng cho gia đình ông Tường di tản.

Tướng lãnh, sĩ quan lo cho gia đình chạy thoát thì binh sĩ nào còn tinh thần mà chiến đấu. Vì vậy quân ngũ rã rời, tinh thần xuống dốc và Việt Cộng nắm trọn Ban Mê Thuột.

Thật ra họ đánh thử, nhưng thấy chiếm Phước Long mà Mỹ không phản đối, lấy Ban Mê Thuột dễ dàng nên Hà Nội ra lịnh tấn công them những nơi khác.

Khi Việt Cộng vừa chiếm Ban Mê Thuột thì ông Thiệu rút Sư Đoàn Nhảy Dù từ Đà Nẵng về Sài Gòn để bảo vệ Thủ Đô.

 

Ngày 12 tháng 03 năm 1975, Tướng Ngô Quang Trưởng ra Huế họp Hội Đồng Thành Phố, tuyên bố cương quyết giữ Huế vì có tin đồn bỏ Huế.

Ngày 13 tháng 03 năm 1975, Tướng Trưởng vào Sài Gòn gặp Tổng Thống Thiệu. Trong phiên họp tại Phòng Hành Quân ở dinh Độc Lập, có sự hiện diện của Đại Tướng Trần Thiện Thanh Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng, Đại Tướng Cao Văn Viên Tổng Tham Mưu Trưởng và Trung Tướng Đặng Văn Quang Phụ Tá Quân Sự của Tổng Thống. Ông Thiệu lấy cây viết gạch trên bản đồ Việt Nam xóa vùng Cao Nguyên và vùng Miền Trung và vẽ một đường từ Ban Mê Thuột đến Nha Trang nói rằng chúng mình sẽ còn giữ phần đất dưới đường nầy. Còn từ Đèo Cả trở ra Quảng Trị là phần đất dành cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ông Thiệu nói với Ông Trưởng :

- Đây là chỉ thị của tôi, phải thi hành nhưng đừng có nói lại cho ai !

Xong hội nghị, Trung Tướng Trưởng theo Đại Tướng Cao Văn Viên về văn phòng để trình bày thêm về vấn đề vừa rồi. Tai đây ông Trưởng nói :

- Tôi không thể thi hành lệnh vừa rồi của Tổng Thống vì tôi đã hứa với đồng bào Huế  tôi sẽ giữ Huế . Tôi xin Đại Tướng chỉ định một tướng khác để làm việc đó.

Đại Tướng Viên nói việc đó ngoài cái thẩm quyền của ông ta và đề nghị ông Trưởng nên trình lại cho Tổng Thống vào ngày sau là 14 tháng 03 năm 1975, tại hội nghị Cam Ranh.

 

Trung Tướng Trưởng điện thoại cho Đại Tá Cầm, Chánh Văn Phòng Tổng Thống xin được đến Cam Ranh sáng hôm sau để gặp Tổng Thống rồi ông trở ra Đà Nẵng chờ trả lời của ông Thiệu. Trước khi từ giã Đại Tướng Cao Văn Viên ông Trưởng nói :

- Nếu được, xin Đại Tướng trình lên Tổng Thống rằng tôi không thể thi hành vì tôi coi như ruột thịt với đồng bào xứ Huế sau tám năm sống với họ. Tôi không thể bỏ người Huế, nhất là gia đình quân nhân.

 

Ông Trưởng trở ra Huế chờ đợi điện thoại của Đại Tá Cầm nhưng không có nên không thể vào Cam Ranh gặp ông Thiệu.

Ngày 15 tháng 03 năm 1975, Trung Tướng Trưởng vô Sài Gòn gặp lại Tổng Thống và xin từ chức hoặc xin giữ Huế vì có đủ phương tiện giữ Huế.

Ông Thiệu trả lời :

-Thôi thì giữ Huế !

Trung Tướng Trưởng qua gặp Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Tổng Trưởng Quốc Phòng và cho biết quyết định chót của Tổng Thống về Huế và sẵn hỏi :

- Phải chăng có lệnh rút Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến ra khỏi Miền Trung ?

Đại Tướng Khiêm nói :

- Thằng Trưởng Phòng 3 Tổng Tham Mưu leak rồi ! Đúng !

Chiều đó Trung Tướng Trưởng trở ra Đà Nẵng để trình bày cho Bộ Tham Mưu dầu có lệnh của Tổng Thống đừng có nói cho ai ! 

Nhưng tại Đà Nẵng chiều tối có một phái viên đặt biệt của Đại Tướng Cao Văn Viên trao cho Trung Tướng Trưởng một văn thư khẩn đại ý thừa lệnh Tổng Thống bỏ Huế.

Trung Tướng Trưởng điên đầu vì trong một ngày tại Sài Gòn Tổng Thống đồng ý giữ Huế, tại Đà Nẵng thì có văn thư ra lệnh phải bỏ Huế !

Ông Trưởng điện thoại vô Sài Gòn để hỏi lại chỉ thị đó là của Tổng Thống hay của Đại Tướng Thủ Tướng nhưng chỉ gặp Thủ Tướng, ông xin Đại Tướng Khiêm ra Đà Nẵng để giải quyết vụ này vì tin bỏ Cao Nguyên làm cho dân Miền Trung rất hoang mang lo sợ.

 

Ngày 16 tháng 03 năm 1975, Đài BBC loan tin quân đội Việt Nam Cộng Hòa bỏ Cao Nguyên.

 

Ngày 18 tháng 03 năm 1975, Thủ Tướng và phái đoàn chính phủ ra Đà Nẵng, sau khi họp cho phép gia đình công chức được tản cư vào Nam. Chỉ thị nầy được lan ra ngoài làm cho tất cả dân Miền Trung hoảng hốt.

 

Chiều ngày đó ông Thiệu điện thoại cho Trung Tướng Ngô Quang Trưởng :

-Tôi đã suy nghĩ kỹ, Cụ Hương là người không rành về quân sự mà cũng nói nếu chúng ta quyết giữ Huế thì phải hy sinh 30.000 quân. Thôi bỏ Huế, đừng có đánh !

Tướng Trưởng gạt nước mắt.

( Sau nầy gặp lại bên Mỹ, Đại Tá Lê Huy Lợi Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 1 Bộ Binh tại Huế cho tôi biết, gạo và đạn dược còn có thể dung cho quân đội trong sáu tháng kháng cự tại Huế )

Trung Tướng Ngô Quang Trưởng chưa ra lệnh rút lui nhưng Trung Tướng Lâm Quang Thi, Tư Lệnh Tiền Phương phụ trách phía Bắc đèo Hải Vân đã di tản rồi.

 

Quân đội bỏ Huế. Thủy Quân Lục Chiến rút lui. Quân nhân và dân chúng ở Huế và Đà Nẵng rút  chạy luôn tạo ra cảnh hỗn loạn ở hải cảng. Tàu không đủ chuyên chở, dân chúng và một số gia đình binh sĩ sử dụng xe nhà, xe đò, công xa chạy túa vào phía Nam. Vào đến Qui Nhơn có them một số dân cũng lo thu xếp lên đường. Vào Tuy Hòa gặp đoàn quân xa chở gia đình binh sĩ, cứ mỗi tỉnh

nhập thêm một số xe cùng nhau chạy về hướng Sài Gòn …Đến Phan Thiết thì bị cắt đường vì trận đánh nhau giữa Việt Cộng và quân Việt Nam Cộng Hòa  tại Long Khánh, Xuân Lộc. Trận đánh ác liệt nầy kéo dài nhiều ngày, thành ra một số xuống biển tìm tàu đánh cá bắt chở vào Vũng Tàu, một số mở đường máu chạy về Sài Gòn.

                                                          *

                                                     *        *

Ngày 14 tháng 03 năm 1975, ông Thiệu họp với Tư Lệnh Quân Đoàn II Phạm Văn Phú, Thủ Tướng Trần Thiện khiêm, Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên, Tướng Đặng Văn Quang cùng các sĩ quan tùy viên tại Nhà Trắng ở Cam Ranh. Có lời đồn rằng ông Thiệu ra lịnh rút quân khỏi Cao Nguyên, nhưng tôi phối kiểm lại thì trong phiên họp nầy ông Thiệu ra lệnh cho Tướng Phạm Văn Phú phải lấy lại Ban Mê Thuột. Tướng Phú xin thêm quân thì ông Viên nói :

- Tôi hết quân trừ bị để cấp cho anh. Tôi chỉ có phương tiện để yểm trợ hành quân mà thôi.

- Vậy thì lấy quân ở đâu ?

Họ bàn nhau chỉnh đốn lại quân ngũ của Quân Đoàn II, lập một đoàn quân đặc nhiệm chiếm lại Ban Mê Thuột.

Vô chi tiết ông Thiệu hỏi Tướng Phú :

- Anh sẽ đi đường nào để đánh lấy lại Ban Mê Thuột ?

Ông Phú nói :

- Đường 14 đi thẳng từ Pleiku lên Ban Mê Thuột chắc chắn sẽ bị phục kíchg 19 từ Pleiku đi Qui Nhơn cũng không được. Chỉ còn đường số 7 từ Củng Sơn đi Tuy Hòa và Nha Trang rồi đánh lên Ban Mê Thuột, nhưng đường số 7 là đường xấu ít khi sử dụng nên cần có phương tiện phá mìn và vượt sông.

Tướng Viên chấp thuận :

-Tôi sẽ cấp công binh vượt song, có máy bay yểm trợ để di chuyển quân, ngoài ra không còn gì hết.

Tướng Phú xin thăng cấp cho Đại Tá Hoàng Văn Tất lên Chuẩn Tướng để chỉ huy đoàn quân đó. Ông Thiệu xqua hỏi ý kiến ông Viên, ông Viên đồng ý :

- Được, không có gì trở ngại.

Ông Thiệu nói :

- Cho mang một sao để đủ uy tín chỉ huy đoàn quân.

Sau đó Tướng Phú bay về Pleiku, họp lại các sĩ quan tham mưu gồm có các Đại Tá Lý, Tất, Sang, Tường, Cẩm và cho biết :

- Tổng Thống Thiệu ra lịnh rút khỏi Pleiku, đem tất cả lực lượng về Nha Trang để từ đó đánh lên Ban Mê Thuột.

Tướng Phú ra lịnh cho Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II nội trong ba ngày phả chuyển mọi cơ cấu về Nha Trang để Tướng Phú theo dõi chỉ huy tái chiếm Ban Mê Thuột. Bộ chỉ huy nhẹ đi trước, bộ tham mưu đi sau. Tất cả mọi cơ cấu của Quân Đoàn rất qui mô không thể nào thu xếp trong ba ngày mà rút hết được. Việc làm gấp rút hối hả nầy làm náo động dân chúng Pleiku vì vợ con quân nhân vội vàng rút theo chồng thì dân chúng cũng thu xếp ít vật dụng của cài để chạy theo đoàn quân di tản.

 

Số quân xa chỉ đủ cho binh sĩ nhưng gia đình binh sĩ đi theo quá đông nên nhiều người phải đeo bên hông xe hay ngồi trên mui. Phần đường xấu, phần đói khát, mệt mỏi, ngủ gục, nhiều người rớt xuống dọc đường bị xe chạy qua cán chết. Trên đường từ Pleiku rút về Nha Trang cũng bị Việt Cộng phục kích. Thật ra các cuộc phục kích nầy không qui mô, nhưng vì binh sĩ mất tinh thần, phần thì gia đình bận bịu nên bỏ chạy nhiều hơn là chiến đấu.

Đến Tuy Hòa thì đoàn quân đã tan rã nhiều, vào đến Nha Trang chẳng còn quân ngũ nữa !

Trong khi đó thì các tỉnh khác Miền Cao Nguyên cũng lục đục bỏ chạy, cả hành chánh, quân đội, dân chúng đều lo việc di tản. Tới việc mất Quảng Trị, Huế, nhất là các sĩ quan, viên chức hành chánh lo cho vợ con xuống tàu, lên máy bay v.v… vận dụng mọi phương tiện để chạy về Sài Gòn nên dân chúng cũng chạy theo luôn. Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang là nơi có bến tàu, có thể dung đường thủy nên lại càng hổn độn.

 

Trong khi đó thì Hà Nội dốc toàn lực đem tất cả binh lính và xe tăng tiến vào Nam. Tình thần binh sĩ đã xuống dốc, một số Tướng Tá đưa vợ con bay về Sài Gòn rồi ở lại không trở ra chỉ huy nên đoàn xe tăng và bộ đội Bắc Việt mới vào ranh giới tỉnh thì đa số cấp chỉ huy và binh lính tháo chạy trước !

 

Tối 26 tháng 03 năm 1975, Tướng Ngô Quang Trưởng, Tướng Bùi Thế Lân, Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại và một số sĩ quan còn nằm ở Sơn Trà trong khi quân Bắc Việt đã chiếm Đà Nẵng. Ông Tướng nào cũng giao sĩ quan tùy viên mang máy mật mã để gọi máy.

Sĩ quan tùy viên của ông Hồ Văn Kỳ Thoại hôm ấy đau được phép đi trước nên ông Thoại muốn ở lại chờ Tướng Bùi Thế Lân đi chung, hai ông Tướng nầy đi bộ qua rừng núi đang tìm tàu của Hồ Văn Kỳ Tường ( em ruột của Hồ Văn Kỳ Thoại ) đang đậu ngoài khơi. ( Lúc ấy Hồ Văn Kỳ Tường là chỉ huy trưởng Hải Khu Đà Nẵng. )  Qua khỏi núi tránh tầm pháo kích của Việt Cộng rồi các ông ấy định gọi tàu thì sực nhớ ra là không có mật mã vì sĩ quan tùy viên đi rồi nên không lien lạc được với tàu hải quân dù là thấy tàu trước mắt. May mắn là một lúc sau có ca nô của Hồ Văn Kỳ Tường cho vào chạy dọc bờ tìm nên ghé vào vớt hai ông Tướng ra tàu.

 

Mãi về sau Trung Tướng Ngô Quang Trưởng vẫn còn buồn.

Ông cho biết Quân Đoàn I có 200.000 quân ưu tú nhất của quân đội, gạo, vũ khí, đạn dược có thể giữ được sáu tháng vậy mà ông được lệnh bỏ Huế.

 

Bà Ngô Quang Trưởng cho tôi biết, trong trận Tết Mậu Thân 1968, ông Trưởng đang ở Bộ Tư Lệnh  Sư Đoàn I tại Mang Cá trong Thành Nội, bà Trưởng đang ở nhà số 14 đường Lê Thánh Tôn, bên này cầu Trường Tiền. Khi tôi và Nguyễn Cao Kỳ ra gặp bà Trưởng ở Phú Bài, tôi hỏi :

- Trong khi Tướng Trưởng ở Mang Cá thì chị làm gì ?

- Tôi chạy theo đồng bào ra Phú Bài.

 

Ông Trưởng không phân tâm để nghĩ đến vợ con, chỉ lo điều quân chiến đấu, ông còn ra ra lệnh Pháo Binh Sư Đoàn bắn xung quanh nhà ông khi tin Việt Cộng đang bao vây nhà để tìm bắt ông và gia đình.

Trung tướng Ngô Quang Trưởng là Tướng trong sạch, không tham nhũng nên người Mỹ rất quý, dân rất phục. Cũng vì vậy mà các ông Thiệu, Khiêm, Viên, Quang không ưa.

Có lần tôi nói với ông Trưởng :

- Anh liêm khiết nhưng coi chừng người ta đưa tiền qua tay vợ anh.

Ông Trưởng nói :

- Không !  Không !  Tôi đã nói với vợ tôi rồi. Tôi cấm !

 

Năm 1972 khi Việt Cộng chiếm Quảng Trị, tôi vừa từ ngoại quốc về nghe tin vội bay ngay ra Huế. Một số người hỏi tôi có nên tản cư không, tôi trả lời :

- Không có gì phải đi !  Có ông Tướng chỉ huy giỏi là ông Ngô Quang Trưởng mới về đây !

 

Tuy mất Huế và Đà Nẵng vào cuối tháng 03 năm 1975 nhưng dân chúng biết là không phải ông Trưởng tự ý bỏ chạy, nên dư luận trong nước, trong giới Mỹ, cũng như đồng bào di tản ra ngoại quốc không ai trách ông.

 

Trần Văn Đôn